1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tỉnh hưng yên

92 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 524,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu chung về pháp luật hợp đồng MBHHQT cóthể dẫn chiếu cụ thể:Tác giả Nông Quốc Bình với một số công trình nghiên cứu đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành như:

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn được trích dẫn rõ ràng Kết quảnghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nàokhác

Tác giả luận văn

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CISG Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua

bán hàng hóa quốc tế

INCOTERMS International Commercial Terms

(Điều kiện thương mại quốc tế)

PICC Principles of International Commercial Contracts

(Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế)

VIAC Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Bảng biểu:

Bảng 2.1 Thực trạng phương thức đàm phán và ký kết hợp đồng MBHHQT 40Bảng 2.2 Loại hợp đồng các thương nhân thường sử dụng 41Bảng 2.3 Điều kiện giao hàng các thương nhân tỉnh Hưng Yên thường sử dụng 42Bảng 2.4 Nguồn luật thương nhân thường được áp dụng trong hợp đồng MBHHQT 43Bảng 2.5 Hiểu biết của các DN Hưng Yên về CISG 47

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 7

1.1 Lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 7

1.2 Lý luận về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14

1.3 Lý luận về pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TẠI TỈNH HƯNG YÊN 34

2.1 Thực trạng quy định pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 34

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại tỉnh Hưng Yên 46

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TẠI TỈNH HƯNG YÊN 59

3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 59

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 63

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hợp đồng chính là cơ sở pháp lý để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền vànghĩa vụ của mỗi bên khi tham gia vào các giao dịch, đồng thời là căn cứ để giải quyếtkhi có các tranh chấp xảy ra Hợp đồng đã, đang và sẽ luôn là công cụ pháp lý quantrọng để thiết lập các mối quan hệ pháp lý, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh -thương mại Do đó việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có vai trò vô cùngquan trọng đối với cả bên bán và bên mua trong việc xác định hiệu lực của giao dịch,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Mỗi quốc gia, vì vậy, đều xây dựng phápluật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng nhằm tạo

cơ sở pháp lý cho các thương nhân thực hiện giao dịch kinh doanh Chính yếu tố quốc

tế đã tạo nên sự đặc trưng cũng như tính phức tạp trong việc giao kết hợp đồng muabán hàng hóa Các đối tác đến từ các quốc gia khác nhau có thể sẽ có quan niệm khônggiống nhau về giao kết hợp đồng, về thời điểm giao kết, về nội dung, hình thức giaokết, … Các quan niệm khác nhau nếu không được thống nhất hay hài hòa hóa thì dễdẫn đến các tranh chấp pháp lý Thực hiện đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại và tíchcực hội nhập kinh tếquốc tế, trong những năm qua Nhà nước đã xây dựng, ban hànhnhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ về kinh tế, dân sự, thương mại có yếu

tố nước ngoài.Việt Nam đã chủ động tham gia ký kết các điều ước quốc tế, các hiệpđịnh thương mại tự do song phương và đa phương Tuy nhiên, các quy định pháp luậtđiều chỉnh hoạt động giao kết mua bán hàng hóa quốc tế vẫn còn là lĩnh vực phức tạpđòi hỏi cần phải được nghiên cứu Hiện nay, các văn bản pháp luật tại Việt Nam điềuchỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đó là: Bộ luật Dân Sự 2015, Luật Thươngmại năm 2005, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành; các điều ước quốc tế nhưCông ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế(CISG), các tập quánquốc tế như các điều khoản thương mại quốc tế (Incoterms)

Trang 8

Về tình hình thực tế, Hưng Yên là tỉnh có vị trí quan trọng về địa lý, chính trị vàkinh tế tại khu vực Bắc Bộ Trong những năm qua, tỉnh Hưng Yên có sự gia tăng đáng

kể về số lượng các thương nhân đăng kí mới cũng như quy mô vốn Tuy nhiên, sốlượng các thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh tham gia vào hoạtđộng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn còn hạn chế, nghiệp vụ xuất nhập khẩu chưa cao,đặc biệt là chưa áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật trong việc đàm phán, giaokết, thực hiện hợp đồng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà các cơ hội kinh doanh,đầu tư, hợp tác được mở rộng trên toàn thế giới, thì các thương nhân Việt Nam nóichung và Hưng Yên nói riêng đều phải đối mặt với các khó khăn, thách thức khôngnhỏ trong việc đàm phán, soạn thảo và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế Các khó khăn, thách thức này phần lớn đến từ sự khác biệt giữa pháp luật về hợpđồng của các quốc gia khác nhau, từ nhận thức chưa đầy đủ của thương nhân, cá nhân

và hộ kinh doanh Việt Nam về vai trò của hợp đồng, từ việc thiếu kỹ năng soạn thảohợp đồng Do đó việc nâng cao về nhận thức cũng như kỹ năng giao kết hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế là vô cùng quan trọng đối các thương nhân, cá nhân và hộ kinhdoanh Hưng Yên, điều này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thươngnhân này khi tham gia vào các giao dịch quốc tế

Chính vì vậy, Luận văn “Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” đáp ứng tính lý luận và thực tiễn cần thiết để nâng cao năng lực giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; góp phần

nâng cao hiệu quả hoạt động của các thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh HưngYên, cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Hưng Yên nói riêng và của ViệtNam nói chung

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá là bộ phận pháp luật có vị trí quan trọngtrong pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam Vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ hợpđồng mua bán hàng hoá nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân

Trang 9

nước ngoài nói riêng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý trong và ngoài nước quantâm nghiên cứu nhằm phân tích, luận giải và đưa ra những kiến nghị Tuy nhiên, việcnghiên cứu chuyên sâu về giao kết hợp đồng tại địa bàn cụ thể như Hưng Yên còn chưađược triển khai Các công trình nghiên cứu chung về pháp luật hợp đồng MBHHQT cóthể dẫn chiếu cụ thể:

Tác giả Nông Quốc Bình với một số công trình nghiên cứu đã công bố trên các tạp

chí chuyên ngành như: “Phạm vi áp dụng và không áp dụng Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế”; “Sự mềm dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” đăng trên Tạp chí Luật học số 04/2011 hay “Xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.

Tác giả Nguyễn Bá Bình với công trình nghiên cứu đã được công bố năm 2008

như: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, vài suy nghĩ về nội hàm khái niệm cũng như việc xác định tính hợp pháp của Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế”.

Tác giả Bành Quốc Tuấn với bài viết “Thoả thuận luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài”.

Tác giả Nguyễn Minh Hằng với một số công trình như: “Giải quyết Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” trên tạp chí diễn đàn Doanh nghiệp năm 2007; “Sửa đổi Điều 769 BLDS 2005”.

Tác giả Nguyễn Trọng Thùy với bài viết “Rủi ro trong thương mại quốc tế: Những suy ngẫm từ thực tiễn ”, được đăng trên trang thông tin điện tử của Trung tâm trọng tài

quốc tế Việt Nam trong năm 2017 Nội dung chủ yếu của bài viết là nhìn nhận về mặt

rủi ro trong Thương mại quốc tế trong giai đoạn của 30 năm đổi mới

Tác giả Lê Thị Diễm Quỳnh “Quy định mới về hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ”, Cục quản lý đăng ký kinh doanh Nội dung chủ

yếu của bài viết là phân tích những điểm nổi bật của Nghị định số 09/2018/NĐ-CP quyđịnh chi tiết Luật thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán

Trang 10

hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tưnước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Mặc dù các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến giao kết hợp đồngmua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài nhưng chưa công trình nào khai thácnhư quan hệ tiền hợp đồng, vấn đề lựa chọn luật áp dụng và điều kiện có hiệu lực củahợp đồng… nên việc nghiên cứu vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tếhiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điềuchỉnh pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các thương nhân, cánhân và hộ kinh doanh tỉnh Hưng Yên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

− Hệ thống hóa, luận giải những vấn đề lý luận pháp luật về giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế Phân tích thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế của các thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh tỉnh Hưng Yên

− Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cho các thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh tỉnh Hưng Yên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn đó là những vấn đề pháp lý liên quan đến giaokết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế qua thực tiễn một địa bàn cụ thể là tỉnh HưngYên

4.2.Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Luận văn nghiên cứu cơ sở pháp lý điều chỉnh giao kết hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế mà không mở rộng ra các loại hợp đồng khác cũng như những vấn đềliên quan đến thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp

Trang 11

- Về thời gian: Tác giả thu thập và phân tích số liệu, các hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế của các thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh tại Hưng Yên từ năm

2015- đến nay

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn hoạt động giao kết các hợp đồngmua bán hàng hóa quốctế củathương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh tạitỉnh Hưng

Yên

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới,khi tiến hànhhoạt động nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu luậtkinh tế như: phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá,hệ thống hóa, các phương phápthống kê, mô tả, so sánh

Thu thập dữ liệu: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệuthứ cấp Dữ liệu sơ cấp: được thu thập thông qua các điều tra khảo sát thực tế và cáccuộc phỏng vấn được thực hiện từ tháng 8/2020 đến tháng 10/2020

Dữ liệu thứ cấp: trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước; cácbáo cáo của các tổ chức, đơn vị trong lĩnh vực liên quan như Sở công thương tỉnhHưng Yên, Chi Cục hải quan tỉnh Hưng Yên Số liệu thứ cấp được tác giả thu thập đểphục vụ nghiên cứu trong giai đoạn 2015 – đến nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Đóng góp về mặt lý luận

Ngoài việc hệ thống lại các lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,luận văn đưa ra và phân tích các cơ sở pháp lý và yếu tố ảnh hưởng đến việc giao kếthợp đồng MBHHQT của các thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh tỉnh Hưng Yên

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn là một công trình khoa học có giá trị, sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích chocác học viên cao học, độc giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.Kết quả nghiên

Trang 12

cứu của luận văn sẽ là cơ sở cho thương nhân, cá nhân và hộ kinh doanh tỉnh HưngYên nói riêng, cũng như thương nhân Việt Nam nói chung có thể nghiên cứu áp dụng

để nâng cao năng lực giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế trong bối cảnhViệt Nam hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm có 3 chương, trong đó:

Chương 1: Lý luận về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và lý luận phápluật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại tỉnh Hưng Yên

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại tỉnh Hưng Yên

Trang 13

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1.1 Lý luận về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Hiện nay chưa có từ điển chuyên ngành Luật nào đưa ra khái niệm về “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế”, mà chỉ giải thích các thuật ngữ tạo thành như “hợp đồng”, “mua bán hàng hóa”, “quốc tế” hay “yếu tố nước ngoài”.

Về mặt học thuật, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồngMBHHQT Theo tác giả Trần Việt Dũng,

TP.HCM, 2005, tr 19 thì: “Hợp đồng MBHHQT là một hợp đồng thương mại giữa cácthương nhân có trụ sở tại các quốc gia khác nhau nhằm traođổi, mua bán hàng hóa xuyên biên giới” Người viết cho rằng, khái niệm này chưa bao quát hết được tính lãnh thổ trong

hoạt động MBHHQT

Trong thực tế, khi hàng hóa di chuyển từ một địa điểm kinh doanh sang khu vựchải quan riêng trong lãnh thổ một nước thì vẫn được coilà hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu hàng hóa Vì thế, trong nhiều trường hợp thì hợp đồng giữa các thương nhântrong và ngoài khu vực hải quan riêng vẫn được coi là hợp đồng MBHHQT

Theo tác giả Lê Thị Nam Giang, Tư pháp quốc tế, Nxb ĐHQG HCM, 2011, tr 258 cho rằng: “Hợp đồng MBHHQT là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền” Khái

niệm này chưa thực sự chính xác, bởi tài sản là khái niệm rộng, trong đó bao gồm hànghóa Như đã nêu ở trên, khái niệm hàng hóa đã được pháp luật quy định tại khoản 3,điều 3 Luật Thương mại 2005 bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hìnhthành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai không bao gồm tiền, giấy tờ cógiá Trong khi đó, tài sản là một khái niệm mang hàm nghĩa rộng, được quy định tại

Luật thương mại quốc tế, NXB Đại học quốc gia

Trang 14

điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm bất động sản và động sản, vật, tiền, giấy tờ cógiá và quyền tài sản Như vậy có thể thấy, hàng hóa là một loại tài sản cụ thể nhưng tàisản thì chưa hẳn đã là hàng hóa.

Xét về khía cạnh pháp luật thực định thì pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

và văn bản pháp lý quốc tế đã có những quy định không giống nhau về hợp đồngMBHHQT, ví dụ như:

- Theo quy định tại Điều 56 Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh có nêu:

“Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các bên có trụ sở thương mại (nếu không có trụ sở thương mại thì là nơi cư trú) nằm trên lãnh thổ

ở các nước khác nhau và thỏa mãn các điều kiện sau: (a) Hợp đồng bao gồm mua bán hàng hóa, mà tại thời điểm ký kết hợp đồng, hàng hóa được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này sang lãnh thổ của quốc gia khác; (b) Chào hàng hoặc chấp nhận chào

hàng được lập trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; hoặc (c) Việc giao hàng được thực hiện trong lãnh thổ quốc gia khác với lãnh thổ quốc gia chào hàng hoặc chấp nhận chào hàng”.

- Ở Hoa Kỳ, Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ năm 1952 không trực tiếp đưa

ra khái niệm về hợp đồng MBHHQT nhưng đưa ra định nghĩa về giao dịch quốc tế tạiĐiều 1-301, theo đó giao dịch quốc tế là giao dịch có mối quan hệ hợp lý với quốc giakhác với Hoa Kỳ Và mua bán chính là việc chuyển giao quyền sở hữu từ người bánsang người mua để nhận tiền Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ, tuy khôngtrực tiếp đưa ra tiêu chí để xác định hợp đồng MBHHQT nhưng việc định nghĩa giao

dịch quốc tế đã thể hiện của tiêu chí “trụ sở thương mại” ở các nước khác nhau.

Mặc dù các quy định được diễn đạt khác nhau nhưng hợp đồng mua bán hàng hóatheo pháp luật Anh và Hoa Kỳ đều là sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền sở hữuhàng hóa từ người bán sang người mua để đổi lại khoản tiền tương ứng Bên cạnh đó,hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng MBHHQT khi hợp đồng mua bán hàng hóa

được giao kết bởi các bên có “trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau”.

Trang 15

Tại Điều 1 Công ước La Haye 1964 về mua bán hàng hoá quốc tế những tài sản

hữu hình, hợp đồng MBHHQT được định nghĩa: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

tế là hợp đồng, trong đó các bên ký kết có trụ sởthương mại ở các nước khác nhau, hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc việc trao đổi ý chí kí kết hợp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau”.

Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) không quyđịnh về khái niệm hợp đồng MBHHQT nhưng tại Điều 1 của Công ước đã gián tiếp

xác định phạm vi của hợp đồng MBHHQT, đó là: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau” Như vậy, theo Công ước Viên 1980 thì cơ sở để xác định một hợp đồng là hợp

đồng MBHHQT đó là địa điểm kinh doanh của các bên tham gia ký kết phải được đặttại các nước khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm giao kết hợp đồng và cũngkhông xét đến yếu tố hàng hóa có được dịch chuyển qua biên giới quốc gia hay khuvực hải quan riêng hay không

Ở Việt Nam, hợp đồng MBHHQT còn được gọi dưới các tên khác nhau như: Hợpđồng ngoại thương, hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu Trước đây, theo Điều 80 Luật

Thương mại 1997 có giải thích: “Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài” Đồng thời, tiêu chí để xác định một hợp

đồng mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế đó là dựa vào quốc tịch của các chủ thể thamgia việc giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, trong thực tế việc căn cứ vào quốc tịch của chủ thể để xác định đó cóphải là hợp đồng MBHHQT hay không gặp nhiều khó khăn Bởi lẽ, pháp luật quy định

về quốc tịch của mỗi quốc gia là không giống nhau, vì thế trong nhiều trường hợp khókhăn đối với việc lựa chọn nguồn luật điều chỉnh

Hiện tại, Luật Thương mại 2005, không định nghĩa về hợp đồng MBHHQT Luật

thương mại 2005 chỉ liệt kê các loại hợp đồng MBHHQT tại điều 27 đó là “Mua bán

Trang 16

hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu” và quy định về hình thức của hợp đồng như sau: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Như vậy có thể thấy, luật

Thương mại 2005 không đưa ra tiêu chí xác định một hợp đồng là hợp đồng MBHHQTdựa vào trụ sở thương mại hay quốc tịch của chủ thể; mà việc xác định sẽ căn cứ vào

sự di chuyển của hàng hóa đó Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hoá cóyếu tố nước ngoài nếu hàng hóa (đối tượng của hợp đồng) di chuyển qua biên giới cácquốc gia hoặc di chuyển qua khu vực hải quan riêng Mặt khác, theo quy định tại Điều

663 Bộ luật Dân sự 2015 thì: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập,

thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân

sự đó ở nước ngoài.”

Như vậy, khái niệm “Mua bán hàng hóa quốc tế” theo khoản 1 Điều 27 luật Thương mại có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” theo Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 Tuy nhiên, theo khoản3 Điều 4 luật Thương mại, “hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự” Vì thế, về mặt pháp lý việc xác định hợp đồng MBHHQT

cần vận dụng cả khoản 1Điều 27 luật Thương mại 2005 và Điều 663 Bộ luật dân sự2015

Việc xác định yếu tố “quốc tế” của hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa pháp lý và

ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng, bởi nó xác định nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng.Tuy nhiên, quy định về hợp đồng MBHHQT theo Công ướcViên 1980, Bộ luật

Trang 17

Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 chưa thực sự đồng nhất Theo Khoản 1 Điều 6

Luật Điều ước Quốc tế 2016 thì: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp” Tháng 12/2015, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 84 của Công

ước Viên 1980, do vậy cách tiếp cận về hợp đồng MBHHQT cũng cần dựa vào côngước này

Từ những phân tích trên, có thể khái quát hợp đồng MBHHQT như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa bên bán

và bên mua có yếu tố nước ngoài liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu đối với loại hàng hoá nhất định”.

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc điểm khác biệt so với hợp đồngmua bán hàng hoá thông thường, đó là:

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng MBHHQT

Ngoài năng lực chủ thể hợp đồng áp dụng chung, chủ thể của hợp đồng MBHHQTthường có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia khác nhau Pháp luật của nhiều nước,các điều ước quốc tế đều lấy đặc điểm chủ thể của hợp đồng làm cơ sở để xác định hợpđồng đó có phải là hợp đồng MBHHQT không Nếu các chủ thể tham gia hợp đồngmua bán hàng hóa có chung trụ sở tại một nước thì hợp đồng đó không được coi là hợpđồng MBHHQT Nếu một bên có nhiều hơn một trụ sở thương mại thì sẽ xem xét đếntrụ sở thương mại có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng đó và đối với việcthực hiện hợp đồng đó; Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trúthường xuyên của họ để xác định tính quốc tế của hợp đồng

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng MBHHQT

Đối tượng của hợp đồng MBHHQT là một trong những yếu tố quan trọng nhất củahợp đồng Mục đích cuối cùng của sự thỏa thuận giữa các bên đó là chuyển giao hàng

Trang 18

hóa và quyền sở hữu hàng hóa từ người bán sang người mua hoặc người có quyền lợiliên quan Tuy nhiên, không phải một vật bất kỳ mà các bên thỏa thuận,trao đổi, muabán với nhau đều có thể trở thành đối tượng của hợp đồng MBHHQT.

Đối tượng của hợp đồng MBHHQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:

− Đối tượng của hợp đồng MBHHQT phải là hàng hóa Các hợp đồng liên quanđến hoạt động dịch vụ logistics, hợp đồng đại lý phân phối không được coi là hợp đồng MBHHQT, bởi vì đối tượng của các hợp đồng này không phải là hàng hóa

− Đối tượng của hợp đồng MBHHQT phải được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩutheo quy định của nước sở tại và các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu thay đổi theo từng thời kỳ, phụ thuộc vào điều kiệnkinh tế, xã hội, chính sách, quy định pháp luật của mỗi nước

− Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng MBHHQT phải được dịch chuyển qua biêngiới các nước hoặc qua khu vực hải quan riêng Trong thực tiễn, hầu hết hàng hóa sẽ

được dịch chuyển trực tiếp từ nước người bán sang nước người mua Song cũng cónhững trường hợp, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng MBHHQT không dịch chuyểnquan biên giới của nước người xuất khẩu mà di chuyển vào khuvực hải quan riêng nhưkhu chế xuất

Thứ ba, về đồng tiền thanh toán trong hợp đồng MBHHQT

Đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước, đồng tiền thanh toán là nội tệ.Đối với hợp đồng MBHHQT các bên có thể thoả thuận chọn đồng tiền thanh toán làđồng tiền của nước người mua, nước ngoài bán hoặc một nước thứ ba nào đó… Do đó,đồng tiền thanh toán trong hợp đồng MBHHQT thường là ngoại tệ với ít nhất một bênhoặc cả hai bên của hợp đồng

Thứ tư, về hình thức của hợp đồng MBHHQT

Nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng cũng được áp dụng trong hợpđồng MBHHQT Theo Điều 11 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế thì hợp đồng MBHHQT không nhất thiết phải được ký kết hoặc xác nhận bằng

Trang 19

văn bản hay tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng Sự tồn tại của hợpđồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, trong đó có cả lời khai của người làmchứng Với quy định như vậy ta thấy thuận lợi cho các bên giao kết hợp đồng Côngước Viên 1980 quy định thêm tại Điều 96: Nếu luật một quốc gia thành viên nào quyđịnh hợp đồng phải được ký kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì yêu cầu phảiđược thể hiện dưới hình thức văn bản phải được tôn trọng.

1.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng,các thương nhân càng có nhu cầu mở rộng hợp tác kinh doanh với nhiều đối tác ở cácnước khác nhau Vì thế, hợp đồng MBHHQT càng có vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế xã hội hiện đại

Thứ nhất, hợp đồng MBHHQT là công cụ thể hiện ý chí của cả người mua và

người bán khi thiết lập giao dịch mua bán hàng hóa Thông qua hợp đồng MBHHQTcác bên đã thống nhất được cơ chế giao nhận, mua bán hàng hóa, quyền và nghĩa vụcủa mình

Thứ hai, hợp đồng MBHHQT là công cụ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các

chủ thể tham gia Như đã cập ở trên, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thường diễn

ra ở phạm vi nước ngoài, các chủ thể đến từ nhiều quốc gia khác nhau,có văn hóa kinhdoanh, thói quen, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý khác nhau vì thế luôn tồn tại nhiềuyếu tố rủi ro Ví dụ, trong một số trường hợp nào đó dù đã có thỏa thuận trước đónhưng người bán không muốn bán hàng hóa của người mua, hoặc ngược lại người muađơn phương hủy đơn hàng, hay các bên có thể tranh chấp liên quan đến chất lượnghàng hóa, thời gian địa điểm giao nhận hàng Trong trường hợp xảy ra tranh chấp nếucác bên không có hợp đồng MBHHQT thì vấn đề sẽ rất phức tạp, ảnh hưởng nghiêmtrọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên Hợp đồng MBHHQT hợp pháp có giátrị bắt buộc đối với tất cả các bên tham gia Đồng thời đây cũng là bằng chứng quan

Trang 20

trọng, có giá trị pháp lý để cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra các phán quyết bảođảm lợi ích cho các đương sự.

Thứ ba, hợp đồng MBHHQT là một trong những cơ sở để thương nhân thực hiện

chiến lược sản xuất, kinh doanh của mình Các thương nhân có thể xác định trước đượckhối lượng, số lượng hàng hóa sẽ mua bán trong tương lai, từ đó xây dựng được kếhoạch kinh doanh phù hợp

1.2 Lý luận về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.1 Khái niệm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được hiểu là quá trình thoả thuận,ghi nhận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở thương mại ở các nước khác nhauvà/hoặc có quốc tịch khác nhau, mà kết quả cuối cùng của quá trình đó là thể hiện cácnội dung cần giao dịch dưới hình thức nhất định

Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là quá trình tuyên bố ý chí

của các chủ thể trong giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế Khác với các hợp đồng muabán hàng hoá trong nước, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thường làmột quá trình dài Điều này xảy ra là do sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài trong giaodịch với thương nhân nước ngoài, sự đan xen của nhiều hệ thống và truyền thống phápluật cũng như sự khác nhau về cách tư duy và quan niệm trong hoạt động kinh doanh,

do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thường là một quá trình dài hơn sovới giao dịch kinh doanh trong nước

Thứ hai, chủ thể thường là thương nhân các nước khác nhau Đây là nét đặc trưng

nổi bật của giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Sự xuất hiện của thương nhânnước ngoài trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế làm cho giao dịch cónhiều nét khác biệt so với giao dịch kinh doanh trong nước và các giao dịch có yếu tốnước ngoài khác Sự hiện diện của thương nhân nước ngoài làm tăng tính phức tạp củagiao dịch, làm hình thành mối quan tâm của các bên về việc lựa chọn luật áp dụng đối

Trang 21

với hợp đồng, sự điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng, sự điều chỉnh pháp luật cácnước đối với các thương nhân là các bên của hợp đồng, thẩm quyền của cơ quan tàiphán trong giải quyết tranh chấp

Thứ ba, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có sự thống nhất ý chí của

các bên về các nội dung cần giao dịch, ví dụ, loại hàng hóa, giá cả, điều kiện giao hàng,điều kiện thanh toán, bảo hành, chất lượng

Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được xác lập dưới hình thức nhất

định Cũng như hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước, hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế cũng có thể được xác lập dưới những hình thức là bằng văn bản, bằng lời nóihoặc bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, những đòi hỏi về hình thức của hợp đồng muabán hàng hoá quốc tế thông thường được quy định ngặt nghèo hơn so với các quy định

về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước

* Chủ thể giao kết hợp đồng

Người kết ước, hay chủ thể giao kết hợp đồng là các bên chủ thể của hợp đồngMBHHQT như trên đã phân tích hoặc đại diện theo pháp luật/theo uỷ quyền của bênchủ thể trong quan hệ hợp đồng, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân

Đối với thương nhân là cá nhân, mặc dù có những quy định cụ thể khác nhaunhưng nhìn chung khi đề cập đến việc xác định tư cách thương nhân của cá nhân trongquan hệ hợp đồng MBHHQT luật pháp của hầu hết các nước đều dựa trên hai tiêuchuẩn pháp lý liên quan trực tiếp

Thứ nhất, một người để trở thành thương nhân sẽ căn cứ vào năng lực pháp luật và

năng lực hành vi của người đó Trên thực tế để xem xét năng lực pháp luật và năng lựchành vi của một cá nhân

Tại Điều 18 Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định ba trường hợp không đượccông nhận trở thành thương nhân, cụ thể như sau:

- Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế nặng lực hành vi dân sự

Trang 22

- Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang phải chấp hành hình phạt tù.

- Người bị Toà án hạn chế những ngành nghề về kinh doanh

Thứ hai, theo quy định của các nước, đặc biệt là các nước Châu Âu thì nhữngngười đang làm một số ngành nghề nhất định sẽ không trở thành thương nhân như: Tạinước Pháp thì người đang là công chức chuyên trách sẽ không được tham gia vào hoạtđộng thương mại với tư cách là thương nhân (Theo Luật đạo đức và quyền của côngchức Pháp ngày 20 tháng 4 năm 2016 )

Tại Việt Nam không quy định trường hợp cụ thể những nghề không được làmthương nhân Tuy nhiên công chức, cán bộ không được phép thực hiện những hoạtđộng sản xuất kinh doanh theo quy định tại Điều 20 Luật cán bộ công chức 2008.Đối với thương nhân là tổ chức thì tổ chức đó có thể là pháp nhân, tổ hợp tác, hộgia đình Các tổ chức này phải hội đủ các điều kiện pháp lý theo quy định của phápluật Pháp nhân là thương nhân tồn tại dưới nhiều hình thưc như công ty cố phần, công

ty trách nhiệm hữu hạn… Việc phân loại này tuỳ thuộc vào quy định của mỗi nước mà

có các có các tiêu chuẩn khác nhau về mặt pháp lý đối với từng loại hình

Nhìn chung, các quy định về tiêu chuẩn pháp lý để xác định tư cách thương nhâncủa cá nhân, pháp nhân trong hợp đồng MBHHQT được áp dụng theo pháp luật quốctịch/trụ sở của thương nhân

Thương nhân là tổ chức giao kết hợp đồng MBHHQT thông qua cá nhân đại diệnhợp tác của tổ chức đó; việc đại diện hợp pháp căn cứ vào pháp luật nước liên quan

Trang 23

kỳ hình thức nào do người bán và người mua tự thỏa thuận hoặc Giao kết hợp đồngphải được ký kết bằng văn bản hoặc các hình thức tương đương.

Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không yêu cầucác bên phải ký, xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào về mặthình thức của hợp đồng mua bán Các bên có thể dùng bất kỳ phương tiện nào kể cả lờikhai nhân chứng để chứng minh về sự tồn tại của hợp đồng Tuy vậy, Điều 96 của

Công ước này cũng quy định: “Nếu nước thành viên mà trong pháp luật nước đó đòi hỏi hợp đồng phải được ký kết hoặc phê chuẩn dưới hình thức văn bản thì điều quy định này của pháp luật nước thành viên đó phải được tôn trọng”.

Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) của UNIDROIT không bắtbuộc hợp đồng, tuyên bố hay bất kỳ một hành vi nào khác phải được giao kết haychứng minh bằng một hình thức đặc biệt Chúng có thể được chứng minh bằng bất kỳhình thức nào, kể cả nhân chứng Tuy nhiên, Bộ nguyên tắc này không hạn chế việc ápdụng những quy tắc bắt buộc, có nguồn gốc quốc gia, quốc tế phù hợp với các quyphạm có liên quan đến Tư pháp quốc tế, tức là nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng

có thể bị hạn chế bởi quy định riêng của pháp luật quốc gia hoặc theo pháp luật quốc tế.Theo đó, nếu trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế có liên quan bắt buộc hìnhthức hợp đồng mua bán quốc tế phải lập thành văn bản thì các bên sẽ phải tuân theoquy định này (Điều 14 của PICC 2004)

Tại Việt Nam pháp luật quy định hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

tế phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương Trong đó hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex,fax, thông điệp dữ liệu (thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưugiữ bằng phương tiện điện tử) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Tuynhiên trong một số trường hợp pháp luật Việt Nam quy định ngoài việc hợp đồng muabán hàng hoá quốc tế phải được lập thành văn bản thì còn phải được đăng ký, phê

Trang 24

duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới hiệu lực (như hợp đồng chuyểnnhượng quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài).

1.2.2 Trình tự giao kết hợp đồng – quan hệ tiền hợp đồng

Giao kết hợp đồng thông qua giai đoạn chủ yếu là đề nghị và chấp nhận đề nghịgiữa hai bên chủ thể

Quá trình các bên giao thiệp xác lập nên quan hệ “tiền hợp đồng” giữa các bên

có thể thu hồi chào hàng nếu thông báo về việc thu hồi tới nơi người được chào hàngtrước khi người này gửi đi thông báo chấp nhận chào hàng Có hai trường hợp khôngthể thu hồi chào hàng,đó là:

− Chào hàng cố định hoặc được ghi nhận bằng cách khác rằng nó không thể bị thuhồi

− Người nhận ước lượng một cách hợp lý là chào hàng không thể thu hồi được và

đã hành động theo chiều hướng đó (Điều 16, Công ước Viên 1980)

* Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận chào hàng là hành vi thể hiện sự đồng tình, chấp nhận toàn bộ nội dungchào hàng của bên nhận được chào hàng Thời điểm chấp nhận chào hàng chính là thờiđiểm các bên giao kết hợp đồng Một chào hàng, thể hiện sự đồng thuận của ngườinhận được chào hàng, nhưng có đi kèm là sự chỉnh sửa bổ sung hoặc thay đổi so vớichào hàng ban đầu thì khi đó không làm nên sự chấp nhận chào hàng, hợp đồng chưađược giao kết, mà đây chỉ là sự hình thành một chào hàng mới

Trang 25

* Thời điểm giao kết hợp đồng

Trong trường hợp hai bên trực tiếp ký kết hợp đồng, thời điểm hai bên ký vào hợpđồng là thời điểm giao kết hợp đồng Các bên tham gia ký kết có nghĩa vụ thực hiệnnghiêm túc hợp đồng đó Trong trường hợp chào hàng không trực tiếp, thời điểm giaokết hợp đồng sẽ được xác định là thời điểm hành vi chấp nhận chào hàng được thựchiện Hệ thống pháp luật các quốc gia có cách tiếp thu khác nhau về vấn đề này Cácquốc gia Anh và Mỹ ủng hộ học thuyết tống phát cho rằng hợp đồng được giao kết tạithời điểm và địa điểm người được đề nghị gửi chấp nhận đi Trong khi đó Việt Nam vàPháp ủng hộ học thuyết tiếp nhận cho rằng hợp đồng được giao kết tại thời điểm và địađiểm người đề nghị nhận được chấp nhận chào hàng từ bên nhận chào hàng, thể hiện

qua Điều 388 BLDS năm 2015 quy định về “Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực”.

1.2.3 Thỏa thuận về đối tượng, nội dung hợp đồng và hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

* Đối tượng và nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hàng hóa là đối tượng hợp đồng mua bán báo gồm tất cả các loại tài sản được phéplưu thông và không năm trong danh mục bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật.Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa rất rộng, khi giao kết hợp đồngcác bên phải khằng định được rằng tài sản đó đươc phép giao dịch Khi giao kết hợpđồng các bên nên chú ý liệu tài sản đó có được phép giao dịch không, còn lại tất cả tàisản đều là đối tượng của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thểhiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nội dung của hợp đồngmua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụcủa bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào là tùy thuộc vàoquy định của pháp luật từng quốc gia Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng

Trang 26

mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọngcủa hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thểxảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Luật thương mại Việt Nam không quy địnhhợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắt buộc nào Tuy nhiên, ta có thểthấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận

về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm nhậngiao hàng Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi nhữngđiều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định củapháp luật, tức là những điều khoản pháp luật có quy định nhưng các bên không thỏathuận trong hợp đồng

* Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Một hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn những điều kiện màpháp luật quy định Theo Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 về điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

“Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm pháp luật,không trái đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Và hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật” Nếu thiếu một trong bốn căn cứ trên, giao dịch dân sự sẽ bị coi là vô hiệu Hợp

đồng mua bán hàng hóa theo nghĩa rộng nó cũng là một giao dịch dân sự, vậy nên cầnphải đảm bảo các điều kiện này để có hiệu lực Các bên khi giao kết hợp đồng mua bán

hàng hóa phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng đó là “tự do giao kết không trái với pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng” (Điều 389 BLDS), đây cũng là điều kiện để hợp đồng

có hiệu lực, nếu các bên vi phạm nguyên tắc này thì đó sẽ là những nguyên nhân làmhợp đồng vô hiệu, ví dụ việc giao kết hợp đồng do bị cưỡng ép, bị lừa dối… Bên cạnhnhững điều kiện chung có tính nguyên tắc trên đây, để hợp đồng mua bán hàng hóa có

Trang 27

hiệu lực cần tuân thủ một số điều kiện khác về chủ thể và đối tượng hàng hoá mua bánnhư đã phân tích.

Thứ nhất, chủ thể tham gia vào hợp đồng cần phải có năng lực chủ thể Đối với chủ

thể là thương nhân cần phải năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Trong hợpđồng mua bán hàng hóa, ít nhất một bên phải là thương nhân được thành lập hợp pháp,thực hiện hoạt động thương mại thường xuyên, độc lập và có đăng kí kinh doanh cóquốc tịch khác nhau hoặc trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau Trong việcgiao kết hợp đồng, nếu các bên không tự mình thực hiện mà cử đại diện thì đại diệncủa các bên giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền Nếu người đại diệngiao kết hợp đồng không có hoặc không đúng thẩm quyền, phạm vi đại diện thì hợpđồng đó cũng không phát sinh hiệu lực (trừ trường hợp bên chủ thể được đại diện chấpthuận)

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán

hàng hóa phải là những hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường, không phải lànhưng hàng hóa thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Nếu cácbên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc đôi tượng cấm kinh doanh thì hợp đồng

đó mặc nhiên vô hiệu

Thứ ba, hình thức hợp đồng là một yếu tố pháp lý quan trọng của hợp đồng mua

bán hàng hóa quốc tế, có quan hệ biện chứng với bản chất, giá trị hiệu lực của hợpđồng và là phương tiện để diễn đạt ý chí của các bên, cũng như chứng minh sự tồn tạicủa hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng không giống như hợpđồng trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia (hợp đồng nội địa), nguồn luật điềuchỉnh của nó rất phong phú và đa dạng, bao gồm điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia

và tập quán thương mại quốc tế Cho nên, muốn hợp đồng được công nhận giá trị pháp

lý về mặt hình thức thì hình thức của hợp đồng phải tuân thủ pháp luật áp dụng chohợp đồng đó.Như vậy, hình thức của hợp đồng không phải là điều kiện bắt buộc để hợpđồng có hiệu lực, nó chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật có quy định Trường hợp

Trang 28

các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luật bắt buộc hợp đồng đó phảituân thủ về hình thức thì hợp đồng mua bán bị vô hiệu.

Ngoài việc hợp đồng vô hiệu về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếcòn bị vô hiệu trong các trường hợp sau:

Một là,hợp đồng được ký kết do nhầm lẫn sẽ bị coi là vô hiệu Nhầm lẫn trong ký

kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là việc các bên thể hiện không chính xác ýmuốn đích thực của mình khi xác lập hợp đồng Theo quy định của Điều 3.4 nguyêntắc của UNIDROIT, nhầm lẫn là một giả thiết sai lầm liên quan đến sự việc hoặc luật lệtồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng Nhầm lẫn có thể là chỉ một bên nhầm lẫn; cảhai bên cùng nhầm lẫn về một sự việc hay điều luật; hoặc cả hai bên cùng nhầm lẫnnhưng đối tượng nhầm lẫn của mỗi bên lại khác nhau

Hai là, hợp đồng được ký kết do bị đe dọa cũng được coi là vô hiệu Đe dọa có thể

là đe dọa về thể chất hoặc tinh thần (Theo nguyên tắc UNIDROIT)

Ba là, hợp đồng được ký kết do bất bình đẳng được coi là vô hiệu Đây là trường

hợp một bên được hưởng lợi thế do có sự bình đẳn một cách chính đáng tại thời điểmgiao kết hợp đồng

Hợp đồng được ký kết do một trong các bên lừa dối cũng bị coi là vô hiệu Tronghoạt động thương mại quốc tế, lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bênkia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã

ký kết hợp đồng

1.3 Lý luận về pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.3.1 Khái niệm đặc điểm pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Như trên đã phân tích, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hình thức thể hiện

sự thống nhất về ý chí giữa thương nhân có yếu tố nước ngoài trong quan hệ mua bán hàng hoá mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau.

Trang 29

Tuy nhiên, quá trình thoả thuận của các bên phải được thể hiện dưới hình thức nhấtđịnh thông qua giao kết hợp đồng bằng lời nói, hành vi, văn bản.

Dưới góc độ luật học, để làm rõ quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế, cần quan tâm các vấn đề sau đây: (i) Quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế; (ii) Xung đột pháp luật trong giao kết hợp đồng muabán hàng hoá quốc tế; (iii) Luật áp dụng đối với hình thức giao kết hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế; (iv) Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.Việc làm rõ bốn nhân tố nêu trên cho phép xác định rõ những giai đoạn cơ bảntrong giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và thể hiện được những nét đặc thùcủa giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Ngoài ra, việc thoả thuận các điềukhoản cụ thể của hợp đồng như điều khoản giá cả, điều kiện giao hàng, thanh toán, bảohiểm, điều khoản chất lượng hàng hoá, điều khoản ngôn ngữ ưu tiên… cũng có tầmquan trọng nhất định trong việc xác định hiệu lực và tính khả thi của hợp đồng tronggiao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Để đảm bảo hiệu lực của quá trình giao kết hợp đồng, những nội dung nêu trên cầnphải được điều chỉnh bẳng pháp luật bên cạnh quá trình tự do thỏa thuận do các bêntiến hành

Trong khoa học luật tư pháp quốc tế, chưa có khái niệm thống nhất về pháp luật ápdụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Khái niệm “pháp luật” được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm các quy định của

pháp luật do nhà nước xây dựng, ban hành hoặc công nhận (bao gồm các quy định củapháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế mà nhà nước ký kết gia nhập, các tập quán

quốc tế) Do vậy, các thoả thuận tư (hợp đồng) chưa thực sự được coi là “luật” của các

bên Nói cách khác, theo tác giả Bùi Thị Thu, Luận án về đề tài “Luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế tại Việt Nam”, năm 2016, trang 9, 10, quan điểm

về luật áp dụng điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế tại Việt Nam

Trang 30

chủ yếu được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các văn bản do pháp luật nhà nước xâydựng, ban hành hoặc công nhận.

Như vậy có thể hiểu luật áp dụng điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế là toàn bộ nguyên tắc, các quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành, lựachọn áp dụng điều chỉnh việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

1.3.2 Nội dung và nguồn pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

i) Nội dung pháp luật

Cơ sở pháp lý của việc áp dụng điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật tư pháp quốc tế về tính hợp pháp của giaokết hợp đồng MBHHQT

Điều kiện của luật được lựa chọn áp dụng đối với giao kết hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế là không được ảnh hưởng trật tự công và không vi phạm nguyên tắc phápluật của mỗi quốc gia

Nội dung luật áp dụng điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế bao gồm một số nguyên tắc pháp luật và các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề cụ thể liên quan đến giao kết HĐMBHHQT

Thứ nhất, các quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng MBHHQT việc tôn trọng

và bảo đảm quyền tự do thỏa thuận của các bên giao kết HĐMBHHQT là thực sự cầnthiết và phản ánh đúng bản chất của quan hệ hợp đồng Tuy nhiên không phải thỏathuận nào cũng có thể hình thành hợp đồng MBHHQT và từ đó các quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể tham gia quan hệ HĐMBHHQT sẽ được phát sinh theo sự thỏa thuậncủa các bên Do vậy, để bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật, bảo đảm hiệu quả choviệc thực hiện, chấm dứt HĐMBHHQT thì việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ nhữngnguyên tắc cơ bản của quan hệ hợp đồng nói chung và nguyên tắc giao kếtHĐMBHHQT nói riêng

Nguyên tắc tự do chọn luật áp dụng cho giao kết hợp đồng để điều chỉnh các quan

hệ trong hợp đồng

Trang 31

Nguyên tắc tự do chọn luật áp dụng được các quốc gia Châu Âu công nhận vàđược ghi nhận trong Điều 3 Công ước Rome 1980, Công ước Viên 1980 về hợp đồngmua bán hàng hoá quốc tế và trong nhiều điều ước quốc tế khác Ở Việt Nam nguyêntắc này được ghi nhận tại Điều 664 BLDS 2015 về xác định pháp luật áp dụng đối với

quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 2005: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

Trường hợp không có thoả thuận về luật áp dụng cho giao kết hợp đồng mua bán

hàng hoá quốc tế, luật áp dụng cho hợp đồng là pháp luật của “nước có quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng”.

Thứ hai, nhóm quy phạm về chủ thể giao kết hợp đồng MBHHQT, hợp đồng chỉ

phát sinh hiệu lực khi các bên chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực ký, tức là năng lựcpháp luật và năng lực hành vi Việc xác định tư cách chủ thể của các bên tham gia giaokết hợp đồng là vấn đề thuộc lĩnh vực quy chế pháp lý nhân thân Đây không phải làđiều kiện liên quan trực tiếp đến hợp đồng nhưng có vai trò quan trọng trong việc xácđịnh hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng chỉ được công nhận hiệu lực nếu các bên có đủnăng lực pháp lý Pháp luật điều chỉnh năng lực hành vi của cá nhân và năng lực dân sựcủa pháp nhân trong quan hệ hợp đồng không được điều chỉnh bởi pháp luật điều chỉnhhợp đồng, tức là không được điều chỉnh bởi pháp luật mà các bên đã chọn hoặc các bênkhông chọn, bởi pháp luật của nơi thực hiện hợp đồng Hiện nay, điều kiện này đượcquy định rất khác biệt áp dụng đối với pháp luật từng nước Có thể ví dụ như, về độtuổi được pháp luật quy định là có năng lực hành vi đầy đủ tại Việt Nam là từ 18 tuổitrở lên (Điều 20, 22, 23, 24 Bộ luật dân sự năm 2015) tương tự như pháp luật Pháp quyđịnh tại Điều 388 Bộ luật dân sự Pháp; trong khi đó tại Điều 4 Bộ luật dân sự Nhật Bảnnăm 1896 thì độ tuổi từ 20 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi đầy đủ tronghầu hết các ngành luật Dù các nước có quy định khác nhau về năng lực pháp luật

Trang 32

và năng lực hành vi của chủ thể nhưng tựu chung nhất là hợp đồng phải được ký vàthực hiện bởi chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy địnhcủa pháp luật.

Thứ ba, nhóm quy phạm về trình tự, phương thức giao kết hợp đồng MBHHQT,

trình tự phương thức giao kết hợp đồng thông thường gồm hai bước liên tiếp nhau đóchính là: Giai đoạn đề nghị giao kết và giai đoạn trả lời (có thể chấp thuận hoặc khôngchấp thuận) đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như phươngthức giao kết trực tiếp hay gián tiếp Các quy phạm pháp luật xác định tính ràng buộccủa các bên trong quan hệ tiền hợp đồng trong các giai đoạn giao kết và phương thứcgiao kết này

Thứ tư, nhóm quy phạm về hình thức của giao kết hợp đồng Đây là một quy định

pháp lý quan trọng của pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hìnhthức giao kết hợp đồng MBHHQT là cơ sở nhận biết hợp đồng đã được giao kết haychưa Hình thức hợp đồng là cách thức biểu đạt sự thỏa thuận, ý chí của các bên Sở dĩpháp luật đưa ra yêu cầu về hình thức bởi cần phải chứng minh sự tồn tại của hợp đồng.Trong các quy phạm pháp luật, đều có các quy định hợp đồng chỉ có thể hiệu lực nếutuân thủ một số điều kiện về hình thức nhất định, hoặc được chứng minh bằng một cáchnào đó

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 27, Luật thương mại 2005 chỉ công nhận giao kếthợp đồng MBHHQT theo hình thức văn bản hoặc bằng hình thức có giá trị pháp lýtương đương Trong khi đó, CISG công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng,theo quy định tại Điều 11, Công ước viên năm 1980 có nêu: “Hợp đồng mua bánkhông bắt buộc phải được giao kết hoặc chứng minh bằng văn bản cũng như không bắtbuộc phải tuân thủ bất kỳ quy định nào về hình thức Hợp đồng có thể được chứngminh bằng mọi cách, kể cả bằng nhân chứng” Còn theo Điều 2.1.13 của PICC 2004,quy định “ Trong các cuộc đàm phán, khi một bên yêu cầu việc giao kết hợp đồng phụthuộc vào thỏa thuận về một số vấn đề liên quan đến nội dung hoặc hình thức thì hợp

Trang 33

đồng sẽ chỉ được giao kết nếu các bên đạt được thỏa thuận về các vấn đề này” Có thểthấy, các quy định điều chỉnh về hình thức hợp đồng đều dựa trên sự thỏa thuận hợppháp giữa các bên khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Qua đó, xác địnhtính chuẩn mực, chính xác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thamgia giao kết cũng như các trường hợp có liên quan khi phát sinh tranh chấp xảy ra.

Thứ năm, về nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, khi đề cập đến

giao kết nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có nghĩa là đề cập đến rấtnhiều vấn đề phức tạp khác nhau như quyền và nghĩa vụ của các bên, các điều khoảnchủ yếu của hợp đồng, điều khoản giải quyết tranh chấp…Về điều này, pháp luật cácquốc gia đều có những quy định mang tính đặc thù riêng Cụ thể, có thể ví dụ như: “Điều khoản quy định về quyền và nghĩa vụ của người mua và người bán, pháp luậtPháp quy định thiên về bảo vệ quyền và lợi ích của người mua, trong khi pháp luật Đức

lại thiên về việc bảo vệ quyền và lợi ích cho người bán” (VICC & Danida, Cẩm nang hợp đồng thương mại, Hà Nội 2007, trang 93-94) Trong thực tế, có bốn khía cạnh của

nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa hết sức quan trọng, thường xuyên xảy ra cáctranh chấp Đó là về điều khoản chọn luật áp dụng; thời điểm chuyển dịch rủi ro vàchuyển quyền sở hữu hàng hóa; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; thẩmquyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng

Thứ sáu, quy định về hiệu lực giao kết hợp đồng MBHHQT, tại Việt Nam, Luật

thương mại 2005 không có quy định cụ thể về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồngnói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Là một hình thức dân sự,hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giaodịch dân sự theo quy định tại Điều 116 BLDS năm 2015 Mặt khác, tại Điều 4 CISG

1980, lại có quy định: “Công ước này chỉ chiều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán vàcác quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua phát sinh từ hợp đồng đó Trừtrường hợp được quy định khác trong Công ước, Công ước không điều chỉnh đối vớihiệu lực của hợp đồng hoặc của bất kì tập quán nào và hệ quả mà hợp đồng có thể có

Trang 34

đối với quyền sở hữu hàng hóa đã bán” Có thể thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế có hiệu lực tức là có khả năng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham giagiao kết khi nó là hợp pháp

ii) Nguồn pháp luật.

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được điều chỉnh không chỉ bằng luật quốc gia

mà còn được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật khác bao gồm: Điều ước quốc tế, luậtquốc gia, tập quán quốc tế tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên

* Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế được hiểu là các văn bản ghi nhận thoả thuận của các chủ thể luậtquốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào tên gọi của văn bản cũngnhư không phụ thuộc vào việc nó được ghi nhận trong một hay nhiều văn kiện có quan

hệ với nhau

Các điều ước được hình thành trên cơ sở đàm phán ký kết của các quốc gia thànhviên nhằm thống nhất một số quy tắc điều chỉnh hoạtđộng MBHHQT, hạn chế xảy racác tranh chấp Có hai loại điều ước quốc tế đó là: Điều ước quốc tế thống nhất luậtthực chất và điều ước quốc tế thống nhất luật xung đột Các điều ước quốc tế có thểđược ký kết giữa hai hoặc nhiều quốc gia với nhau

+ Điều ước quốc tế thống nhất luật thực chất là sự thỏa thuận, thống nhất xây dựngcác quy phạm thực chất để điều chỉnh hoạt động MBHHQT Điển hình đó là các điều

Trang 35

- Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (Công ước Viên 1980) Công ước này được ký ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Viên, có hiệu lực từ ngày

1 tháng 01 năm 1988 Công ước gồm 3 phần 101 điều quy định rõ những vấn đề liênquan tới việc ký kết và thực hiện hợp đồng MBHHQT Công ước là kết quả của một quátrình cố gắng, của Liên hợp quốc nhằm tiến tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợpđồng MBHHQT, loại bỏ những cản trở do những quy định quá khác xa nhau trong hệ thốngpháp luật quốc gia về những vấn đề liên quan đến thủ tục ký kết và thực hiện hợp đồng giữangười mua với người bán CISG được áp dụng để điều chỉnh các hợp đồng MBHHQT giữacác thương nhân có trụ sở thương mại tại các nước là thành viên của công ước này Các bêncũng có thể không lựa chọn Công ước Viên là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng Trongtrường hợp một trong các chủ thể của hợp đồng có trụ

sở thương mại tại quốc gia không phải là thành viên của Công ước Viên, nhưng cácbên nếu có thỏa thuận áp dụng công ước này thì công ước này có giá trị điều chỉnh hợpđồng MBHHQT đó Công ước Viên1980 là một trong những công ước được sử dụngphổ biến nhất trong các giao dịch MBHHQT Tính đến thời điểm hiện tại, Công ướcViên có 94 thành viên Tháng12/2015, Việt Nam đã trở thành viên chính thức thứ 84của Công ước này

+ Điều ước quốc tế thống nhất luật xung đột: các nước có xu hướng đàm phán, kýkết các điều ước để thống nhất các quy phạm xung đột Theo công ước này, một hợpđồng sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn Việc lựa chọn luật có thể ápdụng cho cả hợp đồng hoặc một phần của hợp đồng đó

+ Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa Việt Nam với các nướcnhư Nga, Pháp, Trung Quốc, Triều Tiên,….Hiệp định tương trợ tư pháp là điều ướcquốc tế song phương qua đó thiết lập các nguyên tắc, quy chuẩn, quy phạm pháp luật trong giải quyết các vấn đề dân sự bao gồm hợp đồng

Trang 36

* Luật quốc gia

Đây là nguồn luật trực tiếp điều chỉnh các giao dịch mua bán hàng hóa Luật quốcgia trong thương mại quốc tế là tổng hợp các quy định điều chỉnh các hoạt động củacác chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế Với tư cách là nguồn luật của thươngmại quốc tế, luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc khôngđược thể hiện dưới hình thức văn bản Việc thể hiện dưới hình thức nào hoàn toàn phụthuộc vào từng hệ thống pháp luật nhất định

Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể là các quyphạm luật thực chất (trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng), có thể là các quy phạm xung đột (quy phạm dẫn chiếu tới luật của một quốc gia

cụ thể và luật đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng)

Các bên trong hợp đồng có thể lựa chọn luật của một trong các bên làm nguồn luậtđiều chỉnh, cũng có thể lựa chọn luật của một quốc gia thứ ba để bảo đảm tính trunglập Một số quốc gia sẽ có những văn bản pháp luật riêng điều chỉnh về hoạt động muabán hàng hóa, như ở Anh có Luật mua bán hàng hóa 1979, ở Trung Quốc là Luật hợpđồng 1999 Cơ sở pháp lý của Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 cũng như các văn bản liên quankhác

* Tập quán quốc tế

Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen phổ biến được thừa nhận và ápdụng rộng rãi trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại một khu vực hoặc trênphạm vi toàn cầu Một số tập quán được áp dụng phổ biến hiện nay đó là:

+ Điều kiện cơ sở giao hàng trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế(Incoterms) Điều kiện Incoterms chủ yếu mô tả các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro trongquá trình hàng hóa được giao từ người bán sang người mua Các điều kiện này chỉ rõbên nào trong hợp đồng có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải hoặc bảo hiểm, thời điểmnào người bán giao hàng cho người mua và chi phí mỗi bên phải chi trả Song, điều

Trang 37

kiện Incoterms không nói đến giá cả hay phương thức thanh toán Ngoài ra, cũngkhông đề cập đến chuyển giao quyền sỡ hữu hàng hóa và hậu quả của việc vi phạmhợp đồng Theo định kỳ, Phòng Thương mại Quốc tế xuất bản ấn phẩm Incoterms: ICCrules for the Use of Domestic and International Trade Terms Phiên bản mới nhất hiệnnay là Incoterms 2020, ngoài ra còn các phiên bản khác hiện vẫn được các thương nhân

sử dụng như Incoterms 2000, 2010

Ví dụ, theo Incoterms 2010 có 11 điều kiện trong đó, nhóm E có 1 điều khoảnEXW (Ex Works); nhóm F bao gồm 3 điều kiện: FCA (Free Carrier), FAS (FreeAlongside Ship), FOB (Free on Board); nhóm C bao gồm 4 điều kiện: CFR (Cost andFreight), CIF (Cost, Insurance and Freight), CPT (Carriage Paid To), CIP (CarriageInsurance Paid To); nhóm D có 3 điều kiện: DAT (Delivered at Terminal),

DAP (Delivered at Place), DDP (Delivered Duty Paid) Trong 11 điều kiện thì điềukiện FAS, FOB, CFR, CIF chỉ dùng cho vận tải đường biển hoặc thủy nội địa; các điềukiện còn lại dùng cho vận tải đa phương thức (tức là có thể dùng một phương thức vậntải bất kỳ hoặc kết hợp sử dụng nhiều phương thức vận tải) Liên quan đến điều kiện cơ

sở giao hàng theo Incoterms, kết quả phiếu khảo sát cho thấy, 86,5% thương nhânthường sử dụng điều kiện giao hàng nhóm C và F

+ PICC đầu tiên được ban hành năm 1994 gồm lời nói đầu, 7 chương và 120 điều.Trong quá trình tồn tại, PICC đã có những đóng góp đáng kể vào thực tiễn hoạt động

thương mại quốc tế Tuy nhiên, trước những biến đổi không ngừng của thương mạiquốc tế, PICC được sửa đổi bổ sung vào năm 2004, mục đích chính cho sự sửa đổi nàynhằm giải quyết các vấn đề mới và quan trọng đối với cộng đồng pháp lý và kinh tếquốc tế Do PICC 2004 không phải là văn bản pháp luật quốc tế, cho nên sự thừa nhận

“Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế” sẽ phụ thuộc nhiều vào tính hợp lý của nó.

PICC có thể được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng trong các trường hợp như: Các bên

kí kết thỏa thuận hợp đồng điều chỉnh bởi PICC 2004;….Các quy định của PICC 2004chủ yếu là các điều khoản tùy nghi, không mang tính bắt buộc Tùy từng trường hợp cụ

Trang 38

thể, các bên có thể loại bỏ việc áp dụng toàn bộ hay từng phần hoặc sửa đổi bổ sungnội dung sao cho PICC 2004 trở nên thích hợp với những điều kiện, tình huống đặctrưng riêng của mỗi giao dịch liên quan Trong trường hợp này, sự thỏa thuận của cácbên có giá trị pháp lý cao hơn các quy định của PICC 2004 Việc hủy bỏ hoặc sửa đổi

bổ sung có thể được nêu rõ hoặc ngầm hiểu giữa các bên Tuy nhiên, các bên cần phảituân theo một số điều khoản bắt buộc Thông thường các điều khoản bắt buộc là cácđiều khoản quy định về chuẩn mực đạo đức và cư xử trong hoạt động thương mại nhưnguyên tắc thiện chí và trung thực

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng gắn liền với các yếu tố quốc tế.Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một quá trình phức tạp liên quan đếnchủ thể có yếu tố nước ngoài và chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khácnhau bao gồm điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia Việc làm

rõ làm rõ các giai đoạn của quá trình giao kết hợp đồng từ đó xác định nội dung nghiêncứu là việc làm cần thiết đối với hoạt động giao kết hợp đồng

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ TẠI TỈNH HƯNG YÊN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam

Giao kết hợp đồng MBHHQT nhằm hướng tới mục tiêu thiết lập hợp đồng có hiệulực để các bên thực hiên theo đúng mục tiêu mà các bên mong muốn sau quá trình đàmphán,soạn thảo

Pháp luật quy định một số khía cạnh pháp lý liên quan đến việc giao kết hợp đồngMBHHQT nhằm bảo đảm quyền tự do giao kết nhưng cũng bảo đảm tính ổn định vàhợp pháp của các giao dịch, đặc biẹt khi giao dịch có yếu tố nước ngoài

* Về chủ thể giao kết hợp đồng:

Chủ thể giao kết hợp đồng chính là chủ thể của hợp đồng hoặc người đại diện của

họ Hợp đồng MBHHQT có yếu tố nước ngoài nên chủ thể hợp đồng có thể có yếu tốnước ngoài như đã phân tích tại Chương 1 luận văn

Căn cứ theo các quy định của Luật Thương mại 2005, hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế có thể được giao kết giữa các bên: Thương nhân với thương nhân hay thươngnhân với cá nhân không phải là thương nhân Như vậy, một bên chủ thể trong hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế bắt buộc phải là thương nhân, bên còn lại có thể là thươngnhân hoặc không là thương nhân

Đối với chủ thể là thương nhân: Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Thươngmại 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạtđộng thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Khi giaokết hợp đồng mua bán hàng hóa, mỗi bên phải cử ra một đại diện hợp pháp của mình

để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Người đại diện theo pháp luật củapháp nhân là người đứng đầu pháp nhân theo điều lệ của pháp nhân hay quyết định của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Ngày đăng: 28/06/2021, 07:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w