1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

nhũ tương nhựa bitum (đại cương và ứng dụng)

275 831 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhũ Tương Nhựa Bitum (Đại Cương Và Ứng Dụng)
Trường học University of Science and Technology
Chuyên ngành Chemical Engineering
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, bitum chủ yếu được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng giao thông, bitum đóng vai trò là thành phần cùng với hỗn hợp vật liệu khoáng để sản xuất bê tông Asphalt. Tùy theo công năng, điều kiện khí hậu và phương pháp thi công mà sử dụng bitum dầu mỏ rắn, bitum dầu mỏ quánh, bitum dầu mỏ lỏng trong xây dựng giao thông.

Trang 2

Như tương nhựa Bitum

NHŨ TƯƠNG NHUA BITUM

dai cuong & img dung

Người đen: Nguyễn Xuân Mẫn

Ea

KHOA HOC VA KY THUAT NGHIEP DOAN CAC NHA SAN XUAT

Trang 3

Như tương nhựa Bitum

Nous remercions de leur soutien:

~ L'AMBASSADE DE FRANCE AU VIETNAM

- LE MINISTERE DE L’EQUIPEMENT, DES TRANSPORTS ET DU TOURISME - DIRECTION DES AFFAIRES EGONOMIQUES ET

INTERNATIONALES (DAEN

- LE MINISTERE DE L'EQUIPEMENT, DES TRANSPORTS ET DU

TOURISME - LASORATOIRE CENTRAL DES PONTS ET CHAUSSEES (LcPC)

> LE COMITE DE RELECTURE DU CLUB DEVELOPPEMENT VIETNAM

DE L'ASSOCIATION DES ANCIENS ÉLÈVES DE L'ÉCOLE NATIONALE DES PONTS ET CHAUSSÉES:

MM NGUYEN THANH LONG - PRESIDENT DU CLUB

ET LE XUAN THAO (CDV - AAENPC)

LE SYNDICAT DES ÉMULSIONS

Qui NOUS A DONNE SON ACCORD POUR CETTE TRADUCTION

Ching tôi cảm ơn sự giúp đỡ của:

- ĐẠI SỬ QUÁN PHÁP TẠI VIỆT NAM

- BỘ THIẾT BỊ, VẬN TẢI VÀ DU LỊCH - CỤC KINH TẾ VÀ ĐỐI NGOẠI

và LÊ XUÂN THẢO (CDV - AAENPC)

- NGHIỆP ĐOÀN CÁC NHÀ SẢN XUẤT NHŨ TƯƠNG

CA CHO PHÉP DỊCH CUỐN SÁCH NÀY

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 4

Như tương nhựa Bitum

Sách được xuất bản voi su tai trơ của HÃNG COLAS SA SỐ 7 QUẢNG TRƯỜNG RENE CLAIR BOULOGNE BILLANCOURT

CỘNG HÒA PHÁP

Edité avec le soutien financier des

ETABLISSEMENTS COLAS SA 7 PLACE RENE CLAIR - BOULOGNE BILLANCOURT FRANCE

Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp LES ÉMULSIONS DE BITUME

généralités applications

SYNDICAT DES FABRICANTS DÉMULSIONS ROUTIÈRES DE BITUME

52, av des Champs Elysées 75008

1988

Trang 5

Như tương nhựa Bitum

NHŨ TƯƠNG

NHUA BITUM

OUVRAGE TRADUIT AVEC LE CONCOURS DU MINISTERE DE

L’EQUIPEMENT, DES TRANSPORTS ET DU TOURISME ET DU

CLUB DEVELOPPEMENT VIETNAM DE L'ASSOCIATION DES

ANCIENS ELEVES DE L'ECOLE NATIONNALE DES PONTS ET

CHAUSSEES

SÁCH ĐÃ ĐƯỢC DỊCH VỚI SỰ ĐÓNG GÓP CỦA BỘ THIẾT BỊ

VAN TAI VA DU LỊCH VÀ CÂU LẠC BỘ PHÁT TRIEN VIET NAM

TRONG HỘI CÁC CỰU SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ

CẦU ĐƯờNG

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 6

Như tương nhựa Bitum

LÒI GIỚI THIỆU

Tôi rất vui lòng giói thiệu với các bạn dọc Việt Nam, đặc biệt là trong các

ngành xây dựng và duy tu sửa chửa đường ôtô, cuốn sách "NHŨ TƯỞNG NHỤA BITUM - ĐẠI CƯƠNG VÀ ÚNG DỤNG; xuất bản bằng tiếng Việt, với sự tài trợ của Hãng COLAS S.A là một trong những Hãng sản xuất nhũ tương nhựa bitum lón nhất ỏ nước Pháp và trên thế giới

Nhũ tương nhựa bitum là một hình thúc nhựa bitum 6 dang lỏng và nguội, rất thích hợp với khí hậu nhiệt đói mưa nhiều, vì màng nhựa có thể dính bám khi mặt

đá còn ướt Bộ giao thông vận tải đã có chủ trương mỏ rộng diện áp dụng nhũ tương nhựa bitum trong xây dựng mói và duy tu sửa chữa mặt dường ôtô

Cuén sach "NHU TUONG NHUA BITUM - DAI CUONG VÀ UNG DUNG" do Nghiệp đoàn các nhà sản xuất nhũ tướng nhựa bitum 6 Phap bién soan va xuat

bản năm 1988 Sách có phần lý thuyết ngắn gọn dễ hiểu, phần kỹ thuật sản xuất,

phần thí nghiệm kiểm tra chất lượng và đặc biệt là phần kỹ thuật thi công giới thiệu một cách chỉ tiết các loại kết cấu mặt đường ôtô làm mỏi hoặc tăng cường

sửa chứửa và duy tu bảo dưỡng, dùng nhựa bitum dưới dạng nhũ tương Dây có thé

là một cuốn cầm nang kỹ thuật có giá trị đối với với cán bộ và công nhân ngành đường bộ Việt Nam

Mong rằng bản tiếng Việt được xuất bản lần này dược đông đảo bạn đọc, đặc

biệt là trong ngành đường bộ, hoan nghênh và nghiên cúu áp dụng

Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1994

LÊ NGỌC HOÀN

Thứ trưởng Bộ giao thông vận tải

Trang 7

Nhu tương nhựa Bitum

LỜI NÓI ĐẦU

Được phát minh ra ở châu Au tu cach đây 60 năm, ngày nay nhũ tương nhựa bitum được sản xuất và rải trên toàn thế giói

Nuóc Pháp là nước tích cục nhất phát triển loại chất kết dính này và đã nghiên cứu hoàn chỉnh các phương pháp kỹ thuật thi công Tử trước tới nay, nước Pháp đã và vẫn là

nước đứng đầu danh sách những nước sản xuất nhũ tương nhựa bitum trên thế giói, dù

là tính về khối lượng so với số dân, khối lượng so với diện tích hay khối lượng so với tổng

lượng nhựa bitum dùng trên mặt đường ôtô

Vì vậy các kỹ sư của các hãng thành viên của Nghiệp đoàn các nhà sản xuất nhũ

tương nhựa bitum phải xuất bản đều đặn một cuốn "Thanh Kinh" trình bầy một mặt là

những cơ sỏ khoa học của công nghệ nhũ tương nhựa bitum, mặt khác là những thành

tựu mới nhất của nghiên cúu khoa học và những sáng tạo mới trong lĩnh vực công nghiệp

này

Cuốn sách này, mà nhiều người sẽ gọi là "cuốn sách đỏ" vì mầu bìa, sẽ chiếm chỗ

của những cuốn sách lón đàn anh của nó, như cuốn "sách xanh", cuốn "sách lø" và cuốn

"sách khổ lón" năm 1955 (than ôi bây giò không còn kiếm dược nửa !), trong các tủ sách

và thư viện

Chúng tôi bầy tỏ lòng biết ón của chúng tôi đối vói các tác giả của cuốn sách Dối với mỗi vị trong số tác giả, công việc biên soạn là một công việc chồng chất thêm lên

hoạt động rất bền bỉ của mình hướng về việc thành tựu những sản phẩm mói, những kỹ

thuật cho tương lai và việc nghiên cứu tìm kiếm không ngừng chất lượng cả ỏ trong nhà

máy lẫn ngoài công trường Các tác giả đã không ký tên mình dưới mỗi bài viết, nhưng

xin hãy cho phép chúng tôi ghi lại ö đây bản danh sánh tác giả gồm có các ngài:

BÉRANGER, CHAMBARD, CHAUMONT, CHAZAL, COUCHE, DUVAL, EUDIER, FOUCHER, LANGUMIER, LAUSSON, LOMBARDI, SAMANOS VA SERFASS

Ngài BELLANGER trong Nghiệp đoàn đã phối hợp việc biên soạn và phối trí cùng

với công việc vẽ hình của họa sỹ, ngài BERTHELEMY

Vói tất cả các vị, Nghiệp đoàn các nhà sản xuất nhũ tướng nhựa bitum dùng cho đường

ôtô xin có lồi cảm ơn rất thân ái

Chủ Tịch Nghiệp đoàn chúc cho cuốn sách này nhận được sự tiếp đón thịnh tình của mọi người có trách nhiệm xây dựng và duy tu sửa chữa mặt đường ôtô và qua đó mà đóng góp vào sự phát triển tất yếu của cơ sỏ hạ tầng dường ôtô trên thế giói

Jean LEVEQUE

Chu tich Nghiép doan cac nha sản xuất nhũ tương nhựa bitum dùng cho dường ôtô

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 8

Nhu tuong nhya Bitum

CHUGNG

TRANG

1 NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG - a

3 SAN XUAT - LUU TRU - VAN CHUYEN NHU TƯƠNG 103

4 DUY TU BAO DUGNG VA SUA CHUA 117

6 LOP DINH BAM VA LOP BAO DUGNG 167

9 CAP PHO! DA NGHIEN HOAC SO! CUOI TRON NHU TUONG 197

10 DA NHO TRON NHU TUONG 229

xU LY LAIBANG NHU TUONG CAC MAT DUGNG CU -

13 KHÔI PHỤC LẠI MẶT DUONG TAI CHO ca AC 263

TU VUNG

Trang 9

Nhu tuong nhya Bitum

1

NHỨNG KHÁI NIỆM CHUNG

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 10

Nhu tương nhựa Bitum

NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG

Trong mọi kiểu phân tán vào nước đã được

liệt kê - Huyền phù (chất rắn/chất lỏng)

Nhũ tương (chất lỏng / chất lỏng) - Bot

(chất khí / chất lỏng) thì nhũ tương là một

hệ thống không đồng nhất và rất đa dạng

Vì vậy không nên lấy làm lạ là tử nhiều thế

kỷ nay đã có vô vàn nhà nghiên cúu thuộc

mọi ngành khoa học nghiên cúu về kiểu

kết cấu này Không cần phải trỏ lùi lại thời

kỳ của nhà khoa học GALIEN là người đã

dược coi là sáng chế ra 'Cérat' là một loại

kem bôi kiểu nhũ tương "nước phân tán

trong dầu", một số đông tác giả dã để lại một thư mục quá dầy dủ về đề tài này VÌ

vậy chương này không có tham vọng là một công trình sáng tạo mà chỉ mong tập hợp lại một cách đón giản những khái

niém co bản về nhũ tướng và 6 phan thu

hai của chương, về nhũ tướng nhựa bitum

NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Định nghĩa

Nói một cách đón giản nhất, nhũ tương là

kết quả của sự phân tán nhỏ một chất lỏng

vào một chất lỏng không hòa tan lẫn vào

nhau Nhiều tác giả đã có những định

nghĩa khác nhau, có tác giả muốn đưa vào

trong định nghỉa khái niệm về độ nhỏ phân

tán của pha bị phân tán, có những tác giả

khác đã đề cập đến trường hợp có thể có

nhiều pha hơn là hai pha, lại còn những tác giả khác dé cap dến những dặc trung

ưu tiên, đặc biệt là về độ ổn định Dịnh nghĩa

mà chúng tôi coi là chính xác nhất về khoa

học là định nghĩa của P.BÉCHER trong cuốn sách: 'Nhũ tương - Lý thuyết và thực

hành" xuất bản năm 1961:

“Một nhũ tương là một hệ không đồng nhất,

không ổn định về phương diện nhiệt dộng

Trang 11

vào pha kia, dường kính của các hạt này

thường lón hơn 0,1micron Một độ phân tán

như vậy có một độ ổn định tối thiểu và độ

ổn định này có thể được tăng cường bằng

việc trộn lẫn vào những tác nhân thích hợp như là những chất có hoạt tính bề mặt

hoặc những chất rắn nghiền thành hạt cực

nhỏ'

Sơ đồ một nhũ tương nhựa / nước hoặc nước / nhựa

Dinh nghia cua P.BÉCHER, dù đã có thể coi

là hài lòng được vẫn có thể chưa được chấp

nhận hoàn toàn bỏi một số người Dây là

trường hợp của những nhà kỹ thuật về

dường ôtô vì họ biết rất rõ là nói chung các

nhũ tương nhựa bitum là những nhũ tướng

được cấu tạo bằng những hạt hình cầu nhỏ

có dường kính lón hơn nhiều, khoảng tử 1

dến 20 micron Đây là lý do khiến cho

người ta thích dùng hơn định nghĩa trong

tiêu chuẩn Pháp T 73-000 (tháng 4/1985):

"Nhũ tương là một hệ thống không đồng

nhất gồm hai hoặc nhiều pha chất lỏng,

được cấu tạo bằng một pha chất lỏng liên

phân loại

Phân loại theo nguồn gốc

Theo phương pháp phân loại này, có thể

phân ra những loại nhũ tương có nguồn

gốc tụ nhiên và những loại nhũ tưởng nhân

tạo Diển hình của các loại nhũ tương tự nhiên là sửa của các động vật có vú Sữa

là một loại nhũ tướng có chúa từ 15 đến

8,5% chất béo lỏng dược bảo vệ bỏi những

hợp chất gốc albuminoit trong môi trưởng huyết thanh (huyết thanh tiếng Pháp là

sérum là dạng tử nguyên của động tử tiếng

la tỉnh: emulgere = vắt sửa) và chính vì thế

mà có tên tiếng Pháp của nhũ tương là émulsion Người ta cũng coi một số loại

nhựa cây như là nhũ tương tự nhiên , những

những nhà ngôn ngữ chính thống thì lại coi

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 12

=

Nhu tương nhựa Bitum

nhựa cây là những huyền phù thể keo

(chất rắn / chất lỏng) chú không chính xác

là nhũ tương (chất lỏng / chất lỏng)

Còn về các nhũ tương nhân tạo, thÌ người

ta cũng chỉ dùng dưới dang nhũ tương

trong một số ngành áp dụn‹ đa dạng: mỹ

phẩm, dược phẩm, một số thức ăn đặc sản chế tạo tử nông phẩm, những chất dùng

để bảo dưỡng, những chất trung gian

trong công nghiệp luyện kim, công nghiệp xây dụng và công chính v.v

Tên thường gọi Thuận Nghịch

Ký hiệu hiện nay L/H H/L

Ký hiệu trước kia (theo Anh) H/E (O-W) E/H (W-O)

Pha bị phân tán Dầu Nước

Pha liên tục Nước Dầu

Khả năng dẫn diện 7 Co dan dién Không dẫn diện

tử đó: đo độ pH Có thể đo được Không thể do được

Nếu pha dầu có độ nhót

Phân loại theo hình dạng

Cách phân loại này, tùy theo hình dạng

hoặc, theo một số người, tùy theo "chiều",

cho phép phân biệt nhũ tướng thuận, nhũ

tương nghịch và nhũ tương phúc hợp

Nhũ tương thuận

Đây là những nhũ tương dùng nước: pha bị

phân tán còn gọi là pha nội tại hoặc pha

không liên tục, là một pha háo dầu (dầu thực vật hoặc dầu mỏ), còn pha liên tục

hoặc pha ngoài, hoặc pha phân tán, là một

pha hao nước (thí dụ là nước) Người ta nhận biết các nhũ tương này bằng ký hiệu

viết tắt L/H (trước đây là H/E “dầu trong

nuóc') Loại nhũ tương thuận gồm có toàn

bộ các nhũ tương nhựa bitum, các nhũ

tưởng dùng làm những loại són mới thường

Trang 13

Nhu tương nhựa Bitum

gọi là són không có mùi, một loại đa dạng

những chất thuốc trù sâu ỏ dạng lỏng và

rất nhiều những chất khác như là các loại

mỹ phẩm "kem dùng ban ngày"

Sơ họa một nhũ tương phức hợp H/L/H

oe

Pha bij phan tan hao dau

Nhũ tương nghịch

Người ta cũng còn gọi là nhũ tương dầu

Khác vói trường hợp trên, pha bị phân tán

là pha háo nước còn pha liên tục là pha

háo dầu, đo đó mà ký hiệu viết tắt là H/L

(trước kia là E/H "nước trong dầu') Trong

số những Ung dung quan trọng nhất của

nhú tương nghịch có những công nghiệp

thực phẩm (bơ, dầu thảo mộc) công

nghiệp luyện kim (mổ bôi trón và chất lỏng

thủy lực) công nghiệp dược phầm và mỹ

phẩm (kem dùng bôi ban đêm, kem dùng

lạnh) v.v

Nhũ tương phức hợp

Các loại nhũ tương này mang ký hiệu viết

tắt là H/L/H trước dây là E/H/E "nước trong

dầu trong nước" Dây là những loại nhũ

tướng L/H nhưng trong đó bản thân các hạt

dầu lại mang những tiểu cầu li tỉ háo nước

còn nhỏ hơn chúng Các hệ thống này, tuy

da được phân biệt tử nhiều thập kỷ nay,

nhưng vẫn còn Ít được nghiên cúu Chỉ mãi

tdi những năm gần đây mdi thay ré Idi ích

của chúng trong việc phân ly các chất

hydrôcacbuya (dầu mỏ) và trong một số

pha háo dầu như trong trường hợp các

nhũ tương "mặn", chính là kết quả sự hình thành ngẫu nhiên của nhũ tương phúc hợp

trong quá trình sản xuất nhũ tương bình

thưởng

Phân loại theo kích cỡ hạt

Bằng cách phân loại này, người ta có thể

đặt nhũ tương vào đúng vị trí của nó trong

số lượng rất lón các hệ thống bị phân tán

Ta đã thấy trong cách định nghĩa của BECHER Ia tac giả này định một ngưỡng tối thiểu cho các giọt li ti của pha bị phân tán

là 0,1 micron Thế nhưng bây giờ người ta

đã biết cách làm cho hai pha lỏng phân tán vào nhau với kích cõ các phần tử của pha bị phân tán nhỏ gấp 100 lan hon

nguõng 0,1 micron của BÉCHER Một hệ

phân tán như vậy được gọi là hệ vì nhũ

tương Tuy rằng cho đến ngày xuất bản

cuốn sách này vẫn chưa thấy có những vi

nhũ tướng nhựa bitum, cũng nên xác định

vị trí của các vi nhũ tướng so với các loại

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 14

Nhu tương nhựa Bitum

nhũ tương thưởng dùng Bằng sáng chế

dầu tiên cấp cho một vi nhũ tướng đã được

thương mại hóa vào năm 1928 Day là một

hệ phân tán loại sáp carnauba vào trong

pha nuóc, vi nhũ tướng này có những chất

lượng sử dụng hơn hẳn loại sáp carnauba

nguyên chất Nhưng ví nhũ tương chi mdi

bắt đầu được nghiên cứu tử một thời gian

tương dối gần đây và chính cái tên "vi nhũ

tương" cũng mới dược J.H.SCHULMAN dặt

cho vào năm 1958

Nhu da nói ở trên, ngoài hai pha chính ra,

nhũ tướng còn chứa những tác nhân thích

hợp có vai trò giữ cho nhũ tướng ổn dinh

Phần lón đây là những tác nhân hoạt tính

bề mặt hòa tan trong nước Chúng hấp phụ

vào các mặt tiếp xúc giữa hai pha và làm

giảm lực căng bề mặt và lực căng tiếp xúc

Nói cách khác, các chất hoạt tính bề mặt

này bảo vệ các hạt li tỉ đước phân tán ra,

giống như một hàng rào có mục dích

không phải là để vĩnh củu hóa, nhưng Ít

nhất là giữ được trong một thời gian có thể tính trước, hình trạng phân tán đã đạt dược nhờ một tác động cơ học có hiệu quả (lực

