1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Động cơ lựa chọn và sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng của sinh viên Đại học Đà Nẵng từ góc nhìn ngôn ngữ học xã hội

9 76 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 296,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Động cơ lựa chọn và sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng của sinh viên Đại học Đà Nẵng từ góc nhìn ngôn ngữ học xã hội góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý thuyết cũng như thực tiễn về phương ngữ xã hội, biến thể của ngôn ngữ giới trẻ trong cảnh huống ngôn ngữ trên mạng hiện đại, góp phần vào việc giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ trong quá trình hội nhập toàn diện với thế giới.

Trang 1

ĐỘNG CƠ LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ TIẾNG ANH CHÊM XEN TRONG GIAO TIẾP TRÊN MẠNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC ĐÀ

NẴNG TỪ GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI

1 Dương Quốc Cường, 2

Nguyễn Thị Hoàng Anh

1,2 Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

Tóm tắt

Sinh viên sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng hiện nay là kết quả của sự giao lưu, tiếp biến văn hóa – ngôn ngữ trong thời đại toàn cầu hóa Có thể thấy việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng của sinh viên hiện nay

là một phần cuộc sống và trạng thái tư duy của sinh viên Sự xuất hiện hiện tượng này đã phản ánh đời sống tinh thần, thể hiện tình cảm muôn màu của sinh viên, phát huy tính sáng tạo của sinh viên đối với ngôn ngữ Đây là một quá trình liên tục, từ chuyển mã, trộn

mã đến vay mượn Đặc trưng nổi bật nhất trong sự lựa chọn ngôn ngữ của sinh viên vẫn

là hiện tượng trộn mã Bài báo Động cơ lựa chọn và sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen

trong giao tiếp trên mạng của sinh viên Đại học Đà Nẵng từ góc nhìn ngôn ngữ học xã hội góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý thuyết cũng như thực tiễn về phương ngữ

xã hội, biến thể của ngôn ngữ giới trẻ trong cảnh huống ngôn ngữ trên mạng hiện đại, góp phần vào việc giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt và giáo dục ngôn ngữ trong quá

trình hội nhập toàn diện với thế giới

Từ khoá

giao tiếp, chêm xen, từ ngữ tiếng Anh, trên mạng, tiếp xúc ngôn ngữ, sinh viên

1 Mở đầu

Sự lựa chọn ngôn ngữ là một vấn đề quan trọng và tất yếu sẽ nảy sinh trong giao tiếp ở các

môi trường đa ngữ Đặc biệt, trong giao tiếp đa phương ngữ, khi xuất hiện biến thể, tất yếu sẽ nảy sinh sự lựa chọn ngôn ngữ Sự lựa chọn ngôn ngữ chịu tác động của nhiều yếu tố, cả chủ quan và khách quan Trong đó, thái độ ngôn ngữ là một yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng.Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập thế giới, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, việc sử dụng thành thạo và hiểu biết về tiếng Anh là vấn đề rất quan trọng Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, ngày nay các phương tiện truyền thông đại chúng đã và đang phát triển với tốc độ cao, đặc biệt là các chương trình truyền hình, báo chí, phát thanh Việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong các chương trình này đã ngày càng trở nên phổ biến hơn, đặc biệt là các chương trình dành cho giới trẻ Kinh tế phát triển, đời sống văn hoá, xã hội nâng cao lên rất nhiều, giao lưu văn hoá và đối thoại văn hoá giữa các dân tộc mở rộng chưa từng thấy Cũng từ đó ngôn ngữ trong giao tiếp sinh viên đã nâng cao hơn, ngôn ngữ nói cũng như viết được bổ sung thêm rất nhiều từ mới, nghĩa mới, ý mới Trong khuôn khổ của

bài báo, chúng tôi giải quyết vấn đề câu hỏi nghiên cứu đặt ra: mục đích lựa chọn và sử dụng

từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng của sinh viên là gì? Qua đó, nhóm tác

giả đề xuất một số khuyến nghị về sử dụng ngôn ngữ sinh viên, đặc biệt là giao tiếp trên

mạng

2 Cơ sở lý luận

2.1 Sự lựa chọn ngôn ngữ

Trang 2

Giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ và giao tiếp được coi là quá trình vận dụng ngôn ngữ Sự vận dụng này thực tế là một quá trình lựa chọn ngôn ngữ Nói cách khác trong quá trình sử dụng ngôn ngữ người sử dụng không ngừng lựa chọn, vì thế, lựa chọn được coi là một trong những bản chất của việc sử dụng và lý giải ngôn ngữ Sự lựa chọn ngôn ngữ được tiến hành ở bất kỳ bình diện nào của ngôn ngữ như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, v.v… bởi chỉ cần một sự biến đổi nhỏ ở trong một bình diện sẽ tạo nên một ý nghĩa dụng học sâu

sắc Nhìn tổng thể, ―sự lựa chọn ngôn ngữ‖ có thể diễn ra một cách có ý thức theo chủ quan

của người giao tiếp nhưng cũng có thể diễn ra một cách vô thức, ngoài ý định chủ quan của người giao tiếp Từ cách nhìn này có thể quy về hai quá trình lựa chon, đó là: Sự lựa chọn mang tính ngữ cảnh và sự lựa chọn mang tính chiến lược‖ (Nguyễn Văn Khang, 2012, tr 372

- 373) Cả hai sự lựa chọn này xem ra cũng chỉ là sự lựa chọn của những sự lựa chọn trong khi còn có thêm những sự lựa chọn khác Vì thế, sự lựa chọn không phải là nhất thành bất biến mà linh hoạt với mục đích cuối cùng là thoả đáng về giao tiếp, tức là ―đúng đắn và hợp

lý‖

Trong quá trình giao tiếp con người phải tiến hành lựa chọn vì ngôn ngữ tự nhiên của chúng ta có ba đặc trưng nổi trội là dị biến, thương lượng và thích nghi Nhờ ba đặc trưng này

mà con người có thể vận dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, phù hợp với bối cảnh giao tiếp Mỗi người khi giao tiếp đều có ý thức và nhu cầu lựa chọn mã ngôn ngữ cho phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Vì thế, ngay trong một cuộc giao tiếp vì mục đích giao tiếp, người giao tiếp có thể chọn mã giao tiếp này mà không chọn mã giao tiếp khác hoặc chuyển

từ mã này sang mã khác hay trộn mã lại với nhau Ứng xử ngôn ngữ của mỗi người được quy định bởi nhiều nhân tố vừa khách quan vừa chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan có tính quyết định Ứng xử ngôn ngữ là một thành phần của ứng xử văn hóa Do đó, truyền thống văn hóa, truyền thống ứng xử ngôn ngữ của cộng đồng, của dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến thái

độ ứng xử ngôn ngữ của các thành viên trong cộng đồng

2.2 Mã và hiện tượng chuyển mã, trộn mã trong giao tiếp: Ngôn ngữ học dùng thuật ngữ

mã (codes) với nghĩa hệ thống các tín hiệu có thể truyền đạt thông tin Mỗi người trong giao

tiếp đều có ý thức và nhu cầu lựa chọn mã ngôn ngữ cho phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Vì thế, ngay trong một cuộc giao tiếp, vì mục đích giao tiếp, người giao tiếp có thể chọn mã giao tiếp này mà không chọn mã giao tiếp khác hoặc chuyển mã này sang mã khác hay trộn các mã lại với nhau Người Việt Nam đặc biệt coi trọng giao tiếp và biết người để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích hợp Khi không được lựa chọn thì người Việt dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt (Trần Ngọc Thêm,1999, tr.155-157) Động cơ để thúc đẩy người nói là một quyết định quan trọng trong việc lựa chọn mã Có hai cách lựa chọn mã

trong giao tiếp là: chuyển mã và trộn mã Chuyển mã là việc sử dụng hai hoặc trên hai biến

thể ngôn ngữ trong một lần đối thoại Theo Nguyễn Văn Khang, có hai loại chuyển mã: chuyển mã tình huống và chuyển mã ẩn dụ Chuyển mã tình huống là sự chuyển mã ngôn ngữ theo bối cảnh giao tiếp, tức là dựa trên mối quan hệ xã hội giữa những người tham gia giao tiếp hội thoại và khung cảnh tiến hành giao tiếp hội thoại để chuyển mã Còn chuyển mã ẩn

dụ là chuyển mã nhằm làm thay đổi phong cách giao tiếp như khẩu ngữ, ngữ điệu hoặc quan

Trang 3

một vài thành phần của ngôn ngữ khác và phát âm theo áp lực của ngôn ngữ đang sử dụng (Nguyễn Văn Khang, 2012, tr 379-388) Quan sát cho thấy, trộn mã không chỉ dừng lại ở đơn

vị từ mà còn có thể ở cả các thành phần cao hơn (như đoản ngữ) Có một câu hỏi đặt ra là,

động cơ của chuyển mã, trộn mã, tức là chuyển mã, trộn mã nhằm mục đích gì? Cho đến nay,

các công trình của C Plau (1979), J Gumpers và E Hernandez (1969), J Gumpers (1969)… cũng như thực tế khảo sát của chúng tôi có thể cho phép khẳng định rằng, chuyển mã, trộn mã trong giao tiếp gắn liền với cơ chế tâm lý và động cơ cũng như phạm trù hội của người giao tiếp Cụ thể là: nhằm nhấn mạnh nội dung mang người nối muốn thể hiện, nhằm làm nổi bật chủ đề, nhăm làm rõ hơn, làm cho hiểu đúng, khi cảm thấy khó nói ra điều muốn nói, sự khoe khang hay ―tỏ vẻ‖ về bản thân biết ngoại ngữ, do thói quen…

Tiếp xúc ngôn ngữ ngày càng được nhiều người quan tâm, cả về lý thuyết cũng như về giá trị ứng dụng.Trộn mã được xem như không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ thuần tuý mà còn

là hiện tượng của đời sống xã hội và có thể coi là một sản phẩm của sự tiếp xúc ngôn ngữ

Tiếp xúc ngôn ngữ được hiểu là ―sự tiếp hợp giữa các ngôn ngữ do được phân bố liền kề nhau

về mặt địa lý, sự tương cận về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người có những thứ tiếng khác nhau khi giao tiếp với nhau‖ (Bùi Khánh Thế, 2011, tr.46) Xét về bản chất, tiếp xúc ngôn ngữ được bắt đầu từ việc học thêm một ngôn ngữ khác, như vậy khi học ngôn ngữ khác thì nội bộ trong một cá nhân đã bắt đầu hình thành quá trình tiếp xúc giữa hai hoặc hơn hai ngôn ngữ Tuy nhiên, việc học một ngôn ngữ khác này mới chỉ là điều kiện cần

để tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra, do đó, để tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra còn cần phải được mở rộng

ra toàn xã hội - đó chính là ―sự khuếch tán ngôn ngữ‖

2.3 Chêm xen tiếng Anh là việc giới trẻ sử dụng những đơn vị ngoại lai có gốc tiếng Anh

trong giao tiếp trên mạng Đây là kết quả của sự giao lưu, tiếp biến văn hoá – ngôn ngữ trong thời đại toàn cầu hoá Hiện tượng này có thể được hình dung như một quá trình liên tục, từ chuyển mã, trộn mã đến vay mượn, nhưng đặc trưng nổi bật nhất trong sự lựa chọn ngôn ngữ của giới trẻ là hiện tượng trộn mã (Đỗ Thuỳ Trang, 2018) Chêm xen từ ngữ tiếng Anh trong giao tiếp trên mạng là một biểu hiện của cách ứng xử văn hoá trong xã hội Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi các định hướng giá trị văn hoá – xã hội còn ở trong tình trạng cái cũ vẫn còn, cái mới chưa ổn định, thì hiện tượng chêm xen, thái quá, một cách vô lối, còn có điều kiện phát triển mạnh

3 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu động cơ lựa chọn và sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng của sinh viên Đại học Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp phù hợp về sử dụng ngôn ngữ sinh viên nhằm phục vụ công tác chuẩn hoá và giáo dục sử dụng ngôn ngữ hiện nay, phương pháp điều tra khảo sát, tổng hợp phân tích đã được sử dụng trong nghiên cứu này

Phiếu điều tra gồm 15 câu hỏi, được thiết kế dựa trên thiết kế mẫu khảo sát của Likert Tức là, theo sau mỗi câu hỏi có các phương án lựa chọn được chia thành 5 mức là A Hoàn toàn đúng, B Đúng, C Không hoàn toàn đúng, D Sai và E Hoàn toàn sai Người tham gia trả lời câu hỏi đồng ý với ý kiến nào thì khoanh tròn vào một trong các chữ cái A, B, C, D, E

Trang 4

Nội dung của các câu hỏi được chia làm các phần sau: 1 Thông tin khái quát; 2 Động

cơ sử dụng tiếng Anh; 3 Mức độ sử dụng tiếng Anh; 4 Phạm vi giao tiếp sử dụng tiếng Anh;

5 Hứng thú sử dụng tiếng Anh; 6 Sử dụng tiếng Anh với đối tượng giao tiếp nào

Chúng tôi xác định mẫu khảo sát, tức đối tượng khảo sát, là lựa chọn hai cơ sở giáo dục đại học thành viên của Đại học Đà Nẵng: Trường Đại học Ngoại ngữ và Trường Đại học Kinh tế Sinh viên học các chuyên ngành đào tạo ngoại ngữ ở Trường Đại học

Ngoại ngữ và tất cả sinh viên Trường Đại học Kinh tế đều được học theo Chương trình đào

tạo chất lượng cao - đủ đại diện của khách thể nghiên cứu được chúng tôi lựa chọn để xem xét làm rõ bản chất Để có được dữ liệu cho nghiên cứu chúng tôi điều tra khảo sát ngẫu

nhiên 400 sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ và 300 sinh viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, thu về được 625 phiếu khảo sát Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp và tiến hành phân tích số liệu bằng SPSS

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Động cơ sử dụng từ ngữ tiếng Anh

Trước hết chúng tôi đi nghiên cứu động cơ của sinh viên Đại học Đà Nẵng sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng từ góc độ chủ quan của những chủ thể giao

tiếp

Hiện tượng lựa chọn rồi chuyển mã từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng của sinh viên thường là kết quả của một số động cơ nào đó Do phiếu điều tra cho phép lựa chọn nhiều phương án nên trong số các sinh viên,với những câu hỏi chỉ cho phép lựa chọn một phương án duy nhất Trong một số trường hợp, chúng tôi đã có những cuộc trò chuyện trao đổi với sinh viên nói về những hội thoại có chuyển mã, qua đó đề nghị sinh viên cung cấp thêm thông tin về những ý định, mục đích, lý do của mình khi cần thiết Để tìm hiểu động cơ

lựa chọn sử dụng từ ngữ tiếng Anh, chúng tôi nêu câu hỏi: Anh/ chị cho biết động cơ sử dụng

từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng? Kết quả thể hiện trong bảng 4.1

Bảng 4.1 Động cơ sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong giao tiếp trên mạng

1 Đề cập đến một chủ đề nhất định 15,5

2 Do thói quen của người nói 19

4 Lặp lại thông điệp nhằm nhấn mạnh 9,5

6 Lấp đầy khoảng trống từ vựng 10,5

7 Thể hiện tâm trạng người giao tiếp 5,5

8 Thấy có vẻ sành điệu, phù hợp với sinh viên 15,5

Như vậy, kết quả quan sát từ góc nhìn chủ quan của người nói thông qua một cuộc khảo sát trường hợp bằng phiếu câu hỏi cho thấy sự lựa chọn từ ngữ tiếng Anh của sinh viên – chủ thể giao tiếp là vô cùng đa dạng Sinh viên những chủ thể giao tiếp trong các hội thoại có

sự lựa chọn và chuyển mã có những động cơ thể hiện khá thoải mái, tự nhiên, không cần che giấu Chúng ta thấy động cơ lựa chọn sử dụng từ ngữ tiếng Anh trong giao tiếp trên mạng đối

Trang 5

Khi hai hay nhiều hơn hai ngôn ngữ cùng tồn tại trong cộng đồng giao tiếp, các thành

viên trong cộng đồng đó có quyền đưa ra sự lựa chọn ngôn ngữ cho cá nhân mình Hơn thế

nữa, khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau, chúng sẽ bổ sung, lấp đầy những khoảng trống từ

vựng còn tồn tại ở một trong hai ngôn ngữ Xét từ khía cạnh ngôn ngữ – văn hóa thì sự lựa

chọn rồi chuyển mã có phần tiêu cực ở chỗ hiện tượng này là một phần nguyên nhân khiến

trên mạng bị mất đi sự trong sáng vốn có của nó

Sự thay thế, loại bỏ những từ trên mạng đã có sẵn bằng các mã tiếng Anh có nghĩa tương

đương ngày càng được sinh viên ưa dùng bởi tính cập nhật, sự ngắn gọn và tiện ích mà chúng

mang lại Vấn đề cần quan tâm ở đây, theo chúng tôi đó là ý thức của sinh viên làm sao cân

bằng được mức độ và giới hạn của chuyển mã để khi giao tiếp họ vừa gìn giữ, bảo tồn được

tiếng mẹ đẻ lại vừa tiếp thu những cái mới, cái hay của ngôn ngữ toàn cầu như tiếng Anh

4.2 Về mức độ sử dụng

Để tìm hiểu mức độ sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng, chúng

tôi nêu câu hỏi: Anh/ chị vui lòng đánh giá mức độ sinh viên sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm

xen trong giao tiếp trên mạng? Kết quả thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2 Mức độ sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiép trên mạng

Mức độ

sử dụng

Đánh giá Tổng số

sinh viên Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Chưa khi nào

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

% Chêm xen

từ ngữ tiếng

Anh

205 32,8 340 54,4 76 12,2 4 0,6 625 100

Qua bảng trên, chúng ta thấy, chiếm số lượng sinh viên đông nhất vẫn là thỉnh thoảng

sử dụng (54,4 %); số sinh viên thường xuyên sử dụng chiếm tỉ lệ thấp hơn (32,8 %); tiếp đến

là những sinh viên cho rằng ít khi sử dụng chiếm tỉ lệ thấp (12,2); và cuối cùng là những sinh

viên khẳng định chưa khi nào sử dụng chiếm tỉ lệ thấp nhất (0,6%) Hiện tượng sử dụng từ

ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao tiếp trên mạng là hiện tượng phổ biến, hầu như sinh viên

đều ít nhất một vài lần sử dụng Tuy nhiên, việc sử dụng chêm xen này diễn ra không thường

xuyên, chỉ dừng lại ở mức độ thỉnh thoảng Hiện tượng này xuất hiện lan tràn trên các trang

điện tử, các diễn đàn, thậm chí trên cả một số phương tiện giáo dục - truyền thông như báo

chí, đặc biệt là những tờ báo hướng tới đối tượng chủ yếu là giới trẻ với mức độ sử dụng khác

nhau

Trang 6

4.3 Phạm vi sử dụng

Về phạm vi sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng, chúng tôi

nêu câu hỏi: Anh/ chị thường sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng ở

đâu? Kết quả thể hiện trong bảng 4.3

Bảng 4.3 Phạm vi sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng

Nội dung

Phạm vi sử dụng Nhà trường Gia đình Các nơi khác Mọi nơi nơi nào Không

Số lượng Tỉ lệ %

Số lượng Tỉ lệ %

Số lượng Tỉ lệ %

Số lượng Tỉ lệ %

Số lượng Tỉ lệ %

Chêm xen

từ ngữ tiếng

Anh

125 20 95 15 349 56,1 4 0.6 52 8,3

Khi trả lời câu hỏi về phạm vi sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao tiếp trên

mạng, chỉ có 4 sinh viên, tỷ lệ 0,6% khẳng định mình sử dụng từ ngữ tiếng Anh vào giao tiếp

trên mạng ở mọi nơi, 15% sinh viên khảo sát sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao

tiếp trên mạngở gia đình, 20% ở nhà trường, 56,1% các nơi khác Kết quả trên cho thấy, sinh

viên có ý thức sử dụng chêm xen này ở đâu cho phù hợp Trong đó, hầu hết sinh viên đều sử

dụng ở những nơi môi trường tạo sự thân mật, suồng sã Một số ít sinh viên sử dụng ở gia

đình, nhà trường - nơi có nhiều bạn bè cùng trang lứa, cùng quan điểm, họ dễ dàng chia sẻ,

hiểu nhau hơn Như vậy, không chỉ khác nhau về mức độ sử dụng, việc sinh viên sử dụng từ

ngữ tiếng Anh chêm xen tronggiao tiếp trên mạng cũng có sự khác nhau về phạm vi sử dụng

4.4 Đối tượng giao tiếp

Khi lấy ý kiến về đối tượng cùng giao tiếp của sinh viên khi sử dụng từ ngữ tiếng Anh

vào chêm xen trong giao tiếp trên mạng, chúng tôi nêu câu hỏi: Anh/ chị thường sử dụng từ

ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng với ai? Kết quả thể hiện trong bảng 4.4

Bảng 4.4 Đối tượng giao tiếp

Người lớn tuổi hơn: cha, mẹ, ông, bà 5 0,8

Với 85,6% ý kiến sinh viên sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao tiếp trên

mạng với bạn bè cùng trang lứa và 37,4% sinh viên sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong

giao tiếp trên mạng với anh/chị, 20% với đối tượng giao tiếp là người ít tuổi hơn, còn đối với

người lớn tuổi chỉ có 0,8%

Điều này phản ánh phần nào đó thái độ của sinh viên trong sử dụng ngôn ngữ: thân

Trang 7

ý thức trong việc biết chọn lựa đối tượng giao tiếp

4.5 Mức độ hứng thú

Khi được chúng tôi nêu câu hỏi: Trong giao tiếp trên mạng anh/ chị có thích sử dụng

từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào không? Kết quả thể hiện trong bảng 4.5

Bảng 4.5 Mức độ hứng thú sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao tiếp trên mạng

Chêm xen từ ngữ tiếng

Anh vào giao tiếp trên

mạng

Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %

115 18,4 340 54,4 170 27,2

Kết quả trên cho thấy mức độ hứng thú về việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao tiếp trên mạng cũng có sự khác nhau: có 54,4% ý kiến sinh viên trả lời thích dùng từ ngữ tiếng Anh chêm xen vào giao tiếp trên mạng, 18,4% sinh viên cho rằng rất thích và có 27,2% sinh viên khẳng định mình không thích sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng

Như vậy, không phải tất cả sinh viên đều hứng thú với việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh chêm xen trong giao tiếp trên mạng

5 Một số khuyến nghị

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội Cùng với sự biến đổi của thời gian, đời sống xã hội, ngôn ngữ tất yếu cũng có sự thay đổi Là lứa tuổi thích cái mới, cái lạ, thích học hỏi và tiếp thu những thứ đó và tạo ra cái của riêng mình, dần dần nó xuất hiện trong lời nói, câu chữ Sinh viên ngày nay đang sống trong một xã hội hiện đại với nhịp sống hối hả, năng động nên ngôn ngữ của sinh viên giống như mốt thời trang Và một khi ngoại ngữ đã trở thành tiêu chí để đánh giá năng lực và trình độ của con người trong thời đại toàn cầu hoá, việc vay mượn, trộn mã hay chuyển mã trở thành quá trình tự nhiên, việc sinh viên có những ―sáng tạo‖ riêng khi sử dụng từ ngữ tiếng Anh để việc giao tiếp sinh động hơn, để thể hiện cá tính cũng là điều dễ hiểu Những nét đẹp truyền thống được hun đúc, tích tụ hàng ngàn năm của tiếng Việt có thể bị phá vỡ, thay vào đó là một sự pha tạp, lai căng chắp vá Trên cơ sở những phân tích tổng hợp trên đây, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị về sử dụng ngôn ngữ sinh viên

5.1 Làm rõ sự khác biệt biệt giữa ngôn ngữ mạng với ngôn ngữ truyền thống tiếng Việt: Hiện tượng chêm xen từ ngữ tiếng Anh trong giao tiếp trên mạng là hiện tượng

ngôn ngữ ―đặc biệt‖, tồn tại một cách thực sự trong cuộc sống của chúng ta Ngôn ngữ có những từ ngữ tiếng Anh chêm xen có tính phong phú, đa dạng, nhưng cũng không kém phần

dị biệt, đồng thời có tính khẩu ngữ rõ rệt, được sử dụng một cách rộng rãi trong sinh viên và cộng đồng mạng, từ đó trở thành ngôn ngữ chính thức Khi ngôn ngữ mạng không ngừng phát triển, thì cũng là lúc nó đem đến cho ngôn ngữ học truyền thống nhiều thách thức, đòi hỏi chúng ta phải chú trọng đến sự khác biệt đó khi giảng dạy kiến thức liên quan cho sinh viên

Trang 8

5.2 Hướng dẫn sinh viên sử dụng hợp lý khi giao tiếp: Ngôn ngữ mạng có chêm

xen từ ngữ tiếng Anh là ngôn ngữ cá nhân nhưng lại nằm trên mạng xã hội nên có sức lan tỏa rất lớn Nếu dùng nhiều sẽ thành quen, có thể dẫn đến việc sinh viên sử dụng chệch hướng biến nó thành ngôn ngữ trong nhà trường, trong các văn bản.Rất cần phải làm cho sinh viên hiểu được cách sử dụng chính xác ngôn ngữ trong trường hợp phục vụ nhu cầu giao tiếp thực

tế, góp phần thúc đẩy công tác giảng dạy tiếng Việt nói chung, quy phạm hóa ngôn ngữ mạng nói riêng

5.3 Tăng cường ý thức quy phạm ngôn ngữ cho sinh viên: Ngôn ngữ là công cụ

giao tiếp quan trọng nhất trong xã hội, luôn có tính quy phạm nhất định, ngôn ngữ mà thiếu đi tính quy phạm rõ ràng thì khó mà phát huy được công năng truyền đạt thông tin, giao lưu tư tưởng, văn hóa (Hà Nguyễn Hằng Nga, Đỗ Tiến Quân, 2018) Đồng thời, phải luôn nắm chắc nguyên tắc xuất phát từ góc độ văn minh mạng để hướng dẫn và quy phạm ngôn ngữ mạng, văn hoá giao tiếp chuẩn cho sinh viên Vì vậy, cần phải tăng cường giáo dục đạo đức văn hoá ngôn ngữ cho sinh viên khi tham dự các cuộc giao tiếp như vậy với người Việt Nam, góp phần làm trong sạch môi trường văn hóa, văn minh giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại

5.4 Có thái độ cởi mở tiếp thu những điểm tích cực đối với hiện tượng ngôn ngữ này: Chúng ta đã hiểu rõ, ngôn ngữ luôn luôn vận động và biến đổi ở một chừng mực nhất

định, có lượng từ vựng, lớp ngữ pháp thay đổi theo thời gian, ngôn ngữ giao tiếp trên mạng có chêm xen từ ngữ tiếng Anh cũng không nằm ngoài quy luật đó, việc xuất hiện một số từ ngữ, một số cách diễn đạt mới trên mạng trên mạng tiếng Việt hiện đại cũng chỉ là sự phản ánh hiện trạng, nhu cầu, tâm lý… của cư dân mạng, của sinh viên, là một trong những biểu hiện của ngôn ngữ, của văn hóa xã hội… ở một thời điểm nhất định Do đó, phải có thái độ đúng đắn, tiếp thu những điểm tích cực, hạn chế những tiêu cực của hiện tượng ngôn ngữ này

6 Kết luận

Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hoá và mạng Internet đã trở thành phương tiện truyền thông vô cùng quan trọng trên thế giới Từ đó rất nhiều các yếu tố tiếng Anh xâm nhập vào các ngôn ngữ Tiếp xúc và vay mượn ngôn ngữ là hiện tượng bình thường, phổ biến của hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới Quá trình giao thoa, va đập của ngôn ngữ bao hàm cả sự dung nạp, thải loại những gì không phù hợp Hiện tượng chêm xen từ ngữ tiếng Anh ngày càng bộc lộ rõ sức thẩm thấu và ảnh hưởng rất lớn của mình, từ trên mạng và cả ngoài đời sống xã hội và xâm nhập vào ngôn ngữ hàng ngày của những người trẻ tuổi Trong quá trình

ấy, với tiếng Việt, điều cần nhất là nâng cao khả năng tự điều chỉnh dựa trên nền tảng có tính chuẩn mực được vun đắp qua bao đời nay Đứng trước thực trạng thay đổi khá nhanh chóng gần đây của ngôn ngữ,rất nhiều người lo lắng và lên tiếng cảnh báo về hiện tượng sử dụng ngôn ngữ tuỳ tiện, cẩu thả làm ―vẩn đục‖ tiếng Việt, thậm chí nhiều người còn cho rằng

―tiếng Việt đang bị làm hỏng‖, ―sự xuống cấp trầm trọng của tiếng Việt‖ Nhằm bảo đảm giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt, chúng ta phải có thái độ kiên quyết và phải giúp giới trẻ hiểu thật sự đầy đủ và sâu sắc về tiếng Việt.Từ đó chúng tôi đã đề xuất một số khuyến nghị, đó là: 1/ Làm rõ sự khác biệt biệt giữa ngôn ngữ mạng với ngôn ngữ truyền thống tiếng

Trang 9

Việt; 2/Hướng dẫn sinh viên sử dụng hợp lý khi giao tiếp; 3/ Tăng cường ý thức quy phạm ngôn ngữ cho sinh viên; 4/ Có thái độ cởi mở tiếp thu những điểm tích cực đối với hiện tượng ngôn ngữ này, nhằm góp phần phục vụ công tác chuẩn hoá và giáo dục, sử dụng ngôn ngữ hiện nay

Tài liệu tham khảo

Hà Nguyễn Hằng Nga, Đỗ Tiến Quân (2018) Bàn về một số đặc điểm của ngôn ngữ mạng trong tiếng

Hán hiện đại Khoa học ngoại ngữ quân sự, 15, 39 - 46

Nguyễn Văn Khang (2014) Chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam Hà Nội: NXB

Khoa học Xã hội

Nguyễn Văn Khang (2012) Ngôn ngữ học xã hội Hà Nội: NXB Giáo dục

Trần Ngọc Thêm (1999) Cơ sở văn hóa Việt Nam Hà Nội: NXB Giáo dục

Bùi Khánh Thế (2011) Ngôn ngữ học tiếp xúc và vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam Tp Hồ Chí Minh: NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Vương Toàn (2015) Tiếng Việt trong tiếp xúc ngôn ngữ từ giữa thế kỷ XX Hà Nội: NXB Dân Trí

Đỗ Thuỳ Trang (2018) Ngôn ngữ giới trẻ qua phương tiện truyền thông Tóm tắt luận án tiến sĩ ngôn

ngữ học Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

MOTIVATIONS IN CHOOSING AND USING CODE-MIXING OF ENGLISH WORDS IN VIETNAMESE ON THE INTERNET BY STUDENTS AT DA NANG UNIVERSITY: A SOCIOLINGUISTICS

PERSPECTIVE Abstract

The fact that students use code-mixing of English words in present Vietnamese online communication is the result of cultural-linguistic exchange and contact in the era of globalization It can be seen that the students‘ use of code-mixing of English words and phrases in Vietnamese communication on the internet is part of student‘s life and thought The appearance of this phenomenon reflected their spiritual life, showed their colorful feelings, and promoted their creativity in the use of language This is an ongoing process, from code-switching, code-mixing to borrowing The most prominent feature in their language choice is still the code-mixing The paper clarifies some theoretical and practical issues related to sociolects, students‘ sociolects in the contemporary linguistic context and contributes to the preservation of the purity of Vietnamese and language education in the process of all-sided integration with the world

Keywords

communication, code-mixing, English words and phrases, language contact, students

Ngày đăng: 28/06/2021, 09:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w