Bài viết tập trung bàn thảo về tính cấp thiết và quá trình nghiên cứu, xây dựng định hướng nói trên, cũng như kết quả đã đạt được. Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như tổng hợp, so sánh, điều tra, phân tích…
Trang 1NGHIÊN CỨU TÍNH CẤP THIẾT VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI MỞ ĐỊNH HƯỚNG MỚI TRONG CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ NHẬT
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
Hoàng Liên
Trường Đại học Hà Nội
Tóm tắt
Điểm mới trong chương trình đào tạo chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật tại Trường Đại học
Hà Nội, đó là từ năm học 2017-2018 sinh viên theo học tại đây có thêm lựa chọn mới ngoài định hướng Biên-Phiên dịch truyền thống: Ngôn ngữ Nhật định hướng Phương pháp giảng dạy Việc mở thêm định hướng trong chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật đã thêm
sự lựa chọn cho người học, mở rộng cơ hội việc làm, tăng tính nghề nghiệp, nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội, của người học và của nhà tuyển dụng Bài viết tập trung bàn thảo về tính cấp thiết và quá trình nghiên cứu, xây dựng định hướng nói trên, cũng như kết quả đã đạt được Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như tổng hợp, so sánh, điều tra, phân tích… Bài viết có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích hoặc áp dụng cho các đơn vị có nhu cầu đào tạo chuyên ngành hoặc định hướng Phương pháp giảng dạy nói chung và Ngôn
ngữ Nhật định hướng Phương pháp giảng dạy nói riêng
Từ khoá
hệ thống tín chỉ, khung chương trình, Ngôn ngữ Nhật, Ngôn ngữ Nhật định hướng
Phương pháp giảng dạy
1 Mở đầu
Nhật Bản và Việt Nam đang là đối tác chiến lược, quan trọng bậc nhất của nhau trong bối cảnh hiện nay Nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có khả năng về ngôn ngữ, có phương pháp sư phạm để làm việc trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đang ngày một tăng cao
―Nguồn cung‖ của ―sản phẩm‖ này đang thiếu hụt nghiêm trọng
Tiếng Nhật ngày càng được nâng cao vị thế của mình bên cạnh các ngoại ngữ khác, đã
và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản Tiếng Nhật đã và đang trở thành một ngoại ngữ thu hút ngày càng nhiều người học cả ở trong nước và du học sinh, tu nghiệp sinh sang Nhật Bản học tập và công tác Số lượng người học tiếng Nhật tại Việt Nam đang đứng ở vị trí thứ 8 trong số các quốc gia có người học tiếng Nhật trên toàn thế giới Việt Nam xếp thứ 3 ở Đông Nam Á, sau In-đô-nê-xi-a và Thái Lan
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản, năm 2012 số người học tiếng Nhật là gần 48.000 người (47.762) thì năm 2015 đã tăng lên gần 65.000 người (64.863), tăng 38,7% và đã tiếp tục tăng rất nhanh trong những năm tiếp theo Năm
2018, số lượng người học tiếng Nhật tại Việt Nam lên tới gần 175.000 người (174.461), đứng thứ 6 trên thế giới So với kết quả điều tra lần trước vào năm 2015, tốc độ tăng số người học tiếng Nhật của Việt Nam đứng đầu thế giới
Trang 2Điều đáng quan tâm là số giáo viên giảng dạy tiếng Nhật năm 2012 là 1528 người, năm 2015 là 1795 người Mặc dù số lượng người học trong 3 năm (từ 2012-2015) tăng hơn 17.000 người (tăng tới gần 40%) nhưng số giáo viên chỉ tăng 267 người (17%) Tuy nhiên, sau 3 năm, vào năm 2018 thì số lượng giáo viên đã tăng nhanh lên 7030 người (đứng thứ 3 trên thế giới) Một số liệu đáng chú ý là số cơ sở đào tạo tiếng Nhật tăng từ 180 cơ sở năm
2012 lên 219 cơ sở năm 2015 và tăng khá nhanh lên 818 cơ sở (đứng thứ 3 trên thế giới) vào năm 201844
Tuy số lượng người học tăng nhanh như vậy, nhưng số lượng giáo viên giảng dạy tiếng Nhật lại không tăng kịp để đảm bảo nhu cầu và chất lượng đào tạo Việc mở thêm chuyên ngành sư phạm tiếng Nhật hay chuyên ngành ngôn ngữ Nhật định hướng sư phạm/phương pháp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục bậc cao là một nhu cầu cấp bách
2 Cơ sở lý luận
2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu liên quan
Với số lượng người học đông đảo như hiện nay, tại Nhật Bản và các nước trên thế giới,
đã có những nghiên cứu về nội dung và phương pháp cho chương trình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Nhật ở trình độ đại học, cao học hoặc tại các cơ sở giáo dục khác
Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản là nơi có đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu về chương trình, sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy và phương pháp giảng dạy hàng đầu của Nhật Bản Trong các sách và kỷ yếu về giảng dạy tiếng Nhật của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản
có đăng các công trình nghiên cứu về xây dựng chương trình sư phạm của nhiều chuyên gia giáo dục tiếng Nhật
Trong số đó phải kể tới nhà nghiên cứu 藤長 (2006), trong báo cáo về Chương trình tập huấn giáo viên tiếng Nhật các trường PTTH tại In-đô-nê-xi-a đã trình bày nghiên cứu về việc xây dựng khung chương trình bồi dưỡng, đào tạo giáo viên giảng dạy cấp trung học cơ sở tại In-đô-nê-xi-a 45; Tác giả 阿部 (2008) với nghiên cứu về thiết kế chương trình cho giờ học
về phương pháp giảng dạy dành cho giáo viên tiếng Nhật 46; Tác giả 近藤 (2012), trong bài nhiên cứu ―Nhìn lại chặng đường 10 năm chương trình đào tạo giáo viên tiếng Nhật - Dựa trên kết quả khảo sát đối với giáo viên nước ngoài dạy tiếng Nhật‖ cũng đã tổng kết những nội dung và kết quả giảng dạy của chương trình đào tạo giáo viên giảng dạy tiếng Nhật thuộc các nước trên thế giới 47
44
Số liệu của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản (Japan foundation) tại Hội nghị tổng kết và tập huấn công tác thi NLTN, Hà Nội ngày 17-19/3/2017; Hội nghị báo cáo cộng sự tiếng Nhật tại Việt Nam lần thứ 2 do JF tổ chức ngày 23/5/2017; https://giaoducthoidai.vn/giao-duc/toc-do-tang-so-nguoi-hoc-tieng-nhat-cua-viet-nam-dung-dau-the-gioi-3846226.html
教師研修プログラム」『国際交流基金日本語教育紀要』第2号、81―96、国際交流基金
際交流基金日本語教育紀要』第 4 号、2008 年、国際交流基金
Trang 3Tại Việt Nam, số trường đại học có đào tạo chuyên ngành sư phạm tiếng Nhật không nhiều Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHNN, ĐHQGHN) đã bắt đầu đào tạo cử nhân ngành sư phạm tiếng Nhật từ năm 2005 Năm 2015, trường này công bố chương trình đào tạo tín chỉ trình độ đại học ngành sư phạm tiếng Nhật Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (ĐHNN, ĐH Huế) đã lên kế hoạch mở chuyên ngành sư phạm tiếng Nhật nhưng chưa tuyển sinh Ngoài ra, Trường Đại học Thăng Long (ĐH Thăng Long) cũng
đã mở chuyên ngành giáo dục tiếng Nhật Tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSP TPHCM) mới chỉ có đào tạo cử nhân ngành ngôn ngữ Nhật và chưa có chuyên ngành sư phạm tiếng Nhật như các ngôn ngữ: Trung, Nga, Anh, Pháp,…
Theo kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy, ngoài hai trường đại học đã mở chuyên ngành
sư phạm tiếng Nhật (ĐHNN, ĐHQGHN), chuyên ngành giáo dục tiếng Nhật (ĐH Thăng Long) và một trường đang có kế hoạch mở chuyên ngành sư phạm tiếng Nhật (ĐHNN, ĐH Huế) thì chưa có một trường đại học nào mở chuyên ngành ngôn ngữ Nhật định hướng Phương pháp giảng dạy (PPGD) như tại Trường Đại học Hà Nội (ĐHHN) đang triển khai Đây sẽ là chương trình tiên phong về đào tạo ngôn ngữ nước ngoài (ngôn ngữ Nhật) theo định hướng PPGD
2.2 Nghiên cứu tính cấp thiết của việc mở định hướng PPGD trong chuyên ngành ngôn ngữ Nhật
Nhật Bản và Việt Nam đang là đối tác chiến lược, quan trọng bậc nhất của nhau trong bối cảnh hiện nay Nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, có khả năng về ngôn ngữ đang ngày một tăng cao Số người học tiếng Nhật tại Việt Nam đang tăng cao, tuy nhiên, số lượng giáo viên giảng dạy có chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm lại rất thiếu Trước nhu cầu
đó, việc chuẩn bị một đội ngũ giáo viên có năng lực ngôn ngữ và trình độ chuyên môn về phương pháp giảng dạy là hết sức cấp bách Hiện nay, chính phủ Nhật Bản đang thực hiện chương trình thí điểm đưa tiếng Nhật vào giảng dạy từ cấp tiểu học cho tới trung học tại nhiều trường học của Việt Nam Từ tháng 10 năm 2003, sau khi tiếng Nhật được Bộ GD&ĐT chính thức công nhận là một ngoại ngữ nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì ngoài các trường đại học còn có vài chục trường THCS, THPT của Việt Nam đã đưa tiếng Nhật vào chương trình giảng dạy chính khóa Đặc biệt hơn, tháng 9 năm 2016 tiếng Nhật đã được đưa vào giảng dạy từ lớp 3 tiểu học bên cạnh các ngoại ngữ khác
Ở bậc phổ thông và đại học, sau hơn 10 năm thực hiện Đề án thí điểm tiếng Nhật trong các trường trung học Việt Nam, số trường trung học giảng dạy thí điểm lên đến 31 trường Có
39 trường đại học trên toàn quốc có đào tạo tiếng Nhật, tổng số 25.203 học sinh, sinh viên48
Số người học tiếng Nhật tăng lên nhanh như trên phản ánh mối quan hệ Việt Nam và Nhật Bản thực sự đi vào chiều rộng và chiều sâu, và phản ánh những chính sách phát triển ngoại ngữ tại Việt Nam của Chính phủ Nhật Bản, của Đảng và Nhà nước ta
Đề án "Thí điểm giảng dạy tiếng Nhật trong các trường trung học Việt Nam giai đoạn 2003-2013" đã được Bộ Giáo dục Việt Nam cho triển khai thực hiện từ công tác biên soạn
48 Số liệu tại Hội nghị Tổng kết đề án tổ chức ngày 08/10/2013 tại Bộ GD&ĐT
Trang 4giáo trình giảng dạy từ thí điểm đến giảng dạy đại trà, phổ cập tiếng Nhật tại các trường phổ thông của Việt Nam và từ năm 2008 trở đi, tiếng Nhật được lựa chọn là một trong những môn thi ngoại ngữ trong kì thi tuyển sinh vào đại học Sinh viên các trường cao đẳng, đại học sẽ là đội ngũ lao động chính trong cả nước, bởi vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển tiếng Nhật với các đối tượng này trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ một cách thích ứng, góp phần vào việc phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay
Đối với Khoa Tiếng Nhật, Trường ĐHHN nói riêng, ngoài các thế hệ sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành ngôn ngữ Nhật định hướng Biên - Phiên dịch như đào tạo truyền thống,
số lượng sinh viên làm trong các đơn vị giảng dạy, đào tạo tiếng Nhật chiếm số lượng đáng
kể Tuy nhiên, họ đều thiếu kiến thức về phương pháp sư phạm và phải theo học nâng cao, học thêm các khóa học nghiệp vụ để có chứng chỉ giảng dạy ngay sau khi tốt nghiệp
Đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội, nhóm nghiên cứu xây dựng định hướng PPGD cho chuyên ngành ngôn ngữ Nhật để tăng tính nghề nghiệp, tăng sự lựa chọn cho người học và
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội, của người học và của nhà tuyển dụng
2.3 Triển khai thực hiện xây dựng chương trình ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD
Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu đặt ra là tìm cách tiếp cận thích hợp trong việc xây dựng chương trình ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD dành cho sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật; Đề xuất xây dựng chương trình ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD Chương trình đào tạo được nghiên cứu triển khai tại Khoa Tiếng Nhật, Trường ĐHHN từ năm học 2017-2018 Nghiên cứu tìm hiểu các văn bản pháp quy, tham khảo các chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm trong và ngoài nước để từ đó đưa ra các luận cứ trong việc xây dựng chương trình đào tạo ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD; Khảo sát, nghiên cứu các chương trình sư phạm trong và ngoài nước để tìm ra cách tiếp cận thích hợp trong việc xây dựng chương trình ngôn ngữ Nhật theo định hướng PPGD tại Trường ĐHHN Biên soạn các nội dung phù hợp với mục tiêu đề tài Tiến hành xây dựng chương trình ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD Nghiên cứu giới hạn trong việc tìm hiểu luận cứ và xây dựng chương trình đào tạo các môn học liên quan tới chuyên ngành, định hướng PPGD, tới phương pháp giảng dạy và ngôn ngữ học tiếng Nhật Tuy nhiên, để có được cái nhìn tổng thể mang tính hệ thống, chúng tôi khảo sát thêm một số chương trình cử nhân sư phạm ngôn ngữ Anh của một số trường đại học
sư phạm lớn nhất của việt Nam
Nghiên cứu dựa trên những tư liệu đã có để tổng hợp, chọn lọc và đưa ra những căn cứ xây dựng chương trình từ các văn bản pháp quy của Chính phủ, của Bộ GD&ĐT và của Trường ĐHHN; Tìm hiểu các chương trình đào tạo chuyên ngành và định hướng sư phạm của các đơn vị đào tạo về sư phạm như Trường ĐHSP Hà Nội, Trường ĐHNN, ĐHQGHN, Trường ĐHSP TPHCM, Trường ĐHNN, ĐH Huế, Trường ĐH Thăng Long và một số chương trình đào tạo tiên tiến về phương pháp giảng dạy của Nhật Bản; Phỏng vấn người học
và những người đã ra trường, người sử dụng lao động để nắm bắt và khảo sát nhu cầu; Tham khảo ý kiến của các chuyên gia giáo dục người Việt Nam và người Nhật Bản về thời lượng,
về số lượng và tên môn học, về nội dung môn học trong chương trình đào tạo…
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có thể kể ra một số phương pháp chính: Phương pháp tổng hợp; Phương pháp so sánh, đối chiếu; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích; Phương pháp diễn dịch, quy nạp; Phương pháp điều tra, phỏng vấn (người đi làm, người học, chuyên gia), bảng hỏi (Phiếu khảo sát)
Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các văn bản pháp quy liên quan tới mở ngành, tổ chức đào tạo và thiết kế chương trình đào tạo ngành sư phạm; Tổng hợp một số chương trình đào tạo chuyên ngành và định hướng sư phạm của các đơn vị đào tạo về sư phạm trong và ngoài nước (Việt Nam và Nhật Bản)
Phương pháp so sánh: so sánh một số chương trình đào tạo chuyên ngành và định hướng
sư phạm của các đơn vị đào tạo về sư phạm tiêu biểu, so sánh một số quan điểm nghiên cứu khác nhau về chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm của các đơn vị đào tạo về sư phạm
và các vấn đề liên quan
Phương pháp phân tích: phân tích văn bản và phân tích chương trình đào tạo
Phương pháp thống kê: kế thừa kết quả thống kê của các nhà nghiên cứu đi trước, sàng lọc các thông tin và thống kê lại theo quan điểm nghiên cứu của mình
Phương pháp diễn dịch, quy nạp là các phương pháp cơ bản trong quá trình nhận thức và
xử lí thông tin, tư liệu cho các nhận định, kết luận của mình Từ các nguồn thông tin và tư liệu khác nhau, chúng tôi tổng hợp và xử lí các vấn đề quan trọng trong các quan điểm và thành tựu nghiên cứu có trước, lí giải và phân tích chúng trong hệ thống tiếp cận riêng, từ đó tiếp tục phát triển vấn đề để đưa ra các nhận định cũng như diễn giải chúng theo cách nhìn hệ thống của mình
Phương pháp điều tra, phỏng vấn (người đi làm, người sử dụng lao động, người học, chuyên gia), bảng hỏi (Phiếu điều tra) là phương pháp chính được nhóm nghiên cứu sử dụng
để phân tích, tìm hiểu về nguyện vọng, dự đoán nhu cầu, tìm hiểu tính khả thi của chương trình qua kênh thông tin hữu hiệu, xác thực là lấy ý kiến người học, người đi làm và các nhà giáo dục đã và đang làm việc trong ngành sư phạm
4 Nội dung và kết quả nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu chia làm các giai đoạn như: Tìm hiểu luận cứ xây dựng chương trình; Tham khảo các chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm của một số đơn vị trong và ngoài nước; So sánh, tổng hợp, phân tích, đánh giá chương trình tham khảo; Đề xuất chương trình ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD với các học phần cụ thể kèm thời lượng; Tiến hành điều tra, khảo sát nhu cầu xã hội, người học, chuyên gia ; Tổng hợp và phân tích kết quả điều tra; Xây dựng chương trình hoàn chỉnh
Nội dung nghiên cứu thứ nhất: Tìm ra các căn cứ lý luận làm luận cứ xây dựng chương trình gồm 14 văn bản pháp quy, là những văn bản mang tính pháp lý của các ban ngành liên quan như: Luật giáo dục, Thông tư, Nghị định, Quyết định, Hướng dẫn thi hành về chuyên
Trang 6ngành sư phạm và Chương trình đào tạo của Bộ GD&ĐT và của Quỹ giao lưu Quốc tế Nhật Bản
Chỉ ra các nguyên tắc xây dựng chương trình, gồm: Nghiên cứu, vận dụng các văn bản pháp quy của Quốc hội, của Bộ GD&ĐT và của Quỹ giao lưu Quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation); Bám sát Khung Chương trình đào tạo Ngôn ngữ Nhật của Trường ĐHHN; Dựa trên các căn cứ lí luận, thực tiễn và nhu cầu xã hội; Sử dụng khung Năng lực Ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam và tham khảo Khung Chuẩn giáo dục tiếng Nhật Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation); Tham khảo các chương trình giảng dạy chuyên ngành sư phạm tại Việt Nam và Nhật Bản; Đảm bảo tính liên thông giữa các bậc học và chuyên ngành; Chương trình có thể linh hoạt điều chỉnh sau khi thực nghiệm
Nội dung nghiên cứu thứ hai: Tham khảo, phân tích, so sánh các chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm, gồm 6 chương trình của Việt Nam: so sánh chương trình đào tạo của
5 trường đại học: ĐHNN, ĐHQGHN, ĐHSP Huế, ĐH Thăng Long, ĐHSP Hà Nội và ĐHSP TPHCM và 1 chương Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học của Bộ GD&ĐT; 4 chương trình Nhật Bản: tham khảo, đối chiếu với 4 chương trình đào tạo ngành Sư phạm ở Nhật Bản (bao gồm Chương trình đào tạo giáo viên tiếng Nhật – Tổng cục Văn hóa Nhật Bản (Bunkachou), Trường ĐH Ochanomizu, Trường ĐH Ibaraki và khóa đào tạo thạc sỹ của Viện nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản (GRIPS)
Chúng tôi đã nhóm các trường đại học có cùng chuyên ngành đào tạo cử nhân ngôn ngữ Nhật là ĐHNN, ĐHQGHN; ĐHNN, ĐH Huế; ĐH Thăng Long và tiến hành so sánh dựa trên các tiêu chí: Mục tiêu đào tạo; Chuẩn đầu ra; Nội dung đào tạo; Thời gian đào tạo của các trường ; So sánh chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm tiếng Anh của ĐHSP, ĐHQGHN và chương trình tiếng Anh chuyên ngành sư phạm của trường ĐHSP TPHCM; So sánh chương trình đào tạo sư phạm của Nhật Bản: Tổng cục văn hóa Nhật Bản (Bunkachou), Trường ĐH Ochanomizu và Trường ĐH Ibaraki; Tham khảo và so sánh chương trình đào tạo
sư phạm bậc thạc sĩ của Viện nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản (GRIPS) và Khóa bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của Việt Nam
Kết quả so sánh cụ thể như sau: Về nội dung chương trình đào tạo, nhìn chung các trường đại học có chương trình đào tạo sư phạm tiếng Nhật của Việt Nam và Nhật Bản là tương đối đồng đều với số tín chỉ chuyên ngành dao động từ 22 tín chỉ đến 38 tín chỉ Số tín chỉ bắt buộc trong chương trình của Việt Nam tương đối đồng đều so với số tín chỉ tự chọn (thường chiếm 2/3 tổng số tín chỉ) Trong khi đó, các chương trình của Nhật Bản thì ngược lại, số tín chỉ các môn tự chọn chiếm đa số
Khối kiến thức ngành, kiến thức chung cũng có những môn học tương ứng như (Tâm
lí học; Giáo dục học; Quản lí hành chính nhà nước và Quản lí giáo dục và đào tạo; Phương pháp giảng dạy; Lí luận giảng dạy; Phương pháp giảng dạy; Thiết kế giáo án và phát triển tài liệu giảng dạy; Phương pháp kiểm tra đánh giá…) Các môn học tự chọn của các đơn vị đào tạo đều có sự khác biệt về số môn học và tên môn học, có thể do yếu tố đặc thù hoặc thế mạnh của từng trường Chương trình đào tạo cử nhân ngôn ngữ Anh của Trường ĐHSP Hà Nội và
Trang 7tiếng Anh ngành sư phạm của Trường ĐHSP TPHCM khá đồng nhất so với các chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm tại Việt Nam
Số tín chỉ, tên môn học trong các chương trình đào tạo sư phạm của Nhật Bản có sự đồng nhất rất cao, có thể nói gần 100% Chương trình đào tạo do Tổng cục văn hóa Nhật Bản (Bunkachou) trực thuộc sự quản lý của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (MEXT) ban hành
Nội dung nghiên cứu thứ ba là điều tra, khảo sát ba đối tượng, đó là sinh viên đang học tập tại Khoa tiếng Nhật, Trường ĐHHN, cựu sinh viên của Khoa và các giáo viên, chuyên gia giảng dạy tiếng Nhật Các phiếu khảo sát dành cho ba đối tượng được xây dựng với các câu hỏi khác nhau, tuỳ thuộc vào từng đối tượng Nội dung bảng hỏi được thiết kế dưới hình thức chọn câu trả lời tương ứng từ các gợi ý có sẵn và phần xin ý kiến của người được hỏi, yêu cầu người làm phải nghĩ và viết câu trả lời, cũng như gợi ý
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 435 sinh viên đang học tập tại Khoa tiếng Nhật, Trường ĐHHN về nhu cầu và nguyện vọng học tập của sinh viên đối với chuyên ngành mới Ngành ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD, cũng tìm hiểu lí do sinh viên lựa chọn hoặc không lựa chọn định hướng PPGD Trong số 435 sinh viên được hỏi thì chỉ có 112 sinh viên lựa chọn theo học định hướng PPGD, chiếm tỉ lệ 26%, trong đó gần 50% số sinh viên lựa chọn thuộc năm thứ 2; Lí do sinh viên lựa chọn định hướng PPGD chủ yếu là ―Muốn có thêm kiến thức chuyên sâu về sư phạm‖ (83%) và do ―Tính chất ổn định của công việc‖ (59%); Lí do sinh viên không lựa chọn định hướng PPGD chủ yếu là ―Không yêu thích nghề sư phạm‖ (43%) và ―Không có khả năng sư phạm‖ (35%) Bên cạnh đó còn có một số lí do khác như:
―Muốn làm việc trong một môi trường năng động hơn‖, ―Không có năng khiếu nâng cao ý thức học sinh‖, ―Muốn thử sức trong lĩnh vực, ngành nghề khác‖…
Trái với kết quả thu được của sinh viên đang theo học tại đây, kết quả khảo sát đối với
162 sinh viên đã tốt nghiệp Khoa tiếng Nhật, Trường ĐHHN, tỉ lệ sinh viên đã tốt nghiệp có nguyện vọng học lên cao học (54%) hoặc tham gia các khóa học để lấy chứng chỉ sư phạm (62%), các lớp học đào tạo phương pháp giảng dạy (74%) đều ở mức cao Điều này cho thấy nhu cầu về đào tạo sư phạm tiếng Nhật rất lớn và sự cần thiết phải tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức liên quan đến lĩnh vực này
Đối với dự kiến mở mã ngành mới ―Đào tạo cử nhân chuyên ngành Ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD‖ của Khoa tiếng Nhật, Trường ĐHHN đã nhận được rất nhiều sự quan tâm
và ủng hộ từ phía các cựu sinh viên đã tốt nghiệp, đối tượng hiện đang công tác ở nhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội Cụ thể, 90% số cựu sinh viên tham gia điều tra đồng ý mở định hướng/mã ngành mới và 85% cho rằng nên mở ngay định hướng/mã ngành mới này Lí do đồng ý mở ngành định hướng PPGD mà các cựu sinh viên đưa ra đó là ―Giúp sinh viên có thêm kiến thức chuyên sâu về sư phạm‖ (83%); ―Phù hợp với nhu cầu xã hội hiện nay‖ (59%); ―Môi trường làm việc nhân văn‖ (33%) và ―Tính chất ổn định của công việc‖ (33%)…
Theo kết quả điều tra, số người được hỏi cho rằng chưa hoặc không đồng ý mở ngành PPGD chỉ chiếm 10%, nên việc mở định hướng PPGD để đáp ứng nhu cầu của 90% còn lại
là hết sức cần thiết
Trang 8Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 52 giáo viên (50 giáo viên người Việt và 02 chuyên gia người Nhật) đã và đang công tác tại các đơn vị giảng dạy tiếng Nhật: gồm giảng viên trường đại học có đào tạo tiếng Nhật; giáo viên trường THCS, THPT, giáo viên trung tâm tiếng Nhật Các đối tượng khảo sát phần lớn có kinh nghiệm và thâm niên trong giảng dạy tiếng Nhật Tỷ lệ (35% (18 người) là giáo viên đã công tác từ 10 năm trở lên, trong đó có 02 giáo viên đã công tác trong nghề từ 20~40 năm; 35% (18 người) là giáo viên đã công tác trong nghề từ 5~10 năm; Công tác trong nghề từ 3~5 năm cũng có 11% (6 người); Còn lại là 9% (5 người) cho mỗi nhóm công tác trong nghề từ 1~3 năm và mới vào nghề dưới 1 năm
Với các câu hỏi về mục tiêu đào tạo; chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo; về cấu trúc chương trình, nội dung đào tạo; thời lượng đào tạo, đa phần giáo viên (98%) được khảo sát đồng ý với nội dung được nêu ra của chương trình Chỉ có 2% (01 người) có ý kiến đồng ý nhưng cần chỉnh sửa; Trong câu hỏi về nội dung chương trình có đảm bảo cung cấp đủ kiến thức (100%), kỹ năng chuyên môn theo yêu cầu của chuẩn đầu ra (98%); Chương trình đảm bảo liên thông với một số chương trình khu vực và quốc tế (96%) Kết quả điều tra trên cho thấy, đa phần các chuyên gia và giáo viên được khảo sát đồng tình với số lượng và thời lượng các học phần được thiết kế, với các nội dung của chương trình đào tạo; chương trình nên được
mở sớm và có tính khả thi cao
Kết quả và nội dung của các nhóm khảo sát là một kênh thông tin rất đáng tin cậy, có tính tham khảo cao trong quá trình nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng chương trình khung cho chuyên ngành ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD
Nội dung nghiên cứu thứ tư: Đề xuất xây dựng chương trình và những điểm mới của chương trình như: Chương trình cử nhân ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD được thiết kế với các học phần từ lí thuyết cơ bản tới thực hành chuyên sâu; kết hợp học phần thực tập/kiến tập
sư phạm tới viết khóa luận tốt nghiệp Các học phần được đề xuất xây dựng dựa trên các chương trình đào tạo chuyên ngành sư phạm, các chương trình đào tạovề giáo dục học, phương pháp giảng dạy, các khóa học nâng cao nghiệp vụ sư phạm của các trường đại học hàng đầu Việt Nam và Nhật Bản
Ngoài tính kế thừa của các chương trình đi trước, chương trình cử nhân ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD của Khoa Tiếng Nhật, Trường ĐHHN được thiết kế theo đặc thù của trường đại học ứng dụng nên các học phần đều nghiêng về thực hành, ứng dụng Một số học phần được xây dựng hoàn toàn mới, đáp ứng mục tiêu đào tạo trong xu thế mới và của chuẩn đầu ra
Có 3/9 học phần bắt buộc (Thiết kế giáo án và phát triển tài liệu giảng dạy ngoại ngữ; Thiết kế chương trình đào tạo và nội dung giảng dạy ngoại ngữ; Phương pháp kiểm tra đánh giá trong giảng dạy ngoại ngữ) và 4/6 môn học tự chọn là khác với chương trình khung chuyên ngành sư phạm của ĐHNN, ĐHQGHN Đặc biệt, chương trình cử nhân ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD của Khoa tiếng Nhật, Trường ĐHHN đã đưa học phần Nhập môn thụ đắc ngôn ngữ thứ hai làm môn học bắt buộc thay cho viết khóa luận tốt nghiệp (KLTN) cũng
là một điểm mới, sáng tạo và phù hợp (Chương trình chuyên ngành sư phạm của ĐHNN,
Trang 9ĐHQGHN cho sinh viên chọn một môn học tự chọn làm điều kiện này), bởi chỉ có khoảng 10% sinh viên được chọn viết KLTN, số còn lại sẽ phải học học phần thay thế này
Chúng tôi lựa chọn học phần thụ đắc ngôn ngữ thứ hai làm học phần thay thế KLTN
vì đây là học phần nâng cao trong định hướng PPGD, học phần này được thiết kế để cung cấp các kiến thức về tính cần thiết của những nghiên cứu về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai; Từ những kiến thức được cung cấp, người học có thể vận dụng để thực hiện ứng dụng hiệu quả trong việc giảng dạy tiếng Nhật ở các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, giờ dạy ngữ pháp ; thực hiện các nghiên cứu về việc học và tiếp thu tiếng Nhật của người Việt Nam
Chương trình đào tạo cử nhân ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD của Khoa tiếng Nhật, Trường ĐHHN có sự kế thừa, liên thông, phối kết hợp giữa các chương trình đào tạo sư phạm trong nước và chương trình đào tạo sư phạm của Nhật Bản, nhưng cũng có những yếu tố đặc
thù riêng
Chương trình đáp ứng đầy đủ các yêu cầu như: Mục tiêu đào tạo; Chuẩn đầu ra; Nội dung và thời lượng đào tạo với 140 tín chỉ (TC) toàn khóa học (phù hợp với thông tư 07 -
2015 mà Bộ GD&ĐT đã quy định cho một chương trình giáo dục đại học), thời gian đào tạo 4 năm, chia 8 học phần Trong đó 2 năm cuối tập trung đào tạo với 28 TC chuyên ngành Ngoài
ra, chương trình thiết kế thời gian thực tập/kiến tập sư phạm với thời lượng 3 TC và viết KLTN hoặc học 3 học phần thay thế khóa luận tốt nghiệp với tổng số 6 TC Tổng thời lượng đào tạo định hướng PPGD là 39 TC đã đồng nhất với các định hướng đào tạo khác (Biên phiên dịch, Thương mại, Du lịch, ) của đơn vị đào tạo khác và của các khoa ngôn ngữ Trường ĐHHN
Chương trình cử nhân ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD được thiết kế với 10 đầu mục: Thông tin về chương trình đào tạo; Mục tiêu đào tạo; Chuẩn đầu ra; Vị trí công tác sau khi tốt nghiệp; Khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi khi tốt nghiệp; Nội dung đào tạo;
Mô tả tóm tắt các học phần; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất đảm bảo cho đào tạo; Hướng dẫn thực hiện chương trình
Chi tiết về chương trình đào tạo cử nhân Ngôn ngữ Nhật định hướng PPGD được thể hiện ở bảng sau:
STT Tên học
phần
Số
TC
Số giờ TC
Lí thuyết
Thực hành
Tự học
bắt buộc
22
1 Tâm lí học
trong dạy học ngoại ngữ
2 Giáo dục
học đại cương
Trang 10hành chính nhà nước và quản lí ngành giáo dục
và đào tạo
4 Lí luận
dạy học tiếng Nhật
pháp giảng dạy tiếng Nhật
1
pháp giảng dạy tiếng Nhật
2
7 Thiết kế
giáo án và phát triển tài liệu giảng dạy ngoại ngữ
8 Thiết kế
chương trình đào tạo ngoại ngữ
pháp kiểm tra và đánh giá trong dạy học ngoại ngữ
II Học phần
tự chọn
6
10 Ứng dụng
công nghệ thông tin trong giảng dạy ngoại ngữ
11 Chuyên đề
Ngữ âm tiếng Nhật: từ lí thuyết tới thực hành