Tác giả đã tìm hiểu về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học nói tiếng Nhật thuộc học phần thực hành tiếng của Khoa tiếng Nhật trường Đại học Hà Nội thông qua việc điều tra ý kiến của những sinh viên học tiếng Nhật. Bài viết này trình bày kết quả điều tra và phân tích những vấn đề còn tồn tại, để đưa ra những đề xuất về hoạt động giờ học giúp giải quyết những vấn đề đó.
Trang 1ĐIỀU TRA VỀ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY KĨ NĂNG NÓI TRÌNH ĐỘ
SƠ CẤP TẠI KHOA TIẾNG NHẬT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
Nguyễn Song Lan Anh
Trường Đại học Hà Nội
Tóm tắt
Tác giả đã tìm hiểu về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học nói tiếng Nhật thuộc học phần thực hành tiếng của Khoa tiếng Nhật trường Đại học Hà Nội thông qua việc điều tra ý kiến của những sinh viên học tiếng Nhật Báo cáo này trình bày kết quả điều tra và phân tích những vấn đề còn tồn tại, để đưa ra những đề xuất về hoạt động giờ học giúp giải quyết những vấn đề đó Kết quả phân tích cho thấy, việc sửa lỗi cho phát ngôn từ phía giáo viên đã có sự tập trung đều đến cả bốn yếu tố nội dung, ngữ pháp, từ vựng, phát âm của bài hội thoại Tuy nhiên, giáo viên chưa xác định rõ ràng các phương pháp, phương thức để thúc đẩy hiệu quả sự tương tác, giao tiếp của sinh viên trong lớp học; giáo viên chưa thực hiện những phương pháp để thúc đẩy tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập
Từ khóa
kĩ năng nói, tình hình giờ học, phương pháp giảng dạy, tương tác, tính chủ động
1 Mở đầu
Từ năm 1993 cho đến nay, Trường Đại học Hà Nội thực hiện Chương trình niên chế đào tạo
cử nhân ngoại ngữ chuyên ngành tiếng Nhật theo định hướng biên phiên dịch Từ năm học
2017 – 2018 đến nay, Trường Đại học Hà Nội triển khai áp dụng Chương trình đào tạo theo
hệ thống tín chỉ theo 3 định hướng tùy chọn là: Biên - Phiên dịch, Giáo dục tiếng Nhật và Tiếng Nhật thương mại
Việc Trường Đại học Hà Nội cũng như các trường đại học khác mở rộng thêm các định hướng đào tạo phản ánh nhu cầu của xã hội ngày càng cao đối với nguồn nhân lực biết tiếng Nhật Do vậy, việc nâng cao chất lượng đào tạo, áp dụng những phương pháp giảng dạy hiệu quả để sinh viên nâng cao năng lực tiếng Nhật là rất quan trọng
Tại Trường Đại học Hà Nội, các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết được giảng dạy từ năm thứ nhất đến hết năm thứ hai, theo các giai đoạn từ tiếng Nhật sơ cấp đến trung, cao cấp Chúng tôi đã tìm hiểu về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học nói tiếng Nhật thuộc học phần thực hành tiếng của Khoa tiếng Nhật trường Đại học Hà Nội thông qua việc điều tra ý kiến của những sinh viên học tiếng Nhật Bài viết này sẽ trình bày kết quả điều tra này và phân tích những vấn đề còn tồn tại, để đưa ra những đề xuất về hoạt động giờ học giúp giải quyết những vấn đề đó
2 Cơ sở lý luận
Những điều tra chuyên sâu về thực trạng giảng dạy các kĩ năng thực hành nói tiếng Nhật tại các cơ sở đào tạo không nhiều Theo phạm vi tác giả nắm được, chỉ có nghiên cứu của Đặng Quỳnh Trâm (2003), Nguyễn Hồng Thư (2008), Hose Antonio (2009) thực hiện điều tra về giờ học các kĩ năng nói Trong phần cơ sở lí luận này, chúng tôi khái lược các nghiên cứu về
thực trạng giảng dạy các kĩ năng nói như dưới đây
Trang 2Đặng Quỳnh Trâm (2003) đã điều tra về tình hình giảng dạy kĩ năng nói tại các trường đại học ở Việt Nam và đưa hoạt động giao tiếp vào giờ học nói Kết quả điều tra cho thấy, các giáo viên ít có cơ hội tham gia các giờ học về giáo học pháp tiếng Nhật nên không nắm vững kiến thức cũng như kĩ năng về phương pháp giảng dạy tiếng Nhật và có nhiều lúng túng khi thực hiện giờ học Về phía người học, các sinh viên Việt Nam không tự tin, mạnh dạn khi nói tiếng Nhật Thông qua giờ học thực nghiệm đưa hoạt động giao tiếp vào giờ học nói (hoạt động phỏng vấn, hỏi đáp, sử dụng tranh và trao đổi hội thoại) tại các trường đại học ở Việt Nam, phần lớn sinh viên đã có phản hồi tích cực về việc thích hay không thích hoạt động này Tuy nhiên, do chưa quen với những hoạt động này, nên nhiều sinh viên vẫn chưa tích cực đưa
ra ý kiến của bản thân khi tham gia hoạt động
Nguyễn Hồng Thư (2008) đã điều tra về thực trạng giảng dạy tại các giờ học tiếng Nhật thuộc các trường trung học cơ sở ở miền trung và miền nam Việt Nam Đối tượng điều tra là 10 giáo viên thuộc 07 trường đại học Kết quả điều tra giờ học nói cho thấy: (1) Giáo viên thường soạn ngữ cảnh hội thoại thực tế và cho học sinh luyện theo ngữ cảnh đó; (2) Trong việc lên kế hoạch và thực hiện cho sinh viên luyện tập hội thoại, luyện tập mở rộng, có sự khác nhau về mặt nội dung và tính chất hoạt động đối với từng giáo viên Có những giáo viên cũng nỗ lực trong việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực như sử dụng task sheet và cho sinh viên tương tác, trao đổi thông tin với nhau; (3) Có thể thấy điểm giống và khác nhau trong nhược điểm thực hiện giờ học của các giáo viên Có giáo viên cho sinh viên trao đổi, tương tác với nhau bằng tiếng Nhật Việc này khiến sinh viên thấy hứng thú Tuy nhiên, do có ít cơ hội tiếp xúc với người Nhật, nên động cơ học tiếng Nhật cũng có xu hướng giảm bớt Có giáo viên cho sinh viên nhìn sách và đọc hội thoại để luyện tập Có thể thấy nhược điểm của phương pháp này là không rõ ràng về mục tiêu của hoạt động cũng như thiếu ý tưởng thiết kế hoạt động sao cho thú vị, hiệu quả Có giáo viên sử dụng quá nhiều phần giải thích tiếng Việt kể cả
ở phần luyện tập mở rộng và ít cho sinh viên tương tác, trao đổi với nhau Do khó khăn trong việc quản lí hoạt động nên giáo viên vẫn đi theo xu hướng giờ học giáo viên là trung tâm Hose Antonio (2009) đã điều tra về thực trạng giờ học kĩ năng nói tại Trung tâm tiếng Nhật dành cho người gốc Nhật sinh ra và lớn lên tại Peru Kết quả điều tra cho thấy: (1) Hoạt động học truyền thống đã không tạo cho người học có ý thức đặt ra mục tiêu về khả năng giao tiếp; Hoạt động giờ học chú trọng ý nghĩa, nội dung phát ngôn chưa được đưa vào giờ học; (3) Cấu trúc giờ học từ trước tới nay khó giúp người học thụ đắc tốt tiếng Nhật Tác giả đã đề xuất hoạt động giờ học giúp cải thiện những vấn đề còn tồn tại này Cụ thể, tác giả đã áp dụng hoạt động đóng vai và phương pháp đàm thoại, phương pháp tiếp cận theo dạng thức biểu hiện (Focus on Form) Với 6 buổi thực hiện giờ học thực nghiệm, có thể thấy những hiệu quả nhất định của việc ứng dụng những hoạt động này trong giảng dạy nói như phát ngôn của người học hay cấu trúc đoạn hội thoại đã có những tiến bộ đáng kể cũng như đã có những phản hồi tích cực từ cả phía người dạy và người học
Trên đây là những điều tra, nghiên cứu về thực trạng giảng dạy kĩ năng nói tiếng Nhật tại các
cơ sở đào tạo ở miền trung, miền nam Việt Nam và ở nước ngoài là Peru Trong bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học nói tiếng
Trang 3Nhật trình độ sơ cấp thuộc học phần thực hành tiếng của Khoa tiếng Nhật trường Đại học Hà Nội
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc điều tra ý kiến của sinh viên tiếng Nhật, chúng tôi muốn làm rõ thực trạng về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học nói trình độ sơ cấp thuộc học phần thực hành tiếng Nhật của Khoa tiếng Nhật trường Đại học Hà Nội
Để đưa ra câu trả lời cho mục đích điều tra trên đây, chúng tôi thiết lập hai câu hỏi nghiên cứu như sau:
RQ1: Thực tế các giờ học của kĩ năng nói được tiến hành như thế nào?
