Đề tài Những vấn đề về liên văn hóa ứng xử trong giao tiếp qua tác phẩm The five love languages (Gary Chapman) và Năm ngôn ngữ tình yêu (Việt Hà dịch) là đề tài cần thiết, có nhiều ý nghĩa và đặc biệt là có giá trị quan trọng cuộc sống, đặc biệt là cách thể hiện tình yêu của giới trẻ ở Việt Nam cũng như giới trẻ trên thế giới hiện nay.
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LIÊN VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIAO TIẾP QUA TÁC PHẨM “THE FIVE LOVE LANGUAGES” (GARY
CHAPMAN) VÀ “NĂM NGÔN NGỮ TÌNH YÊU” (VIỆT HÀ DỊCH)
Trần Thị Kim Tuyến
Trường Đại học Sài Gòn
Tóm tắt
Đề tài ―Những vấn đề về liên văn hóa ứng xử trong giao tiếp qua tác phẩm The five love languages (Gary Chapman) và Năm ngôn ngữ tình yêu (Việt Hà dịch)‖ là đề tài cần thiết,
có nhiều ý nghĩa và đặc biệt là có giá trị quan trọng cuộc sống, đặc biệt là cách thể hiện tình yêu của giới trẻ ở Việt Nam cũng như giới trẻ trên thế giới hiện nay Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại,… Trong bối cảnh, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, tiểu sử tác giả và trên cơ sở những thông điệp
về tình yêu được thu thập, chúng tôi tiến hành liệt kê, miêu tả, phân tích và tổng hợp những đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của chúng cũng như những điểm giống nhau, khác nhau về cách sử dụng, về đặc trưng văn hóa ứng xử thể hiện trong tình yêu giữa hai ngôn ngữ (Anh-Việt) Từ đó, chúng tôi đưa ra những ứng dụng trong hoạt động chuyển dịch, hoạt động dạy và học tiếng thông qua những nét văn hóa và liên văn hóa giữa các ngôn ngữ
Từ khóa
liên văn hóa ứng xử, liên văn hóa ứng xử trong giao tiếp, năm ngôn ngữ tình yêu
1 Mở đầu
Trong từng ―lời ăn tiếng nói‖ của các nhân vật khi giao tiếp đều có thể hiện những nét văn hóa ứng xử riêng biệt của từng ngôn ngữ ở mỗi dân tộc Đề tài của chúng tôi ―Những vấn đề
về liên văn hóa ứng xử trong giao tiếp qua tác phẩm The five love languages và Năm ngôn
ngữ tình yêu‖ là đề tài có nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là cách
thể hiện tình yêu của giới trẻ ở Việt Nam cũng như giới trẻ trên thế giới hiện nay Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại,… Nghiên cứu bối cảnh, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, tiểu sử tác giả và trên cơ sở những thông điệp về tình yêu được thu thập, chúng tôi tiến hành liệt kê, miêu tả, phân tích và tổng hợp những đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của chúng Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đưa ra những điểm giống nhau, khác nhau về cách sử dụng, về đặc trưng văn hóa ứng xử thể hiện trong tình yêu, mà cụ thể trong bài viết này là liên văn hóa ứng xử xưng hô và thái độ của nhân vật tham gia giao tiếp ở hai ngôn ngữ (Anh-Việt) Từ đó, chúng tôi đưa ra những ứng dụng trong hoạt động chuyển dịch, hoạt động dạy và học tiếng thông qua những nét văn hóa và liên văn hóa giữa các ngôn ngữ
2 Cơ sở lý luận
2.1 Vài nét về khái niệm “văn hóa”
Trang 2Văn hóa là một khái niệm được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau dựa trên những góc độ khác nhau, nó thể hiện được quá trình và trình độ nhận thức của con người trong một giai đoạn phát triển lịch sử nào đó
Theo tác giả Margaret Mead cho rằng ―Văn hóa là toàn thể những hình thức ứng xử mà một nhóm cá nhân được hợp nhất bởi truyền thống chung, truyền lại cho con cháu họ ‖ (dẫn theo
tác giả Hữu Đạt, tr 17) Tác giả Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt (tr 1135) đã khẳng định
văn hóa có những ý nghĩa như sau:
a Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử: Kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa phương đông, nền văn hóa cổ
b Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần (nói tổng quát): Phát triển kinh tế và văn hóa, công tác văn hóa quần chúng
c.Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát): Học văn hóa, trình độ văn hóa
d Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh: Sống có văn hóa, ăn nói thiếu văn hóa
e Nhóm di vật từ xưa để lại (từ thời kì lịch sử cổ xưa), có những đặc điểm giống nhau: Văn hóa rìu hai vai, văn hóa gốm màu
Hồ Chí Minh thì cho rằng, ―văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn‖ (tr 431)
Tác giả Phan Ngọc cũng nói rằng: ―Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại, bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ, nó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biến thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, đó là độ khúc xạ‖
Còn tác giả Hữu Đạt ―Văn hóa là một hiện tượng thuộc xã hội loài người, đối lập với những hiện tượng thuộc hiện tượng thiên nhiên như gió, mưa, sấm, chớp, sông, biển Văn hóa bao giờ cũng mang một đặc trưng rất quan trọng: cải biến tự nhiên thông qua hoạt động có ý thức của con người‖ (tr 16)
Ngoài ra, khái niệm về văn hóa đã được các tác giả khác đề cập đến nhiều như Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thị Kim Ngọc, Nguyễn Đức Tồn
Tóm lại, văn hóa là một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, trong từng giai đoạn lịch sử
về những kết quả, thành tựu về vật chất và tinh thần của con người và xã hội
2.2 Khái niệm về xưng hô
Xưng hô không chỉ đơn giản là hệ thống các từ xưng gọi trong ngôn ngữ, mà còn là vấn đề giao tiếp thể hiện khả năng ứng xử, tính lịch sự, văn hóa… của cá nhân và cộng đồng dân tộc Bên cạnh cái chung, mỗi ngôn ngữ, mỗi dân tộc thường có hệ thống từ ngữ xưng hô (TNXH)
Trang 3Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1994) ―Xưng hô là tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau‖ (tr.1124) Như vậy, khi tham gia giao tiếp, các nhân vật phải dùng TNXH Ngoài ra, khái niệm từ xưng hô đã được các tác giả khác như: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Văn Chiến, Bùi Minh Yến, Trương Thị Diễm đề cập đến nhiều
TNXH có chỉ ngôi: ngôi thứ nhất chỉ người nói, ngôi thứ hai chỉ người nghe, ngôi thứ ba chỉ người hay vật được nhắc đến, với chức năng định vị và chức năng thể hiện quan hệ liên nhân Như vậy, đơn vị TNXH là một lớp từ đặc biệt được sử dụng khi thực hiện hành vi giao tiếp trong các ngôn ngữ Chúng được các nhân vật sử dụng với nhiều chức năng như định vị, thiết lập quan hệ liên nhân và biểu lộ thái độ tình cảm, tâm lý, nhận thức khi tham gia giao tiếp trong gia đình và ngoài xã hội
2.3 Mối quan hệ giữa từ ngữ xưng hô và văn hóa
Các từ ngữ xưng hô trong giao tiếp thường phản ánh những nét rất đặc trưng trong văn hóa người Việt Cách xưng hô của người Việt mang đậm tính trọng tình, thể hiện rõ mối quan hệ của các nhân vật trong giao tiếp (quan hệ huyết thống với các từ ngữ xưng hô là danh từ thân tộc) Như trong lời tâm sự của nhà văn Nguyễn Công Hoan qua đoạn trích " và nhất là khi nghe thấy Bác gọi tôi bằng chú và xưng bằng mình thì rõ ràng tôi thấy như không phải tôi đang ngồi trước một nhà chính trị lớn, một bậc khai quốc Có cái gì thật là dễ dãi, là quen
thuộc, là hấp dẫn, là thân mật của tình cha con" (Tuyển tập, Nhà xuất bản Văn học HN, 1984)
