Bài viết cũng nêu ra một vài đề nghị nhằm cải tiến chất lượng giảng dạy và học tập học phần Biên dịch 1, học phần tạo nền tảng cơ bản về dịch thuật cho sinh viên trong chương trình đào tạo của khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Ngoại ngữ-Tin học Tp. Hồ Chí Minh.
Trang 1KIỂM TRA KHẢ NĂNG DỊCH ANH - VIỆT
Nguyễn Phú Thọ
Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Tp Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Kiểm tra và đánh giá bản dịch có vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy dịch thuật Bài viết khảo sát 45 bài dịch Anh-Việt của sinh viên trên cơ sở lý thuyết về tương đương dịch thuật
và quan hệ giữa ngôn ngữ học đối chiếu và dịch thuật Người viết trình bày quá trình sửa bài trên lớp, trao đổi, củng cố kiến thức ngôn ngữ và nhấn mạnh các bước sinh viên cần thực hiện khi làm bài dịch ở nhà Dựa trên các tiêu chí đánh giá, lỗi về từ vựng-ngữ nghĩa và các yếu tố liên quan, người viết xếp loại câu dịch và chấm điểm bài dịch Kết quả cho thấy lợi ích của việc sửa bài trên lớp và độ tin cậy của điểm số đáp ứng được mục đích nghiên cứu là kiểm tra khả năng dịch Anh-Việt của sinh viên Bài viết cũng nêu ra một vài đề nghị nhằm cải tiến chất lượng giảng dạy và học tập học phần Biên dịch 1, học phần tạo nền tảng cơ bản về dịch thuật cho sinh viên trong chương trình đào tạo của khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Ngoại ngữ-Tin học Tp Hồ Chí Minh
Từ khoá
tương đương; đánh giá; tiêu chí; tin cậy; đề nghị
1 Mở đầu
Dịch thuật ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển, giao lưu văn hoá và hội nhập quốc tế Trong giáo dục đại học ở Việt Nam, hầu như các trường đại học thuộc nhóm ngành xã hội và nhân văn đều có bộ môn biên phiên dịch với nhiệm vụ là trang bị kiến thức ngôn ngữ và rèn luyện kỹ năng dịch thuật cho sinh viên (SV) Theo Pym (2011), các trường đại học truyền thống thường xem dịch như một cách kiểm tra trình độ ngoại ngữ của SV và tăng cường dần dần các kỹ năng chuyên biệt cho dịch thuật như một phương thức giao tiếp Mặt khác, theo quan sát của Nguyễn Thị Kiều Thu (2017), mục tiêu đào tạo của một số trường đại học hiện nay là: dạy các kỹ thuật dịch để SV có thể dịch tốt các bản dịch và qua đó cải thiện năng lực ngoại ngữ Để đạt được những mục tiêu này, chương trình đào tạo cho chuyên ngành Biên Phiên Dịch thiết kế nhiều môn học khác nhau theo trình độ của SV Biên dịch là một trong những học phần được giảng dạy với các bài dịch Anh-Việt và Việt-Anh với các đề tài liên quan đến đến giáo dục, du lịch, văn hoá, xã hội v.v Như ở tất cả các học phần khác, một trong những vấn đề GV phải làm khi giảng dạy là kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của SV Kết quả kiểm tra không chỉ phản ánh trình độ học tập của SV mà còn thể hiện năng lực vận dụng các phương pháp giảng dạy của GV Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết này đặt trọng tâm vào việc kiểm tra khả năng dịch văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt của
SV với những việc như: sửa bài, chấm bài, nhận xét và đề nghị vài giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dạy và học dịch thuật
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Tương đương dịch thuật
Dịch thuật có phải thuần tuý là việc chuyển tải văn bản từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích hay không? Catford (1994) cho rằng dịch là sự thay thế chất liệu văn bản ngôn ngữ nguồn bằng chất liệu văn bản tương đương ở ngôn ngữ đích Đó là sự tương đương liên văn bản vì có sự liên hệ chặt chẽ đến các thành tố ngôn ngữ trong văn bản gốc và văn bản dịch Theo Larson (1998), dịch thuật là nghiên cứu từ vựng, cấu trúc, hoàn cảnh giao tiếp và ngữ cảnh văn hóa của văn bản nguồn, phân tích để xác định nghĩa, rồi sử dụng từ vựng và cấu trúc
Trang 2bản nguồn Dù có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch thuật nhưng hầu như các định nghĩa đều có điểm chung là tương đương trong dịch thuật hình thành từ các yếu tố như: ngôn ngữ văn bản, văn hoá và các tình huống xuất hiện trong quá trình dịch thuật Theo Lê Quang
Thêm (2019, p 327) thì tương đương ngôn ngữ chính là ―sự trùng nhau ở một phần cơ bản
của nội dung xác định các đơn vị tương ứng‖ Đây được xem là nền tảng cơ bản của lý thuyết
dịch thuật mà qua đó, các dịch giả thực hiện việc nghiên cứu về dịch thuật Mặt khác, khi so sánh đối chiếu với bản gốc thì người ta có thể nhận ra những yếu tố chi phối cách mà người dịch đã cho ra sản phẩm dịch thuật, nghĩa là có sự lựa chọn nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ để chuyển mã từ ngữ từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích và ngược lại Tất nhiên, sự tương đương ở cấp độ từ thì phổ biến và thường gặp hơn Một văn bản gốc có thể được dịch sang một ngôn ngữ nào đó bởi nhiều người dịch khác nhau với nhiều sự khác biệt Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể là các dịch giả có những cách nhìn khác nhau về bản chất của ngôn ngữ, bản chất của dịch thuật và việc áp dụng các lý thuyết ngôn ngữ học vào việc dịch thuật (Lê Hùng Tiến, 2010) Hơn nữa, khi chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích đôi khi sẽ không tìm được sự tương đương tuyệt đối Vì vậy, để có bản dịch tốt, người dịch không chỉ cần kiến thức ngôn ngữ, văn hóa, tâm lí xã hội v.v mà còn khả năng vận dụng hiệu quả những kiến thức đó Nếu không có khả năng này thì sẽ dẫn đến sự không tương xứng
về nghĩa của từ ngữ, gây ra sự hiểu lầm trong một số trường hợp và làm cho bản dịch kém chất lượng Do đó, ý nghĩa của dịch thuật chính là tìm ra sự tương đương hoặc tương đương gần nhất giữa hai ngôn ngữ sao cho giữ được nghĩa của từ ngữ và phù hợp với phong cách văn bản
2.2 Quan hệ ngôn ngữ học đối chiếu và dịch thuật
Trong quá trình dịch thuật, người dịch phải đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng, dị biệt, sự lưỡng nghĩa, những cách sử dụng từ ngữ trong văn bản nguồn để chọn được cách dịch tương đương nhất và sát gần với văn bản nguồn nhất Nếu mục tiêu của ngôn ngữ học đối chiếu là tìm ra sự tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, có thể không cùng loại hình, thì
dịch thuật là ‗xem xét sự tương ứng tương đương của các phương tiện biểu đạt khi biểu hiện
một nội dung đồng nhất về ngữ nghĩa ở các cấp độ khác nhau của ngôn ngữ‘ (Lê Quang
Thiêm, 2019, p.73) Để thực hiện điều này, để đánh giá bản dịch và kiểm tra khả năng dịch của SV, điều quan trọng cần làm là GV phụ trách học phần phải xem xét các hoạt động dịch
và kết quả dịch Đồng thời, những lỗi mà người học mắc phải trong quá trình học và sử dụng ngoại ngữ do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ là tất yếu và có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ dưới nhiều góc độ khác nhau Vì vậy, người viết chọn hướng phân tích lỗi trong bản dịch của SV với ý nghĩa hạn chế sự chủ quan của GV khi đánh giá và có kết quả chấm điểm bài dịch chính xác hơn Từ đó, GV có cơ sở củng cố, bổ sung, xác lập được những tương ứng mang tính qui luật giữa các yếu tố liên quan đến dịch thuật
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1.Câu hỏi nghiên cứu
Như đã xác định, bài viết tập trung vào việc kiểm tra và đánh giá bản dịch của SV Do đó, các câu hỏi nghiên cứu được đề ra như sau:
1 Các bước sửa bài dịch của SV được tiến hành như thế nào?
2 Cơ sở đánh giá và chấm điểm bài dịch của SV là gì?
3 Những nhận xét gì liên quan đến bản dịch của SV ?
4 Điểm chấm của các bài dịch của SV phản ánh điều gì về quá trình dạy và học dịch thuật?
Trang 3Từ việc trả lời những câu hỏi nêu trên, bài viết xác định tính hiệu quả và khả thi của phương pháp sửa bài, củng cố và làm sáng tỏ thêm lý thuyết về dịch thuật nói chung và biên dịch nói riêng Đồng thời, người viết cũng nêu vài đề nghị cho việc giảng dạy và học tập dịch thuật ở cuối bài viết
3.2 Đối tượng
45 SV năm thứ hai đại học, lớp Biên dịch 1 thuộc chuyên ngành Biên Phiên Dịch, ngành Ngôn ngữ Anh của Khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Ngoại ngữ và Tin học Tp HCM (Huflit), đã học các học phần luyện kỹ năng ngôn ngữ 1,2 (Nghe, Nói , Đọc, Viết) và Tiếng Việt thực hành
3.3 Tài liệu khảo sát
Bản tiếng Anh: một đoạn trích trong bài viết ‗Kids Caught on the Border‘ (2015) của Elizabeth Chuck, phóng viên bộ phận tin tức của mạng lưới phát sóng truyền hình Mỹ NBC News
Chủ đề: tình trạng trẻ vị em bị bắt giữ ở biên giới Mỹ và Mêhico trong cuộc khủng hoảng nhập cư hiện nay
Bản tiếng Việt: 45 bài dịch của SV
3.4 Trình tự thực hiện
Bước 1:
- SV dịch 1 đoạn văn từ tiếng Anh sang tiếng Việt dưới hình thức bài tập ở nhà
- SV có thể tra từ trong tự điển, tham khảo tài liệu để tìm hiểu các nội dung liên quan
có trong bản nguồn (từ ngữ, tên cơ quan, tổ chức v.v.)
- Bài dịch in trên giấy A4 Thời gian làm bài: 1 tuần lễ
Bước 2: GV nhận bài và phát ra cho cả lớp cùng sửa (sửa chéo) theo hướng dẫn của
GV
Bước 3: GV thu lại bài làm của SV, đọc lại từng câu, kiểm tra việc sửa bài của SV, tính lỗi, cho điểm từng câu và điểm toàn bài
Bước 4: trả bài làm cho SV sau khi chấm điểm
3.5 Phương pháp
Phương pháp so sánh và đối chiếu được sử dụng nhằm kiểm tra tính tương đương về từ ngữ được lựa chọn trong bản dịch và tương đương về nội dung thông tin được truyền tải trong văn bản nguồn Đơn vị được lựa chọn để đối chiếu là: các danh từ, động từ, cụm từ mà SV có thể dịch sai nghĩa hoặc nghĩa không phù hợp trong tiếng Việt Từ các số liệu có được qua đối chiếu giữa 2 bản dịch, GV có cơ sở kiểm tra, xếp loại và đánh giá khả năng dịch thuật của SV
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Phân tích lỗi
Để tiện phân tích, đoạn văn được chia thành 10 câu và đánh số từ 1 đến 10 (Phụ lục) Tổng số câu được khảo sát là 450 Khi khảo sát, người viết chú ý đến cách chọn từ ngữ tương đương trong tiếng Việt với từ ngữ tiếng Anh Các từ dịch không hợp nghĩa được SV sử dụng được chỉ ra bằng dấu → Phần dịch đề nghị của mỗi câu được nêu ra với những từ ngữ được gạch dưới là từ ngữ SV hay mắc lỗi khi dịch
Tựa bài: ‗Kids caught on the Border‘: Trẻ em bị bắt ở biên giới, nhưng ‗caught‘ → bị bắt cóc
1/ who are caught trying to slip → bị bắt (….) cố gắng ;
surge → dâng lên, bùng lên, tăng nhẹ; refer to → dựa vào, nhắc, qui cho
Trang 4 Số trẻ em bị bắt khi đang cố trốn / vượt qua biên giới Hoa Kỳ - Mêhicô một mình và
bất hợp pháp đã dần /âm thầm tăng trở lại hơn một năm sau khi Tổng thống Obama đề cập / nói đến vấn đề này như là một "tình huống nhân đạo khẩn cấp "
2/ apprehensions → sự bắt lấy, nỗi sợ hãi, sự tiếp nhận; unaccompanied → không hộ tống; exploded → được triển khai ; has been stopped → đã bị dừng lại
Theo Cơ quan Bảo vệ Biên giới và Hải quan Hoa Kỳ, trong khi thế giới được hướng
sự tập trung vào cuộc khủng hoảng người di cư ở Châu Âu thì số vụ bắt giữ trẻ vị thành niên không có người đi cùng dọc theo biên giới riêng của Mỹ đã tăng vọt: hơn 10.000 trẻ không có giấy tờ đã bị chận lại chỉ trong 2 tháng qua
3/ apprehensions → sự / vụ bắt cóc, nỗi lo sợ, người nắm bắt; increase → sự tăng trưởng; were picked up → được chọn
10,588 vụ bắt giữ là số tăng 106 % so với số vụ trong cùng thời kỳ từ 1 tháng 10
đến 30 tháng 11 năm trước, lúc đó có 5.129 trẻ đã bị bắt
4/ apprehensions → sự e sợ, sự hiểu biết, ca bắt giữ ; family units → hệ thống cộng đồng, từng gia đình, những gia đình đáng lo ngại; proliferated → sinh sôi nẩy nở; detentions → vụ tịch biên
Số vụ bắt giữ các nhóm gia đình - gồm những người giám hộ hợp pháp cùng với trẻ
em dưới 18 tuổi - đã tăng lên nhanh / đột biến , với 12.505 vụ giam giữ trong hai tháng đó, tăng 173% so với 4.577 vụ bắt giữ trong cùng thời kỳ năm trước
5/ tap → khai thác, đề cập, đã bàn với; to lead an effort → lãnh đạo một nổ lực; FEMA → hiệp hội các nhà sản xuất hương liệu và chiết xuất; to address → đến địa chỉ, tìm ra
Vào tháng 6 năm 2014, trong thời kỳ đỉnh cao của cuộc khủng hoảng biên giới, Tổng thống Obama đã giao nhiệm vụ cho Cơ quan Quản lý Tình trạng Khẩn cấp Liên bang (Federal Emergency Management Agency, FEMA) hướng nỗ lực của các cơ quan liên bang nhằm giải quyết vấn đề trẻ tị nạn
6/ the height of the influx → sự ảnh hưởng đỉnh điểm: chiều cao của dòng chảy, sự đông đảo của dòng người, chiều dài của cửa sông, trong sự gia tăng của dòng chảy này, trong lúc dòng người đi vào đạt cực điểm, trong độ cao của số lượng ồ ạt này, trong thời kỳ đỗ vào, trong lúc
sự dồn dập lên đỉnh điểm
Những trẻ này nằm trong số những đối tượng / thành phần dễ bị tổn thương nhất, và
nhiều em trở thành nạn nhân của tội phạm bạo lực hoặc lạm dụng tình dục trong suốt hành trình đầy nguy hiểm này", Nhà Trắng đã lên tiếng trong một tuyên bố ngày 20 tháng 6, trong lúc dòng người tị nạn đang ở đỉnh điểm
7/ deployed → đề cử; agents → trạm tuần tra; unaccompanied → bị bắt cóc
U.S Customs and Border Protection → Bộ An ninh nội địa Hoa Kỳ, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ, Quan thuế và Biên phòng Hoa Kỳ, Bảo vệ Biên giới và Tập quán Mỹ, Biên giới Hoa Kỳ và Bảo vệ du khách
● Những thay đổi đã được thực hiện: theo Cơ quan Bảo vệ Biên giới và Hải quan Hoa
Kỳ, Giám đốc cục An ninh Nội địa, ông Jeh Johnson đã triển khai thêm 150 đặc vụ / nhân viên tuần tra biên giới tới Thung lũng Rio Grande ở Texas, nơi có số lượng lớn trẻ vị thành niên không có người đi cùng thường hay đến
8/ young children (trẻ nhỏ) - them → họ; discouraging → không ủng hộ; risky trek → mối nguy hại di cư
Trang 5● Và chính quyền đã thông qua một kế hoạch cho phép trẻ em đến từ Trung Mỹ nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ như là một cách để ngăn chận chúng thực hiện chuyến đi nguy hiểm ngang qua Mêhicô
9/ Kids in Need of Defense → hội trẻ em cần giúp đỡ, hội trẻ em cần an ninh quốc phòng ; tactics → thủ đoạn, kế hoạch ; intercept → chặn đánh, gián đoạn
Nhưng mới đây, Wendy Young, chủ tịch của tổ chức Trẻ Cần Được Bảo Vệ, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Washington, D.C., đại diện cho trẻ em không có người đi cùng trong các vụ kiện trục xuất đã nói rằng những kẻ buôn lậu đã thay đổi chiến thuật, hiện đang hoạt động ở quanh những điểm mà Hoa Kỳ và Mêhicô đang hợp tác để chặn các tuyến đường của bọn chúng
10/ adjust→ dàn xếp; they're working → đang làm việc; have put in place → chiếm đóng
Những kẻ buôn lậu đã điều chỉnh các tuyến đường của chúng và đang hoạt động
quanh những điểm kiểm soát biên giới mà người Mexico đã lập, và đang tìm kiếm các tuyến đường mới", cô đã nói với bộ phận tin tức của mạng lưới phát sóng truyền hình Mỹ NBC
4.2 Cách dùng từ và xếp loại
4.2.1 Cách dùng từ
- Tựa bài: hiểu sai nghĩa do không tìm hiểu kỹ nội dung chính của đoạn văn và không phân biệt sự khác nhau về nghĩa giữa ‗catch (đt) , caught‘: bắt, chộp và ‗kidnap‘ (đt): bắt cóc (để tống tiền)
- chọn từ tiếng Việt không phù hợp / diễn đạt không chính xác (trong hầu hết các câu)
- không chú ý cấu trúc câu (câu 2)
- dùng từ ngữ không hợp với ngữ cảnh (câu 6)
- dùng từ qui chiếu không phù hợp với đối tượng đã được đề cập trước đó (câu 8, câu 9)
4.2.2 Xếp loại
4.2.2.1 Câu dịch
Người viết đưa ra 4 mức xếp loại các câu dịch như sau:
- Chính xác: từ tương đương chính xác, câu có cách diễn đạt đúng nghĩa, theo văn phong tiếng Việt
- Tương đối chính xác: Câu dịch có ít nhất 1 lỗi nhỏ, thể hiện khá chính xác nghĩa của câu
- Đạt yêu cầu: có từ 2 lỗi trên nhưng câu dịch vẫn đạt nội dung nghĩa cơ bản
- Không đạt yêu cầu: nhiều lỗi, câu dịch diễn đạt không đúng với nội dung trong bản gốc
Bảng 1: Bảng xếp loại câu dịch
Xếp loại câu dịch Số câu / 450 Tỉ lệ
Tương đối chính xác 262 58,1%
Không đạt yêu cầu 81 17,9%
4.2.2.2 Điểm số
Điểm của từng bài được chấm dựa trên mức độ chính xác của từng câu dịch:
Trang 6 Câu chính xác: 1 đ ; Câu tương đối chính xác: 0,8 đ; Câu đạt yêu cầu: 0,5 đ; Câu không đạt yêu cầu: 0 đ
- Căn cứ vào bảng điểm, các bài dịch được xếp vào 4 loại:
Loại: Yếu: 0 – 4,5 đ ; TB: 5,0 – 6,5 đ ; Khá: 7 – 8,5 đ; Giỏi: 9 – 10 đ
Bảng 2: Bảng xếp loại điểm
Tỉ lệ 2,2 % 11,1 % 33,3 % 42,2 % 11,1 % 100 %
Kết quả bài kiểm tra dịch Anh-Việt được GV thông báo cho SV và sử dụng như một cột điểm kiểm tra thường kỳ
5 Thảo luận
5.1 Quá trình sửa bài
Có nhiều cách đánh giá bản dịch được sử dụng trong dịch thuật nhưng 2 cách đánh giá thường được sử dụng là: đánh giá theo hướng toàn bộ và hướng phân tích lỗi Đánh giá theo hướng toàn bộ là quan điểm được một số nhà nghiên cứu như Johnson, Penny và Gordon (2009) ủng
hộ Theo Nguyễn Thị Kiều Thu (2017) thì hướng phân tích lỗi có thể giúp GV thực hiện việc đánh giá từng phần chặt chẽ hơn và làm giảm thiểu sự chủ quan khi cho điểm của GV Hơn nữa, SV qua đó cũng nhận dạng được lỗi để khắc phục Vì vậy, với cách sửa bài phân tích lỗi
và cho chấm điểm như đã nêu, người viết đã thực hiện được 2 việc: thứ nhất là phân tích lỗi trong bài dịch của SV Thứ hai là dựa trên các lỗi để có sự đánh giá và qui thành điểm số cho từng bài Khi sửa bài với sự tham gia của SV trên lớp, GV có thể giải thích và trao đổi với SV nhiều hơn về bài dịch Đồng thời, SV cũng được xem những gì bạn đã sửa trên bài của mình khi GV hướng dẫn sửa bài, nghĩa là SV có thể đối chiếu từng câu chữ mà SV đã dịch với những gì đã được sửa khi nhận lại bài Ngoài ra, những thắc mắc, khiếu nại của SV cũng được giải quyết khi GV báo kết quả chấm bài So sánh với cách GV tự phát hiện những lỗi ngữ pháp hoặc từ vựng, đánh giá toàn bài và cho điểm thì kết quả chấm bài theo cách phân tích lỗi đạt được mức độ chính xác cao hơn Cách sửa bài này thực tế đã được áp dụng qua nhiều khoá học về dịch thuật Để có được một buổi sửa bài trên lớp như vậy, bản thân GV phải có
sự chuẩn bị chu đáo cho bài dịch được xem là ‗chuẩn‘ để dựa vào đó GV hướng dẫn SV sửa bài Để có được bài dịch này, GV phải ‗giải mã‘ rất nhiều yếu tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ
trong bản dịch gốc được viết bằng ngôn ngữ nguồn là tiếng Anh Thật vậy, ‗việc chọn một
phương tiện biểu đạt này hay phương tiện biểu đạt khác phụ thuộc vào đặc điểm nội tại của mỗi ngôn ngữ cũng như những nhân tố ngoài ngôn ngữ.‘ (Lê Quang Thêm, 2019, p.68) Có
thể khẳng định rằng việc chuẩn bị bài dịch bằng ngôn ngữ đích là tiếng Việt đã giúp GV không chỉ củng cố cố kiến thức về dịch thuật mà còn nâng cao khả năng vận dụng tiếng mẹ đẻ khi phải xử lý nhiều loại văn bản gốc được viết theo các phong cách khác nhau Đồng thời, ý kiến phản biện của SV khi được sửa bài trên lớp cũng có giá trị giúp GV xem lại từng câu chữ trong bản dịch của chính mình Trên cơ sở so sánh đối chiếu với bản gốc, bản dịch của GV khi được chỉnh sửa, bổ sung trong quá trình sửa bài sẽ trở thành thước đo để đánh giá kết quả
Trang 7quá trình dịch của SV Bản dịch này chắc chắn sẽ được sử dụng lại hiệu quả hơn cho lớp SV khác Nói cách khác, thực tiễn dịch thuật trong chừng mực nào đó đã chứng minh và củng cố
lý luận dịch thuật khi những tương ứng có tính quy luật giữa các yếu tố ngôn ngữ được tìm ra trong suốt cả quá trình dạy và học chứ không chỉ trong giai đoạn sửa bài
5.2.Đánh giá bản dịch
Các nhà nghiên cứu về Lý thuyết dịch nêu ra 2 tiêu chí đánh giá bản dịch là tính chính xác về nghĩa và tính phù hợp Tính chính xác thể hiện ở chỗ các thông tin trong văn bản nguồn đều được diễn dịch đúng với nội dung và ý nghĩa của nó Tính phù hợp được xác định khi ngôn ngữ trong bản dịch được sử dụng trôi chảy như cách người bản ngữ viết (Nguyễn Thị Kiều Thu, 2017) Về việc đánh giá bản dịch, Erden (1985) nêu ra 3 tiêu chí liên quan đến cấu trúc,
từ vựng và ngữ cảnh tình huống Nhận xét các bản dịch của SV, người viết thấy rằng SV rất ít vận dụng khả năng suy đoán nghĩa của từ và thường lệ thuộc vào tự điển rất nhiều, nhất là khi được yêu cầu làm bài dịch ở nhà Trong một số trường hợp, SV không xác định được nghĩa của từ trong ngữ cảnh và ít chú ý đến quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ trong những câu đi
liền nhau, nghĩa là SV không thấy rõ ‗quan hệ liên kết và mạch lạc giữa các đoạn câu ‗
(Nguyễn Thanh Tùng, 2017, p.29) Kết quả là SV diễn đạt câu dịch tiếng Việt lủng củng và
không thể hiện đúng ý của tác giả trong bản tiếng Anh gốc Munday (2008, p.31) xác định‗sự
liên kết, tính mạch lạc và việc tổ chức văn bản là một trong các tiêu chí để đánh giá các bản dịch‘, ngoài sự chính xác khi chuyển mã thông tin, sự lựa chọn từ vựng phù hợp và sự sử
dụng đúng phép chấm câu Mặt khác, người viết có nhận xét là đại từ chỉ ngôi trong bản tiếng
Anh không được qui chiếu đúng đối tượng trong bản dịch Chẳng hạn, trong câu 8 ,‗children‘ (những đứa trẻ) lại qui chiếu thành ‗họ‘ Trong tiếng Việt, ‗họ‘ thường dùng để chỉ những người đã trưởng thành Một ví dụ khác là từ ‗smugglers‘ (những kẻ buôn lậu) trong câu 9 và câu 10, SV cũng cho tương đương với từ ‗họ‘ thay vì từ ‗bọn chúng‘ Thật ra, trong tiếng Việt, ‗họ‘ và ‗bọn chúng‘ mang sắc thái nghĩa khác nhau, thể hiện thái độ của người dịch đối
với đối tượng được đề cập khi được chọn để dịch Nhận xét về hiện tượng này, Larson (1998) cho rằng do các đại từ không hành chức như nhau trong các ngôn ngữ khác nhau nên cần hết sức thận trọng khi sử dụng chúng như một phương tiện liên kết diễn ngôn Một lựa chọn từ
tương đương không phù hợp nữa là ‗young refugees‘ trong câu 5 được dịch là ‗người tị nạn
trẻ tuổi‘, thay vì ‗trẻ trị nạn‘ Nói chung, SV có sự lúng túng khi xác định nghĩa của từ trong
ngữ cảnh, quan hệ về nghĩa của câu trước với nghĩa của câu sau và qui chiếu không đúng đối tượng khi chuyển dịch Cách phổ biến mà SV thường làm là chọn một trong những từ được kê
ra trong tự điển để dịch từ ngữ trong bản tiếng Anh mà thiếu sự chú ý đến ví dụ kèm theo cho thấy nghĩa của từ trong ngữ cảnh Do đó, GV cần giải thích cho SV hiểu rằng để chọn được từ tương đương phù hợp nhất thì phải căn cứ vào ngữ cảnh có trong văn bản gốc và đối chiếu với
ví dụ mà tự điển cung cấp Như vậy, có thể kết luận là khả năng dịch thuật liên quan chặt chẽ với khả năng lựa chọn từ tương đương trong hai ngôn ngữ liên quan và ngữ cảnh tình huống Ngoài ra, người dịch cần có khả năng đọc hiểu văn bản nguồn và xác định được các yếu tố như: hoàn cảnh ra đời của văn bản, tác giả là ai, đề tài gì và những đối tượng nào được đề cập trong văn bản Điều đặc biệt quan trọng là phải xác định được phong cách văn bản của bản
Trang 8danh từ riêng chỉ tên tổ chức, cơ quan, đơn vị chức năng trong chính phủ v.v thì SV cần phải tìm hiểu kỹ trước khi dịch, thậm chí ghi chú những thuật ngữ mà trong tiếng Việt không có từ tương đương Tất nhiên, việc thiếu chuẩn bị trước khi dịch văn bản sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của bài dịch Đây cũng là bước đầu tiên mà bất cứ người dịch nào cũng phải giải quyết, đặc biệt là với loại văn bản nguồn đang được phân tích Với một văn bản cụ thể, bước tiếp theo là SV phải đọc kỹ từng câu, xác định các thành phần câu theo cấu trúc ngôn ngữ, thứ tự phải tuân thủ khi chuyển mã từ ngữ Mặt khác, SV cần đặc biệt chú ý đến câu phức và câu có thành ngữ hoặc cấu trúc đặc biệt Sau khi phân tích từng câu, SV sẽ thực hiện bước quan trọng là chuyển dịch sang tiếng Việt sao cho bảo đảm tính chính xác, phù hợp theo những tiêu chí như đã trình bày trên Bước cuối của việc dịch là SV sẽ phải đọc lại từng câu tiếng Việt để kiểm tra lỗi dùng từ, dấu câu, quan hệ liên kết và mạch lạc của cả bài dịch, nhất
là cách diễn đạt theo văn phong tiếng Việt Nói cách khác, một bản dịch được đánh giá là tốt khi nó là một tương đương cao nhất về ngữ nghĩa học và ngữ dụng học của văn bản nguồn (House, 1981) Từ những điều đã thực hiện, người viết tin rằng quá trình chọn bài, sửa bài, chấm điểm như đã trình bày là một chuỗi ‘khép kín‘ nhưng cũng để ‗mở‘ cho SV thể hiện hết năng lực dịch thuật của mình Một điều cần nhấn mạnh nữa của mục đích cho SV làm bài ở nhà là nhằm tránh những hạn chế về thời gian và ràng buộc do qui định khi GV cho SV làm bài tại lớp Tóm lại, SV có nhiều cơ hội để làm tốt bài kiểm tra của mình nếu thực hiện chặt chẽ những bước mà GV đã hướng dẫn, nhất là ở giai đoạn bắt đầu học biên dịch
5.3 Phân tích kết quả
Trên cơ sở lý thuyết (2.1 và 2.2) và các tiêu chí đánh giá đã nêu (4.2), người viết đã xếp loại từng câu dịch theo 4 mức: chính xác, tương đối chính xác, đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu Bảng 1(4) cho thấy có 369 / 450 câu dịch được xếp loại từ đạt yêu cầu trở lên (82,1
%) , và 81 câu thuộc loại không đạt yêu cầu (17, 9%) Từ kết quả xếp loại, người viết đã qui thành điểm số cho từng bài dịch theo 5 mức: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu và Kém Thống kê trong Bảng 2(4) cho thấy có 82,1% bài được xếp loại từ Trung bình trở lên và 19,9 % xếp loại Yếu và Kém Với thời gian học chưa lâu (khoảng 1/3 học kỳ, 12 /30 tiết học) thì kết quả này hoàn toàn có thể chấp nhận được Điểm số của từng SV thể hiện tương đối chính xác những gì
SV đã tiếp thu được về lý thuyết cũng như thực hành ở giai đoạn đầu học biên dịch Sau khi sửa bài, mỗi SV có thể kiểm tra lại những thiếu sót để có thể dịch tốt hơn cho những bài dịch tương tự lần sau Hẳn nhiên, một bài dịch không thể nào bao quát được hết các yếu tố liên quan, và điểm số của mỗi bài không thể tiêu biểu cho trình độ và năng lực học tập của SV Điều quan trọng là qua một bài kiểm tra, cả GV và SV đều được củng cố kiến thức về ngôn ngữ, cải thiện kỹ năng thực hành và chất lượng dạy và học nhiều nhất như có thể
6 Đề nghị
6.1 Sinh viên
Học dịch là để trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Do vậy, SV cần phải hiểu rõ mục tiêu môn học và thực hành theo sự hướng dẫn của GV Với mỗi bài dịch, không phân biệt là dịch Anh-Việt hay Việt-Anh, SV phải có sự chuẩn bị thật chu đáo trước khi bắt đầu việc dịch thuật Bằng sự chuẩn bị này, SV sẽ học hỏi rất nhiều và qua đó có sự yêu thích môn học và đạt được kết quả tốt với sản phẩm của mình Hơn nữa, SV cũng phải quan
Trang 9tâm đến việc sửa bài của bản thân cũng như của bạn trên lớp vì nó thể hiện cả quá trình làm việc của GV và bản thân SV Lợi ích cụ thể của việc này là giúp SV rút kinh nghiệm làm bài
và cải thiện khả năng dịch thuật Một điều nữa là SV phải chú trọng bồi dưỡng kiến thức và nâng cao khả năng vận dụng tiếng Việt vì tiếng mẹ đẻ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong dịch thuật song ngữ Điều này đòi hỏi SV phải tích cực rèn luyện dựa trên kiến thức ngôn ngữ
đã tiếp thu qua các môn học tiếng Việt từ bậc phổ thông đến đại học và quá trình trưởng thành của bản thân
6.2 Giảng viên
Để đạt được mục tiêu đề ra, GV cần cố gắng làm cho các bài kiểm tra của mình thể hiện sự sáng tạo nhất có thể để SV học được thật nhiều trong thời gian trên lớp cũng như trong quá trình làm và sửa bài Như đã đề cập, bài dịch được xem là chuẩn để có cơ sở đối chiếu khi sửa bài cần phải được GV chuẩn bị chu đáo và đạt được sự chính xác cao nhất Hẳn nhiên, điều này tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ và năng lực của mỗi GV Mặt khác, tài liệu bổ sung trong quá trình giảng dạy cũng cần được GV cập nhật thường xuyên và không nên lệ thuộc quá nhiếu vào giáo trình Ngoài ra, tổ bộ môn cần có những buổi họp trao đổi phương pháp giảng dạy Biên dịch nói riêng và các học phần khác nói chung, đặc biệt là trao đổi kinh nghiệm trong việc sửa bài cho SV Một điều cần nhấn mạnh là không có bài kiểm tra nào hoàn hảo và không có hệ thống sửa hoặc chấm điểm bài kiểm tra nào thật sự không có sai sót Vấn đề quan trọng là kết quả kiểm tra phải phản ánh chính xác năng lực và trình độ của SV
6.3 Giáo trình
Giáo trình được dùng để giảng dạy môn Biên dịch 1 cần được biên soạn theo hướng chuẩn bị cho SV dịch từ những mẫu câu đơn giản đến phức tạp Về dịch Anh-Việt, các văn bản dịch gốc cần chọn những văn bản do tác giả nước ngoài viết Người biên soạn nhất thiết phải đề cập đến các chủ điểm ngữ pháp tiếng Anh và có sự phân biệt rõ ràng về độ khó giữa các câu, đoạn được yêu cầu dịch Mặt khác, cần có sự nghiên cứu, đối chiếu các mẫu câu và
từ ngữ xuất hiện trong bản dịch tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt Hơn nữa, cần có
sự cân đối giữa lượng từ vựng mà SV có thể biết và lượng từ vựng SV cần tra tự điển trong mỗi bài dịch Đồng thời, các văn bản dịch ngoài sự khác nhau về thể loại còn phải khác nhau
về cấp độ và đối tượng sử dụng Hẳn nhiên, đây là công việc thực sự đòi hỏi kiến thức ngôn ngữ, năng lực chuyên môn và tâm huyết rất lớn của người biên soạn
7 Kết luận
Trên cơ sở lý thuyết dịch thuật, bài viết đã trình bày những vấn đề liên quan như: cách chọn
từ ngữ tương đương, tiêu chí đánh giá bản dịch, phân tích lỗi, sửa bài, xếp loại câu dịch và chấm điểm để đánh giá khả năng dịch Anh-Việt của SV Những phát hiện và kinh nghiệm thu được qua quá trình tổ chức cho SV làm bài dịch Anh -Việt đã khẳng định tính khả thi của phương pháp sửa bài bằng cách so sánh đối chiếu các yếu tố ngôn ngữ giữa hai văn bản nguồn
và văn bản đích Tính chủ quan khi chấm bài của GV cũng được hạn chế rất nhiều khi SV, người học dịch thuật, được tham gia vào quá trình sửa bài của bạn cùng lớp cũng như của chính mình Những chuẩn bị cần có và các bước cần tuân thủ khi dịch văn bản chắc chắn được SV quan tâm thực hiện một cách hiệu quả hơn cho các bài dịch sau này Đồng thời, từ
Trang 10sự tin tưởng vào kết quả đạt được và hiểu rõ những thiếu sót khi làm bài, ý thức về vai trò quan trọng của học phần Biên dịch cũng được nâng lên đáng kể Mặt khác, việc ‗tìm lỗi‘ để đánh giá và cho điểm bài dịch của SV như đã trình bày, dù có những hạn chế nhất định, nhưng là một trong những cách làm hiệu quả trong tình hình dạy và học dịch thuật hiện nay Người viết cũng nhận thấy những hạn chế của bài nghiên cứu như: số bài dịch tham gia khảo sát chưa nhiều, văn bản gốc chưa thật sự tiêu biểu để có thể phân tích sâu hơn và bao quát được hết những vấn đề đặt ra Những đề tài khác như: đánh giá khả năng dịch Việt-Anh, ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong dịch thuật, dịch thuật với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ v.v là những đề tài hấp dẫn cần được tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo hơn trong các bài nghiên cứu khác Tuy nhiên, với những gì đã trình bày, người viết hy vọng làm sáng tỏ thêm
lý thuyết dịch thuật và góp phần ý nghĩa vào việc cải thiện chất lượng dạy và học học phần Biên dịch 1, học phần tạo nền tảng cơ bản cho các học phần dịch thuật tiếp theo trong chương trình đào tạo
Tài liệu tham khảo
Catford J.C (1994) Translation: overview‘: in The Encyclopedia of Language And Linguistics Asher,
R.E (ed) Pergamon Press
Chuck E (2015) More Than 10,000 Unaccompanied Minors Apprehended on U.S Border in Last Two Months Truy cập từ
https://www.nbcnews.com/storyline/immigration-border-crisis/more-10-000-unaccompanied-minors-apprehended-u-s-border-last-n478316
Erden, A (1985) The aim of teaching translation at the university level Truy cập từ
http://www.arastirmax.com/en/bilimselyayin/hacettepe-universitesi-edebiyatfakultesi-dergisi/2/1/137-142_aim-teachingtranslation-university-level
House, J (1981) A model for translation quality assessment: A model revisited Tubingen: Gunter
Narr
Larson, M L (1998) Meaning-based translation: A guide to cross-language equivalence (2 nd ed.)
Lanham: University Press of America, Inc
Lê Hùng Tiến (2010).Tương đương dịch thuật và tương đương trong dịch Anh - Việt Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 26 , 141-150
Lê Quang Thêm (2019) Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ NXb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí
Minh
Munday, J (2008) Introducing translation studies: Theories and applications (2 nd ed.) London:
Routledge
Nguyễn Thị Kiều Thu (2017) Khảo sát cách đánh giá môn dịch thuật tại một số trường đại học Việt
Nam Tạp chí KH & CN, 20 (X1), 83-84
Nguyễn Thanh Tùng (2017) Vấn đề ngữ pháp văn bản trong biên dịch Anh-Việt và Việt-Anh của SV
khoa tiếng Anh Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học 14 (7), 16-31
Pym, A (2010) Exploring translation theories London: New York: Routledge