RQ2: Đánh giá của sinh viên đối với phương pháp giảng dạy trong giờ học kĩ năng nói như thế nào?
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu định lượng và định tính thông qua việc thực hiện điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sau đó tiến hành thống kê và phân tích
4.1 Đối tượng điều tra
Để nắm bắt thực trạng giờ học kĩ năng nói, chúng tôi đã thực hiện điều tra thông qua bảng hỏi
67 sinh viên về giờ học nói thuộc học phần thực hành tiếng đã được tham gia vào năm thứ nhất Việc điều tra sinh viên thông qua việc hồi tưởng, nhớ lại các giờ học nói năm thứ nhất
4.2 Phiếu điều tra
Phiếu điều tra dành cho sinh viên bao gồm những nội dung như sau: 1) Trình tự cơ bản của các giờ học thuộc kĩ năng nói trong các giờ học sinh viên đã và đang tham dự; 2) Về các hoạt động trước khi cho sinh viên luyện hội thoại; 3) Về các hoạt động sau khi cho sinh viên luyện hội thoại; 4) Những tiêu chí trọng tâm khi giáo viên sửa phát ngôn cho sinh viên Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tiến hành phỏng vấn follow-up trực tiếp đối với sinh viên để nắm vững hơn các thông tin liên quan đến phần trả lời bảng hỏi của sinh viên
5 Kết quả khảo sát
5.1 Trình tự cơ bản của các giờ học thuộc kĩ năng nói trong các giờ học sinh viên đã và đang tham dự
Phần trả lời về trình tự giờ học kĩ năng nói sinh viên đã tham gia trong nội dung điền phiếu trả lời, có thể thấy có 02 hoạt động giờ học điển hình như sau:
Hoạt động giờ học 1: Hoạt động với vai trò giáo viên là chủ đạo
- Cho sinh viên đọc và nghe hội thoại trong sách
- Giáo viên cho sinh viên nghe bài hội thoại mẫu
- Giáo viên giải thích các từ mới, ngữ pháp mới, và kiến thức nền liên quan đến bài hội thoại
- Sinh viên luyện hội thoại theo cặp
Trang 4- Giáo viên cho sinh viên làm hội thoại trước lớp và để sinh viên khác nhận xét
- Giáo viên chỉnh lại phát âm, ngữ pháp, từ vựng cho sinh viên
Hoạt động giờ học 2: Hoạt động có sự tương tác, trao đổi với sinh viên
- Giáo viên cho nghe các đoạn hội thoại rồi đưa ra các chủ đề liên quan đến bài học để sinh viên tự tạo hội thoại
- Sau đó, giáo viên sẽ gọi sinh viên nói trước lớp và cả giáo viên và sinh viên sẽ cùng nhận xét
- Thỉnh thoảng giáo viên cũng đan xen các chủ đề thời sự, các vấn đề nóng hổi, kích thích sự sáng tạo của sinh viên
Trong 67 người được hỏi, có 37 (55%) người trả lời là ―hoạt động giờ học 1‖, 18 (27%) người trả lời là ―hoạt động giờ học 2‖, 12 (18%) người trả lời cả hai
5.2 Về các hoạt động trước và sau khi cho sinh viên luyện hội thoại
Chúng tôi đã tổng kết câu trả lời về các hoạt động trước và sau khi cho sinh viên luyện hội thoại theo số lượng người và tỷ lệ phần trăm như bảng sau
Bảng 1: Hoạt động giờ học nói của giáo viên Nội dung hoạt động Thường
xuyên Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ Trước
khi
luyện
hội
thoại
Cho sinh viên trao đổi với với
nhau về chủ đề của bài hội thoại
59 (88%)
7(10.6%) 1(1.5%) 0(0%) Giảng cho sinh viên về bài hội
thoại mẫu
65(97%) 1(1.5%) 0(0%) 1(1.5%)
Giải thích cho sinh viên về cấu
Sau
khi
luyện
hội
thoại
Gọi một vài sinh viên thực hiện
phần hội thoại trước lớp và Thày/
Cô chữa phần hội thoại đó trước
lớp
66(98%) 1(1.5%) 0 (0%) 0 (0%)
Cho cả lớp tự luyện tập hội thoại
với nhau và Thày/ Cô sẽ đến từng
bàn chữa phần hội thoại cho sinh
viên
53 (79%) 9 (13,6%) 5
(7,6%)
0 (0%)
Cho sinh viên nêu cảm nghĩ, nhận
xét về hội thoại của bạn đã thực
hiện trước lớp
22 (32%) 27 (40.9%) 16
(24,2%)
3 (4,5%) Sau khi sinh viên tự luyện tập hội
thoại, Thày/ Cô cho sinh viên trao
đổi với nhau về hội thoại và đánh
giá phần hội thoại của nhau
43 (64%) 11 (16.7%) 10
(15.2%)
3 (4.5%)
Từ bảng 1, có thể thấy ở bước trước khi cho sinh viên luyện hội thoại, có 88% sinh viên nêu rằng giáo viên thường xuyên cho sinh viên trao đổi với nhau về chủ đề hội thoại Ở hoạt động giảng cho sinh viên về bài hội thoại mẫu, số sinh viên cho rằng giáo viên thường xuyên thực
Trang 5hiện là 97% Ở hoạt động giáo viên giải thích cho sinh viên về cấu trúc mẫu câu, 94% sinh viên cho ý kiến là giáo viên thường xuyên thực hiện
Ở bước sau khi luyện hội thoại, về hoạt động giáo viên gọi một vài sinh viên thực hiện phần hội thoại trước lớp và Thày/ Cô chữa phần hội thoại đó trước lớp, số sinh viên cho rằng giáo viên thường xuyên thực hiện là 98% Ở hoạt động giáo viên cho cả lớp tự luyện tập hội thoại với nhau và Thày/ Cô sẽ đến từng bàn chữa phần hội thoại cho sinh viên, tỷ lệ sinh viên nêu giáo viên thường xuyên thực hiện cũng là 79%
Trong hoạt động truyền thống, giáo viên giữ vai trò tuyệt đối, là người nắm giữ kiến thức để truyền thụ cho sinh viên, và sẽ là người chữa lỗi cho sinh viên Có thể thấy tỷ lệ sinh viên nêu giáo viên thường xuyên thực hiện là rất cao đối với những hoạt động của giờ học truyền thống mà ở đó, vai trò giáo viên là chủ đạo Điều này thể hiện ở phản hồi của phần câu hỏi: thầy/ cô giảng cho sinh viên về bài hội thoại mẫu (97%); giải thích cho sinh viên về cấu trúc mẫu câu (94%); gọi một vài sinh viên thực hiện phần hội thoại trước lớp và thầy/ cô chữa phần hội thoại đó trước lớp (98%)
Đối với những hoạt động phát huy sự chủ động, thể hiện sự tham gia của sinh viên trong việc sửa lỗi phát ngôn, sửa chữa và nhận xét hội thoại cho bạn, có thể thấy tỷ lệ sinh viên đánh giá
sự thường xuyên thực hiện hoạt động này của giáo viên không còn cao áp đảo như vậy Với hoạt động cho sinh viên nêu cảm nghĩ, nhận xét về hội thoại của bạn đã thực hiện trước lớp, chỉ 32% sinh viên cho rằng giáo viên thường xuyên thực hiện Với hoạt động sau khi sinh viên tự luyện tập hội thoại, giáo viên cho sinh viên trao đổi với nhau về hội thoại và đánh giá phần hội thoại của nhau, có thể thấy giáo viên cũng đã cho sinh viên thực hiện thường xuyên với tỷ lệ sinh viên đánh giá thường xuyên là 64%
Thông qua việc trao đổi, phỏng vấn về cách thức tiến hành giờ học của giáo viên, chúng tôi hiểu rằng các giáo viên đã đưa vào trong giờ học hoạt động nhóm, tiến hành cho sinh viên chữa bài, sửa lỗi, nhận xét phát ngôn, hội thoại của nhau Tuy nhiên, hoạt động này chưa được thực hiện bài bản với các phương tiện hỗ trợ Các phương tiện hỗ trợ để hoạt động hiệu quả như tasksheet chưa được sử dụng Hoạt động này còn mang tính chất tự phát Giáo viên chưa nắm bắt được hết những trao đổi của sinh viên để thúc đẩy và điều chỉnh sao cho những trao đổi đó có tác dụng cho quá trình học tập tiếng Nhật, cho việc nâng cao năng lực tiếng Nhật và khả năng sáng tạo, tự chủ trong học tập của sinh viên
5.3 Về tiêu chí trọng tâm khi giáo viên chữa bài nói cho sinh viên
Với câu hỏi về tiêu chí trọng tâm khi giáo viên chữa bài nói cho sinh viên, kết quả phản hồi của sinh viên như bảng sau
Bảng 2: Tiêu chí trọng tâm khi giáo viên chữa bài nói cho sinh viên
trọng
Khá chú trọng
Hơi chú trọng
Hoàn toàn không chú trọng
1 Nội dung (Có nêu rõ ràng điều mình
muốn nói và thông điệp của đoạn hội
thoại hay không?)
31 (46%) 29 (43%) 04 (5.9%) 03 (4.5%)
Trang 62 Ngữ pháp (Cách sử dụng cấu trúc,
trợ từ có chính xác hay không?)
21 (31%) 30 (45%) 12 (18%) 4 (5.9%)
3 Từ vựng/ Cách diễn đạt (Có sử dụng
chính xác hay không?)
33(49%) 26 (39%) 06 (9%) 02 (3%)
4 Phát âm (Có rõ ràng, dễ hiểu và
chính xác về mặt trọng âm, ngữ điệu
hay không?)
38(57%) 24 (36%) 03 (4.5%) 02 (3%)
Nhìn vào bảng 02 nêu về tiêu chí trọng tâm khi giáo viên chữa bài nói cho sinh viên, có thể thấy giáo viên đã có sự tập trung đều đến cả bốn yếu tố nội dung, ngữ pháp, từ vựng, phát âm của bài hội thoại Yếu tố được chú trọng nhất là phát âm với 57% ý kiến cho rằng rất được chú trọng; tiếp theo là yếu tố từ vựng với 49% ý kiến cho rằng rất được chú trọng
Khi phỏng vấn sinh viên về thái độ tham gia giờ học, về cách thức tham gia giờ học của sinh viên, nhiều ý kiến sinh viên cho rằng mình vẫn còn ỉ lại nhiều vào việc chữa phát ngôn của giáo viên Giờ học vẫn tập trung vào sự hướng dẫn giảng, dạy của giáo viên Giáo viên thường nhấn mạnh với sinh viên tầm quan trọng của sự chính xác về mặt hình thức ngôn ngữ,
mà chủ yếu là từ vựng, cấu trúc câu, phát âm
6 Thảo luận và đề xuất
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học tiếng Nhật kĩ năng nói thông qua việc điều tra ý kiến của sinh viên học tiếng Nhật, chúng tôi rút ra kết luận về tình hình của các giờ học hiện nay như sau
(1) Phương pháp của giáo viên:
- Việc sửa lỗi cho phát ngôn đã có sự tập trung đều đến cả bốn yếu tố nội dung, ngữ pháp, từ vựng, phát âm của bài hội thoại
- Giáo viên chưa xác định rõ ràng các phương pháp, phương thức để thúc đẩy hiệu quả sự tương tác, giao tiếp của sinh viên trong lớp học
Kết quả phiếu điều tra, đánh giá của người học với phần phản hồi thường là ở câu trả lời ―rất thường xuyên‖ và ‖khá thường xuyên‖, ―rất chú trọng‖ và ―khá chú trọng‖ gần như đều trên 70% Vậy thì, ―vấn đề‖ của việc dạy môn nói ở đâu? Người học có thực sự không hài lòng không? Người học có yêu cầu gì đối với giờ học nói và phương pháp giảng dạy của giáo viên Giờ học nói theo phương pháp nào là hiệu quả? Phương pháp nào thì thành tích học tốt hơn?
Có lẽ cần nghiên cứu với hình thức khảo sát sâu hơn nữa để làm rõ hơn những vấn đề này (2) Đánh giá của sinh viên về phương pháp dạy nói của giáo viên: Chưa thúc đẩy được tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập Chưa thúc đẩy mạnh mẽ được năng lực tự học
và khả năng chủ động của sinh viên trong quá trình học tập kĩ năng nói
Như vậy, có thể thấy việc dạy học tiếng Nhật trong giờ học nói chưa rèn luyện được cho sinh viên có năng lực tự học, chủ động trong quá trình học tập của mình, chưa giúp cho sinh viên có sự chủ động trong việc tự rèn luyện, nâng cao năng lực tiếng Nhật Sinh viên vẫn kì vọng và trông chờ vào việc dạy, sửa chữa phát ngôn, bài viết từ phía giáo viên Giờ dạy với
mô hình giáo viên là trung tâm vẫn chiếm vị trí chủ đạo Và như thế, sinh viên học với tư duy
và thái độ bị động Khi rời khỏi lớp học, sinh viên khó có thể tự mình giải quyết những vấn đề
Trang 7trong việc học các kĩ năng này Điều này dẫn đến việc thiếu tự tin với năng lực tiếng Nhật của sinh viên
Chúng tôi cho rằng hoạt động học tập chủ động (active learning), hoạt động hợp tác giữa người học (peer learning) có thể là chìa khóa giải quyết vấn đề này, giúp sinh viên có năng lực tự học, thúc đẩy tính sáng tạo và chủ động của sinh viên trong quá trình học tập
6 Kết luận
Trong báo cáo này, chúng tôi đã tìm hiểu về cách thức giảng dạy của giáo viên trong các giờ học nói tiếng Nhật thuộc học phần thực hành tiếng của Khoa tiếng Nhật trường Đại học Hà Nội thông qua việc điều tra ý kiến của những sinh viên học tiếng Nhật Thông qua kết quả điều tra và phân tích những vấn đề còn tồn tại, chúng tôi đã đề xuất về việc thực hiện hoạt động học tập chủ động (active learning), hoạt động giờ học hợp tác giữa người học (peer learning) sẽ có thể giúp giải quyết những vấn đề đó Hoạt động học tập chủ động (active learning) là hoạt động mà ở đó, người học không hình thành kiến thức, kĩ năng chỉ bằng cách thu nạp lời giảng của giáo viên; thay vào đó, kiến thức, kĩ năng được chuyển hóa thành ―hiểu biết‖ của riêng từng cá nhân khi người học được tương tác với cộng đồng xung quanh (bao gồm bạn học, giáo viên, những cơ hội thực hành thực tế để kiểm chứng kiến thức và rèn luyện kĩ năng) Hoạt động hợp tác giữa người học (peer learning) là một trong số những hoạt động giảng dạy tích cực nhằm mục tiêu phát huy sự chủ động, năng lực tự học, tính sáng tạo của sinh viên, sẽ giúp nâng cao hiệu quả học kĩ năng nói cho sinh viên
Tài liệu tham khảo
グエン, ホン・トゥ (2008).「特定課題研究報告 ベトナム中南部の中学校日本語教
師の意識と教室活動の実態―コミュニケーション能力養成を目指して―」『日本言語
文化研究会論集』.国際交流基金日本語国際センター・国立国語研究所・政策研究大
学院大学.第4号.145‐172.
グエン ソン ラン アイン (2009).「特定課題研究報告 即興スピーチにおけるピア
活動の影響―ハノイ大学での「話す授業」の改善を目指して―」.『日本言語文化研
究会論集』.第5号.国際交流基金日本語国際センター・国立国語研究所・政策研究大
学院大学.195‐222.
ダン クィン チャム(2001).「特定課題研究報告 ベトナムにおける日本語の会話授業
の改善-コミュニケーション活動を積極的に取り入れるために-」.『日本言語文化
研究会論集』.第2号.国際交流基金日本語国際センター・国立国語研究所・政策研究
大学院大学.29‐64.
ラミレス・ハラ,ホセ・アントニオ (2009).「特定課題研究報告 学習者が話せるよ
うになる授業への改善の試み-ペルー日系人協会日本語・語学センターの初級を例に
-」.『日本言語文化研究会論集』.第5号.国際交流基金日本語国際センター・国立国
語研究所・政策研究大学院大学.87‐114.
Trang 8AN INVESTIGATION INTO THE REALITY OF SPEAKING CLASS AT
PRIMARY LEVEL AT JAPANESE DEPARTMENT, HANOI
UNIVERSITY
Abstract
Through the survey with students studying Japanese, this study investigated the method that the teachers used in Japanese speaking classes at the Faculty of Japanese Language, Hanoi University This article presents the results of the investigation and analysis of outstanding issues, to make suggestions about activities that help to address those issues The analysis results show that correcting errors for teachers' speech has evenly focused
on the four elements of content, grammar, vocabulary, pronunciation of the conversation However, teachers have not clearly defined methods to effectively promote student interaction and communication in the classroom, nor implemented ways to promote student autonomy in the learning process
Keywords
speaking skills, activities in class, teaching methods, interaction, autonomy
Tư liệu điều tra
PHIẾU ĐIỀU TRA GIỜ DẠY KỶ NĂNG NÓI TIẾNG NHẬT
(Dành cho sinh viên)
Với mục đích thiết kế giờ hoạt động giờ học phù hợp, chúng tôi tiến hành điều tra tình hình giờ dạy kĩ năng nói tiếng Nhật Xin cảm ơn các em đã hợp tác thực hiện điều tra này Rất mong các
em viết cụ thể về tình hình và nội dung thực hiện các hoạt động trong giờ học theo những câu hỏi dưới đây
Họ và tên:________ Lớp:___
Giới tính:Nam( ) Nữ( ) Tuổi:___
*Nếu không phiền, mong em hãy ghi địa chỉ liên lạc của mình vào phần dưới đây, vì có thể tôi sẽ liên lạc với em trong quá trình xử lý dữ liệu điều tra Những thông tin cá nhân không nhằm phục vụ cho mục đích nào khác ngoài điều tra này
Địa chỉ liên lạc (E-mail, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại)
………
………
……
* Trình tự cơ bản của các giờ học thuộc kĩ năng nói trong các giờ học em đã và đang tham dự, về
cơ bản các thày/ cô thực hiện ở lớp các em như thế nào? (Hãy viết ngắn gọn mô tả về giờ học đó
như dưới đây Nếu các em học những thầy/ cô khác nhau và có phương pháp, trình tự giờ học khác nhau, các em hãy ghi ra những phương pháp, trình tự của những giờ học khác nhau đó)
Trang 9□ Kỹ năng nói
………
………
……
D KỶ NĂNG NÓI (Các Thầy/ Cô đã thực hiện hoạt động nào và với mức độ như thế nào trong
số những hoạt động dưới đây)
* Về các hoạt động trước khi cho sinh viên luyện hội thoại
1 Cho sinh viên trao đổi với với nhau về chủ đề của bài hội thoại
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
2 Giảng cho sinh viên về bài hội thoại mẫu
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
3 Giải thích cho sinh viên về cấu trúc mẫu câu
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
4 Ngoài các hoạt động nêu trên, Thày/ Cô có thực hiện hoạt động nào khác không? Nếu có, các
em ghi vào phần dưới đây:
………
………
……
* Về các hoạt động sau khi cho sinh viên luyện hội thoại
5 Gọi một vài sinh viên thực hiện phần hội thoại trước lớp và Thày/ Cô chữa phần hội thoại đó trước lớp
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
6 Cho cả lớp tự luyện tập hội thoại với nhau và Thày/ Cô sẽ đến từng bàn chữa phần hội thoại cho sinh viên
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
7 Cho sinh viên nêu cảm nghĩ, nhận xét về hội thoại của bạn đã thực hiện trước lớp
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
8 Sau khi sinh viên tự luyện tập hội thoại, Thày/ Cô cho sinh viên trao đổi với nhau về hội thoại và đánh giá phần hội thoại của nhau
□ Thường xuyên □ Thỉnh thoảng □ Hiếm khi □ Không bao giờ
9 Ngoài các hoạt động nêu trên, Thày/ Cô có thực hiện hoạt động nào khác không? Nếu có, các
em ghi vào phần dưới đây:
Trang 10………
……
10 Khi chữa bài nói cho sinh viên, em nhận thấy Thày/ Cô đặt trọng tâm vào những tiêu chí nào trong số những tiêu chí dưới đây?
trọng
Khá chú trọng
Hơi chú trọng
Hoàn toàn không chú trọng
1 Nội dung (Có nêu rõ ràng điều mình
muốn nói và thông điệp của đoạn hội thoại
hay không?)
2 Ngữ pháp (Cách sử dụng cấu trúc, trợ
từ có chính xác hay không?)
3 Từ vựng/ Cách diễn đạt (Có sử dụng
chính xác hay không?)
4 Phát âm (Có rõ ràng, dể hiểu và chính
xác về mặt trọng âm, ngữ điệu hay không?)