(dẫn theo Phạm Ngọc Thưởng)
Tác giả Nguyễn Văn Nở có nhận định, ―Ngoài cách sử dụng những cặp từ xưng hô thường thấy trong ca dao nói chung, chúng ta còn thấy những cách nói riêng mang đậm tính địa phương và phản ánh lời ăn, cách nói, nếp nghĩ của cư dân vùng cực Nam của Tổ quốc‖ (tr 317-320)
Bên cạnh đó, từ ngữ xưng hô cũng thể hiện rõ những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc những câu ca dao tỏ tình của chàng trai dành cho cô gái thật tế nhị, đằm thắm thông qua cách
sử dụng từ ngữ xưng hô trong ca dao Mận, đào là hai loài cây ra hoa vào mùa xuân, biểu tượng cho tình yêu đôi lứa nam nữ trẻ trung, tràn đầy sức sống, ở đây, mận là chàng trai, đào
là cô gái:
(a) - Bây giờ Mận mới hỏi Đào
Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?‖
(b) - Mận hỏi thì Đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Các thành tố văn hóa định hình trong ý nghĩa lời đối đáp tỏ tình của chàng trai và cô gái qua
các từ ngữ ―Mận, Đào…‖ Trong (a), Mận là chàng trai tự xưng ở ngôi thứ nhất, Đào là cô gái được gọi đến ở ngôi thứ hai Còn trong (b), Mận ở ngôi thứ hai còn Đào ở ngôi thứ nhất Từ
xưng hô ở (a) và (b), có sự hoán đổi vị trí ngôi thứ một cách khéo léo và tinh tế, cho thấy từ
Trang 4ngữ xưng hô cũng đóng góp một phần quan trọng vào văn hóa, mà đặc trưng nhất của văn hóa Việt Nam là văn hóa giao tiếp
Tóm lại, khi tìm hiểu về cách ứng xử xưng hô qua cách sử dụng từ ngữ xưng hô của các nhân vật tham gia hoạt động giao tiếp, chúng tôi cho rằng, cần phải luôn đặt chúng trong những mối quan hệ với các nhân tố cần thiết nhất định
3 Vài nét giới thiệu về tác giả, tác phẩm The five love languages (Năm ngôn ngữ tình yêu)
3.1 Tác giả Gary Chapman
Gary Chapman sinh ngày 10 tháng 1 năm 1938 ở Hoa Kỳ Gary Chapman tốt nghiệp Trung học phổ thông ở Học viện Kinh Thánh Moody (Moody Bible Institute), rồi sau đó học lên đại học lấy bằng cử nhân Đại học Wheaton và bằng thạc sĩ ngành nhân loại học tại Đại học Wake Forest Ngoài ra, ông còn nhận bằng thạc sĩ ngành Giáo dục Tôn giáo (M.R.E) và tiếp theo là học nghiên cứu sinh lấy bằng tiến sĩ triết học (Ph.D) tại Southwestern Baptist Theological Seminary
Ông không chỉ là chuyên gia tâm lý, tư vấn hôn nhân và gia đình với kinh nghiệm hơn 30 năm trong sự nghiệp gắn bó của mình, Giám đốc Tập đoàn Tư vấn Hôn nhân và Đời sống Gia đình (Marriage and Family Life Consultants, Inc), một diễn giả nổi tiếng thế giới mà còn là một tác
giả của nhiều cuốn sách hay, đạt doanh thu trong top những quyển sách bán chạy nhất và
được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau Trong ngành xuất bản Gary Chapman được xem là một tác giả của những quyển bán chạy nhất (best seller) Ông đã từng nhiều lần thuyết trình ở các cuộc hội thảo quốc tế cũng như được mời trò chuyện trực tuyến trên các chương trình của hơn 100 đài phát thanh
Tính đến nay thì Gary Chapman đã viết được rất nhiều sách, có hơn 20 quyển đều đạt giá trị cao không những ở lĩnh vực tư vấn tình yêu, hôn nhân gia đình, tư vấn tâm lý cho mọi lứa tuổi mà còn có 5 loạt phim video hướng dẫn về hôn nhân và gia đình như cẩm nang hướng dẫn dễ thực hiện nhất thế giới về các mối quan hệ gia đình (The World‘s Easiest Guide to Family Relationships), mặt khác của Tình yêu (The Other Side of Love), năm dấu hiệu của một gia đình yêu thương (Five Signs of a Loving Family), hướng đến cuộc hôn nhân phát triển bền vững (Toward a Growing Marriage), hy vọng cho những người ly thân (Hope for the
Separated) và đặc biệt nhất nổi tiếng nhất là The Five Love Languages (Năm ngôn ngữ tình
yêu), When Sorry isn‘t Enough (Khi lời xin lỗi là chưa đủ) và Things I Wish I‘d Known Before
We Got Married (Để hôn nhân không phải là toilet)… Đặc biệt quyển ―Năm ngôn ngữ tình
yêu: Bí quyết để tình yêu bền lâu‖ xuất bản lần đầu vào năm 1992 Quyển này đã bán được doanh thu hơn sáu triệu bản trong tiếng Anh và được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau,
các ấn bản 1996 luôn đứng trong 100 người bán hàng hàng đầu trên Amazon.com, đứng top
50 trong tháng 2 năm 2007
3.2 Tác phẩm The five love languages (Năm ngôn ngữ tình yêu)
Sau hơn 30 năm đút kết kinh nghiệm, tác giả Gary Chapman đã cho xuất bản quyển The five
love languages vào những năm 1992 Đây là một tác phẩm nổi tiếng trên toàn thế giới về tình
Trang 5dịch giả Việt Hà dịch sang tiếng Việt vào những năm liền sau đó, hiện nay thì đã tái bản nhiều lần Trong mỗi con người chúng ta ai cũng đều có những ước muốn, niềm tin và hi vọng về tình yêu, về cuộc sống, nhưng trong tất cả những cái đó đều có những cách hiểu, cách thể hiện
hoàn toàn khác nhau, một bí mật Làm sao để khai phá được bí mật này, Ngôn ngữ tình yêu có
thể giúp chúng ta cởi mở được gì chăng? Và bảo đảm rằng, khi mình đã hiểu được sự tương quan trong ngôn ngữ của tình yêu và biết cách sử dụng chúng vào đúng những thời điểm, hoàn cảnh thì có thể mình xây dựng được một nền tảng vững chắc cho một tình yêu, một ngôi nhà, một gia đình hạnh phúc, nơi mà tất cả mọi người đều thấy được sự quan tâm, sự yêu thương, chia sẻ, thông cảm và thấu hiểu lẫn nhau với tình yêu thương bất tận, ấm áp vô bờ, một tình yêu với niềm hạnh phúc viên mãn, thăng hoa Con đường ngắn nhất cho chúng ta đạt được hạnh phúc thật sự, một tình yêu mà chúng luôn hằng mong đợi là mở cửa trái tim, hiểu
và cảm nhận được những thông điệp của từng ngôn từ trong Ngôn ngữ tình yêu Năm ngôn
ngữ tình yêu là gì? Những điều cơ bản này chỉ gói gọn trong là năm cách biểu đạt và thấu hiểu
cảm xúc trong tình yêu của người bạn đời mình bằng một ngôn ngữ vô hạn chứ không phải
hữu hạn từ chính bản thân mình Ngay từ những ngày đầu mới xuất bản đến nay thì The five
love languages không làm ai thất vọng cả, từ hình thức, nội dung đến doanh thu đều luôn nằm
trong danh sách những quyển sách bán chạy nhất thế giới, trên 5 triệu bản đã được phát hành
và luôn nằm trong top 100 của những quyển sách bán chạy nhất trang Amazon.com The five
love languages đã được dịch ra hơn 38 ngôn ngữ khác nhau Bản dịch tiếng Việt Năm ngôn ngữ tình yêu là ngôn ngữ thứ 39 và cũng luôn nằm trong top 100 những quyển sách bán chạy
nhất ở Việt Nam
4 Văn hóa ứng xử và thái độ của các nhân vật trong giao tiếp qua tác phẩm The five love
languages và Năm ngôn ngữ tình yêu
Trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi thấy các nhân vật tham gia giao tiếp đều có thể hiện thái độ ứng xử cũng như những nét văn hóa qua từng tình huống, ngữ cảnh cụ thể Điều này được chúng tôi trình bày qua những ví dụ mẫu theo thứ tự tăng dần được trích từ bản gốc (1-n)
và bản dịch (1‘-n‘) ở các mục như sau
4.1 Những biểu hiện về ứng xử xưng hô qua cách sử dụng đại từ nhân xưng của các
nhân vật trong giao tiếp
Trong tiếng Anh, đại từ nhân xưng được sử dụng phổ biến trong hầu hết các cuộc hội thoại giao tiếp giữa các nhân vật, nhưng khi chuyển dịch sang tiếng Việt có các nhóm từ ngữ xưng
hô như sau:
Trong ngữ cảnh của một chuyến bay từ Buffalo đến Dallas, Gary Chapman gặp một người đàn ông và đưa ra những lời hỏi thăm tư vấn sau khi người đàn ông lịch sự hỏi thăm và biết được Gary Chapman là chuyên gia tư vấn hôn nhân và tổ chức các buổi hội thảo giúp hạnh phúc gia đình bền vững Người đàn ông hỏi Gary:
(1) Man: I‘ve been wanting to ask someone this for a long time What happens to the love after you get married? [I, tr.13]
Trang 6→ (1‘) Man: Tôi vốn thắc mắc mãi điều này mà không biết hỏi ai Theo anh, sau ngày cưới,
tình yêu sẽ đi về đâu? [II, tr.205]
Ở ví dụ (1), người đàn ông đã sử dụng đại từ nhân xưng I ở ngôi thứ nhất số ít với sắc thái
trung hòa khi nêu thắc mắc của bản thân trong một mối quan hệ liên cá nhân của người nói với người nghe ở một quan hệ bạn bè quen biết xã giao bình thường và được chuyển dịch
sang ví dụ (1‘) là ĐTNX tôi ở ngôi thứ nhất số ít với sắc thái trung hòa, thể hiện một mối
quan hệ liên cá nhân theo quan hệ bạn bè quen biết xã giao bình thường
Ngoài ra, ở ví dụ (1), người đàn ông còn có sử dụng ĐTNX you để gọi người đang nghe câu
hỏi của mình với sắc thái trung hòa, cũng thể hiện mối quan hệ bạn bè giao tiếp xã giao bình
thường Nhưng ĐTNX you được chuyển sang tiếng Việt ở (1‘) là danh từ thân tộc anh với sắc
thái lịch sự và có thể hiện mối quan hệ huyết thống gia đình nhưng vì theo truyền thống văn hóa người Việt, các từ ngữ xưng hô theo danh từ thân tộc không chỉ được sử dụng trong giao tiếp gia đình mà còn cả ở ngoài xã hội
4.2 Những biểu hiện về văn hóa ứng xử và thái độ của nhân vật qua cách sử dụng từ,
ngữ trong giao tiếp
Do giới hạn bài viết nên chúng tôi chỉ nêu những nét văn hóa ứng xử và thái độ của vợ chồng
trước và sau khi cưới trong cách sử dụng từ, ngữ khi giao tiếp như sau:
4.2.1 Văn hóa ứng xử vợ chồng trước khi cưới trong giao tiếp
Trong ngữ cảnh người đàn ông kể cho Gary biết là anh ta và người yêu của mình đã bị cuốn vào tình yêu như một cơn lốc và họ đã quyết định cưới nhau sau sáu tháng quen biết:
(2) Man: We only dated six months It1 was a whirlwind romance It2 was really exciting!
[I, tr.12]
→ (2‘) Man: Chúng tôi bị cuốn vào nhau tựa một cơn lốc và chỉ sau sáu tháng quen biết,
cả hai quyết định kết hôn Một tình yêu cuồng nhiệt! [II, tr.14]
Ở ví dụ (2), người đàn ông đã có thái độ rất hào hứng, rất cuồng nhiệt cho biết tình yêu của họ
đã đến nhanh chóng bằng các từ ngữ được sử dụng đều diễn tả ở mức độ trung hòa như only
dated (chỉ hẹn hò), a whirlwind romance (một cơn lốc lãng mạn), really exciting (thật sự thú
vị) qua 3 câu đơn Chủ -Vị (C-V), có sử dụng chủ từ giả là đại từ nhân xưng it 1,2 (nó) để diễn
tả nội dung là tình yêu của hai người họ đã đến rất nhanh Nhưng khi chuyển sang tiếng Việt
ở ví dụ (2‘), thái độ của người đàn ông được bộc lộ hết cảm xúc thăng hoa của mình bằng các
từ ngữ như bị cuốn vào nhau tựa như một cơn lốc, cuồng nhiệt… qua một câu cảm thán và
một câu ghép với liên từ ―và‖: C-V và C-V
Ngoài ra, trong câu ghép có sử dụng biện pháp so sánh ―tựa‖ để so sánh lực hút vào nhau, cuốn vào nhau như 1 cơn lốc mãnh liệt nào đó hay tiếng sét ái tình của cặp vợ chồng này ở tiếng Việt
Bên cạnh đó, ở ví dụ (2‘) còn có hiện tượng thêm từ, thêm nội dung vào câu cho phù hợp dễ
hiểu hơn trong các sử dụng câu, từ tiếng Việt cả hai quyết định kết hôn Điều này thể hiện đặc
Trang 7Và hiện tượng tỉnh lược từ như đại từ nhân xưng it 1
ở ví dụ (2) được lược bỏ đi khi chuyển sang tiếng Việt ở ví dụ (2‘) với mục đích là làm cho câu được gọn gàng hơn Còn đại từ nhân
xưng it 2 thì được chuyển sang tiếng Việt là một cụm danh từ (số từ + danh từ): một tình yêu
như ở ví dụ (2‘) với mục đích là làm cho câu được rõ ràng dễ hiểu hơn
4.2.2 Văn hóa ứng xử vợ chồng sau khi cưới trong giao tiếp
Trong ngữ cảnh người đàn ông tiếp tục kể với Gary Chapman về kết cục cuộc tình chóng vánh của mình sau khi kết hôn là:
(3) Man: But after the marriage, it was a battle from the beginning [I, tr.177]
→ (3‘) Man: Những ngày sau đám cưới, tình yêu đó đã nhanh chóng biến thành một cuộc
chiến [II, tr.264]
Ở ví dụ (3), người đàn ông sử dụng đại từ nhân xưng It (nó) ở ngôi thứ ba số ít, để nói về tình
cảm của hai vợ chồng với sắc thái trung hòa nhưng khi được chuyển dịch sang ví dụ (3‘), cụm
danh từ (tình yêu + đại từ chỉ định đó): tình yêu đó với sắc thái thờ ơ, hờ hững, có khoảng
cách xa chứ không gần để xác định nội dung là cuộc tình của hai vợ chồng người đàn ông này
Cũng trong ví dụ (3), cụm biểu thức từ (mạo từ + danh từ + giới từ + mạo từ + V-ing): a
battle from the beginning được sử dụng với sắc thái trung hòa để thể hiện nội dung là cuộc
chiến đã bắt đầu Chúng được chuyển sang ví dụ (3‘) cũng là cụm biểu thức từ (cụm tính từ +
cụm động từ + số từ + danh từ): nhanh chóng biến thành một cuộc chiến với sắc thái giận hờn,
đáng sợ, nhằm chuyển tải nội dung là chiến tranh của hai vợ chồng này đã nổ ra một cách nhanh chóng sau thời gian họ cưới nhau không bao lâu
Trong ngữ cảnh người đàn ông tiếp tục kể với Gary Chapman về nguyên nhân xảy ra sự rạn nứt tình cảm của hai vợ chồng sau khi kết hôn là:
(4) Man: …It was as if her one goal in life was to have a baby, and after the baby, she no
longer needed me
Gary: Did you tell her that?
Man: Yes, I told her She said I was crazy She said I did not understand the stress of
being a twenty-four-hour nurse [I, tr.12]
→ (4‘) Man: … Cứ như thể mục tiêu duy nhất trên đời của cô ấy là có một đứa con, và chấm
hết Cô ấy chẳng còn tha thiết gì đến tôi nữa
Gary: Thế anh có nói cho cô ấy biết điều đó không?
Man: Ồ, có chứ Nhưng cô ấy bảo tôi khùng Cô ấy còn cho rằng, tôi chẳng hề
thông cảm đến nỗi khổ của người vú nuôi 24/24 như cô ấy [II, tr.15]
Về đại từ nhân xưng được sử dụng trong hai ví dụ (4) và (4‘):
Ở ví dụ (4), người đàn ông sử dụng đại từ nhân xưng I (me: biến thể của I = tôi) ở ngôi thứ
nhất số ít với sắc thái trung hòa và khi được chuyển sang ví dụ (4‘) cũng là đại từ nhân xưng
tôi ở ngôi thứ nhất số ít với sắc thái trung hòa Nhưng khi nhắc đến vợ mình thì sử dụng đại từ
Trang 8nhân xưng she (her: biến thể của she = cô ấy) ở ngôi thứ ba số ít với sắc thái trung hòa và khi được chuyển sang ví dụ (4‘), biểu thức (danh từ thân tộc + đại từ chỉ định): cô ấy ở ngôi thứ
ba số ít với sắc thái lịch sự được sử dụng Còn Gary thì sử dụng đại từ nhân xưng you ở ngôi thứ hai với sắc thái trung hòa và khi được chuyển sang ví dụ (4‘), danh từ thân tộc anh để gọi
người đàn ông với sắc thái lịch sự
Về câu, từ được sử dụng trong hai ví dụ (4) và (4‘):
Ở ví dụ (4), người đàn ông sử dụng tính từ crazy (điên khùng) với thái độ giận dữ, để diễn tả nội dung về thể trạng của mình và khi chuyển sang tiếng Việt ở ví dụ (4‘ cũng là tính từ
khùng với thái độ giận dữ, để diễn tả nội dung về thể trạng của mình
Ở ví dụ (4), người đàn ông sử dụng cụm biểu thức từ (mạo từ + danh từ + giới từ + mạo từ +
V-ing): no longer needed me với sắc thái trung hòa để thể hiện nội dung là người vợ đã không
cần đến người đàn ông này nữa Chúng được chuyển sang ví dụ (4‘) cũng là cụm biểu thức từ:
chẳng còn tha thiết gì đến tôi nữa với sắc thái giận hờn, buồn khổ Chính những điều này cho
thấy thái độ ứng xử của hai vợ chồng này sau khi kết hôn có em bé đã trở nên tồi tệ, không quan tâm thông cảm và thấu hiểu hay giúp đỡ nhau trong cuộc sống
Ngoài ra, ở ví dụ (4), người đàn ông có sử dụng cấu trúc ngữ pháp so sánh ở điều không có
(như thể) It was + as if + clause (mệnh đề): It was as if her one goal in life was to have a
baby được sử dụng với sắc thái trung hòa để thể hiện nội dung là như thể mục đích chính của
cô vợ chỉ là có được đứa con rồi thôi Chúng được chuyển sang ví dụ (4‘) cũng là cụm biểu
thức từ cứ như thể mục tiêu duy nhất trên đời của cô ấy là có một đứa con với sắc thái giận
hờn Và cấu trúc câu tường thuật, câu kể S + said (đã nói) + S + V2 + O… She said I did not
understand the stress of being a twenty-four-hour nurse cũng với sắc thái giận hờn Cấu trúc
câu này được chuyển sang ví dụ (4‘) là cô ấy còn cho rằng tôi chẳng hề thông cảm đến nỗi
khổ của người vú nuôi 24/24 như cô ấy với sắc thái giận hờn Điều này cho thấy thái độ của
người vợ rất thẳng thắng khi người chồng không biết thương vợ con vợ, không quan tâm thông cảm và đặc biệt là không giúp đỡ mà bỏ mặc cho những vất vả, cực khổ của người mẹ chăm con nhỏ như người vợ trong ngữ cảnh này thì cái cảnh ―cơm không lành - canh không ngọt‖ trong ứng xử là điều tất yếu sẽ xảy ra trong đời sống vợ chồng sau khi kết hôn, có em
bé
5 Ứng dụng trong hoạt động chuyển dịch và dạy-học tiếng
Từ những miêu tả, phân tích trên, cho thấy trong cách ứng xử về từ ngữ xưng hô, về câu, từ được sử dụng ở hai ngôn ngữ không chỉ là nội dung chỉ ngôi mà còn thể hiện thái độ tình cảm, tâm lý, nhận thức, thói quen, văn hoá… của nhân vật tham gia giao tiếp Trong tiếng Anh, những đơn vị từ ngữ xưng hô, câu, từ thường ít bị chi phối bởi những quy định về tuổi tác, tình cảm, mối quan hệ liên cá nhân của người tham gia giao tiếp như trong tiếng Việt, nhưng
có sự khác biệt rất rõ trong thói quen sử dụng
Người Việt rất trọng tình, yếu tố quan hệ gia đình luôn chi phối giao tiếp, đề cao tập thể, cộng đồng với quan điểm ―xưng khiêm - hô tôn‖, nên khi phải sử dụng cả DTXH và BTXH một cách linh hoạt, uyển chuyển theo tình huống giao tiếp cụ thể Tùy theo đối tượng giao tiếp,
Trang 9từng nhân vật, mối quan hệ gia đình, xã hội, sắc thái tình cảm để sử dụng câu, từ trong chuyển đổi tương đương cho phù hợp, rõ ràng, dễ hiểu trong từng ngữ cảnh cụ thể Ngoài, trong chuyển dịch và dạy-học tiếng, chúng ta còn có thể thêm câu, từ hoặc tỉnh lược bớt đi cho câu gọn gàng, dễ hiểu, phù hợp văn hóa người Việt hơn
Trong quá trình chuyển dịch, dạy-học tiếng, người dịch, người dạy-học cần lưu ý về bản sắc văn hóa thể hiện về tính lịch sự, sắc thái, thái độ ứng xử của các nhân vật tham gia giao tiếp ở bất kì một ngôn ngữ nào đó qua cách sử dụng các đơn vị từ ngữ xưng hô hay câu, từ phù hợp
6 Kết luận
Tóm lại, tác giả Gary Chapman cùng với tác phẩm The five love languages (Năm ngôn ngữ
tình yêu) đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Gary Chapman đã làm thức tỉnh
hàng vạn người trên toàn thế giới về cách ứng xử với giữa vợ chồng, người thân, bạn bè qua những thông điệp yêu thương, quan tâm, thông cảm, thấu hiểu và cùng nhau hành động, cùng nhau xây dựng hạnh phúc qua những câu chuyện tình huống thực tế trong cuộc sống
Trong chuyển dịch câu, từ từ tiếng Anh sang tiếng Việt thì có thể chuyển giữ nguyên từ loại hoặc chuyển đổi từ loại cho phù hợp với văn hóa từng ngôn ngữ của mỗi dân tộc Tuy nhiên, xét ở góc độ văn hóa, văn hóa ứng xử của các nhân vật tham gia giao tiếp là vấn đề vô cùng quan trọng của các dân tộc, đặc biệt là văn hóa ứng xử lịch sự, chuẩn mực trong cách lựa chọn câu, từ gọn gàng, rõ ràng dễ hiểu của người Việt nhằm góp phần phát huy và giữ gìn nét văn hóa và bản sắc dân tộc, cũng như ―giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt‖
Do sự khác biệt ít nhiều về ngôn ngữ và văn hoá giữa tiếng Anh và tiếng Việt thể hiện qua cách lựa chọn sử dụng đơn vị từ ngữ xưng hô, cũng như cách sử dụng câu, từ như đã nêu trên, khi dạy và học tiếng ở thời kỳ hội nhập, chúng ta phải luôn chú ý tới vấn đề tương ứng, tương đồng và sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá, phong tục, tập quán giữa hai hay nhiều thứ tiếng trong giao tiếp ngôn ngữ ở thời kỳ hội nhập của nước ta như hiện nay
Tư liệu nghiên cứu
Gary Chapman (1 international best seller-1992), The five love languages The Moody Bible
Institute of Chicago dba Moody Publishers and Northfield Publishing
Việt Hà (2020) Năm ngôn ngữ tình yêu Nxb Tổng hợp Tp.HCM
Tài liệu tham khảo
Sách:
Hữu Đạt (2007) Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt Nxb GD
Hồ Chí Minh (1995) Hồ Chí Minh Toàn tập,3, 431 Nxb Hà nội: Chính trị Quốc gia
Phan Ngọc (1994) Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới Nxb Văn hóa - Thông tin
Nguyễn Thị Kim Ngọc (1999), Ngôn ngữ và văn hóa: Tri thức nền và giảng dạy tiếng nước
ngoài Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội
Trang 10Hoàng Phê (chủ biên) (1998) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hà Nội: Khoa học xã hội
Trần Ngọc Thêm (1995) Cơ sở văn hóa Việt Nam Nxb GD
Trần Ngọc Thêm (1997) Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam Nxb Tp HCM
Nguyễn Đức Tồn (2008) Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy.Hà Nội: Nxb
Khoa học Xã hội
Tạp chí:
Nguyễn Văn Nở (2000) Cách xưng hô trong ca dao trữ tình Đồng bằng sông Cửu Long Ngữ
học Trẻ, 317-320
Phạm Ngọc Thưởng (2000) Từ thân tộc trong xưng hô của người Nùng (Tiếp cận dưới góc
độ ngôn ngữ và văn hóa Ngôn ngữ, 3, 55-58
Mạng, trang web:
Phan Ngọc Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp, http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van- hoa-viet-nam/van-hoa-ung-xu-voi-moi-truong-xa-hoi/2554-phan-ngoc-tiep-xuc-van-hoa-viet-nam-va-phap.html
SOME COMMUNICATION ISSUES OF INTERCULTURAL
BEHAVIOR IN “THE FIVE LOVE LANGUAGES” AND “NAM NGON
NGU TINH YEU”
Abstract
―Some communication issues of intercultural behavior in ‗The five love languages‘ and
‗Nam ngon ngu tinh yeu‘‖ is a necessary and valuable topic for life research, especially the way young people express love in Vietnam and in the world nowadays To accomplish this topic, we have used survey, statistical methods, classification, etc In the context and circumstances of the book publicatiom, the author‘s biography, works and based on love messages collected, we described, analyzed and synthesized their structural and semantic characteristics as well as their similarities and differences about the use, the intercultural behavior of love, the secret of love, lasting love which were expressed between the two languages (English-Vietnamese) Accordingly, we offered applications
in translation, teaching and learning linguistic activities through cultural and intercultural traits between languages
Keywords
intercultural behavior, intercultural behavior in communication, the five love language