cơ học của cánh quạt trục quay trong thiết

bị sản xuất nhũ tướng ND) Lượng chất hoạt tính bề mặt cần dùng thường dược tính rất sát và không phải là bất thường khi nói là

có thể chế tạo được nhũ tương chỉ cần khoảng 0,1% chất hoạt tính bề mặt Hậu qủa trước tiên là làm dục chất dung mồi,

nguyên nhân là vì ánh sáng mắt có thể nhìn thấy được có bước sóng tử 0,4 đến 0,8

micron và các hạt phân tán cũng có đường

kính cð đó, vì vậy ma anh sang bi tan xa di

và nhũ tương chỉ truyền được một phần

tương dối yếu của tia sáng

Khác với nhũ tương thông thường, vi nhũ

tướng xuất phát tử một quan niệm khác

Muốn phân tán dược ra thành những hạt l¡

tỉ có đường kính 0,01/: thường phải dùng

Thay đổi tùy theo thời gian

Độ nhót Cao, tùy theo độ đậm đặc | Rất yếu và độc lập đối vói

của pha bị phân tán pha dầu

Năng lượng phân tán cần

Cao (cần thiết phải có các Thấp (có khi có thể tự động

thiết thiết bị mạnh tỉnh hoặc —

động) hình thành)

Trang 15

Nhu tương nhựa Bitum

cầu Nếu đường kính của các hạt tiểu cầu

vi nhũ tương chỉ bằng 1/100 đường kính của

tiểu cầu nhũ tương thông thường, thì một

phép tính đơn giản cũng có thể cho thấy

là với cùng một thể tích của pha bị phân

tán, tỷ diện tổng cộng của các tiểu cầu vi

nhũ tương sẽ lón gấp 100 lần nhũ tưởng

thông thường, và hậu quả là lượng chất

hoạt tính bề mặt cần thiết để bảo vệ diện

tích lớn thêm này ắt phải gấp 100 lần lượng

dùng cho nhũ tương thông thường

Cho nên muốn thiết kế công thức của một

Vi nhũ tướng, phải dùng tói một lượng chất

hoạt tính bề mặt bằng 10% của lượng nhũ

tướng phải sản xuất Không di vao chỉ tiết

về động lục học mà nhiều tác giả đã áp

dụng để sản xuất vi nhũ tương, chúng tôi

chỉ nêu lên rằng cân phải tác động rất

mạnh vào lực căng bề mặt giữa dầu và

nước để hạ thấp nó xuống một cách rất

đáng kể Chỉ dùng riêng một chất hoạt tinh

bề mặt như khi sản xuất nhũ tướng thông thường thì không đủ, mà phải dùng thêm

một chất đồng tác dụng cũng là một chất hoạt tính bề mặt khác nữa Chất đồng tác dụng này phải là một chất hòa tan được một phần trong nước và trong dầu, như một số loại rượu cồn Sự đồng tác dụng của

cả hai chất hoạt tính bề mặt là rất cần thiết cho việc sản xuất ra được vi nhũ tương

Không phân tích chỉ tiết chức năng của

tùng chất đồng tác dụng, có thể kể sơ lược

như sau:

- hạ xuống tói mức thật thấp các lực căng

Ỏ các mặt tiếp xúc giữa hai pha

- thay đổi kết cấu của vi nhũ tướng bằng khả năng làm biến dạng mặt tiếp xúc (thể

lệ quy định bỏi BANCROFT năm 1993): nếu

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 16

Nhu tương nhựa Bitum

chất hoạt tính bề mặt dễ tan vào nước hón

thì sẽ được nhũ tương L/H, và ngược lại sẽ

được nhũ tương H/L nếu chất hoạt tính bề

mặt dễ tan vào dầu hơn;

- giảm độ cứng của màng tiếp xúc bằng

cách làm lỏng ra, để tạo điều kiện cho hai

pha có thể xâm nhập lẫn vào nhau

Pham vi Ung dung cua vi nhũ tương ngày

càng mỏ rộng thêm Ngoài việc dùng

trong thu hồi dầu mỏ, người ta còn dùng

để tăng thêm hiệu suất của một số phản

úng hóa học bằng cách tăng thêm yếu tố

tốc độ, để chế tạo những hạt chất rắn cực

nhỏ, để sản xuất những vi nhựa cây thay

thế được các loại sáp lỏng đắt hơn, thậm

chí để thay thế một phần máu người

Phân loại theo tỷ lệ giữa các pha

Dã chúng minh dược rằng dù sắp xếp theo

cách nào đi nửa cũng không thể xếp

chồng lên nhau các hình cầu có cùng đường kính sao cho chúng chiếm được qúa 74,02% thể tích tổng cộng chứa đựng chúng Dựa trên kết qủa tính toán này, một

số nhà nghiên cứu lý thuyết đã nghỉ rằng nếu vượt qúa độ đậm đặc này thì nhũ tương chỉ có thể là bị phân tách hay tốt hơn là đột

ngột bị đổi từ thuận thành nghịch (hiện

tướng chuyển thành nghịch) Nghỉ như thế

là chua tính đến ít nhất là hai yếu tố cơ bản:

- một mặt pha bị phân tán Ít khi là chỉ gồm

có duy nhất một kích cð hạt (cùng một

dường kính);

- mặt khác các hạt của chất lỏng bị phân

tán có thể không phải đều là những hình

cầu hoàn toàn tròn

Hậu quả là thể tích của pha liên tục có thể

được rút nhỏ đi rất nhiều và người ta đã từng thấy có những nhũ tương có tói 99% pha bị phân tán Như vậy nhiều khi có thể

Trang 17

Như tương nhựa Bitum

thấy trong công nghiệp những nhũ tương

mà một trong những thông số phân loại là

độ đậm đặc của pha có Ích Dây là trường

họp đặc biệt của các nhũ tuong nhựa

bitum

Những chất hoạt tính bề mặt

Muốn cho một nhũ tướng có một độ ổn định

tối thiểu theo thời gian, và đây là một điều

kiện để có thể sử dụng dược, rất cần thiết

là nó phải chứa một hoặc nhiều chất hoạt

tính bề mặt (tiếng Pháp có nhiều tên: sur-

factifs, surfactants hoặc agents ten-

sioactifs) Tiêu chuẩn.T 73-000 của Pháp

định nghĩa như sau:

"Chất hóa học có một hoạt tính bề mặt, khi

hòa tan trong một chất lỏng, đặc biệt là

nước, làm hạ lực căng bề mặt của chất lỏng

ấy hoặc lực căng ỏ mặt tiếp xúc của nó với

một chất lỏng khác, do ưu tiên hấp phụ vào

chất này hay chất kia ỏ bề mặt tiếp xúc

chất lỏng/hơi hoặc các bề mặt tiếp xúc

khác"

Những phân tử đáp úng với định nghĩa trên

có hai ái lực (amphipathie) trái ngược

nhau:

e một ái lực được tạo ra bỏi một nhóm có

cực tạo cho phân tử có những tính chất

háo nước (ái lực hút vào đối với nước);

ø® một ái lực được tạo ra bỏi một căn không

có cực tạo cho phân tủ những tính chất

háo dầu (ái lực dầy ra đối với nước)

VÌ có sự đối nghịch này cho nên người ta

gọi những chất này là những chất có hai

ái lực

Những tính chất đáng chú ý của những tác nhân bề mặt đã được xác định năm 1972

bỏi Ủy ban quốc tế các chất dẫn xuất có hoạt tính bé mat (CID) Do la:

@ kha nang tay sach

e khả năng tạo huyền phù

e kha nang hoa tan;

e@ kha nang phan tan;

e kha nang chống lắng;

® khả năng làm ust;

® khả năng gây bọt;

® khả năng tạo nhũ tương;

@ kha nang kết hợp các phân tử;

e khả năng kìm giữ;

Sự định nghỉa chính xác những tính chất trên này có thể tìm thấy trong bản tiêu

chuẩn T 73 000 của Pháp (4/1985)

Có một số tác nhân hoạt tính bề mặt có thêm những tính chất phụ đặc thù, như là

tác dụng diệt khuẩn

Có nhiều hợp chất, thiên nhiên cũng có,

nhưng chủ yếu là do các tổng hợp hóa học tạo ra, đáp úng dược những chỉ tiêu đã

được đề ra Chúng tôi gọi ra dưới đây theo

cách phân loại được áp dụng phổ cập Cách phân loại này dựa trên tính chất

hoặc những tính chất điện tích của những

hợp chất vừa nói ỏ trên Theo tính chất diện tích,

có thể xếp những hợp chất này vào bốn loại: Một số sơ dồ về các chất hoạt tính bề mặt

Le màn an ương tu EEG) + pre tn won nóc

Thu vién Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 18

1

20

Nhu tương nhựa Bitum

e các chất hoạt tính bề mặt mang điện tích

am (anionic);

e các chất hoạt tính bề mặt mang dién

tích dương (cationic);

e các chất hoạt tính bề mặt mang điện

tích cả hai dấu điện (ampholytes);

e các chất hoạt tính bề mặt không mang

dấu diện (non ioniques)

Dưới dây sẽ chọn để giới thiệu trong mỗi

loại một số nhóm đại diện có minh họa

bằng những ví dụ

Chất hoạt tính bề mặt anionic

Đây là nhũng chất hoạt tính bề mặt khi

dược hòa tan trong nước thì cung cấp

những ion hữu cø mang dấu điện âm và

những ion này là nguyên nhân của hoạt

tính bề mặt (tiêu chuẩn Pháp NF T 73 000)

Trong nhóm những chất loại này có:

Các muối của những axit béo

Day là những chất mà người ta đã gọi dưới

cái tên chung là xà phòng

- muối kiềm của các axit béo ( vÍ dụ các

loại xà phòng natri là gốc của các loại xà

phòng tắm rủa);

- muối kim loại của các axit béo (ví dụ xà

phòng canxi để chế tạo nhũ tương H/L);

- muối gốc hữu cơ của các axit béo (ví dụ

triêtanôlamin stearat để chế tạo các loại

kem)

Các muối sulfat của những axit béo

Dây là những chất hoạt tính bề mặt đã biết

::Các chất hoạt tính bề mặt anionic

từ lâu và được dùng rộng rãi để làm gốc chế tạo các loại nước gội đầu (shampo- ing), nuéc tắm sủi bọt, các chất sáp tự

động nhũ hóa, các chất tầy rủa

Các chất dẫn xuất sulfôn

Trong số nhiều chất khác nhau thuộc

nhóm này, có thể kể các chất sulfônat của dầu hỏa, các chất lignosulfônat (loại như

nước thửa bã giấy ND), các chất

alkylarylsulfônat (lần đầu tiên dược tổng

hợp vào năm 1916) v.v

Các chất hữu cơ có phôspho

Công thức của các chất này hiện nay có nhiều úng dụng trong công nghiệp Các loại alkyl phôsphat là những chất được

dùng nhiều nhất làm chất nhũ hóa, đặc biệt là để chế tạo vi nhũ tương

Trang 19

Nhu tương nhựa Bitum

Chất hoạt tính bề mặt cationic

Đây là những chất hoạt tính bề mặt "tự ion

hóa khi pha trong nước dể cung cấp

những ion hữu cơ mang điện tích dưong

và chịu trách nhiệm về hoạt tính bề

mặt" (tiêu chuẩn Pháp NT 73 000) Tuy

rằng đã được sáng chế ra tử lâu, vì phân

tử dầu tiên hexadexylamin clohydrat

CH3-(CH2)1sNH*3Cl da được KRAFFT diều

chế tử năm 1896, nhưng các chất hoạt tính

bề mặt này chỉ mói được phát triển mạnh

từ sau chiến tranh thế giới lần thú hai

Nguyên thủy thì người ta chỉ mới dùng :

những tính chất ồn định vi khuẩn của nó,

Ngày nay các chất hoạt tính bề mặt

cationic đã phát triển rất mạnh, trong

nhiều lĩnh vực như là chống ăn mòn, tác

nhân tuyển quặng, dùng làm chất nhũ hóa

nhưng nhất là chất làm mềm vải dệt, trong

công việc nội trợ LĨnh vực sử dụng của

chúng dặc biệt là trên những cø cấu mang

điện tích âm Ngoài một gốc hydrôcacbon,

phần lón các phân tử này chúa một

Chất hoạt tính bề mặt cationic

Các muối alkylarnin

Các chất hoạt tính bề mặt này được dùng

nhiều nhất để làm mềm sói vải

Các muối amôni bậc 4 alkyl

Các phân tử loại này có khả năng diệt

khuẩn rất cao, vì vậy mà một số được dùng

nguyên tử chất đạm nitd mang diện tích

dương có thể là những chất hữu cơ hoặc

là mạch hỏ hoặc là nhiều chu kỳ phúc tạp

Sự khác biệt này thường dùng để làm một chỉ tiêu phân loại

cationic, các chất này ỏ giới hạn của các

chất không mang dấu diện, vì vậy có thể

giống với một số chất hoạt tính bề mặt

anionic Nhờ có tính chất này mà người ta

dùng làm một số mỹ phẩm, dặc biệt là một

số mỹ phẩm có pH toan

Các chất dẫn xuất của hóa dầu

Người ta phân loại các chất dẫn xuất của hóa dầu ngược lại vói bốn nhóm trên này

© day cũng vẫn là những chat amin va

muối amôni bậc 4

Các chất dẫn xuất không có dạm Đây là những phân tử có hoặc là một

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

21

Trang 20

NỈ

Nhu tương nhựa Bitum

nguyên tử lưu huỳnh, hoặc là một nguyên

tỦ phôspho mang dấu điện dương

Các chất hoạt tính bề mặt mang cả hai

dấu diện

Các chất hoạt tính bề mặt này cũng tướng

tu nhu các chất ôxyt gọi là amphotères có

hiệu ứng kiềm nhưng cũng có cả hiệu ứng

toan Dây là những chất hoạt tính bề mặt có

hai hoặc nhiều nhóm chức năng và tùy theo

những điều kiện của dung môi có thể ion

hóa trong dung dịch nước và trao cho hợp

chất hoặc tính chất anionic hoặc tính chất

canionic (tiêu chuẩn Pháp NF T 73-000)

Các chất này biểu hiện tính chất ion của

mình tùy theo độ pH: là anionic khi ỏ trên

diểm cân bằng diện và cationic khi ở dưới

Ngoài những chất được tổng hợp bằng

phương pháp hóa học, trong nhóm này

còn có những axit amin thấy trong các protein thực vật (như chất Iesitin của đậu

tương) hoặc dộng vật (như chất casein

Trang 21

Các chất dẫn xuất từ các axit amin

Các chất hoạt tính bề mặt này được dùng

để gây bọt và diệt khuẩn

Các chất hoạt tính bề mặt không mang

dấu điện

Khác với tất cả các chất mà chúng ta vừa

điểm qua và chúng đều có thể ion hóa

(biến thành các hạt cực nhỏ mang dấu

điện dương hoặc âm), bây giò ta xem xét

tới những chất hoạt tính bề mặt "không

mang dấu diện khi được pha vào nước"

Tính chất có thể tan vào nước của những

chất này sỏ dĩ có được là vì trong thành

phần của chúng có những nhóm hoạt tính

tất hảo nước (tiêu chuẩn Pháp NF T 73000)

Những chất này rất đáng đề ý đến vì không

kể öỏ độ pH nào, chúng đều có thể tương

hợp với các chất hoạt tính bề mặt có mang

dấu điện Có thể phân loại chúng theo kiểu

liên hệ giữa các nhóm háo dầu và háo nước

€ó thể kể những kiểu liên hệ sau:

Liên hệ kiểu este (este là chất thu được khi

Các hoạt tính bề mặt không mang dấu điện

cho một axit hữu cơ có đuôi COOH tac

dụng lên rượu cồn ND)

Trong nhom nay co cac este glycol, este

glyserol, este polyglyserol,este

polyetylenglycol, este dường kinh, este

đường sorbitol, và este của các axit béo

Các chất hoạt tính bê mặt không mang

dấu điện này chủ yếu được dùng trong

dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm

Liên hệ kiểu ête (ête là chất lỏng rất dễ bay

hơi dùng làm thuốc mê)

Dây là nhóm những hóa chất huu co

thường được dùng để chế tạo nhũ tưởng

dùng trong công nghiệp sơn và trong

công nghiệp nông phẩm, Liên hệ kiều amit (amit là chất thu được khi tách các gốc OH khỏi các muối hữu có

nhựa đa phân tử alkylen ôxyt , mercaptan

và polyoxyetylen

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

23

Trang 22

Nhu tương nhựa Bitum

Lịch sử

Khi người ta muốn viết lịch sử một sản

phẩm công nghiệp hoặc một phương

pháp công nghệ, hường rất khó xác định

được thời điểm ch.nh xác của ngày phát

minh sang chế, và cùng với thế là xác định

được tên nhà phát minh Dối với nhũ tương

nhựa bitum thì cũng như vậy Nếu hiện nay

không còn nghỉ ngờ gì nữa rằng chất dính

kết hữu cơ đầu tiên người ta đã dùng để rải

mặt đường ôtô là nhựa goudron (nhựa lấy

được tử chưng cất than đá) và năm 1854 là

năm rải lần đầu tiên nhựa goudron trên

một mặt đường ởỏ quảng trường Salinis ỏ

thị trấn Auch (thuộc tỉnh Gers nước Pháp),

thì lại không có ai nhó rõ thời điểm rải lóp

nhũ tương thuận nhựa bitum lần đầu tiên

là vào năm nào Hình như những thử

nghiệm đầu tiên phân tán những phần

nặng của dầu mỏ (còn gọi là dầu naphte)

vào trong nước đã bắt đầu tử những năm

đầu của thế ky XX Người ta đã kể rằng năm

1903, 6 thi trấn Beaulieu vung biển (thuộc

tinh Alpes Maritimes nudc Pháp) da rải

những "dâu nặng của dầu mỏ được nhũ hóa và xà phòng hóa bằng nước amôniac', năm 1904, đã rải "nhũ tướng dầu mỏ' trên

một tuyến đường 6 vung Ardennes dé

chống các tai nạn giao thông do những đám mây bụi mà các xe đua làm bốc lên

tử mặt đường

Ngược lại, không còn ai nghỉ ngờ rằng từ tháng 3 năm 1902, dưới sự cổ vũ của một thay thuốc người Thuy Si, bac si Ernest

