1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đối chiếu đặc điểm cú pháp của câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật

11 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 693,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu bị động là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bài báo đã tiến hành thống kê câu sử dụng cấu trúc bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật trên các trang báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật.

Trang 1

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CÖ PHÁP CỦA CÂU BỊ ĐỘNG

TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

Trần Diễm Hà

Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Tóm tắt

Câu bị động là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Bài báo đã tiến hành thống kê câu sử dụng cấu trúc bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật trên các trang báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật Mô tả cấu trúc của câu bị động; sau đó sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu phân tích phương thức cấu trúc của câu bị động trong tiếng Việt,

để đối chiếu với câu bị động trong tiếng Nhật Từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt của hai ngôn ngữ, phục vụ cho việc giảng dạy và học tập giữa hai ngôn ngữ đạt hiệu quả cao nhất Qua nghiên cứu, nhận thấy có sự tương đồng rõ nét về cấu trúc và tần suất xuất hiện của các cấu trúc bị động trong hai ngôn ngữ

Từ khóa

câu bị động, đặc điểm cú pháp, tiếng Việt, tiếng Nhật

1 Mở đầu

Trong cuộc sống thường ngày, con người thường sử dụng câu bị động khi chịu tác động từ một đối tượng nào đó gây ra phiền hà cho bản thân Ngoài ra, còn sử dụng câu bị động khi không rõ đối tượng là tác nhân thực hiện hành động đó Đặc điểm của tiếng Nhật là thường tỉnh lược chủ ngữ hoặc đối tượng đã được nhắc tới từ trước trong văn bản Chính vì vậy, câu

bị động được coi là một trong những vấn đề khó đối với người học Cho tới nay, đã có không

ít công trình nghiên cứu ở các bậc khác nhau về các vấn đề của ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản… góp phần hỗ trợ cho quá trình học tập và giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về câu bị động tiếng Nhật còn dừng lại ở việc phân tích cấu trúc hay khảo sát khả năng tiếp thu của người học đối với loại câu này

1.1 Nghiên cứu câu bị động trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, vấn đề bị động nói chung và câu bị động nói riêng rất được quan tâm

và có nhiều ý kiến khác nhau Các nghiên cứu chủ yếu đi vào phân tích quan điểm có hay không có sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt Nhìn chung, có thể quy các ý kiến thành

hai quan điểm phủ nhận và thừa nhận sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt

Về quan điểm phủ định sự tồn tại câu bị động trong tiếng Việt có một số tác giả như Cao Xuân Hạo (2001), Nguyễn Thị Ảnh (2000), Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn Minh Thuyết (1998),…

Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng: ―động từ bị và được là những động từ độc lập đóng

vai trò chính trong bộ phận vị ngữ của câu, không phải là hư từ biểu thị dạng bị động của động từ‖ Về ý nghĩa, được có nghĩa như tiếp nhận hoặc chịu đựng một cách thích thú, còn bị

biểu thị ý nghĩa chịu đựng một sự không may, hay cũng có thể nói rằng biểu thị trạng thái rủi

ro của chủ thể Về đặc điểm ngữ pháp, bị và được còn được dùng như một thực từ chân chính,

Trang 2

có khả năng kết hợp rất phong phú Nói cách khác, Nguyễn Kim Thản cho rằng động từ tiếng

Việt không có dạng bị động và không công nhận bị/được là dấu hiệu của dạng bị động của

động từ tiếng Việt

Trái ngược với quan điểm trên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng tiếng Việt vẫn tồn tại cấu trúc bị động hay câu bị động mặc dù không có phạm trù bị động với tư cách là một

phạm trù hình thái học Theo Diệp Quang Ban (2009): ―tiếng Việt không biến hình từ nên

động từ không có dang chủ động và dạng bị động Tuy nhiên, tiếng Việt có cách diễn đạt ý bị động một các đều đặn như các quy tắc ngữ pháp, bằng hai phương thức ngữ pháp hư từ và trật tự từ‖

Trong bài viết lần này, chúng tôi dựa trên quan điểm thừa nhận sự tồn tại câu bị động trong tiếng Việt, từ đó phân tích so sánh với câu bị động trong tiếng Nhật

1.2 Nghiên cứu câu bị động trong tiếng Nhật

So với tiếng Việt, các công trình nghiên cứu về câu bị động hay cấu trúc bị động trong tiếng Nhật khá phong phú, như của các tác giả Suzuki (1972), Teramura (1982), Takahashi (1992), Nita(2009) Các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích cấu trúc câu bị động, khả năng giải thích đối với các cấu trúc này cũng như khả năng tiếp thu của người học đối với câu

bị động tiếng Nhật Bên cạnh đó, cũng có những nghiên cứu so sánh đối chiếu câu bị động tiếng Nhật với tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Anh… Zhang Su 張蘇, 王亜新 (2016) , Lưu Ngân Tú Uyên (2018), 季偉 (2019) Các nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát cách sử

dụng câu của người học, hoặc đối chiếu câu bị động trong tiếng Nhật với các ngôn ngữ khác 1.3 Nghiên cứu so sánh câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật

Cho đến nay, các nghiên cứu về đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Nhật tương đối đa dạng Tuy nhiên, không có nhiều các nghiên cứu đối chiếu về câu bị động trong tiếng Việt và

tiếng Nhật

Tanimori Masahiro (1999) đối chiếu câu bị động tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Nhật nhưng chỉ tập trung vào cấu trúc bị động gián tiếp Tương tự, Nguyễn Thị Ái Tiên (2012) nêu

ra nghiên cứu về câu bị động tiếng Nhật và cấu trúc ―bị‖ trong tiếng Việt trên tạp chí của Đại học Osaka Nhật Bản Ở nghiên cứu này, tác giả tập trung vào câu bị động gián tiếp – một loại câu bị động của tiếng Nhật Trong khi đó, về phía tiếng Việt, tác giả chỉ tập trung vào cấu trúc

―bị‖ Như vậy, các tác giả chỉ mới dừng lại việc so sánh hai cấu trúc này mà chưa có cái nhìn tổng quát về câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật

Nguyễn Thị Việt Thanh (2012) trên Tạp chí Ngôn ngữ số 3 đã nêu lên một vài nhận xét về loại câu bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Thị Việt Thanh khẳng định lại sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đi sâu vào đối chiếu cấu trúc câu bị động trong hai ngôn ngữ

Nghiên cứu gần đây nhất là nghiên cứu của Lưu Ngân Tú Uyên (2018) Ở nghiên cứu của mình, tác giả đối chiếu các loại câu bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt, từ đó thể hiện những điểm khó khăn của việc tiếp thu câu bị động của người Việt học tiếng Nhật Tác giả

Trang 3

tiến hành khảo sát về ý thức chọn lựa câu bị động và câu tự động từ, làm rõ khuynh hướng sử dụng Nghiên cứu này tập trung vào khảo sát ý thức của người học

Trong nghiên cứu này, tôi tập trung phân tích đối chiếu các cấu trúc câu bị động trong tiếng Việt và tiếng Nhật, làm rõ những điểm giống và khác nhau trong hai ngôn ngữ

Việc nghiên cứu một cách toàn diện về cấu trúc của loại câu này trong tiếng Nhật là cần thiết Bên cạnh đó, việc so sánh với câu bị động trong tiếng Việt để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về cú pháp của loại câu này trong hai ngôn ngữ cũng là một vấn đề được đặt ra, nội dung cụ thể như sau:

- Câu bị động được thể hiện trong tiếng Việt và trong tiếng Nhật qua hình thức nào?

- Việc sử dụng câu bị động trong các bài báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật có điểm gì giống và khác nhau?

2 Cơ sở lý luận

2.1 Câu bị động trong tiếng Việt

Cũng giống như những ngôn ngữ khác, câu bị động trong tiếng Việt được coi là quan

hệ cải biến với câu chủ động tương ứng Tuy nhiên, không phải câu chủ động nào cũng có thể chuyển thành câu bị động

Theo Nguyễn Hồng Cổn (2004) và Diệp Quang Ban (2009), xét về mặt hình thức, câu

bị động trong tiếng Việt cần thoả mãn các điều kiện sau:

- Chủ ngữ bị động là bổ ngữ của câu chủ động tương ứng

- Vị ngữ của câu bị động được tạo thành từ vị ngữ của câu bị động tương ứng bằng cách

thêm bị hoặc được trước động từ ngoại động

- Bổ ngữ của câu bị động chính là chủ ngữ của câu chủ động tương ứng Bổ ngữ này thường được tỉnh lược trong câu bị động không có tác thể Nếu không bị tỉnh lược, có thể chuyển vị trí trước động từ (trong câu bị động có bổ ngữ tác thể không có giới từ) hoặc ở vị trí

sau động từ với điều kiện phải thêm giới từ bởi (trong câu bị động các tác thể bổ ngữ giới từ)

Những điều kiện trên phải được thoả mãn đồng thời, những câu có chứa từ bị hoặc

được mà không đáp ứng tất cả những điều kiện trên thì không thuộc phạm trù câu bị động Có

thể khái quát quá trình chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động như sau:

Câu chủ động: N1 V N2

+ Câu bị động phi tác thể: N2 bị/được V

Ví dụ: Dao này được dùng gọt trái cây

+ Câu bị động có bổ ngữ tác thể không giới từ: N2 bị/được N1 V

Ví dụ: Thuyền được người lái đẩy ra xa

+ Câu bị động có bổ ngữ tác thể có giới từ: N2 bị/được V bởi N1

Ví dụ: Màu cỏ úa đen đang được đẩy lùi bởi các dòng chữ xanh đen

2.2 Câu bị động trong tiếng Nhật

Câu bị động trong tiếng Nhật là câu diễn tả sự việc từ phía nhận được hành động từ

người khác, động từ chính là động từ ở dạng bị động Theo Jamassy (2008), câu bị động tiếng Nhật có 3 cấu trúc như sau:

Trang 4

1 N が V られる (N bị /được V)

この地方では主に赤いワインが作られている。

Rượu vang đỏ được sản xuất chủ yếu ở vùng này

2 N1 が N2 に V られる (N1 được/ bị N2 thực hiện V)

漫画週刊誌は若いサラリーマンによく読まれている。

Những tuần san truyện tranh được giới nhân viên công ty trẻ tuổi đọc nhiều

私は部長に褒められました。

Tôi được trưởng bộ phận khen

3 N1 が N2 に N3 を V られる (N1 bị/ được N2 thực hiện V vào N3, trong đó N3 thuộc

sở hữu của N1)

田中さんは社長に仕事を頼まれました。

Anh Tanaka bị giám đốc nhờ việc

3 Phương pháp nghiên cứu

Bài báo đã tiến hành thống kê các bài báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật có sử dụng câu bị động từ tháng 3 đến tháng 4/2020 trên 2 trang báo điện tử tiếng Việt và 2 trang báo điện tử tiếng Nhật Trong giới hạn của đề tài này, chỉ chú trọng phân tích đặc điểm 100 câu bị động trong các bài báo tiếng Việt và tiếng Nhật tháng 3 và tháng 4, bởi vì do ảnh hưởng của tình hình thời sự, câu bị động trong khoảng thời gian này được sử dụng nhiều và phong phú hơn cả

Tập hợp các câu bị động được sử dụng trên bài báo điện tử tiếng Việt và tiếng Nhật, sau

đó tiến hành phân tích và so sánh nhận xét Tôi chú trọng đến tần suất xuất hiện của các cấu trúc câu bị động trong hai ngôn ngữ, các thành phần chính trong câu, các thành phần chính trong câu được cấu tạo như thế nào

Phân tích kết quả, đánh giá

4 Kết quả nghiên cứu

Bài báo tiến hành thống kê 35 bài báo tiếng Việt và 46 bài báo tiếng Nhật, từ đó lấy ra được 50 câu bị động tiếng Việt và 50 câu bị động tiếng Nhật Trên cơ sở 100 câu bị động tiếng Việt và bị động tiếng Nhật, tôi tiến hành phân tích các mục sau:

- tần suất xuất hiện các loại cấu trúc câu bị động

- các thành phần chính trong câu bị động

- cấu tạo các thành phần chính trong câu bị động

- sự tác động của V lên chủ thể trong câu bị động trong hai ngôn ngữ

Trang 5

Biểu đồ 1: Tần suất xuất hiện các cấu trúc câu bị động

Khi phân tích tần suất xuất hiện các loại câu trúc câu bị động, có thể nhận thấy rằng trong tiếng Việt có 3 cấu trúc câu bị động, tương ứng với tiếng Nhật cũng có 3 cấu trúc câu bị

động Theo kết quả trên cho thấy, câu bị động phi tác thể có giới từ trong tiếng Việt không

xuất hiện trong ngữ liệu Về phía tiếng Nhật, cấu trúc N1 が N2 に N3 を V られる không xuất hiện Như vậy, mặc dù mỗi ngôn ngữ có 3 cấu trúc câu bị động nhưng trong nghiên cứu

lần này chỉ xuất hiện 2 cấu trúc Cấu trúc câu bị động có bổ ngữ tác thể có giới từ trong tiếng

Việt và cấu trúc N1 が N2 に N3 を V られる trong tiếng Nhật không xuất hiện trong kết quả

khảo sát Điều này chứng tỏ cấu trúc câu bị động phi tác thể có giới từ trong tiếng Việt và cấu

trúc N1 が N2 に N3 を V られる trong tiếng Nhật ít được sử dụng trong các bài báo điện tử Ngoài ra, điều này cũng có thể hiểu rằng hai cấu trúc này có tần suất sử dụng thấp trong các loại câu bị động, đặc biệt là trên các bài báo điện tử

Trong tiếng Việt sử dụng chính cấu trúc bị động phi tác thể chiếm 72%; còn tiếng Nhật

sử dụng chính cấu trúc N が V られる chiếm 98% Trong cấu trúc bị động N が V られる khi chuyển thành câu chủ động tương ứng thì không rõ chủ ngữ của câu Điều này cũng tương

ứng với cấu trúc bị động phi tác thể của tiếng Việt Như vậy, có thể hiểu rằng hai cấu trúc này

có phần tương đương với nhau về mặt cấu trúc Dựa vào kết quả khảo sát trên cũng có thể nhận xét rằng trong tiếng Nhật, các bài báo điện tử hầu hết thường sử dụng các câu bị động

mà không rõ tác nhân gây nên hành động đó Trong khi đó, ở tiếng Việt khoảng ¾ các câu bị động không rõ tác nhân, ¼ còn lại là các câu bị động nêu rõ tác nhân gây nên hành động đó

Xét sự tần suất xuất hiện của cấu trúc câu bị động có tác thể không giới từ trong tiếng Việt và cấu trúc N1 が N2 に V られる trong tiếng Nhật thì có câu bị động có tác thể không

giới từ chiếm 28% và câu bị động N1 が N2 に V られる chiếm 2% Như vậy có thể khẳng

định rằng trong tiếng Việt, bên cạnh cấu trúc câu bị động phi tác thể, cấu trúc bị động có tác

thể không giới từ vẫn được sử dụng ở một mức độ nào đó Ngược lại, trong tiếng Nhật, việc

sử dụng câu bị động chỉ tập trung vào cấu trúc N1 が V られる Cấu trúc N1 が N2 に V ら

れるtuy được sử dụng nhưng rất ít

Khi phân tích các thành phần câu bị động thì có nhiều điểm giống và khác nhau Nếu trong tiếng Việt bao gồm các thành phần chủ ngữ, vị tố, tân ngữ và tân ngữ trực tiếp, gia ngữ

72%

28%

0%

Tiếng Việt Câu bị động

phi tác thể

câu bị động

có bổ ngữ tác thể không giới

từ Câu bị động

có bổ ngữ tác thể có giới từ

98%

2%

0%

Tiếng Nhật

Nが Vられる

N1がN2にVら

れる

N1がN2にN3を Vられる

Trang 6

thì trong tiếng Nhật bao gồm các thành phần chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trợ từ Như vậy, có thể

thấy được trong tiếng Việt và tiếng Nhật đều có xuất hiện chủ ngữ và vị ngữ

Xét về chủ ngữ, chủ ngữ của các câu bị động trong tiếng Việt và trong tiếng Nhật đều đứng đầu câu Khi đi sâu vào thành phần cấu tạo của chủ ngữ, có được số liệu thể hiện qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2: Thành phần cấu tạo của chủ ngữ trong câu bị động

Nhìn vào Biểu đồ 2, có thể nhận thấy sự tương đồng về cấu tạo của chủ ngữ trong câu

bị động Trong khi hơn một nửa chủ ngữ trong câu tiếng Việt đều được cấu tạo từ cụm danh

từ thì tiếng Nhật chỉ sử dụng danh từ là chính Tuy nhiên, danh từ là chủ ngữ trong tiếng Nhật 56% chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với danh từ là chủ ngữ trong tiếng Việt 34% Trong tiếng Việt, cụm danh từ thường bao gồm các yếu tố phụ + danh từ chính, tuy nhiên, cụm danh từ này không thể trở thành một câu Trong khi đó ở tiếng Nhật, phần bổ ngữ + danh từ có thể bao gồm động từ hoặc một câu để bổ nghĩa cho danh từ chính Chủ ngữ trong câu tiếng Việt có thể được cấu tạo từ một câu nhưng trong tiếng Nhật thì không thể Trong câu tiếng Việt 100%

có chủ ngữ, còn trong câu tiếng Nhật có 14% số câu không có chủ ngữ Điều này được giải thích do khả năng lược bỏ chủ ngữ trong câu tiếng Nhật Trong các câu bị động không tồn tại chủ ngữ, chủ ngữ đã được nhắc tới ở câu trước, vì vậy, ở câu sau có thể lược bỏ Đây là một đặc điểm ngữ pháp khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Nhật nói chung

Phân tích về thành phần vị ngữ trong tiếng Việt và tiếng Nhật, nhận thấy rằng cả trong hai ngôn ngữ vị ngữ đều nằm sau chủ ngữ, và được cấu tạo bằng động từ Khi xét sâu hơn về đặc điểm động từ nằm trong vị ngữ, thì trong tiếng Việt và tiếng Nhật động từ luôn là động từ ngoại động Trên lí thuyết, có sự tồn tại của động từ nội động trong vị ngữ các câu bị động tiếng Nhật, nhưng trong khảo sát này không xuất hiện Điều này chứng tỏ là tần suất xuất hiện các động từ nội động trong câu bị động tiếng Nhật khá thấp, cũng chứng tỏ rằng có sự tương đồng về thành phần vị ngữ trong cấu trúc câu bị động ở hai ngôn ngữ

Trong câu bị động tiếng Việt bắt buộc có sự tồn tại của bị/được Việc sử dụng bị/được sẽ

cho thấy được tác động của hành động lên chủ ngữ trong câu là tích cực hay tiêu cực Dựa vào sự xuất hiện của bị/được mà người đọc có thể hiểu được tác giả muốn đề cập sự tác động

của hành động V lên danh từ N đó là có lợi hay bất lợi Xét về tần suất xuất hiện của bị và

được thì có 38% câu sử dụng từ bị và 62% sử dụng từ được Như vậy, các câu bị động trong

34%

54%

12%

Tiếng Việt

danh từ cụm danh từ câu

56%

30%

14%

Tiếng Nhật

danh từ

bổ ngữ + danh

từ không có

Trang 7

tiếng Việt thường đưa các sự việc được tiếp nhận một cách thích thú nhiều hơn là các sự việc biểu thị ý nghĩa chịu đựng hay biểu thị trạng thái rủi ro của chủ thể Bên cạnh đó, trong tiếng Nhật, do đặc điểm là ngôn ngữ chấp dính nên bị động được thể hiện qua động từ Trong câu

bị động tiếng Nhật khác với câu bị động tiếng Việt, không nêu rõ đề cập sự tác động của hành động V lên danh từ N đó là có lợi hay bất lợi Sự tác động đó có lợi hay bất lợi còn tuỳ thuộc vào động từ Như vậy, đây là một điểm khác biệt giữa câu bị động của hai ngôn ngữ

5 Kết luận

Câu bị động tồn tại trong tiếng Nhật và trong tiếng Việt với các cách thức khác nhau Trong tiếng Nhật, bị động được biết đến với khái niệm của dạng động từ られる Câu bị động được hình thành bằng việc đảo vị trí của chủ ngữ và tân ngữ trong câu thuận, chuyển động động từ thành dạng bị động Còn trong tiếng Việt, câu bị động được hình thành bằng hai phương thức ngữ pháp hư từ và trật tự từ Trong câu bị động tiếng Việt phải có sự tồn tại của

bị/được và phải thoả mãn đồng thời các điều kiện về chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ

Tiếng Việt cũng như tiếng Nhật có 3 cấu trúc câu bị động, tần suất xuất hiện của các cấu

trúc trong hai ngôn ngữ cũng khá giống nhau Trong tiếng Việt thường tập trung sử dụng cấu

trúc câu bị động phi tác thể N bị/được V còn trong tiếng Nhật tập trung vào sử dụng cấu trúc

N が V られる Hai cấu trúc này có đặc điểm tương đồng nhau là danh từ đóng vai trò trong tân ngữ câu chủ động tương ứng và không rõ được tác thể của hành động V

Bên cạnh đó, có sự tương đồng về hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ trong câu Đây cũng là đặc điểm chung của hai ngôn ngữ Hai thành phần chính trong câu ở tiếng Việt

và tiếng Nhật cũng có nét tương đồng và mang đặc điểm riêng của ngôn ngữ đó Nếu ở chủ ngữ thì đa phần được cấu tạo từ danh từ, thì vị ngữ đều được cấu tạo từ ngoại động từ Tuy nhiên ở chủ ngữ, trong tiếng Nhật có thể được lược bỏ đi, còn tiếng Việt thì luôn có sự tồn tại của chủ ngữ Như vậy khi dạy học, giáo viên cần chú ý đến đặc điểm này để giúp người học tiếp thu nhanh hơn

Nhờ sự xuất hiện của bị/được trong câu bị động tiếng Việt mà có thể hiểu được rằng

sự tác động của hành động lên chủ thể là bất lợi hay có lợi Tuy nhiên, trong tiếng Nhật do đặc điểm ngôn ngữ nên cần căn cứ vào ý nghĩa của động từ trong câu Vì vậy, trong quá trình dạy học, đặc biệt là đối với các môn dịch, việc làm rõ đặc điểm này đối với sinh viên là cần thiết

Tài liệu tham khảo

Diệp Quang Ban (2009) Ngữ pháp Việt Nam phần câu Hà Nội: Nxb Đại học Sư phạm

Jammassy Group(2008) Từ điển mẫu câu tiếng Nhật Nxb Giáo dục

Nguyễn Hồng Cổn (2004) Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt Tạp chí ngôn ngữ số,

7

Nguyễn Thị Ái Tiên (2012) A comparison of Japanese indirect passive and Vietnamese

―bi‖construction, 大阪大学大学院言語文化研究科日本語・日本文化専攻 編

Nguyễn Thị Việt Thanh (2002) Một số nhận xét loại câu bị động của tiếng Nhật và tiếng Việt Tạp chí Ngôn ngữ, 3

Trang 8

CONTRAST SYNTACTIC FEATURES OF PASSIVE SENTENCES

BETWEEN VIETNAMESE AND JAPANESE Abstract

Passive sentence is a case that concerned many researchers This article has totalled up the sentences using passive structures on online newspapers in Vietnamese and Japanese Describe the structure of passive sentences; then use the compare and contrast method to analyze the structural modality of the passive sentence in Vietnamese to compare with the passive sentence in Japanese to find out the similarities and differences in wording of two languages, for effective teaching and learning between Vietnamese and Japanese Through research, it is found that there are similarities in the structure and frequency of appearance of passive structures in two languages

Keywords

passive sentence, structure,Vietnamese, Japanese

PHỤ LỤC

1 PHỤ LỤC CÂU BỊ ĐỘNG TIẾNG VIỆT

1 Ông Phạm Đại Dũng, Chủ tịch UBND xã Hương Lâm (huyện Hương Khê) bị đình chỉ công tác 10 ngày vì đánh bài với nhiều người trong thời gian cách ly xã hội

2

Một cá thể cu li được xếp vào danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, có nguy

cơ bị tuyệt chủng bị trói nhiều giờ vừa được Hạt Kiểm lâm Hương Sơn (Hà Tĩnh) giải cứu kịp thời

3 Hà Nội SmartCity được xây dựng theo 4 mục thông tin: bản đồ dịch, thống kê, khai báo và phản ánh

4 Những ngư dân trên tàu cá Quảng Ngãi bị đâm chìm ở Hoàng Sa đã được bàn giao cho 2 tàu

cá của ngư dân cùng địa phương

5 Tuy nhiên, thực chất thông tin đưa ra đã bị suy diễn thành "nhiều Đại sứ khuyên công dân rời Việt Nam ngay"

6 Thiếu tướng Lê Quốc Hùng và Thiếu tướng Lê Tấn Tới vừa được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an

7 6 công nhân đã bị mắc kẹt do tụt vì chống lò khi đang trong ca làm việc

8 Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thị Thanh Mỹ, bị khiển trách vì ký văn bản "báo cáo công suất hoả táng" gây hoang mang dư luận

9 Bộ Lao động Thương binh Xã hội được yêu cầu thiết kế chính sách bảo vệ quyền lợi cho

người dân ra nước ngoài làm việc và khi về nước

10 Chị Hồ Thị Phương Nhi (38 tuổi) bị đề nghị phạt 200.000 đồng vì gửi rượu vào khu cách ly tập trung cho người thân

11 Việc quản lý chất thải từ khi phát sinh, thu gom, đến tái chế, tiêu hủy được đề xuất thực hiện theo nguyên tắc ―người gây ô nhiễm phải trả tiền‖

12 Sữa, bánh kẹo, bỉm, đồ chơi được các bác sĩ Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An chuẩn bị sẵn tại một kệ hàng để những bệnh nhân khó khăn tới mua

13 Hai lãnh đạo cấp sở ở Quảng Ninh được bổ nhiệm thông qua thi tuyển và trình bày đề án, ngày 25/4

Trang 9

14 Ông Trịnh Ngọc Bình (42 tuổi) bị Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông phạt 7,5 triệu đồng, ngày 27/4

15 600 cây keo lá tràm của gia đình bà Nguyễn Thị Hường, 53 tuổi, trú xã Hương Đô, huyện Hương Khê bị kẻ xấu chặt đổ ngổn ngang

16 Việc sát hạch, cấp, đổi và thu hồi giấy phép lái xe được đề xuất chuyển từ Bộ Giao thông Vận tải sang Bộ Công an

17 Để xảy ra tụ tập ăn nhậu và vận động tiền trong khu cách ly, thượng tá Nguyễn Hoàng

Minh, Phó chủ nhiệm Hậu cần, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Long bị đề nghị cách chức

18 Không dừng đón khách để phòng dịch và không khai báo lưu trú, khách sạn Mường Thanh Sa Pa

bị phạt 18 triệu đồng

19 Việc lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính được đội kiểm tra liên ngành quản lý dịch vụ du lịch và Quản lý thị trường số 2, thị xã Sa Pa thực hiện vào sáng 1/4

20 16 người bị chó cắn

21 Đi thể dục buổi sáng dọc đường Trường Chinh, 16 người ở TP Pleiku bất ngờ bị một con chó xông ra cắn, sáng 1/4

22 Thiếu tướng Nguyễn Thị Xuân, Phó cục trưởng Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an được biệt phái về công tác tại Ủy ban Quốc phòng - An ninh

23 Hộ nghèo ở Sài Gòn được miễn tiền nước

24 Gần 26.000 hộ nghèo, cận nghèo và các khu cách ly tập trung phòng Covid-19 ở TP HCM được miễn tiền nước 3 tháng - từ tháng 4 đến 6/2020

25 Cửa ngõ Sài Gòn được kiểm soát chặt

26 Hàng trăm người được xét nghiệm nhanh Covid-19

27 Người bán vé số dạo được đại lý hỗ trợ

28 Trong ngày đầu thực hiện ―lệnh giới nghiêm‖, 42 người ra đường sau 22h bị đưa về khu tập trung tại các phường trên địa bàn TP Hạ Long

29 Chủ quán cà phê và khách bị xử phạt hành chính vì không đeo khẩu trang nơi công cộng trong lúc Covid-19 diễn biến phức tạp

30 Người cách ly được hỗ trợ tiền ăn 80.000 đồng mỗi ngày

31 Người Việt Nam và người nước ngoài đang bị cách ly tại bệnh viện hoặc cơ sở khác, được hỗ trợ tiền ăn 80.000 đồng mỗi ngày

32 UBND Hà Nội, TP HCM được yêu cầu rà soát, cập nhật phương án phòng chống Covid-19,

"bảo đảm sẵn sàng cho cả phương án cách ly toàn thành phố"

33 Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM bị phê bình

34 Sở này được yêu cầu kiểm điểm các cá nhân liên quan, báo cáo UBND thành phố trong tối nay

35 Trong lúc bắt cua trong hang, bà Trần Thị Ích, 63 tuổi, trú xã Thạch Ngọc, huyện Thạch Hà bị rắn cắn trúng tay phải

36 Tăng ni cả nước được yêu cầu cấm túc tại các chùa, cơ sở tự viện và không đi ra ngoài nếu không cần thiết, đến hết ngày 15/4

37 Hoạt động vận chuyển bằng xe khách, tàu hỏa từ hai thành phố lớn đi các tỉnh được hạn chế từ 27/3

38 Chỉ đạo này được đưa ra để góp phần phòng, chống Covid-19

39

Các cơ quan chức năng cũng được yêu cầu phối hợp với đơn vị liên quan kiểm soát chặt các trường hợp nhập cảnh tại biên giới trên bộ (nhất là biên giới với Lào, Campuchia), đường thủy, đường biển, cảng hàng không

40 Bé trai bị bỏ rơi trong thùng mì tôm

41 Đứa trẻ 3,4 kg, còn nguyên dây rốn được người dân phát hiện bên lề đường ở thành phố

Pleiku, sáng 27/3

42 Ông Dương Anh Đức, Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông TP HCM, được HĐND thành phố bầu làm Phó chủ tịch UBND thành phố với 83/93 phiếu, chiều 27/3

Trang 10

43 Tháng 7/2017, ông Đức được bổ nhiệm chức Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông TP HCM, thay ông Lê Thái Hỷ nghỉ hưu

44 Hai năm sau, ông được Ban Bí thư chỉ định bổ sung vào Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ TP HCM khóa X nhiệm kỳ 2015-2020

45 8 dự án cao tốc Bắc Nam được Chính phủ đề xuất chuyển hình thức đầu tư từ vốn xã hội hóa sang vốn ngân sách

46 Các dự án này được kiến nghị cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu khi triển khai

47 Gần 200kg tôm chết được sơ chế thành tôm nõn bị phát hiện tại nhà ông Trần Văn Ngô, 48

tuổi, trú huyện Cẩm Xuyên

48 Các dịch vụ dẫn tàu bay, thuê thang ống, băng chuyền, phục vụ mặt đất được các sân bay giảm giá trong 6 tháng

49 Hơn 16.500 người Việt Nam về từ các vùng có dịch đang được cách ly trong doanh trại, trong

đó có 385 người nước ngoài

50 Hai khu du lịch biển Quy Nhơn bị đình chỉ thi công

2 PHỤ LỤC CÂU BỊ ĐỘNG TIẾNG NHẬT

増えた。)1 府 5 県で新たに確認された。

されていた。

置された。

の代わりに、市を砂像の街としてPRしようと企画された。

計 14 両が製造された。

Ngày đăng: 28/06/2021, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm