Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về tính tích cực học tập của sinh viên khoa Ngôn ngữ và văn hóa Nhật bản, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (ĐHNN, ĐHH). Nội dung tập trung vào sự khác nhau về tính tích cực giữa sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh (khối D1) và sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Nhật (khối D6).
Trang 1TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NHẬT BẢN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ, ĐẠI HỌC
HUẾ
1 Nguyễn Thị Hương Trà, 2 Trần Thị Khánh Liên 1,2Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về tính tích cực học tập của sinh viên khoa Ngôn ngữ và văn hóa Nhật bản, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (ĐHNN, ĐHH) Nội dung tập trung vào sự khác nhau về tính tích cực giữa sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh (khối D1) và sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Nhật (khối D6) Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản phần lớn có tính tích cực trong học tập, tuy nhiên tính tích cực có sự khác nhau giữa hai khối D1 là sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh và khối D6 là sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Nhật gây cản trở cho việc học của sinh viên Cần phải có phương pháp phù hợp để phát huy, khuyến khích sinh viên khối D6 và không tạo áp lực cho sinh viên khối D1 là vấn đề cần quan tâm giải quyết
Từ khóa
tính tích cực học tập, sinh viên khối D1 và D6, hoạt động nhóm
1 Mở đầu
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong sự phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia Việc nâng cao chất lượng giáo dục luôn
là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, nhất là trong thời đại có quá nhiều trường đại học được thành lập và hoạt động như hiện nay Vấn đề chất lượng càng trở nên cấp bách và là một trong những thách thức lớn các trường đại học phải luôn đối mặt Làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên bậc đại học? Làm thế nào để sinh viên sau khi ra trường sinh viên có thể tự tin với những kiến thức và kỹ năng có được khi còn là sinh viên trong trường đại học để
có thể đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và của các nhà tuyển dụng Một trong những cách tiếp cận nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và chuẩn hóa chương trình đào tạo là đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp dạy học nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra và yêu cầu phát triển của xã hội Đây được xem là một giải pháp cần thiết và tất yếu trong thời đại khoa học
kỹ thuật và công nghệ thông tin phát triển nhanh như vũ bão như hiện nay Sinh viên tiếp thu kiến thức không chỉ ở trên lớp, giáo trình, thư viện mà còn thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau như internet, sách báo, truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng khác.Chính vì thế phương pháp học truyền thống không còn là phương pháp chủ đạo như trước Tích tích cực học tập của sinh viên hơn bao giờ hết cần được chú trọng và khơi dậy cho mỗi sinh viên
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tôi tìm hiểu về tính tích cực học tập của sinh viên khoa Ngôn ngữ và văn hóa Nhật bản, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (ĐHNN, ĐHH) Nội dung cụ thể như sau:
Trang 2- Sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản có tích cực trong học tập hay không?
- Có sự khác nhau về tính tích cực giữa sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh (khối D1)
và sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Nhật (khối D6) hay không?
- Làm thế nào để sinh viên hai khối này có thể học chung trong cùng một lớp mà không
bị áp lực và có thể phát huy được tính tích cực của mỗi sinh viên?
2. Cơ sở lý luận
Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 (dự thảo lần thứ 14) về định hướng phát triển giáo dục có nêu về Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao, tiếp cận được với chất lượng giáo dục của khu vực và quốc tế, trong đó giáo dục đại học có ghi rõ:
Sinh viên sau khi tốt nghiệp có kiến thức hiện đại, kỹ năng thực hành nghề nghiệp vững chắc, có khả năng lao động sáng tạo, có tư duy độc lập, phê phán và năng lực giải quyết vấn đề, có khả năng thích ứng cao với những biến động của thị trường lao động
Theo đó trong giải pháp 5 có đề cập đến Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, kiểm định và đánh giá các cơ sở giáo dục - Thực hiện cuộc vận động toàn ngành đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của giáo viên
Học tập tích cực là một khái niệm rộng, bao gồm rất nhiều hoạt động nhưng chung quy lại là dùng phương pháp học tập lấy người học làm trung tâm Theo Mizogami (2014), tất
cả các hoạt động mà người học chủ động tham gia đều gọi là học tập tích cực (active learning) Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi đề cập đến các khái niệm hoạt động nhóm hay là hoạt động hợp tác Việc học thông qua quá trình nhận thức để xảy ra hoạt động như viết, nói, thuyết trình bày, v.v.đều gọi là hoạt động học tích cực Nếu chỉ đơn thuần là viết hoặc nói thì không phải là hoạt động học tích cực, mà thông qua hoạt động học tích cực sẽ hình thành, nuôi dưỡng người học những kỹ năng truyền tải kiến thức, hình thành thái độ, năng lực cần thiết để xử lý các tình huống Nói tóm lại, hoạt động học tích cực là một thuật ngữ mô tả hình thức học tập của người học, tạo ra cho người học biết học tập một cách tích cực, chủ động
Tính tích cực được rất nhiều nhà nghiên cứu thảo luận trong các lĩnh vực khác nhau như trong triết học, sinh học, tâm lý học.Trong giới hạn bài viết này tính tích cực được xem xét trong lĩnh vực dạy và học Theo Kita Yoko (2019), từ quan điểm của tính tích cực học tập thì việc người học cùng nhau hợp tác, quan sát giờ học và cùng nhau trao đổi ý kiến cũng đem lại hiệu quả trong học tập
Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Tính tích cực được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động Theo Funahashi (2015), tính tích cực được chia thành hai mức đó là tính tích cực phổ quát và tính tích cực mức cao Mức phổ quát đó là kết bạn làm nhóm, trong nhóm đạt được mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở mức cao chú trọng việc hợp tác, giải quyết vấn đề, đưa ra đề xuất v.v
Trang 3Trong nghiên cứu về tính tích cực của sinh viên của Nguyễn Quý Thanh và Nguyễn Trung Kiên (2012) đã kết luận thực sự vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa nhận thức và thực hành trong ―học tích cực‖ Nếu sinh viên có tâm trạng hào hứng, tự lựa chọn ngành học, tính cách mạnh dạn và giáo viên cho tài liệu để sinh viên tự tìm hiểu, giáo viên quan sát sinh viên tốt thì
sẽ có nhiều khả năng chuyển hóa nhận thức tích cực sang thực hành học tập một cách tích cực Trong khi đó, các sinh viên ngồi ở vị trí cuối lớp, có tâm trạng mệt mỏi và học trong môi trường giáo viên đọc và trò chép thì sẽ ít khả năng thực hành được học tập tích cực
Trong luận văn thạc sĩ của mình, Võ Bình Nguyên (2014) sau khi đưa ra các lý luận của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau đã tổng kết: Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Tính tích cực của cá nhân là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra đối với đối tượng Tính tích cực thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể Tính tích cực được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động
Như vậy, tính tích cực được chú trọng thể hiện từ trong các chiến lược giáo dục đến các nghiên cứu cụ thể Theo Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2016), tính tích cực học tập là một phẩm chất vô cùng quý giá của người học (sinh viên) trong xã hội hiện đại Thực tế đã chứng minh: dạy học chỉ thành công khi và chỉ khi sinh viên chuyển hóa được những ―yêu cầu học tập‖ của nhà giáo dục thành ―nhu cầu học tập‖ của bản thân, chuyển ―quá trình đào tạo‖ thành
―quá trình tự đào tạo‖, lúc này việc học mới trở thành niềm hạnh phúc thực sự đối với sinh viên và tính nhân văn trong giáo dục được biểu hiện rõ nét hơn bao giờ hết Tính tích cực học tập khơi dậy sự hứng thú và một khi sinh viên có sự hứng thú sẽ tạo ra tính tích cực giúp sinh viên nhận thức trong quá trình học tập Hơn bao giờ hết với sinh viên đại học tính tích cực không chỉ được chú trọng mà còn là yêu cầu phải có trong thời đại phát triển khoa học công nghệ như ngày nay
3 Bối cảnh nghiên cứu
Tiếng Nhật được giảng dạy là ngoại ngữ 2 tại trường ĐHNN, ĐH từ năm 2005 cho các sinh viên khoa tiếng Nga và tiếng Trung Năm 2006 lần đầu tiên được giảng dạy cho sinh viên chuyên ngữ tiếng Nhật Nếu khóa đầu chỉ có 57 sinh viên thì đến nay mỗi khóa trung bình là
200 sinh viên Hiện tại số sinh viên khoa NN&VH Nhật Bản là khoảng 750 sinh viên, với 19 giáo viên cơ hữu và 2 giáo viên tình nguyện do tổ chức JICA phái cử Như vậy trung bình một lớp có khoảng từ 45 đến 50 sinh viên, các lớp học về văn hóa có khi lên đến 60-70 sinh viên
Số lượng người học tăng nhanh trong các năm gần đây Khóa đầu tiên của khoa chỉ với 57 sinh viên, khóa thứ 2 là 59 sinh viên thì khóa thứ 3 là 120 sinh viên, và các khóa gần đây trung bình là 200 sinh viên Sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh (khối D1), và sẽ được học
từ bảng chữ cái
Từ năm 2012, số học sinh đã học tiếng Nhật ở bậc phổ thông đã thi vào đại học bằng tiếng Nhật (khối D6) Do số lượng sinh viên khối D6 không nhiều, số lượng giáo viên lại ít, ngoài ra dựa theo nguyện vọng của sinh viên khối D6, Khoa đã không tổ chức một lớp học riêng cho sinh viên khối D6 mà học chung với các sinh viên khối D1, tức là học lại từ đầu
Trang 4Theo điều tra sinh viên khối D6 của chúng tôi, phần lớn sinh viên cho rằng học chung với sinh viên khối D1 cảm thấy rất thoải mái vì không cần học cũng theo kịp bài, một phần cho là quá dễ Thực tế, những sinh viên khối D6 thường chủ quan và kết quả là nhiều sinh viên khi tốt nghiệp không nằm trong top đầu của lớp Phỏng vấn những sinh viên này thì được biết là học quá dễ nên thường không có động lực học, thấy chán
Khối lượng kiến thức giảng dạy ở bậc đại học so với khối lượng kiến thức ở bậc trung học lớn hơn rất nhiều, phương pháp giảng dạy và môi trường học tập cũng khác Có rất nhiều sinh viên còn bỡ ngỡ khi mới bước chân vào môi trường đại học vì vậy cần có được phương pháp học tập thích hợp để có thể tiếp thu hết khối kiến thức đồ sộ đó Nhất là sinh viên khối D1, bước chân vào đại học mới làm quen với ngôn ngữ được đánh giá là một trong những ngôn ngữ khó nhất trên thế giới Khác với sinh viên khối D1, những sinh viên khối D6 đã học tiếng Nhật ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông nên khi lên đại học học chung với các sinh viên khối D1 thì hầu hết những sinh viên này sẽ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn, thậm chí có cả những sinh viên thấy chủ quan hay nhàm chán Nhưng ngược lại, sinh viên khối D1 lại cảm thấy áp lực, lo lắng khi phải học chung cùng với các bạn đã học Trong tình hình hai khối D1 và D6 vẫn phải học chung với nhau ngay từ đầu và khối lượng sinh viên trong một lớp khá đông, thì cần có một giải pháp để giải quyết vấn đề này nhằm khơi dậy tính tích cực tự chủ của mỗi sinh viên
Xuất phát từ đặc thù đầu vào của sinh viên khoa NN&VH Nhật Bản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để tìm hiểu xem sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản có tính tích cực trong học tập không; Có sự khác nhau về tính tích cực giữa sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Anh (khối D1) và sinh viên thi đầu vào bằng tiếng Nhật (khối D6) hay không? Theo đó chúng tôi sẽ tìm ra giải pháp để sinh viên hai khối này có thể học chung trong cùng một lớp mà không bị áp lực và có thể phát huy được tính tích cực của mỗi sinh viên
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này kết hợp sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích dữ liệu và đánh giá kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra đề xuất kiến nghị đối với việc giảng dạy cho một khóa học có hai khối sinh viên cùng học
Dữ liệu được thu thập bằng phiếu điều tra Khách thể nghiên cứu là 416 sinh viên từ
bảng hỏi bao gồm 20 câu hỏi, trong đó sinh viên có cơ hội thể hiện quan điểm của mình
5 Kết quả nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành điều tra 416 sinh viên từ năm 2 đến năm 4, trong đó sinh viên năm
4 (K14) là 163 sinh viên (chiếm 39,2%), năm thứ 3 (K15) là 139 sinh viên (33,4%), năm thứ 2 (K16) là 114 sinh viên (27,4%) Sinh viên khối D1 là 368 sinh viên (88,5%), sinh viên khối D6 là 48 sinh viên (11,5%) Trong giới hạn của bài viết chúng tôi chú trọng phân tích các kết quả liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu, còn các câu khác để nhận xét bổ sung cho các câu hỏi liên quan đến nội dung chính
5.1 Câu hỏi điều tra:
Trang 51 Thời gian tự học ở nhà
2 Cách học
3 Theo bạn, hoạt động nhóm, làm nhóm như thế nào có ích hay không? Vì sao?
4 Tính tích cực của bạn khi làm nhóm
5 Ngoài giờ lên lớp, bạn có tham gia các hoạt động nào khác để nâng cao tiếng Nhật của mình không?
6 Bạn có thường xuyên liên lạc với người Nhật Bản không?
7 Bạn có nhờ được người Nhật sửa bài không?
8 Khối lượng kiến thức trên lớp như thế nào?
9 Theo bạn SV khoa Nhật có chủ động tích cực trong việc học hay không
10 Bạn có ý kiến gì để nâng cao tích chủ động học tập của sinh viên, nhất là trong thời gian học online?
11 Nếu Khoa cần, bạn có sẵn sàng tham gia các hoạt động hỗ trợ dạy cho sinh viên khóa sau không?
12 Bạn có nhu cần tham gia các câu lạc bộ để nâng cao năng lực tiếng Nhật không?
13 Theo bạn GV có nên khuyến khích các anh chị khóa trước tham gia vào giờ học của mình trong hoạt động làm nhóm hay không?
Dành cho SV khối D1
14 Bạn có bị áp lực khi học chung với các bạn khối D6 không?
15 Theo bạn có nên phân chia riêng ra khối D1 và khối D6 không?
16 Bạn đã từng làm chung nhóm với các bạn khối D6 chưa?
Dành cho khối D6
17 Học lại từ đầu với SV khối D1 bạn cảm thấy như thế nào?
18 Bạn đã từng hỗ trợ cho các bạn khối D1 trong việc học tiếng Nhật chưa?
19 Nếu có thì bạn thấy có hiệu quả không?
20 Theo bạn có nên mở lớp riêng cho khối D6 không? Lý do
5.2 Phân tích kết quả
Thời gian tự học ở nhà với chiếm tỷ lệ cao nhất là học từ 3-4 tiếng ( 67,2%), từ 1-2 tiếng chiếm 25,8%, 1 tiếng là 2,7%, 4-5 tiếng là 2,3%, 6-7 tiếng là 1,2%, học khoảng 30 phút hoặc rất ít học là 0,8% Qua kết quả cho thấy thời gian học ở nhà chủ yếu là khoảng từ 3-4 tiếng, thời gian chỉ khoảng 1 -2 tiếng cũng chiếm tỷ lệ khá cao
Trang 6Với câu hỏi cách học của bạn là gì, câu trả lời chủ yếu là học bài trên lớp được giao, ngoài ra còn xem phim, xem trên kênh youtube, một số trả lời xem tin tức, nghe bài hát, tự học từ vựng, chữ kanji, ghi từ ra dán ở phòng
Kết quả phản hồi câu hỏi, ―Theo bạn, hoạt động nhóm, làm nhóm có ích như thế nào được minh họa ở biểu đồ hình 5-1 Phần lớn sinh viên (68,3%) cho rằng hoạt động nhóm có ích , 17,5% cho là rất có ích.Tuy nhiên vẫn có 14,2% sinh viên nghĩ rằng làm việc nhóm gây mất thời gian Tỷ lệ trả lời có ích chiếm gần 70%, nhưng thực tế khi được hỏi thì phần lớn sinh viên đều cho rằng rất có ích nhưng hơi mất thời gian và nhiều môn phải làm nhóm quá nên khó sắp xếp để làm chung, mỗi người có lịch học khác nhau nên nhiều khi không thống nhất được thời gian Chính vì vậy nên tỷ lệ trả lời rất có ích chỉ có 17,5%
Biểu đồ 5-1: Tham gia hoạt động nhóm Biểu đồ 5-2: Tính tích cực khi làm nhóm
Một số lý do phổ biến giải thích quan điểm cho rằng hoạt động nhóm mất thời gian
là thành viên nhóm không hợp nhau, mỗi người một ý kiến không thống nhất được, bài tập quá nhiều, v.v.Thậm chí còn có ý kiến đề xuất rằng nên cho sinh viên làm cá nhân
có đến 71,4% sinh viên tự đánh giá ở mức độ tích cực Tuy nhiên con số này cũng nói lên rằng tỷ lệ sinh viên chưa có tính tích cực trong học tập vẫn không nhỏ: 18,3% cho rằng họ bị động trong học tập và số còn lại có các câu trả lời khác như tùy từng môn, tùy vào nhóm mà
có khi tích cực có khi bị động
Khi được hỏi ―Ngoài giờ lên lớp, bạn có tham gia các hoạt động nào khác để nâng cao năng lực tiếng Nhật của mình không?‖ có 12% sinh viên trả lời không tham gia hoạt động nào, còn 88% có tham gia câu lạc bộ nói tiếng Nhật, hoặc tham gia nhóm nào đó.Điều này chứng tỏ, đa số sinh viên tự mình tìm tòi học hỏi để nâng cao kiến thức của mình
Biểu đồ 5-3: Trao đổi với người Nhật Bản Biểu đồ 5-4: Khối lượng kiến thức trên lớp
Trang 7Biểu đồ 5-3 cho chúng ta thấy sinh viên có cơ hội tiếp xúc trao đổi với người bản xứ còn thấp, chỉ có 22,8% trả lời có, thường xuyên, thỉnh thoảng, trong khi đó gần 77,2% không
có cơ hội Biểu đồ 5-4 cho kết quả trả lời cho câu hỏi khối lượng kiến thức trên lớp quá nhiều
và nhiều chiếm đến 67%, thích hợp là 29,8% và ít là 3,2% Không có ai cho là quá ít Số trả lời là ít và thích hợp chủ yếu rơi vào sinh viên khối D6 Điều này cho thấy những sinh viên đã học tiếng Nhật từ bậc phổ thông sẽ thoải mái hơn trong việc tiếp thu lượng kiến thức trên lớp nên có thời gian hơn cho các hoạt động nhóm
Với kết quả thể hiện qua biểu đồ 5-5 về hoạt động nhóm trên lớp và những khó khăn gặp phải, có 52% cho rằng hoạt động nhóm là nhiều và quá nhiều chủ yếu rơi vào sinh viên khối D1, 46,4% cho rằng thích hợp Ở biểu đồ 4-6, với câu trả lời những khó khăn gặp phải khi làm nhóm chủ yếu là khó quyết định được phương án chung, quá nhiều ý kiến trong nhóm chiếm 82,7% (tỷ lệ giữa hai khối D1 và D6 không có sự khác biệt lớn), còn lại thì cho rằng chưa đủ kiến thức, khó tìm bạn để làm nhóm, có những bạn không chủ động chỉ ngồi nghe không cho ý kiến
Biểu đồ 5-5: Hoạt động nhóm trên lớp Biểu đồ 5-6: Khó khăn trong hoạt động nhóm
Về câu hỏi sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản có tích cực trong học tập hay không, theo biểu đồ 5-7 có đến 87,3% cho rằng rất tích cực và tích cực, và 22,7% cho rằng không tích cực và bị động Tỷ lệ trả lời rất tích cực và tích cực tăng dần theo các khóa sinh viên, cao nhất là sinh viên năm 4 (hơn 42% số trả lời rất tích cực và tích cực), đến năm thứ 3 (hơn 35% số trả lời rất tích cực và tích cực) Qua kết quả này chứng tỏ sinh viên dần quen với các hoạt động nhóm, dần phát huy được tính tích cực trong học tập và quen với môi trường học đại học
Biểu đồ 5-7: Tính tích cực của sinh viên Biểu đồ 5-8: Tham gia các hoạt động hỗ trợ cho SV
khóa sau
Biểu đồ 5-8 thể hiện thông tin thu được từ câu hỏi ―bạn có sẵn sàng tham gia các hoạt động hỗ trợ như làm trợ giảng, học nhóm ngoài giờ cho sinh viên khóa sau hay không‖ và biểu đồ 5-9 thể hiện phản hồi của sinh viên cho câu hỏi về nhu cầu tham gia các câu lạc bộ để
Trang 8nâng cao năng lực tiếng Nhật Kết quả cho thấy sinh viên sẵn sàng và muốn tham gia các hoạt động để hỗ trợ cho sinh viên khóa sau và tham gia các câu lạc bộ Mục đích chung là để nâng cao năng lực tiếng Nhật, muốn trau dồi khả năng giao tiếp, muốn ôn lại tiếng Nhật, muốn giúp đỡ người khác, thậm chí là tham gia cho vui
Biểu đồ 5-9: Nhu cầu tham gia CLB Biểu đồ 5-10: Áp lực khi học chung với D6
Vấn đề được chúng tôi quan tâm suy nghĩ nhiều nhất đó là sinh viên khối D1 có bị áp lực khi học chung với khối D6 hay không Như kết quả ở biểu đồ 5-10, và đúng với giả thiết
đó là có rất nhiều sinh viên cảm thấy bị áp lực, chiếm đến 86,8% Tâm trạng, trạng thái, tính cách của người học cũng ảnh hưởng rất lớn đến tính tích cực và quá trình, kết quả học tập như trong kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Quý (2010) Đây là vấn đề cần suy nghĩ giải quyết để tạo cho sinh viên môi trường học tập tốt nhất, phát huy được điểm mạnh của mỗi sinh viên vì nếu bị áp lực thì sinh viên sẽ không mạnh dạn, không tích cực để tham gia các hoạt động học tập và như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và phát triển các kỹ năng cần thiết khác
Khi hỏi sinh viên khối D1 về việc có nên tách hai khối D1 và D6 ra để học riêng hay không thì kết quả thu được như ở biểu đồ 5-11, hơn một nửa (53,9%) cho rằng nên tách riêng
ra để học vì học chung sẽ rất áp lực khi thấy các bạn khối D6 nói được nhiều trong khi khối D1 chỉ mới bắt đầu học bảng chữ cái Tuy nhiên cũng có đến 48.1% cho rằng không cần chia lớp vì học chung để tạo động lực, cố gắng học cho kịp các bạn khối D6, học chung cũng vui
có thể hỏi các bạn đã học Ở biểu đồ 5-12 là kết quả điều tra sinh viên khối D6 khi phải học chung lại từ đầu với sinh viên khối D1 Phần lớn sinh viên 75% cho rằng học lại cũng tốt vì
để ôn lại kiến thức đã học, cách dạy và chương trình ở đại học khác với bậc phổ thông, học ở đại học được rèn luyện các kỹ năng nghe, nói nhiều hơn, học chung có thêm nhiều bạn hơn Có 25% cho rằng học chung lại từ đầu là chậm và quá chậm, với lý do học lại từ đầu sẽ chủ quan, mất động lực học và cảm thấy chán
Biểu đồ 5-11: Việc tách riêng hai khối Biểu đồ 5-12: Cảm nhận của D6 khi học chung với D1
Trang 9Khi được hỏi về việc sinh viên khối D6 đã từng giúp đỡ hỗ trợ các bạn sinh viên khối D1 trong học tập chưa, kết quả như biểu đồ 5-13 cho thấy 80% đã từng giúp đỡ hỗ trợ các bạn mới bắt đầu học Biểu đồ 4-14 thể hiện kết quả của sinh viên khối D6 trả lời về tính hiệu quả khi giúp đỡ các bạn khối D1 học Hiệu quả và tương đối hiệu quả chiếm đến 94,8%, chỉ có 5,2% cho rằng không hiệu quả với lý do là mình chưa đủ kiến thức để truyền đạt, không có
thời gian
Biểu đồ 5-13: SV D6 giúp SVD1 Biểu đồ 5-14: Hiệu quả
6 Thảo luận và đề xuất
6.1 Thảo luận
Với kết quả thu được cho thấy sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản còn gặp phải nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận khối kiến thức khá lớn ở bậc đại học, nhất là sinh viên khối D1 rất bị áp lực, thiếu tự tin dẫn đến bị động khi học chung với sinh viên khối D6 Ngược lại sinh viên khối D6 phần lớn thì cho rằng học chung lại từ đầu với sinh viên khối D1 cũng tốt để ôn lại bài, để học thêm các kỹ năng nghe, nói mà ở bậc phổ thông ít được rèn luyện
Sinh viên phần lớn đã chủ động tìm kiếm thông tin, cách học thông qua các hoạt động như câu lạc bộ, xem trên youtube, nghe tin tức, phim ảnh, phim hoạt hình tuy nhiên, vẫn còn nhiều sinh viên chưa hề tham gia các câu lạc bộ cũng như không có cơ hội giao tiếp với người Nhật dẫn đến tình trạng thiếu tự tin, bị động ngay cả khi làm nhóm chung với các bạn vì cho rằng kiến thức chưa đủ, các bạn khối D6 giỏi hơn Đây là vấn đề cần được quan tâm giải quyết tạo cho sinh viên có môi trường học tập tốt nhất, phát huy được điểm mạnh, tính cách của mình tạo động lực trong học tập để đạt được kết quả tốt hơn và có điều kiện để trau dồi các kỹ năng cần thiết cho công việc sau này
6.2 Đề xuất
6.2.1 Về phía cơ quan quản lý
- Việc ngôn ngữ nào đó được nhiều người lựa chọn học hay không, phần nhiều phụ thuộc vào việc khi học xong người đó có được công việc với ngôn ngữ đó không nên cần có sự quan tâm của nhiều cấp, trong đó có nhà trường, các cơ quan phía chính phủ Nhật Bản Các cơ quan chính phủ Nhật Bản nên quan tâm đầu tư nhiều hơn cho bậc giáo dục đại học như phái
cử giáo viên tình nguyện, thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn về phương pháp giảng dạy cho không chỉ các giáo viên bậc phổ thông mà cả giáo viên bậc đại học để có sự liên thông từ các bậc học
Trang 10- Đối với nhà trường, tạo điều kiện cho sinh viên có thể tham gia trợ giảng bằng cách công nhận cho sinh viên hoàn thành các tín chỉ thực tập để vừa động viên vừa tạo trách nhiệm cho sinh viên khi tham gia trợ giảng ngoài giờ học của mình
6.2.2 Về phía giáo viên
- Giáo viên cần chủ động khơi dậy sự tự tin, điểm mạnh trong mỗi sinh viên nhất là trong các hoạt động làm nhóm Giáo viên nên lên kế hoạch cụ thể cho từng tiết học, hướng dẫn cho sinh viên một cách rõ ràng những việc sinh viên cần thực hiện Phân bố thời gian hợp
lý cho sinh viên để tránh gây áp lực cho sinh viên khi làm quá nhiều hoạt động nhóm
- Đưa ra mục tiêu của từng tiết học, từng môn học cho tất cả sinh viên nắm rõ và hướng dẫn sinh viên tự đánh giá các mục tiêu đã đạt được hay chưa để sinh viên có thái độ hợp tác tích cực hơn trong giờ học Cần có đánh giá cho mỗi tiết học để sinh viên có thể nhận thấy được những kết quả của mình sau mỗi giờ học để kịp động động viên khuyến khích sinh viên
- Đối với những nhóm học hay lớp học có cả sinh viên khối D1 và D6 nên phân nhóm nhỏ cho sinh viên khối D6 vào các nhóm D1 để sinh viên tự chia sẻ, học hỏi lẫn nhau Như vậy sinh viên khối D6 sẽ thấy bớt nhàm chán, sinh viên khối D1 sẽ bớt cảm giác bị áp lực khi học chung với những sinh viên đã học trước đó
- Giáo viên cần chú ý đến từng sinh viên với các tính cách khác nhau, thậm chí chỗ ngồi của sinh viên để có thể quán xuyến và nắm bắt được thái độ và có cách xử lý kịp thời tránh để sinh viên rơi vào trạng thái chán nản, mất động lực học làm ảnh hưởng đến tính tích cực,
mạnh dạn của sinh viên
6.2.3 Về phía sinh viên
- Cần xác định cách học khi mới bước chân vào giảng đường đại học, tìm cho được sự khác nhau giữa cách học và khối lượng kiến thức của bậc phổ thông với bậc đại học, bằng cách lập kế hoạch của riêng mình, tự đánh giá sau mỗi giờ học xem mình đã đạt được mục tiêu đề ra hay chưa
- Học cách phải biết học hỏi lắng nghe khi học chung với các bạn có khối thi đầu vào khác nhau Với sinh viên khối D1 nên tạo nhóm học với các bạn khối D6 để không bị áp lực lại vừa học hỏi thêm các bạn đã học Sinh viên khối D6 nên tham gia các hoạt động hỗ trợ các bạn khối D1 với tinh thần vừa củng cố lại kiến thức đã học vừa giúp đỡ được các bạn mới học
7 Kết luận
Xu thế hội nhập và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật, Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản, trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế cần nhìn nhận, đánh giá về công tác trọng tâm này để từ đó có kế hoạch, định hướng cho những năm tiếp theo và hướng tới mục tiêu đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của xã hội và các nhà tuyển dụng Muốn vậy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các bậc học, có
sự liên thông kết nối không chỉ trong chương trình đào tạo mà phải có sự đồng thuận thống nhất chung trong cách đánh giá tầm quan trọng của giáo dục tiếng Nhật từ bậc trung học cơ sở lên đến đại học