Bài viết đã khai thác con ngựa xét ở góc độ là miền nguồn, trên cơ sở miền đích là ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa. Từ đó, đưa ra những kiến giải về cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, cũng như tìm hiểu về phương thức tư duy của người Việt.
Trang 1MỘT CÁCH KIẾN GIẢI VỀ HÌNH ẢNH CON NGỰA
TRONG THÀNH NGỮ-TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Nguyễn Thị Trúc Phương
Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt
Loài ngựa được thuần hóa và gắn bó với con người từ rất lâu Có thể thấy những thành ngữ
- tục ngữ có yếu tố con ngựa chiếm một vị trí khá quan trọng trong các thành ngữ - tục ngữ
có thành tố động vật của tiếng Việt Tiếp thu thành quả từ những công trình nghiên cứu đi
trước, bài viết đã tổng hợp các thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa trong ―Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam‖ (Việt Chương) và đưa ra một góc nhìn về ý niệm con
ngựa xuất hiện trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt trên cơ sở lý luận của ngôn ngữ học tri nhận Ở đây, bài viết đã khai thác con ngựa xét ở góc độ là ―miền nguồn‖, trên cơ sở ―miền đích‖ là ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa Từ đó, đưa ra những kiến giải về cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, cũng như tìm hiểu về phương thức tư duy của người Việt
Từ khóa
hình ảnh con ngựa, thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, ngôn ngữ học tri nhận, miền nguồn, miền đích
1 Mở đầu
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta, khi nhắc đến một loài vật trung thành, chịu thương chịu khó, hết lòng tận tụy cùng con người, ta không thể không nhắc
đến loài ngựa Qua thống kê và tổng hợp theo ―Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam‖
của tác giả Việt Chương, người viết nhận thấy rằng những thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa chiếm khoảng 36 biểu thức trong tổng số những thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt
Sau khi tìm hiểu một số công trình nghiên cứu đi trước, người viết nhận thấy rằng đa phần các công trình nghiên cứu về thành ngữ - tục ngữ có liên quan đến thành tố chỉ động vật nói chung và thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa nói riêng hầu như chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát và tìm hiểu về con ngựa trên phương diện ngữ nghĩa biểu trưng, chứ chưa đi sâu phân tích con ngựa ở vai trò là ―miền nguồn‖, hay đưa ra lý giải cho câu hỏi vì sao người xưa
đã sử dụng con ngựa cho một trường hợp cần biểu đạt cụ thể nào đó mà không phải là hình ảnh của một loài vật hoặc sự vật nào khác Chẳng hạn, Nguyễn Thị Bảo (2003) trong luận văn
―Ngữ nghĩa của từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)‖
đã miêu tả ngữ nghĩa văn hóa của một số từ ngữ chỉ động vật có tần suất xuất hiện cao trong thành ngữ tiếng Việt nhưng cũng mới chỉ nói đến ngữ nghĩa của thành tố ngựa trong thành ngữ mà chưa đi sâu nghiên cứu khai thác ý niệm con ngựa Đỗ Thị Thu Hương (2017) trong
―Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ tiếng Việt có chứa hình ảnh động vật‖ đã đưa
ra kết quả khảo sát về tần suất xuất hiện của con ngựa trong thành ngữ tiếng Việt cũng như nêu ra ý nghĩa biểu trưng của hình ảnh một số động vật có tần suất xuất hiện cao trong thành ngữ tiếng Việt, nhưng bài viết chưa phân tích sâu hơn về đặc trưng văn hóa – dân tộc qua hình
Trang 2ảnh con ngựa trong thành ngữ tiếng Việt Riêng về mảng ngôn ngữ học tri nhận, tác giả Phan
Phương Thanh (2018) trong bài viết ―Ngựa (马) trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt nhìn
từ góc độ tri nhận‖ mới chỉ dừng lại ở các nét nghĩa biểu trưng của con ngựa trong thành ngữ
chứ chưa đưa ra phân tích sâu hơn về ý niệm con ngựa của người Việt được thể hiện trong các thành ngữ - tục ngữ
Với mong muốn có thể nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu hơn về ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt thông qua lăng kính của ngôn ngữ học tri nhận, bài viết
đã tiến hành tổng hợp và phân tích ý niệm con ngựa xét ở góc độ ―miền nguồn‖, trên cơ sở
―miền đích‖ là ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa Từ đó, đưa ra những kiến giải về cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, cũng như
tìm hiểu về phương thức tư duy của người Việt
2 Cơ sở lý luận
Năm 1980 hai nhà nghiên cứu George Lakoff và Mark Johnson trong tác phẩm ―Chúng ta
sống bằng ẩn dụ‖ đã khởi xướng nên một hướng nghiên cứu mới về ngữ nghĩa học mà ở đó
―ngôn ngữ là nguồn cứ liệu quan trọng để biết được hệ thống tri nhận (ý niệm) của con người được sử dụng ra sao‖ Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã căn cứ vào cơ sở lý thuyết từ
công trình nghiên cứu của George Lakoff và Mark Johnson trong tác phẩm ―Chúng ta sống
bằng ẩn dụ‖ (1980); Khảo luận của Trần Văn Cơ trong ―Khảo luận ẩn dụ tri nhận‖ (2009) và
công trình nghiên cứu của tác giả Lý Toàn Thắng trong ―Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lý thuyết
đại cương đến thực tiễn tiếng Việt‖ (2009)
Nhắc đến ―ngôn ngữ học tri nhận‖, chúng ta không thể không nhắc đến khái niệm quan trọng là ―ẩn dụ tri nhận‖ và ―hoán dụ tri nhận‖ Lakoff và Johnson cho rằng ―hoán dụ‖ là trường hợp sử dụng một sự vật để chỉ một sự vật khác có liên quan đến nó, nói cách khác hoán dụ có chức năng chủ yếu là quy chiếu, tức một thực thể này được sử dụng để quy chiếu một thực thể khác Cần nhấn mạnh rằng, hoán dụ không phải là các sự kiện ngẫu nhiên và võ đoán mà mang tính hệ thống và biểu trưng, cụ thể là ý niệm về ―thuộc tính nổi trội‖ của sự vật
Trong khi đó, Trần Văn Cơ trong ―Khảo luận ẩn dụ tri nhận‖ đã chỉ ra rằng ẩn dụ là một cơ
chế của tri nhận mà ở đó ―ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác‖ Cũng giống như hoán dụ, ẩn dụ không mang tính võ đoán mà có cơ sở là các trải nghiệm và văn hóa của chúng ta Từ những cơ sở trên, có thể nói ―ẩn dụ tri nhận‖ và
―hoán dụ tri nhận‖ là một quá trình phóng chiếu từ ―miền nguồn‖ đến ―miền đích‖, hay nói cách khác là ý niệm của ―miền đích‖ được hiểu thông qua ý niệm tại ―miền nguồn‖ Trong phạm vi bài viết này, người viết chủ yếu áp dụng theo cơ chế ẩn dụ vì đại đa số ý niệm con ngựa ở miền nguồn được liên tưởng theo đặc điểm tương đồng với miền đích
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa xét trên góc độ “miền đích”
Nhằm làm cơ sở cho việc tìm hiểu sâu hơn về ý niệm con ngựa, bài viết trước tiên giới thiệu ý nghĩa biểu đạt của các thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa xét trên góc độ là ―miền
Trang 3đích‖ Nói cách khác, ở đây ―miền đích‖ được xác định trên nền ý nghĩa biểu đạt của cả câu thành ngữ - tục ngữ mà con ngựa có xuất hiện trong đó
3.1.1 Biểu thị thời gian qua mau
Trong số các thành ngữ có yếu tố con ngựa, có một điều thú vị rằng câu thành ngữ
―bóng câu qua cửa sổ‖ tuy trên mặt chữ chúng ta không thấy có những từ quen thuộc chỉ loài
ngựa như ―ngựa‖, ―mã‖ hay ―ngọ‖ nhưng thành ngữ này lại có liên quan đến con ngựa ở từ
―câu‖ ―Câu‖ ở đây là từ dùng để chỉ ngựa non đương thời kỳ sung sức Cả câu thành ngữ dùng để chỉ thời gian trôi qua rất nhanh, dường như chỉ là trong chớp mắt
3.1.2 Biểu thị sự thanh khiết, cùng các đức tính tốt đẹp của con người
Các đức tính tốt đẹp của con người như đoàn kết, thẳng thắn, gắn bó quê hương hay sự
ngây thơ thanh khiết được thể hiện trong các thành ngữ Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ;
Thẳng như ruột ngựa; Ngựa Hồ thương gió heo may; Thanh mai trúc mã
3.1.3 Biểu thị sự dũng mãnh, can trường
Sự dũng mãnh can trường được thể hiện chủ yếu ở các thành ngữ: Da ngựa bọc thây;
Đơn thương độc mã; Một mình một ngựa
3.1.4 Biểu thị tốc độ
Thành ngữ Chạy như ngựa vía dùng để chỉ những người hay đi, đi suốt ngày, ít khi ở
nhà hoặc ngồi yên một chỗ
3.1.5 Biểu thị sự may mắn, giàu sang, thịnh vượng
Con ngựa còn gắn với sự thịnh vượng, sự giàu sang của tầng lớp thượng lưu hoặc sự
may mắn, thành công như trong Ngựa xe như nước; Lên xe xuống ngựa; Mã đáo thành công
3.1.6 Biểu thị những tầng lớp có thân phận thấp kém, hay những thành phần bất lương
Bên cạnh những ý nghĩa tích cực, các thành ngữ - tục ngữ có yêu tố ngựa đôi khi còn được dùng để ám chỉ đến thành phần thấp kém hoặc các thành phần bất lương trong xã hội
như trong các thành ngữ Đầu trâu mặt ngựa; Mồm chó, vó ngựa; Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã;
Ngựa xéo voi giầy; Thay ngựa giữa dòng; Trước vành móng ngựa
3.1.7 Ngụ ý phê phán thói tính không tốt của con người
Những thành ngữ như Ngựa hỗn quen đường; Ngựa non háu đá; Ngựa quen đường cũ;
Như ngựa bất kham; Cưỡi ngựa xem hoa còn được dùng để phê phán những thói xấu của con
người như háo thắng, không chịu hối cải hoặc làm việc qua loa đại khái
3.1.8 Biểu thị ý niệm về triết lý nhân sinh hay bài học về luân lý đạo đức
Người xưa còn gởi gắm những triết lý về nhân sinh hay những bài học về luân lý đạo đức trong các thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa chẳng hạn như khuyên ta cẩn thận lời
ăn tiếng nói trong Một lời nói đã nói ra, dầu bằng bốn ngựa cũng là khó theo; khuyên ta không nên vội vã cười chê trước những việc làm sai trái của kẻ khác như Ngựa bốn chân còn
vấp; Khuyên ta nên chăm lo cho người ăn kẻ ở trong nhà được ấm no như Ngựa gầy hổ mặt
Trang 4người nuôi; hay thành ngữ Tái ông mất ngựa cho ta biết về triết lý nhân sinh rằng trong họa
có phúc, trong phúc có họa, họa phúc là khôn lường Ngoài ra, còn có khá nhiều các thành
ngữ - tục ngữ về triết lý hay bài học đạo đức có bóng dáng của loài ngựa như Ngựa chạy có
bầy, chim bay có bạn; Ngựa chạy đường dài; Ngựa hay là ngựa bất kham; Ngựa chạy về ngược; Ngựa le te cũng đến bến giang, voi thủng thỉnh cũng sang qua đò
3.2 Ý niệm con ngựa xét trên góc độ “nguồn”
Ý niệm con ngựa xét trên góc độ ―miền nguồn‖ chủ yếu được thể hiện ở các phương diện sau:
3.2.1 Dựa trên đặc điểm tập tính của loài ngựa
Theo kết quả tổng hợp, số lượng các thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn là ý niệm về tập tính của loài ngựa chiếm tỉ lệ cao nhất, khoảng 44.4% Qua quá trình thuần hóa và sử dụng loài ngựa, người xưa đã nhận thấy những đặc điểm khá nổi trội của chúng như nhanh nhẹn, tính bầy đàn cao, trí nhớ tốt, trung thành, dũng cảm, bên cạnh đó chúng cũng có một số tính xấu như đôi khi bất trị, khó thuần…Từ đó, các đặc điểm này được dùng để liên tưởng đến các
đặc điểm tính cách của con người như Chạy như ngựa vía; Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ;
Ngựa hỗn quen đường; Ngựa non háu đá; Như ngựa bất kham…; hay để nói đến các hiện
tượng trong xã hội hoặc các bài học nhân sinh như Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn; Ngựa
chạy đường dài; Ngựa hay là ngựa bất kham; Ngựa le te cũng đến bến giang, voi thủng thỉnh cũng sang qua đò; Ngựa bốn chân còn vấp; Mồm chó, vó ngựa; Mó dái ngựa…; hoặc nói đến
thời gian qua mau như trong Bóng câu qua cửa sổ…
3.2.2 Dựa trên vai trò của con ngựa trong đời sống, trong chiến trận
Các thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn là ý niệm về vai trò của loài ngựa trong đời sống và trong chiến trận cũng chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng 36.1% Con ngựa lúc thì rong ruổi cùng người chia sẻ những nặng nhọc của đời sống cần lao, lúc thì dũng mãnh cùng tướng sĩ xông pha dặm ngàn gió bụi hiểm nguy nơi trận mạc Hơn nữa, ngày xưa khi phương tiện đi lại còn hạn chế thì con ngựa đã trở thành phương tiện chính giúp con người đi lại nhanh chóng hơn
và thường chỉ các tầng lớp giàu sang, quyền quý hay các tướng lĩnh mới có thể sử dụng ngựa
Có lẽ, do đó mà người xưa đã có sự liên tưởng đến vai trò quan trọng của loài ngựa khi nói
đến lòng dũng cảm, sự can trường hay sự giàu sang, may mắn như Đơn thương độc mã; Ngựa
xe như nước; Lên xe xuống ngựa; Mã đáo thành công; hay khi nói đến các bài học nhân sinh
như Thay ngựa giữa dòng; Cưỡi ngựa xem hoa; Đường dài hay sức ngựa, nước loạn biết tôi
ngay; Một lời nói đã nói ra, Dầu bằng bốn ngựa cũng là khó theo; Ngựa gầy hổ mặt người nuôi; Thanh mai trúc mã…
3.2.3 Dựa trên đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa
Trong số các thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt có yếu tố con ngựa thì các thành ngữ - tục ngữ
có miền nguồn là ý niệm về đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa chiếm tỉ lệ thấp nhất, chỉ 5.6% Ngựa có một điểm cấu tạo đặc biệt là ruột rất thẳng, thẳng từ cuống họng trở xuống chứ không vòng vo như ruột trâu, bò Đây có thể coi là đặc điểm cấu tạo đặc biệt của chúng Do
đó, đặc điểm này được lựa chọn khi liên tưởng đến người có tính tình thẳng thắn như Thẳng
Trang 5như ruột ngựa Ngoài ra, trước đây ở La Mã, nhà nước xử tội, trừng trị phạm nhân thường
dùng ngựa để xé xác hoặc giày xéo lên thân thể họ Về sau, người ta lấy vành móng ngựa để biểu trưng cho uy lực và sự nghiêm khắc của tòa án Do đó, trong các phiên tòa, phạm nhân phải đứng vào vành dành riêng cho họ với khuôn mẫu của vành móng ngựa, nên có thành ngữ
Trước vành móng ngựa
3.2.4 Dựa trên các điển tích, điển cố hay câu chuyện dân gian
Các thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn liên quan đến điển tích, điển cố, các câu chuyện kể
hoặc thái độ cảm giác của con người đối với loài ngựa chiếm tỉ lệ 13.9%, chẳng hạn như Tái
ông mất ngựa được xuất phát từ điển tích ―塞翁失马‖ (Tái ông thất mã) của Trung Hoa; Ngựa Hồ thương gió heo may dựa trên điển tích người Hồ ở mạn phương Bắc nước Trung
Hoa triều cống ngựa quý cho vua Võ Đế nhà Hán; hay các thành ngữ Da ngựa bọc thây; Đầu
trâu mặt ngựa; Ngựa quen đường cũ…
3.3 Đặc điểm tri nhận của người Việt thể hiện qua ý niệm con ngựa
3.3.1 Cơ chế lựa chọn miền nguồn
Căn cứ vào kết quả phân tích ý niệm con ngựa dưới góc độ ―miền nguồn‖, bài viết đã tiến hành phân tích sâu hơn về cơ sở phóng chiếu từ miền nguồn đến miền đích, nói cách khác là tìm hiểu cơ chế nào đã ảnh hưởng đến việc lựa chọn miền nguồn Tác giả Nguyễn Đức Tồn
trong ―Đặc trưng Văn hóa – Dân tộc của Ngôn ngữ và Tư duy‖ đã chỉ ra một điểm quan trọng
rằng ―Tư duy ngôn ngữ của người Việt mang tính cụ thể, thiên về kiểu tư duy liên hợp, cảm giác, hành động – trực quan Đó là kiểu tư duy ngôn ngữ thiên về lối tư duy hình tượng‖ Trên
cơ sở đó, bài viết nhận thấy rằng đối với trường hợp ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt khi được phòng chiếu từ miền nguồn sang miền đích thì các liên tưởng dựa trên sự tương đồng về đặc điểm tập tính, và vai trò của loài ngựa chiếm ưu thế rất lớn, điều này có thể lý giải ở các cơ sở sau:
Người Việt có xu hướng liên tưởng đến các con vật trước hết với các đặc điểm, thuộc tính nổi trội của chúng, từ đó sử dụng chúng làm ―chuẩn‖ để liên tưởng đến các ý nghĩa biểu trưng
Ở đây, chẳng hạn với lối tư duy thiên về cảm giác, hành động – trực quan, người Việt trong
sự liên tưởng đến loài ngựa thì hình ảnh biểu trưng của ―ngựa‖ trước hết gắn với hoạt động
―chạy‖ với những đặc điểm như nhanh, tốc độ hay tập tính bầy đàn … cho nên khi nói đến tốc
độ, sự mạnh mẽ hay tinh thần đoàn kết thì người ta thường liên tưởng ngay đến loài ngựa như
Chạy như ngựa vía; Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ…
Một cơ sở quan trọng nữa để người Việt lựa chọn con ngựa làm đối tượng liên tưởng đó là xuất phát từ sự gắn bó và tầm quan trọng của loài ngựa đối với con người Loài ngựa được thuần hóa và sử dụng từ rất lâu trên thế giới, vào khoảng 4000 năm đến 5000 năm trước Còn
ở Việt Nam, ―từ thời đại đồ đồng, cách đây hơn 2000 năm, người Việt Cổ đã sử dụng ngựa‖ Tuy rằng, do ảnh hưởng bởi nền nông nghiệp lúa nước nên ở Việt Nam con ngựa không được
sử dụng nhiều như con trâu, con lợn và cũng hiếm hơn, nhưng không thể phủ nhận rằng loài ngựa đã luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong giao thông, giúp cho việc đi lại được nhanh chóng và đặc biệt phát huy vai trò hết sức quan trọng trong những trận chiến, cho nên
Trang 6khi nhắc đến các đức tính như dũng cảm, can trường thì người xưa liên tưởng ngay đến sự gắn
bó của loài ngựa với các tướng lĩnh, chiến sĩ nơi trận mạc như Một mình một ngựa, Đơn
thương độc mã… Hơn nữa, ngày xưa, khi phương tiện đi lại còn hạn chế, con ngựa trở thành
phương tiện giúp con người đi lại nhanh chóng nhất, tuy nhiên không phải tầng lớp nào cũng
có khả năng sở hữu ngựa mà thông thường chỉ tầng lớp giàu có, quý tộc hoặc các tướng lĩnh mới sử dụng ngựa, cho nên người xưa thường dùng con ngựa để nói đến sự giàu sang, thịnh
vượng, may mắn như Lên xe xuống ngựa, Ngựa xe như nước, Mã đáo thành công… Đồng
thời, ngoài xu hướng liên tưởng các con vật với những đặc điểm thuộc tính của chúng thì theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Tồn, ―Người Việt có xu hướng liên tưởng liên quan đến các hoàn cảnh mà con vật xuất hiện – mối ―liên hệ bên ngoài‖ Ở đây có thể hiểu rằng hoàn cảnh trực quan mà con ngựa tham dự vào chính là vai trò làm phương tiện chuyên chở đi lại cho con người Chính vì lẽ đó, mà trong số các liên tưởng liên quan đến loài ngựa thì vai trò của chúng chiếm một tỉ lệ không nhỏ
Ngoài ra, có một số thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn dựa trên các điển tích, điển cố hay
các câu chuyện kể dân gian liên quan đến con ngựa như Da ngựa bọc thây, Ngựa quen đường
cũ, Tái ông mất ngựa… Qua tìm hiểu, người viết nhận thấy rằng đại đa phần các điển tích,
điển cố này có nguồn gốc từ các điển tích, điển cố hoặc câu chuyện dân gian của Trung Hoa Điều này được giải thích trên cơ sở do sự tiếp xúc ngôn ngữ và ảnh hưởng văn hóa từ rất sớm của hai dân tộc Trong tiếng Việt có một số lượng không nhỏ các từ gốc Hán, trong đó phải kể đến cả các thành ngữ gốc Hán Trung Hoa vốn xuất phát từ nền văn minh du mục và nông nghiệp cao, những cuộc di chuyển trên thảo nguyên bao la hay trên những con đường thiên lý thì người Trung Hoa đòi hỏi phải chủ yếu dựa vào sức ngựa, cho nên trong tiếng Hán những thành ngữ có yếu tố ngựa vẫn xuất hiện nhiều hơn trong tiếng Việt Hơn nữa, ngày xưa với lối truyền thống khoa cử lấy văn chương làm chính, với nhu cầu tiếp thu văn hóa Hán, chủ yếu là Nho học thì một số lượng lớn các kinh sử của Trung Hoa được giới Nho sĩ, nho sinh dồi mài cũng như sử dụng trong dạy và học Chữ Hán từ chỗ chỉ bó hẹp trong phạm vi sử dụng của tầng lớp sĩ đại phu và quan trường, đã dần dần mở rộng ra dân gian Cho nên, có lẽ các thành ngữ gốc Hán có yếu tố con ngựa cũng được du nhập vào Việt Nam theo con đường đó
Có một điểm thú vị là tuy có lối tư duy dựa trên sự liên tưởng trực quan – hành động, nhưng ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt được phóng chiếu lên miền đích trên cơ sở liên tưởng tương đồng về đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa lại không chiếm số
lượng lớn, chỉ khoảng 5.6%, và chủ yếu thể hiện ở các bộ phận như ruột (thẳng như ruột
ngựa), móng ngựa (trước vành móng ngựa) Có lẽ, vì trong tư duy của người Việt, khi lựa
chọn cơ sở chuyển nghĩa, đặc điểm hình dáng của loài ngựa không nổi trội hay đặc biệt hơn các loài vật khác, chẳng hạn không to như con voi, không quá bé như con kiến…Hơn nữa, trên cơ sở dựa vào đặc điểm, thuộc tính nào đó của sự vật hay hiện tượng đang cần diễn đạt để
đi tìm sự vật hay hiện tượng khác cũng có đặc điểm, thuộc tính ấy để đồng nhất hóa chúng thì đặc tính như ―nhanh nhẹn, trung thành, dũng cảm, sống bầy đàn‖ của loại ngựa lại nổi trội và đặc biệt hơn đặc điểm hình dáng của nó
3.3.2 Phương thức tri nhận của ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt
Trang 7Qua quá trình nghiên cứu, người viết nhận thấy rằng ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt khi được phóng chiếu từ miền nguồn đến miền đích đại đa số đều theo phương thức ẩn dụ tri nhận Trong đó, đặc biệt có hiện tượng một miền nguồn có thể phóng chiếu sang nhiều miền đích, cụ thể như sau:
Ý niệm về tập tính của loài ngựa có thể phóng chiếu sang các miền đích khác nhau như liên tưởng tập quán sinh sống theo bầy đàn của loài ngựa với tinh thần đoàn kết hoặc sự kết
hợp của các nhóm người chẳng hạn như Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ, Ngưu tầm ngưu, mã
tầm mã, Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn…; liên trưởng dựa trên đặc điểm về thời kỳ sinh
trưởng, cụ thể là ngựa non được ví với người còn trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm như Ngựa non
háu đá; liên tưởng các đặc điểm về thuộc tính bản năng sinh vật học của loài ngựa với các ý
niệm về bài học nhân sinh như Ngựa chạy về ngược, Ngựa le te cũng đến bến giang, voi thủng
thỉnh cũng sang qua đò….; liên tưởng đặc điểm về cách thức hoạt động di chuyển của loài
ngựa với thời gian qua mau, tốc độ hay các bài học triết lý nhân sinh: Bóng câu qua cửa sổ;
Ngựa bốn chân còn vấp…; liên tưởng liên quan đến các tập tính khi được con người nuôi
dưỡng, thuần dưỡng với các thói tính không tốt của con người hay các bài học triết lý nhân
sinh như Ngựa hỗn quen đường, Như ngựa bất kham, Ngựa chạy đường dài, Ngựa hay là
ngựa bất kham…
Ý niệm về vai trò của loài ngựa trong đời sống con người cũng có phạm vi phóng chiếu sang miền đích rất rộng, cụ thể như liên tưởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con người
với sự may mắn, giàu sang, thịnh vượng như Lên xe xuống ngựa, Mã đáo thành công, Ngựa
xe như nước…; liên tưởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con người với sự thanh khiết,
ngây thơ như Thanh mai trúc mã; liên tưởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con người với những tầng lớp có thân phận thấp kém như Thay ngựa giữa dòng, hay dùng trong lời chửi rủa như Ngựa xéo voi giầy; liên tưởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con người với thói tính không tốt của con người như Cưỡi ngựa xem hoa…; liên tưởng vai trò của loài ngựa
trong đời sống con người để gởi gắm triết lý nhân sinh hay bài học về luân lý đạo đức như
Đường dài hay sức ngựa, nước loạn biết tôi ngay, Ngựa gầy hổ mặt người nuôi; liên tưởng
dựa trên vai trò của loài ngựa trong chiến trận với sự dũng mãnh, can trường như Đơn thương
độc mã, Một mình một ngựa
Ý niệm về đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa chủ yếu được phóng chiếu sang miền đích
với các ý nghĩa như thể hiện một đức tính tốt nào đó của con người như Thẳng như ruột ngựa hay ngụ ý nói đến các thành phần bất lương trong xã hội như Trước vành móng ngựa
Ý niệm liên quan đến các điển tích, điển cố, các câu chuyện kể hoặc thái độ cảm giác của con người đối với loài ngựa đa phần phóng chiếu sang miền đích với các ý nghĩa như tượng
trưng cho sự thanh khiết, cao quý, cùng các đức tính tốt đẹp của con người trong Ngựa Hồ
thương gió heo may; ngụ ý nói đến những tầng lớp có thân phận thấp kém, hay những thành
phần bất lương trong Đầu trâu mặt ngựa; hay các triết lý nhân sinh, bài học đạo đức, luân lý như Tái ông mất ngựa
Ngoài ra, có một điều thú vị rằng có hiện tượng đối nghịch về ý nghĩa của các miền đích cùng được phóng chiếu từ một miền nguồn Điều này có lẽ có liên quan đến quan niệm hay
Trang 8cảm giác của người Việt đối với loài ngựa Một mặt, loài ngựa với vai trò gần gũi gắn bó với con người cùng với các đức tính tốt đẹp như trung thành tận tụy, mặt khác trong quan niệm của người Việt ngựa được xếp chung vào hàng lục súc nên trong một vài trường hợp loài ngựa cũng gắn với các thân phận thấp kém trong xã hội
3.3.3.Đặc điểm ẩn dụ tri nhận của ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt
Theo tác giả Trần Văn Cơ trong ―Khảo luận Ẩn dụ tri nhận‖ thì có thể phân ẩn dụ tri nhận
làm bốn loại chính là ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ ―kênh liên lạc/ truyền tin‖, ẩn dụ định hướng Trong phạm vi bài viết này, qua phân tích chúng tôi rút ra được rằng có hai loại
ẩn dụ được sử dụng khi nói đến ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt là ẩn dụ bản thể và ẩn dụ cấu trúc, trong đó loại ẩn dụ bản thể chiếm tuyệt đại đa số, cụ thể như sau:
Ẩn dụ bản thể: Là hiện tượng ―phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng cách vạch ranh giới của chúng trong không gian‖ Loại ẩn dụ này được thể hiện phong phú trong các trường hợp như liên tưởng thói quen tập tính, vai trò con ngựa hay con ngựa trong các điển tích, điển
cố, câu chuyện dân gian với các đức tính tích cực như thanh khiết, cao quý, dũng mãnh can trường, hoặc các đức tính tiêu cực của con người như qua loa đại khái hay các thành phần thấp kém trong xã hội…
Ẩn dụ cấu trúc: Là hiện tượng ―ý niệm hóa từng miền riêng lẻ bằng cách chuyển sang chúng sự cấu trúc hóa một miền khác‖ Loại ẩn dụ này chủ yếu được thể hiện ở sự liên tưởng
các đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa với hạng người bất lương như trong Trước vành
móng ngựa Ở đây ―vành móng ngựa‖ đã được gán cho một ý niệm mới là biểu trưng cho
công lý, hay sự phán xét, cho nên những hạng người phải đứng ―Trước vành móng ngựa‖ thường là chỉ những thành phần bất lương, phải đối diện với với sự phán xét của công lý
4 Thảo luận và Đề xuất
Từ kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu ý niệm con ngựa dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, người viết đã phân tích ý niệm con ngựa xét trên góc độ ―miền nguồn‖ và đưa ra những lý giải cụ thể cho cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt Tuy nhiên, do xét thấy ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt khi được phóng chiếu
từ miền nguồn đến miền đích đại đa số đều theo phương thức ẩn dụ tri nhận, nên trong phạm
vi nghiên cứu, bài viết chủ yếu tập trung phân tích các trường hợp chuyển nghĩa theo cơ chế
ẩn dụ, còn một vài trường hợp rất ít các thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn được phóng chiếu
sang miền đích theo cơ chế hoán dụ như Chiêu binh mãi mã, Thiên binh vạn mã vẫn chưa
được đề cập đến trong bài viết Trong quá trình nghiên cứu, chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hy vọng bài viết sẽ nhận được thêm các góp ý thảo luận và bổ sung từ các chuyên gia và các công trình nghiên cứu khác
Người viết hy vọng rằng kết quả nghiên cứu từ bài viết có thể góp phần làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn nữa về ý niệm con ngựa ở các phương diện khác Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy các thành ngữ - tục ngữ có liên quan đến con ngựa, nếu có thể giới thiệu cho người học hiểu rõ về lý do tại sao người xưa lại lựa chọn con ngựa trong các trường hợp này
có thể giúp cho việc dạy và học thành ngữ - tục ngữ được sinh động và sâu sắc hơn
Trang 95 Kết luận
Trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, bài viết đã từng bước giải quyết các vấn đề liên quan đến ý niệm con ngựa nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận Cụ thể, ý niệm con ngựa xét trên góc độ ―miền nguồn‖ chủ yếu thể hiện ở đặc điểm tập tính; vai trò của con ngựa trong đời sống, trong chiến trận; đặc điểm cấu tạo cơ thể; các điển tích, điển cố hay các câu chuyện dân gian có liên quan đến loài ngựa Trong đó, có hiện tượng một miền nguồn có thể phóng chiếu sang nhiều miền đích Qua phân tích, bài viết còn chỉ ra rằng có hai loại ẩn dụ được sử dụng khi nói đến ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt là ẩn dụ bản thể và ẩn
dụ cấu trúc, trong đó loại ẩn dụ bản thể chiếm tuyệt đại đa số Đặc biệt, có thể thấy rằng kết quả nghiên cứu về cơ chế lựa chọn miền nguồn trong bài viết hoàn toàn phù hợp và củng cố cho quan điểm tư duy ngôn ngữ của người Việt mang tính cụ thể, thiên về kiểu tư duy liên hợp, cảm giác, hành động – trực quan
Tài liệu tham khảo
Lakoff G và Johnson M., Nguyễn Thị Kiều Thu dịch (2017) Chúng ta sống bằng ẩn dụ
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Hoàng Phê (chủ biên) (2020) Từ điển tiếng Việt (Có chú thích chữ Hán cho từ ngữ Hán –
Việt) Nhà xuất bản Đà Nẵng
Lê Đình Khẩn (2002) Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt Nhà xuất bản Đà Nẵng
Lý Toàn Thắng (2009) Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng
Việt TP.Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Phương Đông
Nguyễn Đức Tồn (2008) Đặc trưng Văn hóa - Dân tộc của Ngôn ngữ và Tư duy Hà Nội:
Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Ngựa trong chiến tranh ở Đông Nam Á https://vi.wikipedia.org (Ngày truy cập: 30/08/2020)
Trần Văn Cơ (2009) Khảo luận Ẩn dụ tri nhận Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động - xã hội
Việt Chương (2004) Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam – Quyển Thượng Nhà
xuất bản Đồng Nai
Việt Chương (2004) Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam – Quyển Hạ Nhà xuất
bản Đồng Nai
Viện ngôn ngữ học (1998) Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt Nhà xuất bản Giáo dục
THE IMAGE OF HORSES IN VIETNAMESE IDIOMS AND PROVERBS
FROM THE ANGLE OF COGNITIVE LINGUISTICS
Abstract
Horses have long closely connected with human beings This is the reason why the images
of horses have been employed in Vietnamese animal idioms and proverbs From the light of the previous studies, the research has synthesized idioms with the horse element in "Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam" (Việt Chương) and gave a new perspective on the concept of the horse appearing in Vietnamese idioms - proverbs from the angle of cognitive linguistics The research aims to analyze the horse in source domain and the
Trang 10expressive meaning of idioms - proverbs with the horse element in target domain, giving ground to further explanations regarding to the way cultural factors and cognition influences languages of Vietnamese people
Keywords
horse image, Vietnamese idioms - proverbs, cognitive linguistics, source domain, target
domain