GUGLIELMINETTI, sau những thử nghiệm

thực hiện ở Monaco, việc rải mặt đường

bằng nhựa than bắt đầu phát triển rộng

rãi đến múc là năm 1904 ỏ Pháp đã có tói

360 000m2 mặt đường nhựa than Sau

nhiều thủ nghiệm, hội thảo và hoạt động khoa học khác, đến tháng 10 năm 1908 Hội nghị Quốc tế về đường ôtô đã họp ỏ Paris với đại biểu của 37 nước, dưới sự động viên

cổ vũ của nhà bác học lỗi lạc này Năm tháng trôi qua, người ta đã xác định được

ngày càng thêm chính xác những điều kiện của một kỹ thuật đường ôtô thực sự

với chủ yếu nhựa goudron làm gốc

Trang 23

Nhu tương nhựa Bitum

1952 1957 1962 1967

Với một môi trường thuận lợi về tư duy và

kiến thức, ngày 9/5/1922 một nhà hóa học

người Anh Hugh Alan MACKAY đã được

cấp bằng sáng chế số 202 021 về nhũ

tưởng nhựa bitum Có thể nói được rằng sự

kiện này đã điểm bước khỏi đầu của một

thé hệ mói chất kết dính dùng cho mặt

đường ôtô, và chỈtrong có vài năm kỹ thuật

tải nhựa láng mặt đã được thay đổi một

cách sâu sắc Ngay tử năm 1923 riêng 6

nước Pháp chính quốc dã rải 100 tấn nhũ

tương nhựa bitum Năm sau đã dùng hết

2500 tấn và năm 1925 dùng hết 6000 tấn

Ö nước ngoài, người ta cũng không chịu

thua kém: đến cuối năm 1926 ỏ năm nước

có nhà máy sản xuất là Anh, Đức, Đan

Mach, Úc và Thụy SĨ, thêm ca An D6 nda,

tổng cộng dồn lại đã sản xuất dược tói 150

000 tấn

Quay trỏ lai với nưóc Pháp, năm 1935 đã

sản xuất 200 000 tấn và trước đại chiến thế

giỏi là 300 000 tấn Trong thỏi kỳ chiến

1972 1977 1982 1987

tranh, sản xuất chững lại nhưng rồi lại vụt

lên một cách ngoạn mục trong những năm

hòa bình lập lại: năm 1946 là 275 000 tấn, năm 1950 là 325 000 tấn, năm #960 gần

600000 tấn và năm 1970 trên 1200 000 tấn

Nhìn về một mặt khác, có thể nói rằng hiện

nay 30% nhựa bitum rải mặt đường 6 Phap

là được dùng dưới dạng nhũ tướng Đây là một hiện tượng bất thường vì tâm vóc khối

lượng của nó

Về bình diện kỹ thuật thì năm 1951 bắt đầu

có nhũ tương cationic (nhủ tương pH

toan) VÌ những tính chất riêng ưu việt của

nó, nhũ tương cationic nhanh chóng thay

chỗ nhũ tương anionic (nhũ tương pH kiềm): năm 1962 chỉ sau 10 năm thử nghiệm đầu tiên, nhũ tương cationic đã chiếm 50%

va dén nam 1971 thi đã vượt qúa 92% Diểm cuối cùng đáng ghỉ nhỏ về lich sử là sự xuất

hiện từ thập kỹ 70 nhũ tương nhựa bitum

có độ đậm đặc cao Dầu tiên quy định là

70% nhựa bitum, rồi tử năm 1978 chính

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 24

26

Như tương nhựa Bitum

thúc quy định là 69% (chỉ dẫn của SETRA

- LCPC về 'Thi công lóp nhựa rải láng

mặt') Nhũ tướng có độ đậm đặc cao chiếm

hết chỗ của các loại nhũ tương kém đậm

đặc 65 đến 60% nhựa bitum Không đi vào

chỉ tiết kỹ thuật trong mục "Sơ lược về lịch

su’ nay, chúng ta cũng nêu thêm những

ung dung da dạng khác như dùng phối hợp

trong gia cố đất vói các chất kết dính thủy

lực, chống trôi cho các hạt mói gieo, phun

làm kín nước các bể chúa nước, bao phủ

kín các loại bùn phóng xạ v.v

Các chất liệu thành phần cấu tạo

của nhũ tương nhụa bitum

Ỏ nước Pháp nhũ tương nhựa bitum được

định nghỉa bỏi tiêu chuẩn T 65-000 như

Sau: 'Nhũ tương nhựa bitum là một hệ phân

tán nhựa bitum vào trong nước và sự hình

thành nhũ tương cần tới một năng lượng

cơ học xé nhỏ nhựa bitum và một chất

tioạt tính bề mặt hay cũng gọi là chất nhũ

hóa' Ngoài ra cũng vẫn tiêu chuẩn nay

quy định rằng "Chat kết dính dùng để sản

xuất ra nhũ tướng nhựa bitum dùng trong

xây dựng và duy tu bảo dưỡng dường ôtô

là nhựa bitum nguyên chất có thể được

làm lỏng hoặc pha loãng"

Ngoài ra còn tiêu chuẩn T 65-011 quy định

những đặc tính của nhũ tướng nhựa bitum

trên cơ sở của ba chỉ tiêu sau:

e tính chất của các ion (dấu điện của các

Dé cho don giản, chương này được chia

làm hai phần: công thúc hóa học của pha

nước và những thành phần có thể có của

pha nhựa bitum

Pha nước là pha liên tục

Trong phần 'Những chất hoạt tính bề mặt"

ta đã thấy sự da chủng loại của các chất

hoạt tính bề mặt được dùng trong chế tạo

các loại nhũ tướng Nhưng những tính chất

riêng của nhủ tướng nhựa bitum và những

đòi hỏi riêng về kỹ thuật và kinh tế mà nó

phải thỏa mãn làm cho các nhà kỹ thuật

chỉ giói hạn trong việc dùng một số chất hóa học mà chúng tôi sẽ nêu ỏ một số ví

dụ sau

Nhũ tương anionic

Người ta hay dùng những muối kiềm của

các loại axit béo và axit nhựa cây thu được

trong khi xà phòng hóa loại nhựa lỏng

“Tall-Oil' Dây là những chất thải của công

nghệ chưng cất trong công nghiệp bột giấy khi dùng nguyên liệu là những loại gỗ

có nhựa và xử lý bằng phương pháp 'dùng

sulfat' Công thúc chung của các loại xà phòng này là:

R-COONa hoặc R-COOK

R là chuỗi dặc trung của axít béo và nó là

phần không mang cực và có tính chất háo dầu Nhóm COONa là phần mang cực và háo nuóc Khi hòa tan vào pha nước là pha liên tục, các phân tử xả phòng trỏ nên có

dấu điện: các ion Na hoặc K là những ion

âm thì bị hấp phụ vào nước và phần còn lại của phân tử là các ion R-COO mang dấu

dương thì bị hấp phụ vào các hat nho ii ti

nhựa bitum

Khi mà trên thị trưởng chỉ mới có loại nhũ

tướng anionic (kiềm) thì những loại xả phòng trên được dùng nhiều Nếu được xác định liều lượng chính xác, chúng có thể cho phép chế tạo được những loại nhũ tưởng phân tách nhanh (xếp loại là EAR

Ví dụ một công thức để chế tạo được nha tướng EAR 55 (55% nhựa bitum) có thể là:

Trang 25

Như tương nhựa Bitum

Nhũ tuơng anionic

dể chế tạo AEL 65 (nhủ tuong anionic

chậm có 65% nhụa) là loại nhũ tương dé

chế tạo đá trộn nhựa nguội với đá nghiền

Các loại nhũ tướng siêu ổn định (xếp loại

là EAS) phải thỏa mãn được thử nghiệm

FT66-024 là "thủ nghiệm độ ổn dịnh dối với

ximăng" (xem chương 2) Muốn đạt được

yêu cầu này phải chế tạo nhũ tưởng

anionic (kiềm) với những chất hoạt tính bề

mặt đặc biệt

Một trong những chất này là chất casein

(mõ sửa) Chất này là một tập hợp những

axit amin tách tử sửa ra bằng phương

pháp lên men hoặc bằng phương pháp

cho axit tác dụng vào Dây thực tế là một chất hoạt tính bề mặt mang cả hai dấu

điện mà ngưỏi ta cho phản ứng các phần

chức năng axit với một chất kiềm mạnh,

rộng thêm mục này

Nhũ tương cationic

Các loại xà phòng cationic được cấu tạo bằng các phân tử có cực với công thức chung như sau: RNH azCI'

Trong đó R' là chuỗi đặc trung hyđrôcacbon của chất hoạt tính bề mặt

Đây là phần kị nước và háo dầu của phân

tủ Nhóm NHaCI là phần háo nước Khi hòa

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 26

Nhu tuong nhya Bitum

tan trong pha nước các phân tử xà phòng

mang dấu diện và gồm các ion dương

R'NH3 va 4m Cl

Trong qua trinh chế tạo nhũ tương, các ion

dương bị hấp phụ vào các hạt nhỏ li ti nhựa

bitum gốc R là phần háo dầu chui vào bên

trong còn nhóm NHỶa quay ra mặt tiếp xúc

nhựa bitum/nưóc Cac ion Cl van 6 trong

nước

VÌ nhóm NHỶa tạo thành một vành đai bao

bọc lấy hạt nhựa cho nên các hạt nhựa

mang dấu điện dương Hiện tượng này bảo

đảm sự ổn định của nhũ tưởng nhờ lực đẩy

tỉnh điện và một sự dính bám tốt với các

mặt khoáng vật mang dấu điện âm

Nhũ tương cationic có rất nhiều úng dụng

và đòi hỏi những kỹ thuật rất đa dạng Vì

vậy cho nên có rất nhiều công thức úng

dụng không nên tốn công mà liệt kê ra ỏ

đây Chúng tôi chỉ giới thiệu một số ví dụ

điển hình dap Ung những nhu cầu chính

xác, chọn trong những thể loại mang

những tính chất đại diện nhất cho các quy

định có liên quan tới chúng

Nhũ tuơng cationic

Lĩnh vực sử dụng nhiều nhất chắc chắn là các loại nhũ tương phân tách nhanh (xếp

loại ECR = nhủ tương cationic nhanh)

Trong các loại này đặc biệt có các nhũ tưống nhựa bitum nguyên chất và nhũ tương nhựa bitum pha các chất nhựa đa phân tử (bitumes polymères) mọi loại đều

dành cho kỹ thuật rải nhựa láng mặt Các

chất hoạt tính bề mặt hay dùng nhất là các

alkylamin, alkylamiđoamin các chu kỳ

đạm không đồng nhất kiểu imidazolin, hoặc dúng riêng hoặc hỗn hợp Các phân

tử này phải ö dạng muối Tuy rằng có thể dùng vào mục díÍch này nhiều loại axit hữu co: axétic, formic, lactic nhung ngudi ta thường dùng trong thực tế axit clohydric

vì dùng ít phúc tạp

Vi dụ công thúc nhũ tương phân tách

nhanh 65% nhựa bitum ECR 60

® mö alkyl trimetilen điamin: 1,5 - 2,2 kg

15 - 2,0 kg

® axit clohydric 32%:

dùng cho láng nhựa hai lóp

Trang 27

Nhu tương nhựa Bitum

VÍ dụ nhũ tương phân tách nhanh 69%

nhựa bitum ECR 69

e hỗn hop alkyl amido va alkylamiđazo

amine: 2,0 - 2,5 kg

®axit clohydric 32%: 2,2 - 2,5 kg

dùng cho láng nhụa một lóp kết cấu ngược

VÍ dụ công thúc nhũ tương phân tách

nhanh 60%nhựa bitum ECR 60 dùng trong

sửa chữa cục bộ theo kiểu "point àtemps':

18 - 2,2 kg

17 -2,0 kg

Các loại nhũ tương nhựa bitum dùng cho

rải thấm nhập hoặc rải đá trộn nhựa

(không có các loại hạt nhỏ) là những nhũ

tướng có tốc độ phân tách trung bình (xếp

loại ECM = nhũ tương cationic trung bình)

Dưới đây là hai công thức tiêu biểu:

Đây là công thức nhũ tương loại ECM 65

(65% nhựa bitum) để rải thâm nhập

@ hén hdp mé alkyl trimétylen diamin va

alkylamidoamin: 3-4kg

@ axit clohydric 32%: 15 - 2,0 kg

Đây là công thức nhũ tương loại ECM 69

(69% nhụa bitum) dùng để chế tạo đá trộn

nhựa nguội có thể lưu trữ được, đá gốc silic

kích cõ d/D

Các loại nhũ tướng phân tách chậm (xếp

loại ECL) thường dùng để trộn, hoặc trong

trạm trộn hoặc ở ngay trên mặt đường, với

những thiết bị thích hợp Chúng được dùng

để chế tạo cấp phối đá trộn nhũ tương nhựa

bitum và đá trộn nhũ tương dùng ngay,

kích cd đá O/D

Ví dụ công thức của một loại nhũ tướng như

vậy loại ECL S0 (60% nhựa bitum):

@ hén hdp md alkyl trimétylen diamin va

năng chế tạo những loại nhũ tương

cationic siêu ổn định (xếp loại ECS)

Những loại nhũ tương này là để dùng trong những phương pháp kỹ thuật trộn hỗn hợp

Một trong những lĩnh vực điển hình là vữa nhựa hạt thô rải nguội

VÍ dụ một công thức nhũ tương loại ECS 60

(60% nhụa bitum) dùng cho vữa nhựa bitum:

e@stêaryl pentamôtyl điamôni

clorua: 6- 7,5 kg

® canxi clorua: 10 kq Pha nhua là pha bị phân tán nhỏ

Ö trên đã nói, tiêu chuẩn Pháp T 65-000 cho phép người chế tạo nhũ tướng được dùng nhựa bitum nguyên chất, hoặc là

nhựa bitum lỏng hoặc là nhựa bitum pha

loãng, thậm chí nhựa bitum còn có thể

được trộn vói một hoặc nhiều chất khác

"thưởng là phân tử lón có tác dụng làm thay đổi một số nào đó những tính chất của nhụa bitum dùng làm nguyên liệu gốc'

Những chất phụ gia này có mục dích là làm cho nhũ tương nhựa bitum thích ứng được

với những yêu cầu của kỹ thuật thi công,

của cường độ vận chuyển và của khí hậu thời tiết Có lẽ là sẽ chóng thấy ngán nếu

bị buộc phải nghiên cúu chỉ tiết cho từng

ca cụ thể, vì vậy cho nên ỏ đây sẽ chỉ nêu lên những khái niệm chung để giúp cho người chế tạo nhũ tương có thể lựa chọn được cách làm tốt nhất

Cần phải dành vị trÍ riêng cho các loại nhũ tưởng dùng để chế tạo đá trộn nhũ tướng

có thể lưu trữ được Thời gian lưu trử có thể

kéo dài nhiều tuần lễ trước khi được đem

ra thi công Khả năng có thể lưu trữ được

là kết quả của việc chọn lựa một cách có suy nghỉ hợp lý một phương pháp trộn nhựa bitum với một chất hòa tan, có thể là dầu hỏa, có thể là một thú dầu dể pha

loãng mua ö các xí nghiệp chưng cất nhựa

goudron tử than đá Tỷ lệ pha trộn sẽ được

tính tùy theo tốc độ bay hơi của những phần dầu dễ bay hơi Có thể cân nhắc về hai chỉ tiêu sau:

® gidi hạn tối đa về độ nhót của nhựa còn lại sau khi đã bay hết các loại dầu dễ bay hci, qua giói hạn đó thì việc xúc đổ và thi

ông đá trộn nhũ tương trỏ nên khó khăn

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 28

30

Nhu tương nhựa Bitum

0,6 đến 0,8 m2/s (tức là tử 1500 đến 2 500

giây STV, lỗ vòi chảy 10 mm)

® giói hạn tối thiểu về độ nhót của nhựa

còn lại sau khi đã bay hết các loại dầu dễ

bay hơi, dưới giói hạn đó thì có thể đá trộn

nhựa nguội khó gắn bám, nhất là khi phải

thi công nhưng xe vẫn chạy với tốc độ cao:

0,02 đến 0,04 m2/s (tức là tử 50 đến 100

giây STV, lỗ vòi chảy 10 mm)

Như vậy phải tính toán ở trong hai gidi han

đó, tất nhiên là với nhiệt độ ngoài trời khi

thi công

Trường hợp nhũ tướng dùng để rải lóp nhựa

láng mặt cũng cần dược đặc biệt chú ý:

Những tính chất của nhũ tương, mà người

ta mong muốn phải có, đòi hỏi ö nhựa

bitum dùng làm nguyên liệu gốc những

chất lượng đặc thù về dính bám và liên kết

Thật vậy đá rải trên lớp nhựa láng mặt phải

chịu những lực nhổ lên rất lón Muốn làm

cho một viên đá chống lại được với một

trong những lực này (gọi là lực dính bám

tổng hợp), cần phải cùng một lúc:

Dính bám

đá/nhựa - không tốt

e viên đá không bị tách ra khỏi nhựa và

tất nhiên là nhựa phải không được bong

những là nhựa phải đủ "lỏng", mà trong

thực tế không phải bao giờ cũng đạt được như vay (trử khi có sự cố về độ nhót của nhũ tương có nguyên nhân bất thường như

là trong nhựa bitum có muối), nó còn phải

có khả năng "làm ưót", điều này đối với nlũ tương cationic Ít rõ ràng hơn là đối vói nhũ

tương anionic Diều kiện thứ nhất này gọi

là dính bám chủ động

- sau nửa, nếu diều kiện thú nhất vừa nêu

đã dược thực hiện, thì còn phải có yêu cầu

Trang 29

Nhu tương nhựa Bitum

thêm là các yếu tố đã dược dán chặt vào

với nhau - đặc biệt là đá và nhựa - không

được dời ra khi có tác dụng của một tác

nhân gây rối, ví dụ như là nước Tác động

làm rồi nhau ra đặc biệt sảy ra khi có mặt

những hạt mịn như là bột đá dưới cường độ

vận chuyển Diều kiện thứ hai này gọi là

dính bám thụ động

Tính liên kết

hoặc là liên kết nội tại của nhựa: là khả

năng của nhựa chống lại được sự xé rách

Tính liên kết phụ thuộc vào nhiều nhân tố

mà nhân tố chính là độ nhót Tính liên kết

có một mức tối ưu tương ứng với một

khoảng nhất định của độ nhót, mà độ nhót

thì lại có liên quan đến nhiệt độ VÍ dụ: dưới

một nhiệt độ nào đó nhựa trỏ nên qúa cứng,

"dễ võ" dưới một tác động cơ học, ngược

lại nếu nhiệt độ vượt qúa một giá trị nào đó,

nhựa sẽ trỏ nên lỏng và sẽ qúa "mềm" để

có thể chống chịu được lực kéo

Thế còn dối vói nhựa trong các nhũ tương

cationic dùng để rải mặt đường thì sao?

Những nhũ tương này, ngược lại với nhũ

tương anionic "làm ướt"kém hơn, vì ái lực

đối với nước của các chất hoạt tính bề mặt

cationic khéng bang Để bù lại, thì các chất hoạt tính bề raặt cationic làm cho nhựa bitum có tính chất dính bám thụ động cao hơn rõ ràng Về mặt lý thuyết thì lời giải đón giản: muốn làm ưót được tốt hơn, chỉ cần làm cho bitum nguyên liệu chế tạo

nhũ tương thêm lỏng, nhưng có thể ảnh

hưởng là tính liên kết có thể vì thế mà bị

kém di, nếu tính đến nhiệt độ không khí ỏ địa phương, ta đã vì làm cho lỏng thêm mà

đã làm cho nhựa quá mềm! Ỏ đây thấy một

nghịch lý mà các nhà chuyên gia cần phải

tìm cách vượt qua

Nhu vay thi phải cho thêm vào nhựa bitum

nguyên liệu sản xuất nhũ tương một chất hòa tan hoặc một chất nhựa da phan tử (polymère), thậm chí cả hai thú, để có thể đáp ứng được mọi đặc trưng "dính bảm tổng hợp"

Tóm lại, có thể nói rằng trong trường hợp

nhũ tương cationic dung để rải nhựa láng

mặt, việc làm chủ công thức chế tạo đòi

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 30

Nhu tuong nhwa Bitum

Ảnh hưởng của nhiệt độ thời tiết hỏi không những một sự lựa chọn tốt nhất

chất hoặc những chất hoạt tính bề mặt sẽ

đảm bảo được về mặt hóa học sự bền lâu

của tính dính bám với mặt đường và với các

hạt đá, mà còn cả sự châm chước có suy

tính cẩn thận về thành phần của nhựa

bitum nguyên liệu Dây thực sự là một sự

châm chước, để vửa có thể đạt được ngay

sau khi phân tách một nhựa bitum đủ lỏng

để cho màng nhựa có thể bao kín mặt đá,

nhưng sau dó Ít lâu nhựa bitum lại phải đủ

cúng để chống không bị co lại và có thể

chịu đựng được những tác động về động

lực học của cường độ vận chuyển Tất cả

những hành vi này lại phải nhất thiết gắn

chặt với những biến động về khÍ hậu và thời

tiết Ö địa phương, đặc biệt là về nhiệt độ

Việc còn lại là phải đề cập đến chất lượng

của nhựa bitum dùng làm nguyên liệu chế

tạo các hỗn hợp theo các phương pháp kỹ

thuật trộn: đá nhỏ trộn nhũ tương, vữa

nhựa, cấp phối đá trộn nhũ tương nhựa bitum v.v Trong những trường hợp này, nhựa bitum không được “lam mém di" bằng bất cú một chất hòa tan nào, đề

không làm giảm các đặc trung của nhựa

Tuy nhiên, khi có những bài toán riêng biệt

phải giải, cũng có thể nghỉ đến việc trộn thêm nhựa đa phân tử (polymère) vào nhựa bitum, hoặc dưới dạng mủ caosu, hoặc trộn thẳng nhựa đa phân tử vào nhựa bitum dùng làm nguyên liệu sản xuất nhũ

tưng

Tính chất của nhũ tương nhựa

bitum

Có thể xếp thành hai nhóm tính chất:

Các tính chất của bản thân nhũ tương

Dây là những tính chất riêng của nhũtương

và những tính chất này không phụ thuộc vào những vật liệu đá dùng chung với nhũ

Trang 31

Nhu tuong nhya Bitum

Tương quan giữa độ nhớt và hàm lượng nhụa bitum

Yếu tố trội của độ nhót là độ đậm đặc của

pha bị phân tán Một số tác giả đã đưa ra

những phương trình để biểu thị tướng quan

giuã độ nhót và độ đậm đặc của pha bị

phân tán Có thể tìm thấy một số những

66 68 70 % Whựo bilum

phương trình này trong bài báo của tác giả

G.RAMORD viết về 'Nhũ tướng nhựa bitum' đăng trong tập san của các Phòng thí nghiệm cầu đường số đặc biệt W tháng 6 năm 1974

Nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến độ nhót Đặc biệt phải kể:

- tính chất của pha bị phân tán: lai nguyên

của nhựa bitum, loại bitum (độ kim lún), có

hay không có chất pha lỏng (dầu hỏa, dầu

Trang 32

Độ ổn dịnh khi luu tra

Nhũ tương nhựa bitum cũng phải tuân theo

những quy luật chung cho mọi loại nhũ

tương Bản chất của nhũ tương là những hệ

phân tán chất lỏng, không ổn định về nhiệt

động lực học Sự không ổn định này bắt

nguồn từ xu hướng của hệ thống, theo với

thời gian, giảm bót năng lượng bề mặt tự

do, biểu hiện trong thực tế bằng sự giảm

dần bề mặt tiếp giáp giữa nhựa bitum và

chất xà phòng dùng làm chất nhũ hóa Giai đoạn cuối cùng của sự diễn biến này là sự phân chia các chất thành phần thành hai pha riêng biệt không hòa lẫn được vào nhạu

- Dấu hiệu đầu tiên nhìn thấy là hiện tướng

lắng xuống: pha bị phân tán hoặc là tập

hợp lại 6 phía dưới, hoặc là nổi lên thành

kem Yếu tố quyết dinh của hiện tướng này

là sự chênh lệch tỷ trọng ca hai pha và

tốc độ chìm lắng tuân theo định luật

Trang 33

Nhu tương nhựa Bitum

được vì mỗi tiểu cầu vẫn còn giữ được

màng bảo hộ của chất hoạt tính bề mặt

- Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn các tiểu

cầu hộn lại vói nhau vì sự phá võ các màng

bảo vệ của chất hoạt tính bề mặt Dến tình

trạng này thì không còn có thể đảo ngược

lại được tình thế nữa Diễn biến này giống

như diễn biến lắng keo trong các dung

dịch keo

Một yếu tố quyết định độ ổn định khi lưu trữ

là thành phần hạt của nhũ tương, và thành

phần hạt này bản thân nó lại phụ thuộc vào

nhiều thông số: tính chất và số lượng chất

nhũ hóa, độ pH của pha "nước", lại nguyên

và loại nhựa bitum, nhiệt độ của mỗi pha,

đặc biệt là nhiệt độ của nhựa bitum khi chế

tạo nhũ tương, kiểu loại thiết bị sản xuất

nhủ tương

Tốc độ phân tách và hiệu thế zêta

Tính ồn định của nhũ tương nhựa bitum đối

với đá là một tính chất cơ bản đã có nhiều

công trình được công bố: Y.BELLANGER

Vào năm 1953, J.C.VOGT vào năm 1964,

MBOURREL và C.CHAMBU vào năm 1984,

và đã dược giải thích bằng nhiều lý thuyết

khoa học Những lý thuyết này đã giải thích

được hợp lý các cơ chế của hiện tượng

phan tach Da có nhiều phương pháp được

thành tựu với tham vọng định lượng được

thông số này Tác giả U.SACSSON da lap

một bảng liệt kê các phương pháp trong

phòng thí nghiệm và đã thống kê được 38

cách thao tác khác nhau! Mà chắc chắn là

có một số phương pháp đã chưa dược thống kê vào thư mục này Như thế để nói lên tính phức tạp của hiện tướng phần tách

của nhũ tương, và không còn nghỉ ngờ gì

nữa, đây sẽ còn là đề tài của nhiều nghiên cúu nữa Không đi sâu vào chỉ tiết, dưới đây cần phải nhắc lại những khái niệm có bản

Hiện tượng phân tách (tiếng Anh là break- ing)

Đây là trình tự xảy ra nối tiếp nhau các giai

đoạn sau:

- lắng biểu thị bằng sự chìm lắng (tiếng

Anh là sedimentation) hoặc sự nổi lên

thành kem (creaming);

- kết tủa (tiếng Anh là floculation) biểu thị

sự xÍch lại gần nhau của các tiểu cầu nhựa

là pha bị phân tán, thành một hệ thống hỏ

hoặc một hệ thống lỏng lẻo;

- đông đặc (tiếng Anh là coagulation) cũng có một hình thức biểu thị như trên nhưng đậm hơn Khác với giai đoạn kết tủa, nay hình thành một sự hộn lại và có một

khối đông đặc tách hẳn ra

Ninh kết (tiếng Anh là setting)

Dây là hiện tướng xảy ra khi nhũ tương tiếp

xúc vói mặt đá Quá trình này bắt đầu bằng

hiện tướng nhũ tương bị phân tách và nưóc

chảy đi

Màng nhựa trở nên có hiệu lực (tiếng Anh

là curing)

Dây là sự tiếp nối và sự kết thúc của hiện

Hiện tượng phân tách của nhũ tương

Thư viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 34

Nhu tuong nhya Bitum

Trang 35

C >

Nhu tuong nhya Bitum

tượng ninh kết trên này, Màng nhựa trỏ nên

có hiệu lục khi nhựa đã tách ra khỏi nước

và chỉ còn lại một bộ phận dễ bay hơi của

loại dầu trước đã dùng để pha lỏng nhựa

bitum dùng làm nguyên liệu sản xuất nhũ

tướng Bộ phận dễ bay hơi mất dần đi cùng

với nước Giai đoạn kết thúc là khi màng

nhựa chỉ còn thuần nhựa không còn chất

dễ bốc hơi nửa Khái niệm về giai đoạn cuối

cùng màng nhựa trỏ nên có hiệu lục

thường là nói về khi dùng nhựa lỏng (cut

back) lam nguyên liệu sản xuất nhũ tương

Phần lón của những phương pháp đã được

thành tựu để dịnh lượng hiện tượng phân

tách phải dùng một chất chỉ thị, có thể là

một hóa chất nhưxcanxi clorua , hoặc là

một chất khoáng có những đặc trưng được

quy định rõ rằng, ví dụ như ximăng hoặc

các hạt mịn silic Nhưng cũng phải thừa

nhận rằng các phương pháp định lượng

này chưa có phương pháp nào cho được

kết qua hoàn toàn mỹ mãn, Đặc biệt là các

-_ phương pháp này không cho phép, chỉ

bằng một thử nghiệm thôi, đã có thể xếp

hạng tất cả các loại nhũ tương được chế tạo

theo những tiêu chuẩn của Pháp T 65-001

Ngược lại, có một lý thuyết cho phép đo

được một thông số có tưng quan vói việc

định luỡng đồ ổn định của nhũ tương đối với

một loại bề mặt tiếp xúc: Dây là hiệu thế

zêta Lý thuyết của sự thành tạo nên nhũ

tưởng dòi hỏi rằng các tiểu cầu nhựa bitum

phải được bao quanh bởi hai vòng ảnh

hưởng, hay gọi là một lóp kép gồm có: một

vùng tác động của lực hút phân tủ, đây là

phần cố định dính bám chặt vào nhựa, và

một vùng không rõ ràng sức đẩy tỉnh điện,

nhờ có vùng súc dầy tỉnh điện này mà các

tiểu cầu có thể di động dễ dàng trong một

trường điện lực Có một hiệu thế điện giữa

bề mặt ngăn cách phần động và phần tỉnh

với phần chất lỏng: đây là hiệu thé zéta Co

thể đo được hiệu thế này bằng đồng hồ

zêtamét Nguyên lý của đồng hồ zêtamét

là đặt nhũ tương thử nghiệm vào một

trưởng điện di (électrophorese) và ghi

nhận sự chuyển dịch của các tiểu cầu dưới

một trường diện lực dã biết Hiệu thế zêta

là một đặc trưng riêng của các chất hoạt

tính bề mặt và nó phụ thuộc vào dé dam dặc của chất hoạt tính bề mặt và độ pH

Hiệu thế zêta càng cao thì các tiểu cầu

nhựa càng chuyển động nhanh, và tính chất ion hóa càng rõ rệt thì xu hướng xảy

ra hiện tượng phân tách của nhũ tướng càng rõ rệt Dã đo dược rằng các nhũtướng

cationic phân tách nhanh có hiệu thế zêta khoảng từ 100 đến 130 mV còn các nhũ tương cationic siêu ổn định thỉ hiệu thế zêta khoảng 20 mV Khái niệm về hiệu thế zôta rất hấp dẫn trong việc nghiên cúu và hiệu chỉnh các công thức chế tạo nhũ

giữa nhựa và đá, nhưng cũng có cả ảnh hưởng của nhiệt độ và độ nhót của nhũ tương nhựa bitum trong thời gian ninh kết,

độ ầm của không khÍxung quanh và độ ẩm

của mặt đá, sự có mặt của các nhân tố gây

nhiễu như bụi v.v Có thể xem được ö trong

bài báo của tập thể nhiều tác giả

-SAUTEREY, A.M.AJOUR, J.GIER và

GRAMORD, đăng ở số 503 của tạp chí

chung về đường ôtô và sân bay (Revue Générale des routes et des aérodromes)

một luận văn về lý thuyết và thực tế của

tính dính bám Về phần nhũ tương nhựa đường thì người ta giải thích tính dính bám

của bộ đôi nhựa/đá như sau:

- khi mặt đá mang điện tích dương (dá vôi,

đá bazan v.v.)

® phản úng giữa mặt đá vôi và chất toan trong nhũ tương, kết quả là hình thành một chat amin cacbonat không hòa tan sẽ gây dính bám giữa nhựa và mặt đá;

Thu viện Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 36

1

3 œ

Nhu tuong nhya Bitum

® mặt đá hút các tiểu cầu nhựa mang điện

tích âm và hình thành một loại xà phòng

can xi không hòa tan gây dính bám

(trường họp nhũ tương anionic);

- khi mặt đá mang điện tích âm (đá silic,

quarzit, granit, porphya):

® mặt đá hút các tiểu càu nhựa mang điện

tích dương và hình thành một amin silicat

không hòa tan gây dính bám (trường hợp

nhũ tương cationic);

® không có súc hút nào và cũng không có

phản úng nào: không có dính bám (trường

hợp nhũ tướng anionie)

Trong thực tế thì các loại vật liệu đá dùng

làm đường phần lón là những Vật liệu hỗn

hợp nhiều loại đá Thực tế này giải thích vì

sao hầu như toàn bộ chỉ dùng nhũ tương

cationic, Ít nhất cũng là trường hợp của nước Pháp

Kết luận Nhũ tương nhựa bitum là một chất kết dính phúc tạp, cả về tính đa dạng của các công

thúc chế tạo lẫn về tính chất của nó, phụ thuộc rất nhiều vào loại nhựa bitum dùng

làm nguyên liệu khi chế tạo nhũ tương

Không nghỉ ngờ gì nữa là vẫn còn một lĩnh

vực rộng rãi cho công tác nghiên cúu Vì

xu hưởng hiện nay là dùng những giải

pháp kỹ thuật có tính kinh tế, đặc biệt là trên bình diện năng lượng và bảo vệ con

người chống mọi sự ô nhiễm môi trường

sống, sẽ dẫn tói càng ngày nhũ tương nhựa

bitum càng được dùng nhiều hơn trong kỹ

thuật đường ôtô

Không có phản ứng trung hòa

không có lực hút

Trang 37

CAC THU NGHIEM

TRONG PHONG THÍ NGHIỆM

Trang 38

al

Như tương nhựa Bitum

CAC THU NGHIEM | -

TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

Mở đầu

Những đặc trưng đo đếm ước lượng được

trong phòng thí nghiệm có mục tiêu là:

- xác định thành phần của nhũ tương;

- kiểm tra chất lượng của nhũ tương trong

qúa trình sản xuất;

- thử nghiệm sự thích hợp của các tính chất

của nhũ tương đối với nhu cầu sử dụng

Tập số 24 của bản Quy phạm kỹ thuật

chung (Sắc lệnh số 26-290 ngày

25/2/1986 đăng ở Công báo nước Pháp

ngày 4/3/1986) được úng dụng cho việc

cung úng các chất liên kết hydrocácbon

(nhựa đường) dùng trong xây dựng và duy

tu bảo dưỡng mặt đường ôtô

Các chất liên kết này thuộc về ba loại:

- nhựa dầu (bitum);

- nhũ tương nhựa bitum;

- nhựa than (goudron)

Đối với nhũ tương nhựa bitum thì các định

nghĩa, cách phân loại và các đặc tính phải

tuân theo các tiêu chuẩn của nước Pháp

như sau (hiện đang còn ö giai đoạn áp dụng thủ):

T 65-011 Các chất liên kết hyđrôcacbon

(nhựa đường)

Nhũ tương nhựa bitum

Các quy định đặc trưng

Bản tiêu chuẩn này chỉ quy định về các loại

nhũ tương anionic và cationic không có trộn thêm nhụa đa phân tử (polymère) và

đã tham khảo các bản tiêu chuẩn sau:

NF-T66-016: Nhũ tương nhựa bitum

cationic nhua bitum

Nhũ tương nhựa bitum

Trang 39

Nhu tương nhựa Bitum

NF-T66-020:Nhũ tương nhựa bitum

Xác định độ nhót quy ưóc

T66-021: Nhũ tương nhụa bitum

Xác định dấu điện tích

của các hạt nhũ tương T66-022: Nhú tương nhựa bitum

Thử nghiệm tính ổn định không bị lắng trong

Tinh chat co bản này của nhũ tương cho

biết tỷ lệ phần trăm nhựa bitum chúa đựng

trong nhũ tương

Việc xác định lượng ngậm nước của nhũ

tương cho biết, bằng phép trừ đơn giản, tỷ

lệ phần trăm nhựa bitum chứa đựng trong

nhũ tương

Lượng nhựa chứa đựng trong nhũ tương

ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều đặc trưng

như là độ nhót, tính ổn định không lắng khi

lưu trữ, tốc độ phân tách cũng như khả

năng bọc kín nhựa các loại vật liệu

Những loại nhũ tướng bán thông thường

trên thị trưởng là những loại sau đây:

Đối với một loại nhũ tương nhất định, liợng

ngậm nước đo được không được chênh

lệch về giá trị tuyệt đối qúa 1% của giá trị lý

thuyết đòi hỏi

VÍ dụ: một loại nhũ tương 60% phải chứa lượng nước bằng 40% + 1%

Tuy thế nhưng vÌ những nhu cầu riêng của

một công trường, lượng ngậm nước của

nhũ tương có thể có một giá trị không phù

hợp vói bảng trên Trong trường hợp nay

sự thay đổi phải được chủ quản công trình thỏa thuận, nhưng lượng ngậm nước vẫn

phải tuân thủ độ chính xác như đã ghi ỏ trên

va song song vdi hai mặt phẳng, muốn

thắng dược lực cản nhót của chất lỏng thì phải cho tác dụng trên một đơn vị diện tích

của mặt phẳng một lực ơ sao cho:

V

oG=n_

e

Hé s6 7 dac trung cho chất lỏng được gọi

là hệ số nhót chống cắt hoặc đơn giản là

độ nhót

Đón vị đo độ nhót động lực học (viscosité

dynamique), trong hệ thống đơn vị đo

lường quốc tế SI được gọi là "poiseuille"

(Pl) có giá trị bằng 10 "poises" (Po), biét

rang poise la don vi trong hệ CGS Cũng còn gọi đơn vị poiseuille là Pascal-giây

(Pa.s) Có khi đơn vị này còn được gọi là độ

nhót động lực học để phân biệt với độ nhót

động học (viscosité cinématique) Độ

nhót động học dược xác dịnh như là tỷ lệ giữa độ nhót động lực học z; chia cho khối

lượng thể tích theo công thức:

ie

v=

Thu vién Ebook Cauduongbkdn.com

Trang 40

Nhu tương nhựa Bitum

Tỳ lệ này tham gia vào lý thuyết hoạt động

của nghi khí đo độ nhót bằng vòi chảy

trọng lực được dùng để đo độ nhót của nhũ

tương

Đón vị đo độ nhót động học trong hệ quốc

tế SI là m/s không có tên riêng và trong

Tương quan gần đúng giữa các thang do

Trong thực tế, độ nh ót của nhũ tướng được

do bằng những nghi khí có vòi chảy trọng

lực, kiểu Engler ö châu Âu và kiểu Saybolt- Furol ö Mỹ

Độ nhót của nhũ tương, đo ở nhiệt độ 259C

và biểu thị bằng độ Engler (°E) là tỷ lệ giữa

thời gian chảy của nhũ tương và thời gian

chảy của một thể tích nước tương đương

và ỏ cùng một nhiệt độ Độ nhót Engler không tỷ lệ thuận vói độ nhót động học và

đẳng thức gần đúng sau đây cho liên hệ

giữa hai thông số:

Tùy theo chất lượng của nhũ tương, độ nhớt

có thể ở trong các giới hạn ghi ỏ bảng dưới

Ngày đăng: 15/12/2013, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm