1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3

99 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 4,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, một mặt nhằm triển khai các chỉ thị của Bộ, mặt khác để đáp ứng nhu cầu tự học cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 3, nhiều website, nhiều ứng dụng trên máy tính và điện tho

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

- -

LÊ PHƯƠNG VY

XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Thị Kim Thoa

KHÓA HỌC 2013 – 2017

Trang 3

Lời cảm ơn

Để thực hiện được khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả các

cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS

TS Nguyễn Thị Kim Thoa - người đã tận tình giúp đỡ, khuyến khích, động

viên cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô trong

khoa Giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Huế đã quan

tâm, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô và học sinh trường Tiểu học

Chu Văn An đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Do vốn kiến thức còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô

và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn!

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Lê Phương Vy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Giả thuyết khoa học 5

8 Cấu trúc đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Khái quát về bài giảng e-learning 7

1.1.2 Adobe Presenter – phần mềm thiết kế bài giảng e-learning 16

1.1.3 Dạy học các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3 30

1.1.4 Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh lớp 3 trong giờ học có sử dụng bài giảng e-learning hoặc tự học với bài giảng e-learning 32

1.2 Thực trạng vận dụng bài giảng e-learning trong dạy và học các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3 33

1.2.1 Mục tiêu 33

1.2.2 Đối tượng 33

1.2.3 Công cụ 33

1.2.4 Kết quả 34

1.2.5 Nguyên nhân 36

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN Ở LỚP 3 38

2.1 Định hướng xây dựng bài giảng e-learning 38

2.1.1 Minh họa trực quan, mô phỏng cấu trúc nội dung bài học 38

Trang 5

2.1.2 Phù hợp với tiến trình hoạt động trí tuệ của học sinh 38

2.1.3 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh 38

2.1.4 Thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức dạy học 38

2.2 Quy trình xây dựng bài giảng e-learning 39

2.2.1 Cơ sở xây dựng bài giảng e-learning 39

2.2.2 Quy trình chung để xây dựng bài giảng e-learning 39

2.2.3 Vận dụng quy trình thiết kế bài giảng e-learning dạy học số tự nhiên ở lớp 3 41

2.3 Lưu ý khi sử dụng bài giảng e-learning dạy học số tự nhiên ở lớp 3 76

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78

3.1 Mục đích thực nghiệm 78

3.2 Nội dung thực nghiệm 78

3.3 Phương pháp thực nghiệm 78

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 78

3.3.2 Quan sát giờ học 78

3.3.3 Bài kiểm tra 79

3.4 Kết quả thực nghiệm 79

3.5 Ý kiến đề xuất 81

KẾT LUẬN 82

1 Kết luận 82

2 Đề xuất, khuyến nghị 82

PHỤ LỤC 87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học có vai trò là nền tảng, là cái móng vững chắc của hệ thống giáo dục phổ thông Vì vậy, tiểu học trở thành bậc học cần được chú trọng, quan tâm, đầu tư kĩ lưỡng, khắc phục những sai xót và đổi mới kịp thời

Ở tiểu học, mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng, có thể nói rằng học toán không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu những kiến thức lí thuyết

về toán học mà còn là để ứng dụng trong đời sống thực tiễn, lao động sản xuất Vì vậy, Toán là một môn học trọng tâm, rất cần thiết cho người lao động, đặc biệt là người lao động trong thời đại mới

Hơn nữa, xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, theo đó, công cuộc đổi mới của đất nước đã và đang đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo một nhiệm vụ nặng

nề đó là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Ý thức được tầm quan trọng của bậc học Tiểu học và đáp ứng nhu cầu thay đổi của thời đại, nhiều chính sách, nghị quyết, công văn về đổi mới giáo dục, đặc biệt là giáo dục tiểu học đã được đề ra nhằm đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức học tập của môn Toán nói riêng và tất cả các môn học ở bậc Tiểu học nói chung, trong đó đặc biệt đề cao đến việc ứng dụng những phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu của học sinh để hướng tới giáo dục toàn diện

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”

Tiếp đó, Nghị quyết 29 - Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nhấn mạnh vai trò của tự học và sáng tạo trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy

và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi

Trang 7

nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở

để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chủ yếu chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Luật Giáo dục (12/1998, Điều 24.2) cũng ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho từng học sinh”

Theo những điều trên và ý thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin

và truyền thông trong dạy học, nhiều công trình nghiên cứu khoa học giáo dục đã xoáy sâu vào vấn đề này đã làm thay đổi hoàn toàn cách dạy, cách học, cách hiểu của không chỉ giáo viên, học sinh và còn của toàn thể xã hội về việc dạy và học Thêm vào đó, hiện nay, khi thời lượng của mỗi tiết học Toán trên lớp có hạn, mà khối lượng thông tin, kiến thức cần truyền thụ ngày càng lớn, nhu cầu tự tìm hiểu,

tự học của học sinh ngày càng cao, nên người giáo viên gặp phải khó khăn trong việc giảng dạy tại lớp học và khó có thể đáp ứng tất cả những nhu cầu kiến thức của học sinh Chính vì thế nên việc sử dụng công nghệ thông tin, các bài giảng điện

tử tại nhà có thể một phần phát triển năng lực tự học của học sinh, qua đó khắc phục những điểm bất lợi trên, giảm nhẹ gánh nặng cho giáo viên đồng thời giúp học sinh đảm bảo quá trình học tập của bản thân đạt hiệu quả trong tất cả các môi trường học tập: nhà trường, gia đình, xã hội

Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, Internet xóa nhòa khoảng cách địa lý giữa mỗi quốc gia và mang đến nguồn lợi thông tin cực kì lớn thì việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học càng trở nên phổ biến Máy tính kết nối mạng cùng với các ứng dụng trở thành một phương tiện hiện đại và tiện lợi

có thể áp dụng cho việc dạy và học Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo đang trở thành yêu cầu cấp bách Chỉ thị số 55/2008/CT – BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh: “Triển khai

áp dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng công nghệ thông tin ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc,

Trang 8

tìm được nội dung học phù hợp; xoá bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại” Ngoài ra, một mặt nhằm triển khai các chỉ thị của Bộ, mặt khác để đáp ứng nhu cầu tự học cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 3, nhiều website, nhiều ứng dụng trên máy tính và điện thoại thông minh đã được phát triển chứa đựng nhiều bài giảng e-learning phục vụ cho nhiều môn học khác nhau, trong

đó có môn Toán, tuy nhiên đa phần các website này đều chỉ đưa ra những bài tập hoặc câu hỏi để học sinh trả lời mà chưa chú trọng vào việc xây dựng nội dung kiến thức bài dạy giúp cung cấp kiến thức cơ bản, nền tảng về các nguyên tắc, khái niệm toán học cho học sinh Ý thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, với tư cách là một giáo viên tiểu học tương lai tôi chọn

nghiên cứu đề tài “Xây dựng bài giảng e-learning dạy học các phép tính trên số tự

nhiên ở lớp 3” với mong muốn xây dựng hệ thống bài giảng e-learning và các bài

tập bổ sung có liên quan về chủ đề các phép tính trên số tự nhiên, qua đó, một mặt, mong muốn góp phần bù đắp thiếu sót của những website học tập trực tuyến hiện tại và xây dựng một số tư liệu về dạy học số tự nhiên để có thể ứng dụng trong việc dạy học tại các trường tiểu học, và đáp ứng nhu cầu tự nâng cao kiến thức, hiểu biết

và rèn luyện kĩ năng của học sinh lớp 3; giúp các em vừa chơi, vừa học vừa có thể

giao lưu, học hỏi bạn bè cùng lứa tuổi trên khắp mọi miền đất nước

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có nhiều cách thức và phương pháp đã được nghiên cứu và áp dụng nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh, tuy nhiên, trong thời đại công nghệ ngày nay, việc nghiên cứu vấn đề phát triển năng lực tự học theo hướng sử dụng mạng internet và máy tính trở thành một vấn đề “hot” đang được quan tâm, phải kể đến là khái niệm bài giảng và bài học trực tuyến thông qua hình thức học tập “e-learning” Nói về bài giảng e-learning đầu tiên phải kể đến giai đoạn 1984 – 1993 với sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, Máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn PowerPoint cùng các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra một kỷ nguyên mới -

kỷ nguyên đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra các bài giảng có tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ CBT (Computer Based Training) Bài học được phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể có nó và tự học Đến giai đoạn 1994 – 1999, khi công nghệ Web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Các chương trình: E-mail, Web, Trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML và

Trang 9

JAVA bắt đầu trở lên phổ dụng đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện Từ năm 2000 – 2005, các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng và băng thông Internet được nâng cao, các công nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo Ngày nay thông qua Web, giáo viên có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo Từ thời điểm đó đến hiện nay, có rất nhiều trang web được lập ra với nhiều bài giảng e-learning nhằm đáp ứng nhu cầu tự học tại nhà của các

em, điển hình như “olm.vn”, được xem như một công trình nghiên cứu và ứng

dụng của Trung tâm Khoa học Tính toán, ĐH Sư phạm Hà Nội & Công ty C.P.Khoa học và Công nghệ Giáo dục, hay “baigiangtructuyen.vn”, “cunghoc.vn” đặc biệt là trang “baigiang.violet.vn” và thư viện trực tuyến “violet.vn” được xem như một nguồn tư liệu đa dạng, quan trọng và không thể thiếu đối với giáo viên các cấp học Các kênh học trực tuyến ở trang web Youtube ngày càng trở nên nổi tiếng

và phổ biến với học sinh và các bậc phụ huynh Thêm vào đó là nhiều trang web khác với nhiều bài giảng e-learning với nhiều hình thức thể hiện khác nhau

Từ việc tìm hiểu một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này, tôi nhận thấy một số công trình nghiên cứu về bài giảng e-learning đã được hiện thực hóa thành các website chứa đựng nhiều bài giảng e-learning ở khắp các môn học, nhưng chưa có hệ thống bài giảng nào dành riêng cho học sinh lớp 3 khi học về số

tự nhiên và đặc biệt là các phép tính trên số tự nhiên Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài này

và mong rằng thông qua công trình nghiên cứu của tôi, tôi có thể đóng góp một phần nhỏ nào đó vào việc bổ sung, hoàn thiện thêm hệ thống bài giảng e-learning phục vụ cho quá trình giảng dạy cũng như học tập vấn đề này của giáo viên và học sinh lớp 3

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực tiễn dạy học các phép tính trên số tự nhiên lớp 3, đồng thời nghiên cứu lí luận cơ bản về cách thiết kế và sử dụng bài giảng e-learning Từ đó xây dựng hệ thống bài giảng e-learning về phép tính trên số tự nhiên cho học sinh lớp 3 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh và góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học tại trường Tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu quan niệm, cấu trúc của bài giảng e-learning, cách xây dựng và áp dụng bài giảng e-learning vào việc dạy và học Toán lớp 3

Trang 10

- Tìm hiểu nội dung dạy học các phép tính trên số tự nhiên trong chương trình môn Toán lớp 3

- Khảo sát thực trạng sử dụng bài giảng e-learning trong dạy học các phép tính trên số tự nhiên lớp 3

- Thiết kế một số bài giảng e-learning về các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của sản phẩm thiết kế

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Bài giảng e-learning về các phép tính trên số tự nhiên lớp 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Các phép tính trên số tự nhiên trong chương trình Toán lớp 3 hiện hành

- Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học Chu Văn An, TP Đồng Hới, Quảng Bình

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lí luận: dùng để nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và

hệ thống hóa các vấn đề lí luận về các khái niệm cơ bản có liên quan đến bài giảng e-learning, những vấn đề lí luận liên quan đến chủ đề số tự nhiên ở lớp 3, đặc điểm phát triển nhận thức và khả năng tự học của học sinh lớp 3 trong tiết dạy

có sử dụng bài giảng e-learning

Phương pháp điều tra: khảo sát, tìm hiểu, rút ra nhận xét về thực trạng tự học

qua bài giảng e-learning của học sinh

Phương pháp thống kê toán học: thống kê, xử lí, phân tích số liệu điều tra

và thực nghiệm

Phương pháp quan sát: quan sát, theo dõi quá trình học tập trên lớp và quá

trình tự học môn Toán của học sinh

Phương pháp thực nghiệm sư phạm: kiểm chứng hiệu quả các bài giảng đã

được thiết kế

7 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên biết thiết kế và sử dụng bài giảng e-learning trong quá trình dạy học cũng như có khả năng định hướng cho học sinh của mình tự học với bài giảng e-learning sẽ tạo ra được những hỗ trợ tích cực cho việc tiếp thu kiến

Trang 11

thức về các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3 nói riêng và kiến thức Toán học nói chung Từ đó, góp phần đổi mới phương pháp dạy học Toán, kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo, linh hoạt của học sinh trong giờ học, bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cần thiết nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học và giáo dục ở tiểu học

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái quát về bài giảng e-learning

1.1.1.1 Khái niệm bài giảng e-learning

Trước khi tìm hiểu về khái niệm bài giảng e-learning, ta cần tìm hiểu về khái niệm “e-learning” Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), giáo dục trực tuyến (e-learning) là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính, điện thoại thông minhnối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/ yêu cầu/ ra đề cho học sinh học trực tuyến từ xa Giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN)

Trong công bố của UNESCO Bangkok “Asia and Pacific Regional Bureau for

Education 2010”, Resta và Patru đã đưa ra khái niệm e-learning là hình thức học

tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập

và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học ([38], 13)

Khi đề cập đến khái niệm e-learning, William Horton trong “E-learning by

design” (2006) cho rằng e-learning sử dụng công nghệ thông tin và máy tính để tạo

ra những trải nghiệm học tập ([1],15)

Cũng liên quan đến khía cạnh phương tiện sử dụng trong dạy học, Tony Bates

đã đề cập đến trên trang web “online learning and distance education resources”

rằng e-learning là tất cả những hoạt động dựa vào máy tính và Internet để hỗ trợ

dạy và học – cả ở trên lớp và từ xa [19]

Trong bài viết E-learning and the Big “E” trên diễn đàn giáo dục Educause Quarterly volume 33 (2010), Bernard Luskin đã lí giải “E” trong thuật ngữ e-

learning được hiểu là “exciting, energetic, enthusiastic, emotional, extended,

excellent, educational” nghĩa là “học tập thú vị, năng động, nhiệt tình, cảm xúc, mở

rộng, tuyệt vời và có giáo dục”

Vậy, có thể hiểu rằng, e-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng Internet, mạng vệ tinh, đĩa CD học liệu,… Qua đó, người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: người học theo dõi bài giảng qua mạng (trực tiếp hoặc gián tiếp), e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum),… Nếu hiểu theo nghĩa rộng, e-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công

Trang 13

nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin

Bài giảng e-learning được hiểu là bài giảng điện tử phục vụ cho quá trình giáo dục trực tuyến Vì vậy, đôi khi bài giảng e-learning còn được gọi là bài giảng trực tuyến, là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia gồm phim, hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh,…) và tuân thủ một trong các chuẩn SCROM, AICC Bài giảng e-learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bài trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (PowerPoint) thường gọi

Bài giảng e-learning có thể dùng để học ngoại tuyến (offline) hoặc trực tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học mà không cần đến giáo viên giảng dạy, không cần đến trường, lớp

Bài giảng e-learning khác hoàn toàn so với bài giảng điện tử hoặc giáo án điện

tử Giáo án điện tử có thể hiểu là giáo án truyền thống của giáo viên nhưng được đưa vào máy tính, hay nói cách khác giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ

kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp đã được số hóa và minh họa bằng các dữ liệu đa phương tiện một cách trực quan, có cấu trúc chặt chẽ và logic theo cấu trúc bài học Giáo án khi được đưa vào máy tính, nhờ phát huy được những ưu điểm, thế mạnh của CNTT mà việc trình bày nội dung, hình thức được tốt hơn, đẹp hơn Tuy vậy, không thể nhầm lẫn giữa bài giảng e-learning và bài giảng điện tử hay giáo án điện tử Qua việc tìm hiểu khái niệm về bài giảng e-learning và bài giảng điện tử dưới đây để trình bày những điểm khác biệt giữa bài giảng e-learning và bài giảng điện tử:

Bảng 1.1 So sánh bài giảng e-learning và bài giảng điện từ

- Có thể được sử dụng để học ngoại

tuyến (offline) hoặc trực tuyến (online),

có tương tác gián tiếp giữa người dạy –

người học, người học – người học,

người học không cần đến trường

- Sử dụng giao tiếp giữa máy – người để

- Sử dụng giao tiếp giữa người – người,

có sự tương tác trực tiếp giữa thầy – trò

- Được sử dụng như công cụ phục vụ cho quá trình dạy học của người dạy

Trang 14

- Được tạo ra dựa trên sự kết hợp giữa

các công cụ tạo bài giảng theo các chuẩn

SCORM, AICC

- Được tạo ra dựa trên các phần mềm PowerPoint, violet, flash,…

1.1.1.2 Đặc điểm bài giảng e-learning

Bài giảng được xây dựng dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông: công nghệ mạng kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán,… qua đó bổ sung rất tốt cho phương pháp dạy – học truyền thống do tính tương tác cao, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn và cũng đưa ra những nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người, cụ thể là:

- Bài giảng e-learning không bị giới hạn bởi không gian và thời gian Trong thời đại công nghệ ngày nay, với Internet, người học có thể chủ động học tập, thảo luận bất cứ lúc nào và nơi đâu

- Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của các phương tiện multimedia, bài giảng learning thường tích hợp các hình ảnh, âm thanh, phim,… Nội dung bài giảng thường được trình bày với hình thức hấp dẫn (kiểu chữ, màu chữ,…) nên có tính hấp dẫn, kích thích sự tò mò của người học về nội dung bài dạy

e Tính linh hoạt: Bài giảng ee learning cho phép người học tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với trình độ, thời gian của bản thân

- Tính cập nhật: Nội dung bài giảng có thể được cập nhật một cách dễ dàng và thường xuyên

- Tính hợp tác, phối hợp: Người học có thể dễ dàng trao đổi thông tin với người dạy và người học khác thông qua các diễn đàn (forum), hội thoại trực tuyến (chat), thư điện tử (e-mail),…

- Mọi rào cản tâm lý về giao tiếp giữa người dạy và người học cũng như giữa người học và người học dần bị xóa bỏ, người học tự tin hơn, mạnh dạng hơn trong việc trao đổi quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học

1.1.1.3 Chức năng bài giảng e-learning

Với định nghĩa và những đặc điểm như trên, bài giảng e-learning có thể đóng vai trò là một phương tiện dạy học dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, cụ thể là kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán, công nghệ mạng kĩ thuật đồ họa,…được sử dụng độc lập trong quá trình tự học hoặc được sử dụng phối hợp trong quá trình dạy – học Nếu với vai trò là bài giảng được sử dụng độc lập trong quá trình tự học thì đối tượng hướng đến cũng như đối tượng sử dụng bài

Trang 15

giảng là người học, còn nếu bài giảng được sử dụng như một công cụ, phương tiện dạy học thì dĩ nhiên, đối tượng hướng đến vẫn là người học, nhưng đối tượng sử dụng thông thường là người dạy

Dù với vai trò nào, phục vụ cho quá trình tự học hay quá trình dạy – học, bài giảng e-learning vẫn được xem là một phương tiện, công cụ được sử dụng trong quá trình giáo dục Chính vì thế nên bài giảng e-learning có mối liên hệ mật thiết với các thành phần khác trong quá trình giáo dục: người dạy, người học, môi trường giáo dục,… Ngoài ra bài giảng e-learning còn có chức năng là nơi chứa đựng thông tin mới cần cung cấp cho người học Điều này có nghĩa là phần nội dung của bài giảng e-learning chính là phần thông tin người học phải tiếp thu sau khi tự học hoặc sau quá trình dạy – học Hay nói cách khác, bài giảng e-learning được sử dụng để hình thành kiến thức mới cho người học

Bên cạnh chức năng cung cấp thông tin mới, bài giảng e-learning còn có chức năng như một công cụ dùng để kiểm tra kiến thức của người học Bài giảng e-learning có thể được thiết kế đi kèm với một hệ thống các câu hỏi, bài tập, yêu cầu người học thực hành để kiểm tra lượng thông tin người học đã nắm, đã có Như vậy, thực chất, bài giảng e-learning cũng là một nguồn thông tin, nhưng những thông tin có trong bài giảng là những thông tin được mặc định rằng người học đã học, đã biết, đã xem và thường ẩn dưới dạng những câu hỏi, bài tập chứ không tường minh như chức năng cung cấp thông tin mới được nhắc đến ở trên

Hơn thế nữa, bài giảng e-learning còn có chức năng minh họa, hỗ trợ cho những thông tin mà người dạy đưa ra trong giờ học nếu nó được sử dụng trong quá trình dạy học bằng những hình ảnh, video, âm thanh đã được thiết kế

1.1.1.4 Chuẩn thiết kế và sử dụng bài giảng e-learning

Theo định nghĩa của ISO – Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (International Organization for Standardization): “Các thỏa thuận trên văn bản chứa các đặc tả kĩ thuật hoặc các tiêu chí chính xác được sủ dụng một cách thống nhất như các luật, các chỉ dẫn hoặc định nghĩa của các đặc trưng, để đảm bảo rằng các vật liệu, sản phẩm, quy trình và dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng được gọi là chuẩn” Bài giảng e-learning được xây dựng và sử dụng phải đáp ứng các quy chuẩn sau đây [18]:

a Chuẩn chất lượng (Quality Standards)

Nguyên tắc này chi phối toàn bộ quá trình thiết kế cũng như khả năng sử dụng

Trang 16

và hỗ trợ của bài giảng Việc thiết kế và sử dụng bài giảng e-learning phải đảm bảo chất lượng về cả mặt nội dung và hình thức Nội dung của bài giảng phải đúng, chính xác, dễ học, dễ dùng Đặc biệt đối với bài giảng theo chương trình giáo dục phổ thông trong đó có giáo dục tiểu học thì nguyên tắc đảm bảo chất lượng lại càng phải được chú trọng kỹ lưỡng hơn nữa, bài giảng không chỉ phải cung cấp đủ mà còn phải đúng lượng kiến thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng khối lớp dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của người học mà cụ thể đang được nhắc đến ở đây là học sinh; đồng thời phải đảm bảo độ phân hóa trong giáo dục, bên cạnh những nội dung cơ bản cụ thể cho từng bài học, phải có những nội dung mới, khó hơn, đi sâu vào vấn đề hơn để kích thích sự ham học hỏi của người học cũng như thỏa mãn nhu cầu của đối tượng người học có khả năng tư duy và lĩnh hội tốt

Đi đôi với việc đảm bảo chất lượng về mặt nội dung là việc đảm bảo chất lượng

về mặt hình thức Font chữ, kiểu chữ, màu chữ, màu nền, độ nét của hình ảnh, phim,… hay độ rõ của các file âm thanh trong bài giảng e-learning đều phải được đảm bảo để thu hút sự chú ý của người học, kích thích tính tò mò, ham học hỏi, tìm hiểu Chỉ khi khơi gợi được hứng thú học tập nơi người học thì bài giảng mới trở nên có giá trị và mang lại hiệu quả

b Chuẩn truyền thông (Communication Standards)

Khi nhắc đến khuyết điểm của bài giảng e-learning, người ta thường nhắc đến

sự thiếu hụt trong trao đổi thông tin giữa các đối tượng người học hoặc giữa người học và người dạy, tuy vậy, nếu đảm bảo nguyên tắc này, khuyết điểm đó sẽ một phần được khắc phục Nguyên tắc đảm bảo sự trao đổi thông tin đòi hỏi bài giảng e-learning được thiết kế đi kèm với một hệ thống theo dõi để người dạy có thể biết được mức độ hoàn thành, tiến trình học của người học và một hệ thống các công cụ liên lạc (e-mail, forum, chat, điện thoại, trao đổi trực tiếp…) để đảm bảo sự giao tiếp kịp thời giữa người dạy và người học cũng như giữa các đối tượng người học với nhau Các chuẩn trao đổi thông tin thường gặp: AICC (Aviation Industry CBT Committee) có hai chuẩn liên quan là AICC Guidelines và Recommendations (AGRs) thường được áp dụng cho các đào tạo dựa trên web, mainframe, đĩa; SCORM gồm Runtime Environment (RTE) quy định sự trao đổi giữa hệ thống quản lý đào tạo và các SCO (Sharable Content Object) – đối tượng nội dung có thể chia sẻ được

c Chuẩn đóng gói (Packaging Standards)

Một bài giảng e-learning như đã được định nghĩa ở trên bao gồm nhiều tệp

Trang 17

khác nhau (bài giảng PowerPoint, hình ảnh, đoạn ghi âm, phim,…), vì vậy nguyên tắc đóng gói bài giảng hay chuẩn bài giảng sẽ giúp đảm bảo các file được gộp và cài đặt đúng vị trí, tránh sự nhầm lẫn làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bài giảng e-learning

Khi đóng gói bài giảng e-learning, yêu cầu phải ghép nhiều đơn vị nội dung khác nhau thành một gói nội dung duy nhất Các đơn vị nội dung có thể là các bài dạy (Powerpoint), các file HTML, ảnh, multimedia, style sheet và mọi thứ khác xuống đến một icon nhỏ nhất

Nếu bài giảng e-learning được sử dụng để dạy online thì khi đóng gói cần lưu ý phải mô tả bài học sao cho có thể nhập vào hệ thống quản lý tại trang web, đồng thời hệ thống quản lý có thể hiển thị cấu trúc của bài học và người học có thể dựa trên menu bài học để học tập phù hợp với nhu cầu

Việc đóng gói cũng phải đảm bảo quá trình di chuyển bài giảng từ máy tính này sang máy tính khác, trang web này sang trang web khác, hệ thống này sang hệ thống khác không làm thay đổi cấu trúc bài giảng tức là không phải điều chỉnh cấu trúc, sửa bài giảng khi di chuyển

Hiện nay, việc đóng gói bài giảng e-learning phục vụ cho dạy học e-learning thường tuân theo các chuẩn đóng gói sau: AICC (Aviation Industry CBT Committee), IMS Global Consortium, SCORM (Sharable Content Object Refernce Model)

d Chuẩn siêu dữ liệu (Metadata Standards)

Nguyên tắc này bài giảng e-learning phải được sắp xếp một cách hợp lý trong

hệ thống quản lý để dễ dàng kiểm tra và phân loại khi cần thiết Hiện nay, các chuẩn siêu dữ liệu cung cấp các cách để mô tả các module, đồng thời giúp nội dung bài giảng hữu ích hơn với các đối tượng Metadata cung cấp các chuẩn mực để mô

tả các bài học theo dạng các catalog hỗ trợ cho việc tìm kiếm được nhanh chóng và

dễ dàng Các chuẩn Metadata: IEEE 1484, 12 Learning Object Metadata Standard; IMS Learning Resources Metadata Specification, SCORM Metadata Standard,… Các công cụ giúp tuân theo chuẩn Metadata: Developer Toolkit (phát triển bởi Sun Microsystems IMS), SCORM Metadata Generator được đưa ra bởi ADL (Advances in Digital Libraries)

e Một số chuẩn khác

Test Questions: đây là chuẩn về các câu hỏi kiểm tra Chuẩn này tìm ra cách

Trang 18

chung để các bài kiểm tra, câu hỏi có thể dùng được trong nhiều hệ thống khác nhau ([9], 10)

Enterprise Information Model: xác định các định dạng cho phép trao đổi các dữ liệu quản lý giữa các hệ thống ([9], 10)

Learning Information Packaging: xác định một định dạng chung về thông tin người học ([9], 10)

g Chuẩn SCORM

Theo wikipedia – từ điển bách khoa toàn thư mở, Sharable Content Object Reference Model (viết tắt là SCORM) là một tập hợp các tiêu chuẩn và các mô tả cho một chương trình e-learning dựa vào web Nó định nghĩa sự giao tiếp thông tin giữa nội dung máy khách và hệ thống máy chủ, được gọi là môi trường runtime (thông thường được gọi là LMS - learning management system) SCORM cũng được định nghĩa là cách để nén nội dung lại vào trong một file ZIP Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, tôi sử dụng chuẩn SCORM cho các bài giảng e-learning mình thiết kế

SCORM là một mô hình tham khảo các kĩ thuật, đặc tả và các hướng dẫn có liên quan được đưa ra bởi các tổ chức khác nhau dùng để đáp ứng các yêu cầu ở mức cao của nội dung học tập thông qua các đặc tính:

- Tính truy cập được (Accessibility): Khả năng có thể truy cập, định vị bài giảng và khả năng phân phối bài giảng đến các vị trí khác

- Tính thích ứng được (Adaptability): Khả năng cung cấp nội dung bài giảng phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân và tổ chức giáo dục

- Tính kinh tế (Affordability): Khả năng tăng hiệu quả giảng dạy nhưng cắt giảm được các chi phí liên quan

- Tính bền vững (Durability): Khả năng bền vững với sự phát triển và thay đổi của công nghệ

- Tính linh động (Interoperability): Khả năng có thể di chuyển bài giảng từ một

hệ thống này đến hệ thống khác mà không làm thay đổi nội dung bài giảng

- Tính tái sử dụng (Reusability): Khả năng tái sử dụng và phối hợp bài giảng trong nhiều trường hợp khác nhau, hay nói cách khác là khả năng sử dụng nhiều lần bài giảng [18]

Năm 2000, phiên bản SCORM 1.0 ra đời, tiếp đó, năm 2001, SCORM 1.1 ra

Trang 19

đời, là phiên bản tiếp theo, sử dụng cấu trúc dữ liệu file XML dựa trên bản mô tả của ủy ban AICC (Aviation Industry CBT Committee) để mô tả cấu trúc nội dung, nhưng thiếu hỗ trợ siêu dữ liệu (metadata) và phương thức đóng gói đủ mạnh SCORM 1.2 là phiên bản tiếp theo được sử dụng rộng rãi Tiếp đó là phiên bản SCORM 2004 với 3 phiên bản, phiên bản mới nhất là SCORM 2004 3rd Edition ra đời năm 2006

1.1.1.5 Nguyên tắc xây dựng bài giảng e-learning

a Đảm bảo tính sư phạm

- Đảm bảo cho học sinh tiếp thu được các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với chương trình học

- Giúp cho việc truyền đạt kiến thức của người dạy được thuận lợi, nhẹ nhàng

- Phù hợp với phương pháp giảng dạy, khả năng nhận thức của học sinh, tạo điều kiện để học sinh tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy logic, sáng tạo

b Đảm bảo tính kĩ thuật

- Thể hiện rõ việc ứng dụng những thành tựu của khoa học kĩ thuật

- Đảm bảo tính chính xác về phương diện toán học, các dấu hiệu, thuộc tính bản chất của bài giảng e-learning

- Các kĩ thuật thao tác đơn giản, phù hợp cho cả giáo viên và học sinh khi sử dụng

c Đảm bảo tính thẩm mỹ

- Màu sắc các slide hài hòa; màu chữ, cỡ chữ, kiểu chữ phù hợp, thống nhất; các công cụ đa phương tiện tích hợp trong bài giảng có chất lượng tốt, kích cỡ phù hợp, tương xứng, không quá lòe loẹt, làm học sinh không tập trung, xao nhãng

- Cách trình bày đẹp, khoa học, tinh tế, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

d Đảm bảo tính kinh tế

- Chi phí thiết kế thấp nhưng đảm bảo hiệu quả sử dụng

- Đảm bảo các tệp, trang web,…(nơi chứa bài giảng e-learning) được vận hành tốn, ích tốn kém

e Đảm bảo tính khả thi, hiệu quả

- Đảm bảo mục tiêu bài dạy cũng như khai thác được lợi thế của phần mềm

Trang 20

- Có khả năng ứng dụng và ứng dụng có hiệu quả vào quá trình dạy học cũng như tự học đồng thời đảm bảo tính hòa phối chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa các phương pháp và hình thức dạy học

- Đảm bảo tính mới lạ trong phương pháp và hình thức dạy học, phát huy được tính tích cực của học sinh

1.1.1.6 Ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng bài giảng e-learning trong dạy học

Về ưu điểm, đầu tiên phải kể đến sự phân hóa rõ ràng trong nội dung học tập, thông thường, một bài giảng e-learning sẽ ứng với một nội dung học tập, tức là một bài học cụ thể trong chương trình học và thường được sắp xếp theo trật tự logic độ khó của kiến thức, từ thấp đến cao hoặc sắp xếp theo đúng nội dung chương trình học phổ thông, vì thế, dựa vào danh mục và tên bài học trực tuyến, tên bài, trong quá trình sử dụng bài giảng e-learning trong việc dạy và học, người dạy cũng như người học có thể dễ dàng theo dõi quá trình học tập và giảng dạy Thêm vào đó, không giống như những tài liệu “cứng” như sách giáo khoa, vở bài tập, sách điện

tử, bài giảng e-learning có thể được cập nhật, bổ sung hoặc sửa đổi nội dung kiến thức, và việc phân phối nội dung, kiến thức này đến với người học rất dễ dàng, nhanh chóng, thông qua hệ thống mạng Internet hoặc các phương tiện khác như USB, đĩa CD,… Hơn nữa, khi áp dụng bài giảng e-learning vào dạy học, người dạy

có thể giảm được chi phí cho quá trình dạy học, cụ thể là chi phí sử dụng cho đồ dùng, thiết bị dạy học, quá trình chấm, chữa bài, Ngoài ra, trong quá trình sử dụng bài giảng e-learning, thông qua hệ thống mạng Internet, người dạy có thể dễ dàng truy cập nhanh, rà soát được các thông tin về người học, lớp học, theo dõi tiến

độ và tình hình học tập của từng người học, từ đó tiến hành trao đổi nhanh, kịp thời với người học thông qua các công cụ như e-mail, trò chuyện trực tuyến hoặc trực tiếp, diễn đàn,…

Đối với người học, khi sử dụng bài giảng e-learning để học tập, người học có thể học theo khả năng cá nhân, theo thời gian biểu của bản thân, việc học ít bị gò

bó bởi khung thời gian và không gian nên việc lựa chọn phương pháp học tập cũng trở nên dễ dàng hơn Ngoài ra, với bài giảng e-learning, người học có thể tự theo dõi, đánh giá được quá trình học tập của bản thân, tự tìm ra được những điều mình còn thiếu xót trong quá trình học, từ đó có thể tự bổ sung hoặc trao đổi thông tin với người dạy, người học khác bất kì lúc nào và ở đâu thông qua e-mail, trò chuyện trực tuyến hoặc trực tiếp, diễn đàn,… Học với bài giảng e-learning còn đảm bảo tính công bằng, khách quan nhưng vẫn phân hóa trong giáo dục

Trang 21

Về nhược điểm, vấn đề được đặt ra đầu tiên đó là yêu cầu về sơ sở vật chất, trang bị kĩ thuật, điều này đòi hỏi cần vốn đầu tư ban đầu cao cho các cơ sở giáo dục cũng như tại gia đình Thực tế, phải nhìn nhận rằng, với sự phát triển và điều kiện kinh tế của cả nước hiện nay, việc đầu tư cho các trường học đồng bộ hệ thống máy tính kết nối mạng với tai nghe, webcam và các phần mềm được mua bản quyền là một vấn đề khá khó thực hiện một cách đồng bộ và đại trà Mặc khác, nếu

sử dụng bài giảng e-learning để học tại gia đình thì đòi hỏi gia đình cũng phải có đầy đủ những điều kiện trên, vì thế, bài giảng e-learning và cách học e-learning thường được đánh giá là phù hợp với điều kiện tại các thành phố hơn ở vùng nông thôn, vùng núi, hải đảo,…

E-learning là một hình thức giáo dục mới, có nhiều điểm khác so với phương pháp và hình thức dạy truyền thống, mà việc thay đổi cách dạy, cách học của người dạy và người học không phải là vấn đề một sớm một chiều, vì thế bản thân người dạy và người học trong quá trình sử dụng bài giảng e-learning sẽ gặp một số khó khăn nhất định Thêm vào đó, để sử dụng bài giảng e-learning, người học cũng phải

có một khối lượng kiến thức và trình độ nhất định để làm việc, thực hiện các thao tác với máy tính và Internet vì vậy, đối với đối tượng người học là học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh ở những lớp nhỏ, học sinh không có điều kiện tiếp xúc với công nghệ hiện đại thì việc học với bài giảng e-learning sẽ gặp khó khăn Người dạy sẽ phải tốn thời gian hướng dẫn, thao tác mẫu cho người học và hiệu quả bài giảng sẽ bị giảm sút

Đối với người dạy, việc chuẩn bị cho một bài giảng e-learning để áp dụng vào dạy học là cực kì công phu, đòi hỏi phải có sự đầu tư cả về trí tuệ lẫn tài chính nên dẫn đến việc tốn thời gian, công sức nhưng đôi khi vẫn không đạt được hiệu quả như mong muốn, hơn nữa trong quá trình chia sẻ bài giảng tại các trang mạng, diễn đàn, các phương tiện lưu trữ khác (USB, đĩa CD),… còn làm nảy sinh các vấn đề

về sở hữu trí tuệ, an ninh mạng,…

Bên cạnh đó, khi sử dụng bài giảng e-learning trong dạy học hoặc tự học, mặc

dù vẫn đảm bảo được giao tiếp giữa người dạy và người học, người học và người học khác thông qua các phương tiện đã được nhắc đến ở trên, nhưng vẫn hạn chế khả năng giao tiếp trực tiếp, sử dụng ngôn ngữ trực tiếp của người học

1.1.2 Adobe Presenter – phần mềm thiết kế bài giảng e-learning

1.1.2.1 Khái quát về Adobe Presenter

Trong bối cảnh ngày nay, đa số các giáo viên đều có thể sử dụng phần mềm

Trang 22

PowerPoint để soạn bài trình chiếu (presentation), để chuyển sang bài giảng learning, cách nhanh nhất, tiết kiệm nhất, dễ dàng nhất nhưng vẫn đảm bảo các chuẩn là sử dụng phần mềm Adobe Presenter “Adobe Presenter giúp chuyển đổi bài trình chiếu PowerPoint sang dạng tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có câu hỏi tương tác (quizze) và khảo sát (surveys), tạo một hoạt động điều khiển dẫn dắt chương trình (animation), và tạo mô phỏng (stimulation) một cách chuyên nghiệp, đảm bảo tạo ra bài giảng điện tử tương thích với chuẩn SCORM

e-2004 và AICC” ([2], 8)

Hiện có rất nhiều phiên bản Adobe Presenter, nhưng trong phạm vi khóa luận này, tôi sử dụng Adobe Presenter 10 Phần mềm này tích hợp tốt nhất với Microsoft PowerPoint phiên bản 2010 hoặc 2013

1.1.2.2 Cài đặt phần mềm

Hiện nay, có rất nhiều trang web cho phép tải phần mềm Adobe Presenter 10, tuy nhiên khi lựa chọn tải phần mềm, nên tìm phần mềm đã được bẻ khóa, hoặc trang web có cung cấp Serial Number (key) để có thể sử dụng lâu dài mà không cần phải cài lại Hoặc có thể tải phần mềm dùng thử 30 ngày từ trang web chính thức (địa chỉ: http://www.adobe.com/) và quyết định mua nếu cần thiết

Bước 1: Giải nén file: Kích chuột phải vào file nén, chọn Extract to Adobe

Presenter 10, chờ giải nén

Bước 2: Cài đặt phần mềm

Sau khi giải nén, vào thư mục Adobe Presenter 10, kích đúp vào Setup.exe để

cài đặt, cửa sổ sau xuất hiện:

Hình 1.2: Cài đặt Adobe Presenter

Chọn Install, nhập ID và password nếu đã có, nếu chưa, đăng kí bằng e-mail Sau khi đã nhập ID và password Tiếp đó chọn Accept, nhập Serial number, chọn Next

Trang 23

Chọn Install, chờ quá trình cài đặt:

Sau khi cài đặt xong, chọn Finish

Bước 3: Vào PowerPoint để kiểm tra

Sau khi đã cài đặt xong, vào PowerPoint để kiểm tra xem ở các năng chứa lệnh

(Tabs) đã có ngăn ADOBE PRESENTER chưa, thử kiểm tra các tính năng của

phần mềm: Record file âm thanh, Record Video, Inreraction, Quiz, Theme,…

Hình 1.7: Giao diện làm việc Adobe Presenter trong Powerpoint

1.1.2.3 Sử dụng Adobe Presenter

a Các bước cơ bản để tạo bài trình chiếu

Bước 1: Tạo/ tận dụng bài trình chiếu PowerPoint

Với việc tận dụng những bài giảng soạn bằng PowerPoint đã được soạn trước,

Trang 24

Adobe Presenter làm tối đa hóa khả năng tiết kiệm thời gian khi sử dụng phần mềm Adobe Presenter được tích hợp sẵn trong PowerPoint và được sử dụng với các thao tác như các Tabs và lệnh bình thường trong cửa sổ làm việc của PowerPoint Bước 2: Biên tập

Quá trình biên tập là quá trình chỉnh sửa, biên tập, thêm bớt thông tin, trau chuốt hình ảnh bằng việc tận dụng các tính năng của cả hai phần mềm: Adobe Presenter và PowerPoint

Bước 3: Hoàn thành sản phẩm

Sau khi hoàn thành sản phẩm, Adobe Presenter cho phép người dùng xuất bản file ra nhiều kiểu file khác nhau phù hợp cho cả học trực tuyến (online) lẫn học ngoại tuyến (offline) Bản thân phần mềm Adobe Presenter đã được tích hợp vào hệ thống phần mềm họp và học ảo Adobe Connect, nên chỉ cần kết hợp sử dụng đồng thời hai phần mềm này, bài giảng soạn bằng Adobe Presenter có thể sử dụng để học trực tuyến với mạng Internet Có thể đưa bài giảng e-learning soạn bằng Adobe Presenter vào các hệ thống quản lý học tập trong Learning Management Systems (LMS), hiện nay ở Việt Nam, LMS nổi tiếng là Moodle, cũng cấp mã nguồn mở để lập trang web miễn phí

b Thiết lập ban đầu cho bài trình chiếu

Bước 1: Đặt tiêu đề cho màn hình

Mở PowerPoint, vào tab Adobe Presenter, tìm tab Tools, nhấn vào nút lệnh

, cửa sổ Settingsxuất hiện Tại đây, nhập những thông tin bài giảng theo

hướng dẫn ở hình dưới:

Hình 1.8: Thẻ Appearance Settings Bước 2: Chọn chế độ chạy khi xuất bản

Cũng ở cửa sổ Settings Chọn sang thẻ Playback Thẻ Playback cho phép

Tiêu đề bài giảng

Tóm tắt nội dung chính của bài giảng

Trang 25

người thiết kế cài đặt những hiệu ứng cho việc chạy bài giảng (chuyển tiếp giữa các

slide, hiệu ứng) Việc chỉnh sửa cài đặt được thực hiện trên cửa sổ Playback

Options như bên dưới:

Hình 1.9: Thẻ Playback Options Settings Bước 3: Đính kèm tệp tin

Để đính kèm một số tài liệu phục vụ cho người học trong quá trình học có thể tiện tra cứu những thông tin liên quan, người thiết kế có thể dính kèm trong bài giảng một được link dẫn đến một trang web chứa thông tin hoặc một file tài liệu

Muốn làm điều này, ở cửa sổ Settings, chọn thẻ Attackments, thêm tài liệu văn bản

hoặc bảng tính/ đường link bằng nút lệnh Khi nhần vào nút này, một hộp thoại sẽ xuất hiện cho phép người dùng có thể lựa chọn tệp tin từ bất cứ nguồn tài nguyên nào (trên máy, trên website khác)

Hình 1.10: Attachment Settings

Sau khi đã chọn được tài liệu, nhấn OK để kết thúc thao tác

Bước 4: Khai báo thông tin giáo viên

Khai báo thông tin giáo viên sẽ giúp cho người học tiện theo dõi và lựa chọn được phương pháp học cũng như người dạy mà mình ưa ý; ngoài ra, thông tin giáo

Click vào đây để lựa chọn đối tượng cần chèn thêm

File: Tệp tin trên máy Link: Tệp tin từ website

Trang 26

viên cũng được xem là thông tin bắt buộc cần chèn vào bài giảng Để làm điều này,

vào menu Adobe Presenter, kích nút lệnh Settings , chọn thẻ Presenter Chọn tiếp Add và điền thông tin như hướng dẫn bên dưới:

Hình 1.11: Khai báo thông tin giáo viên Bước 5: Chọn giao diện cho bài giảng khi xuất bài giảng

Để bài giảng đồng bộ về giao diện, tạo sự thẩm mỹ và đẹp mắt, ta tiến hành chọn và chỉnh sửa giao diện cho bài giảng

Chọn Themes (giao diện) phù hợp bằng cách vào và điều chỉnh trong

hộp thoại Theme Editor

Trong đó:

Theme: Chọn lại màu cho giao diện

Glow: chọn màu cho hộp lựa chọn khi chọn một dòng nào đó trên theme

Font: màu của chữ hiển thị trên giao diện

Background: màu của nền, có thể dùng một hình ảnh nào đó trong máytính

của mình bằng cách chọn BackgroundImage

Mục Modify Text Labels: chỉnh sửa lại các tiêu đề hiển thị trên giao diện (có

thể gõ tiếng Việt theo ý muốn)

Mục Show Slidebar: Chọn Left/Right để cho phép hiển thị cột thông tin bên

trái hoặc phải của bài giảng

Kích vào Browse, tìm đến nơi bỏ ảnh, chọn ảnh

Trang 27

Hình 1.12: Hộp thoại Theme Editors

c Ghi âm và ghi hình

Bước 1: Ghi âm thuyết âm

Từ menu của Adobe Presenter, xem mục Audio:

Hình 1.13: Mục Audio Trong đó:

Record là ghi âm trực tiếp

Import là chèn tệp âm thanh đã có sẵn

Sync là đồng bộ âm thanh

Edit là chỉnh sửa file ghi âm

Việc thực hiện ghi âm đi qua các bước sau:

Bước 1.1: Chuẩn bị nội dung cần ghi âm (có thể viết nội dung ghi âm ra giấy hoặc soạn thảo bằng phần mềm Microsoft Word)

Bước 1.2: Ghi âm (trực tiếp hoặc mở file ghi âm có sẵn)

Trang 28

Bước 1.3: Chỉnh sửa

Bước 1.4: Tạo hiệu ứng

Bước 1.5: Đồng bộ âm thanh và hiệu ứng

Cần lưu ý rằng: Âm thanh chèn vào bằng chức năng Import Audio phải chuyển sang định dạng mp3, wav và file âm thanh chèn sau sẽ ghi đè vào file âm thanh trước

d Chèn các câu hỏi tương tác

Hiện nay, trong quá trình soạn bài giảng, ngoài phần mềm PowerPoint, Violet là một trong những phần mềm được ưa chuộng và sử dụng Violet mang đến một tính năng tương tác giữa người học và máy tính qua hệ thống câu hỏi, bài tập cũng như trò chơi PowerPoint hiện không đáp ứng được tính năng này, nhưng với Adobe Presenter kết hợp, khuyết điểm này của PowerPoint bị loại bỏ hoàn toàn Adobe Presenter cung cấp hệ thống tương tác thông minh thông qua hệ thống câu hỏi để đánh giá năng lực người học, đồng thời, giúp người học ôn lại kiến thức cũ cũng như học được kiến thức mới

Cách thực hiện như sau:

Từ menu của Adobe Presenter, mục Quiz, nhấn vào nút Add Quiz Hộp thoại

Quiz Manager xuất hiện, kích chuột vào Add Question:

Hình 1.15: Hộp thoại Quiz Manager

Hộp thoại Question Types xuất hiện:

Trang 29

Hình 1.16: Hộp thoại Question Types Một số dạng câu hỏi thường được sử dụng:

Multiple choice: câu hỏi một hoặc nhiều lựa chọn

True/False: câu hỏi đúng sai

Fill in the blank: điền vào chỗ trống

Short answer: câu hỏi trả lời ngắn

Matching: ghép đôi

Sequence: sắp xếp để có câu trả lời đúng

Drag Drop: kéo thả hình (chữ)

Kích chuột vào , hộp thoại Quiz Settings xuất hiện

Trong đó:

Name: Tên

Required: Người thiết kế có thể sử dụng tính năng này để xác lập một số yêu cầu

của bài tập:

Optional: người học có thể bỏ qua bài tập

Required: người học phải thực hiện bài tập để tiếp tục

Pass required: người học phải thực hiện đúng bài tập để tiếp tục

Answer all: người học phải trả lời hết tất cả các câu hỏi để tiếp tục

Trang 30

Ở mục Settings:

Allow backward movement: cho phép làm lại

Allow user to review quiz: cho phép xem lại câu hỏi

Include instructions slide: gồm slide hướng dẫn

Show score at end of quiz: hiển thị kết quả khi làm xong

Show questions in outline: hiển thị câu hỏi trong mục lục

Shuffle questions/answers: trộn câu hỏi/ câu trả lời

Hình 1.17: Hộp thoại New Quiz

Hình 1.18: Required – New Quiz

Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple choice)

Là loại câu hỏi có nhiều lựa chọn để trả lời, trong đó có thể chỉ có một lựa chọn

hoặc nhiều lựa chọn chính xác Để chèn loại câu hỏi này, kích chuột vào Quiz

Manage/AddQuestion/Multiple choice Cách thiết lập cho câu hỏi một hoặc nhiều

lựa chọn được giới thiệu qua hình sau:

Trang 31

Hình 1.19: Hộp thoại Multiple choice question - Question Ngoài ra, Adobe Presenter còn cung cấp chức năng tương tác ngược lại với

người học thông qua thẻ Option cũng trong hộp thoại Multiple choice question

Hình 1.20: Hộp thoại Multiple choice question - Options

Trang 32

Để thể hiện tốt tính tương tác thì ngay mỗi lựa chọn trả lời, cần bổ sung những thông tin phản hồi tương ứng, giúp người học nhận ra họ trả lời đúng là vì sao, sai

là vì sao thông qua nút lệnh cho từng câu trả lời

Khi click vào nút lệnh này, một bảng với chức năng tương tự được hiển thị ra

để người soạn câu hỏi có thể phản hồi lại thông tin một cách đầy đủ nhất tới người học

Sau khi hoàn thành xong các tương tác thích hợp, thiết lập tên câu hỏi trong chế

độ báo cáo thông qua mục Reporting:

Hình 1.21: Hộp thoại Multiple choice question - Reporting

Câu hỏi dạng đúng – sai (True – False)

Là loại câu hỏi đưa ra sự giải quyết nhanh chóng, hoặc đúng hoặc sai Người học cần cân nhắc để có thể thực hiện chọn một trong hai đáp án Để chèn loại câu

hỏi này, kích chuột vào Quiz Manage/Add Question/True/False:

Hình 1.22: Hộp thoại True/false question - Question

Câu hỏi dạng điền khuyết (Fill in the blank)

Là loại câu hỏi mang nội dung điền vào chỗ trống Người học sẽ hoàn thành bài tập này thông qua vấn đề điền được các nội dung thích hợp vào ô lựa chọn do

người soạn câu hỏi đặt ra Để chèn loại câu hỏi này, kích chuột vào Quiz

Manage/Add Question/Fill in the blank:

Trang 33

Hình 1.23: Hộp thoại Fill in the blank question - Question Sau khi lựa chọn xong một từ (cụm từ), một hộp thoại sau hiện ra, người dùng

có thể tiếp tục điều chỉnh để đạt kết quả tốt nhất bằng các lệnh trong hộp thoại

Blank Answer:

Hình 1.24: Hộp thoại Blank Answer

Câu hỏi có trả lời ngắn với ý kiến của mình (Short Answer)

Là loại câu hỏi mà người học có thể trả lời với ý kiến của mình Trong đó người soạn câu hỏi có thể tạo ra những câu trả lời đúng, trong phạm vi người học có thể trả

lời được Để chèn loại câu hỏi này, kích chuột vào Quiz Manage/Add Question/Short

Answer Tiến hành thêm nội dung câu hỏi và câu trả lời theo hướng dẫn ở hình bên

dưới:

Trang 34

Hình 1.25: Hộp thoại Short answer question - Question

Câu hỏi dạng ghép đôi (Matching)

Là loại câu hỏi có sự ghép giữa hai nhóm đối tượng để cho ra kết quả đúng nhất Người học sẽ ghép những yếu tố ở cột 1 với cột 2 để cho ra kết quả Để chèn

loại câu hỏi này, kích chuột vào Quiz Manage/Add Question/Matching :

Hình 1.26: Hộp thoại New matching question - Question

Trang 35

e Xuất bản

Vào Ribbon Publish:

Hình 1.27: Mục Presentation

Cửa sổ Publish Presentation xuất hiện:

Hình 1.28: Cửa sổ Publish Presentation

Chọn My Computer nếu muốn xuất bài giảng ra máy tính, mục Publish

Format hỏi muốn xuất file ở dạng nào (SWF, HTML5 hay cả hai), mục Output Options cho thấy có thể xuất ra dưới dạng file nén (ZIP package) hoặc xuất ra đĩa

CD tự động chạy (CD package with autorun)

Chọn Adobe Connect nếu máy đã cài phần mềm này và muốn sử dụng phối

hợp hai phần mềm với tính năng đã đề cập ở trên

1.1.3 Dạy học các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3

1.1.3.1 Mục tiêu dạy học các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3

Biết cách thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100000 bao gồm: thuộc các bảng tính, cách cộng, trừ với các số có 5 chữ số, nhân với các

số có ba, bốn chữ số với số có một chữ số, chia số có đến 5 chữ số cho số có một chữ số (chia hết hoặc chia có dư), tính giá trị biểu thức số có hai dấu phép tính (có hoặc không có dấu ngoặc, tìm thành phần chưa biết của phép tính, tìm một trong

Trang 36

các phần bằng nhau của một số (trong phạm vi các phép chia đơn giản đã học) Thực hiện được tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc trong các trường hợp đơn giản, thường gặp về cộng, trừ, nhân, chia; cộng, trừncác số có 5 chữ số, nhân các số có ba, bốn chữ số với số có một chữ số, chia số có đến 5 chữ số cho số

có một chữ số (chia hết hoặc chia có dư), tính giá trị biểu thức số có hai dấu phép tính (có hoặc không có dấu ngoặc), tìm thành phần chưa biết của phép tính, tìm một trong các phần bằng nhau của một số (trong phạm vi các phép chia đơn giản đã học) Vận dụng để giải các bài toán có lời văn và giải quyết một số tình huống trong thực tế

Góp phần hình thành và phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận và cách trình bày, diễn đạt, cách phát hiện và giải quyết vấn đề, từ đó góp phần bồi dưỡng cho học sinh phương pháp học tập, phương pháp suy nghĩ, tính tích cực, chủ động

và sáng tạo trong học tập cũng như trong cuộc sống

1.1.3.2 Nội dung dạy học các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3

Nội dung kiến thức Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt

1 Phép nhân và phép chia trong phạm vi

1000:

- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích

không quá 50) và các bảng chia cho 2, 3, 4,

5 (số bị chia không quá 50) Bổ sung cộng,

trừ các số có ba chữ số nhớ không quá một

lần

- Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 (tích

không quá 100) và các bảng chia cho 6, 7,

8, 9, 10 (số bị chia không quá 100)

- Hoàn thiện các bảng nhân và các bảng

chia

- Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi

1000: nhân số có hai, ba chữ số với một số

có một chữ số có nhớ không quá một lần,

chia số có hai, ba chữ số cho số có một chữ

số, chia hết và chia có dư

- Thực hành tính: tính nhẩm trong phạm vi

các bảng tính, nhân nhẩm số có hai chữ số

- Học thuộc bảng nhân 2, 3, 4, 5 và bảng chia 2, 3, 4, 5; lập được bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 và các bảng chia cho 6, 7, 8, 9, 10;

- Biết thực hiện phép cộng, phép trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000, biết tính nhẩm trong những phép tính đơn giản

Trang 37

với số có một chữ số không nhớ, chia

nhẩm số có hai chữ số với số có một chữ

số không có dư ở từng bước chia Củng cố

về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi

1000 theo các mức độ đã xác định

- Làm quen với biểu thức số và giá trị biểu

thức

- Giới thiệu thứ tự thực hiện các phép tính

trong biểu thức số có đến 2 dấu phép tính,

có hoặc không có ngoặc

số có một chữ số có nhớ không liên tiếp và

không quá hai lần, tích không quá 100 000

Phép chia số có năm chữ số cho số có một

chữ số (chia hết và chia có dư)

- Tính giá trị các biểu thức số có đến ba dấu

phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc

- Biết tính giá trị các biểu thức có đến hai dấu phép tính theo quy tắc thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức Biết gọi tên thành phần và kết quả của phép tính, biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính

trong các bài toán dạng: x + a = b; x -

a = b; a - x = b; a × x = b; x : a = b; a : x = b

Với a, b là các số trong phạm vi 100

- Thực hiện được phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp, không quá hai lần, trong phạm vi 100 000, phép nhân số có bốn chữ số với số

có một chữ số có nhớ không liên tiếp

và không quá hai lần, tích không quá

100 000, phép chia số có năm chữ số cho số có một chữ số Tính được giá trị biểu thức số có ba dấu phép tính

1.1.4 Đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh lớp 3 trong giờ học có sử

dụng bài giảng e-learning hoặc tự học với bài giảng e-learning

Đối với học sinh đầu bậc tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng, tri giác của các em thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn (tri giác sự vật) Những

gì phù hợp với nhu cầu của các em, thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động thường nhật của các em thì mới được các em tri giác Ngoài ra, tính cảm xúc thể hiện rõ trong hoạt động tri giác của học sinh lớp 3, các em rất dễ xúc động nên những gì trực tiếp gây ra xúc cảm, khơi gợi được hứng thú, sự tò mò, được các em tri giác tốt hơn Ở giai đoạn này tư duy trực quan ở các em chiếm ưu thế Các em thích cụ thể, sinh động Thông qua những sự vật, hiện tượng cụ thể trực qua đó các

Trang 38

em tư duy để đưa đến khái niệm hay kiến thức mình cần biết Ngoài ra, các em rất hiếu động , thích khám phá, ham hiểu biết cái mới, song các em chóng chán Vì thế, nếu bài giảng e-learning được thiết kế đảm bảo tính thẩm mỹ, mới lạ, phù hợp với

“thị hiếu” của học sinh, thu hút được chú ý của các em thì được các em tri giác và tiếp thu tốt

Thêm vào đó, ở lứa tuổi lớp 3, học sinh đang trong giai đoạn phát triển cả về trí tuệ lẫn thể chất Khả năng chú ý, tập trung của trẻ còn thấp Trẻ không thích thực hiện các công việc đơn điệu có tính chu kì, trái lại các em rất có hứng thú với những hình ảnh, phim, âm thanh, trò chơi,… Vì thế, bài giảng e-learning rất phù hợp với trẻ ở lứa tuổi này

Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng khi sử dụng bài giảng e-learning để tự học hoặc nghe giáo viên giảng có kết hợp bài giảng e-learning hiểu bài và nắm vấn đề rất nhanh, tuy nhiên, các em lại nhanh quên Bởi vậy trong quá trình thiết kế bài giảng e-learning, người thiết kế cần chú ý thiết kế các công cụ kiểm tra kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã nắm được qua bài giảng để từ đó, có những biện pháp bổ sung kịp thời

1.2 Thực trạng vận dụng bài giảng e-learning trong dạy và học các phép tính trên số tự nhiên ở lớp 3

1.2.1 Mục tiêu

Quá trình khảo sát hướng đến tìm hiểu thực trạng áp dụng bài giảng e-learning vào hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động tự học các bài toán thuộc chủ để số

tự nhiên của học sinh lớp 3, nhận thức của giáo viênvà học sinh về vấn đề này Qua

đó, tìm hiểu năng lực, thái độ, hứng thú của học sinh khi bản thân hay giáo viên sử dụng những bài giảng này trong học tập

1.2.2 Đối tượng

- Giáo viên dạy môn Toán lớp 3: 2 giáo viên

- Học sinh lớp 3: 2 lớp 3A1 (27 em) và 3A2 (28 em)

- Địa bàn khảo sát: Trường tiểu học Chu Văn An, Đồng Hới, Quảng Bình

1.2.3 Công cụ

- “Phiếu điều tra”: dành cho giáo viên giảng dạy môn Toán lớp 3 Thông qua phiếu điều tra, hiểu rõ và đánh giá nhận thức của giáo viên cũng như thực trạng sử dụng bài giảng e-learning trong việc dạy học số tự nhiên

Trang 39

- “Bảng hỏi”: dành học sinh lớp 3 để khảo sát mức độ tiếp thu, thái độ và sự hứng thú của các em; những lỗi sai các em thường mắc phải và những mong muốn của học sinh khi sử dụng bài giảng e-learning để tự học hoặc được giáo viên áp dụng bài giảng e-learning để dạy học

1.2.4 Kết quả

1.2.4.1 Kết quả khảo sát học sinh

Qua khảo sát bằng bảng hỏi, tôi đã thu được kết quả về thực trạng việc ứng dụng bài giảng e-learning vào việc dạy học chủ đề số tự nhiên như sau:

Nhận thấy rằng, 43 trong tổng số 55 học sinh rất thích những tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin (78,2%), có 11 em (20%) có thái độ bình thường đối với những tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin và chỉ một em không thích những tiết học loại này Có 76,4% (42/55 học sinh) rất hứng thú, 10/55 học sinh (18,2%)

có thái độ bình thường và 3 học sinh (5,5%) không hứng thú với bài giảng learning Hơn một nửa trong tổng số học sinh được khảo sát cho rằng nội dung kiến thức về các phép tính trên số tự nhiên là không khó (chiếm 58,2%), 38,2% học sinh cho rằng khó và 3,6% học sinh cho rằng rất khó Năng lực tự học của học sinh cũng

e-ở mức độ tương đối (61,8% học sinh chọn “Khá”, 23,6% học sinh chọn “Tốt” và 14,5% học sinh chọn “Yếu”) Quá trình khảo sát tại trường tiểu học Chu Văn An cho thấy, phần lớn học sinh có đủ điều kiện về cơ sở vật chất tại gia đình (máy tính kết nối mạng, tai nghe,…) để học với bài giảng e-learning (87,3%) Trong quá trình học với bài giảng e-learning tại nhà, học sinh cũng vấp phải một số khó khăn nhất định, 40% học sinh cho rằng không có thầy cô giáo giảng bài trực tiếp, em khó hiểu bài; 34,5% học sinh cho rằng bài giảng e-learning quá khó, em không thể hiểu bài, 41,2% gặp khó khăn trong việc trao đổi với bạn bè để học và 5,4% học sinh cảm thấy rất chán khi học với bài giảng e-learning

Và những mong muốn đối với bài giảng e-learning của học sinh chủ yếu là bài giảng e-learning phải mới lạ, có nhiều bài tập tình huống hấp dẫn (56,4%) và có nhiều kiến thức mở rộng (58,2%) Ngoài ra các em còn muốn bài giảng e-learning

có nhiều bài tập thực hành (45,5%), dung lượng ngắn gọn nhưng đủ kiến thức (34,5%) và có video thầy/cô giáo giảng bài (27,3%)

Bên cạnh đó, đối với hoạt động hướng dẫn học với bài giảng e-learning tại lớp, 72,7% học sinh muốn thầy cô hướng dẫn thêm những phần chưa hiểu, 54,5% muốn

ra thêm nhiều bài tập ứng dụng ngoài bài và 23,6% muốn em được tự học theo suy nghĩ của mình và có một ý kiến mong muốn được học nhóm khi học với bài giảng

Trang 40

e-learning

1.2.4.2 Kết quả khảo sát giáo viên

Thông qua việc xử lí kết quả thu được từ phiếu điều tra, tôi nhận thấy rằng thầy/cô đã sử dụng bài giảng e-learning chủ đề số tự nhiên trong việc phối hợp dạy học tại lớp nhưng chỉ với mức độ thỉnh thoảng (50%) và hiếm khi (50%) Thầy/cô cũng đã khuyến khích học sinh học với bài giảng e-learning với mức độ thỉnh thoảng (100%) Tuy vậy, phần lớn thầy/cô đã có nhận thức về việc sử dụng bài giảng e-learning vào việc dạy học Toán 3 cho học sinh và cho rằng việc làm này là cần thiết (chiếm 100%) Tất cả thầy/cô được khảo sát đồng ý rằng tại nhà trường đã

có đủ điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học với bài giảng e-learning Thêm vào đó, tất cả quý thầy/cô cũng đồng ý rằng, lượng bài giảng e-learning trên các trang mạng chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của học sinh và bản thân giáo viên Xét về hiệu quả tiếp thu của học sinh khi sử dụng bài giảng e-learning, tất cả thầy/cô đều đồng ý học sinh có khả năng tiếp thu tốt khi học với bài giảng e-learning và nếu sử dụng bài giảng e-learning phối hợp trong giờ học, thầy cô chủ yếu sử dụng trong phần hình thành kiến thức (100%) và thực hành luyện tập (50%) Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng những công

cụ và phương tiện học toán được cho là quan trọng, cần phát triển cho học sinh khi

sử dụng bài giảng e-learning còn năng lực tư duy và năng lực tính toán được xem là rất quan trọng và cần chú trọng phát triển cho học sinh Suy nghĩ này xuất phát từ quan niệm cho rằng việc phát triển tư duy, năng lực tính toán cho học sinh là vô cùng quan trọng, hai năng lực này không chỉ được sử dụng trong việc học Toán mà còn trong đời sống hằng ngày

Ngoài ra, học sinh ở hai lớp khảo sát được quý thầy/cô đánh giá là đã nắm chắc được kiến thức cơ bản, có thể vận dụng, thực hành thực hiện được một số bài tập nâng cao ở mức độ vận dụng (biết, hiểu, vận dụng), ngoài ra, có một số học sinh nổi bật có khả năng tư duy tốt, thực hiện được cả những dạng vận dụng sáng tạo của các bài toán

Trong quá trình giảng dạy, chủ yếu quý thầy/cô chỉ sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint các phiên bản để soạn bài giảng chứ chưa hề được tiếp cận với các phần mềm khác như LectureMAKER, Adobe Presenter, Violet,…; khi sử dụng các phần mềm để soạn bài giảng, thầy/cô cũng gặp phải những khó khăn nhất định: các phần mềm chưa có bản việt hóa nên khó sử dụng (100%), không có đủ

Ngày đăng: 28/06/2021, 07:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bernd Meier, Nguyễn văn Cường (2009), Lý luận dạy học hiện đại – Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học, Postdam – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại – Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn văn Cường
Năm: 2009
2. Nguyễn Trọng Chiến (cb., Nguyễn Hoài Anh (2013), Các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh tiểu học qua môn Toán, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh tiểu học qua môn Toán
Tác giả: Nguyễn Trọng Chiến (cb., Nguyễn Hoài Anh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
3. Đỗ Trung Hiệu – Vũ Dương Thụy (1995), Các phương pháp giải toán ở tiểu học, NXB Giáo dục, Tập 1, Tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp giải toán ở tiểu học
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu – Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
4. Đỗ Trung Hiệu, Nguyễn Hùng Quang, Kiều Đức Thành (2001), Phương pháp dạy học toán, NXB Giáo dục, Tập 2, phần Thực hành giải toán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học toán
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Nguyễn Hùng Quang, Kiều Đức Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
5. Đỗ Đình Hoan (cb. (2013), Sách giáo khoa Toán 3, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 3
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (cb
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
6. Nguyễn Bá Kim (2008), Phương pháp dạy học mônToán, NXB Đại học Sư phạm 7. Quách Quỳnh Nga (2013), Khóa luận tốt nghiệp: “Thiết kế bài giảng e-learningtrong dạy học tự nhiên và xã hội 3”, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học mônToán", NXB Đại học Sư phạm 7. Quách Quỳnh Nga (2013), Khóa luận tốt nghiệp: “"Thiết kế bài giảng e-learning "trong dạy học tự nhiên và xã hội 3
Tác giả: Nguyễn Bá Kim (2008), Phương pháp dạy học mônToán, NXB Đại học Sư phạm 7. Quách Quỳnh Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm 7. Quách Quỳnh Nga (2013)
Năm: 2013
8. Quách Tuấn Ngọc (2009), Giáo trình hướng dẫn sử dụng Adobe Presenter 7.0, Cục Công nghệ Thông tin – Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hướng dẫn sử dụng Adobe Presenter 7.0
Tác giả: Quách Tuấn Ngọc
Năm: 2009
9. Hoàng Phê (cb. (1988), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (cb
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1988
11. Nguyễn Thị Kim Thoa, “Dạy toán ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học” in trong Tạp chí khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh số 6 (71) năm 2015Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy toán ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học”" in trong Tạp chí khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh số 6 (71) năm 2015
12. Terry Anderson (2008), The Theory and Practice of Online Learning, Published by AU Press, Athabasca University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Theory and Practice of Online Learning
Tác giả: Terry Anderson
Năm: 2008
13. UNESCO Bangkok – Asia and Pacific Regional Bureau for Education (2010), ICT Transforming Education – A Regional Guide, Published by UNESCO Bangkok, Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: ICT Transforming Education – A Regional Guide
Tác giả: UNESCO Bangkok – Asia and Pacific Regional Bureau for Education
Năm: 2010
15. William Horton (2006), E-learning by design, Published by Pfeiffer, San Francisco, CACác website Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-learning by design", Published by Pfeiffer, San Francisco, CA
Tác giả: William Horton
Năm: 2006
10. Nguyễn Thị Kim Thoa (2014), Bài giảng Phương pháp dạy học Toán 1 (Đại cương về phương pháp dạy học toán tiểu học Khác
14. UNESCO INSTITUDE FOR STATISTIC – United Nations Educational, Scientific and Cutural Organization (2009), ICT Transforming Education – A Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.9: Thẻ Playback Options Settings - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.9 Thẻ Playback Options Settings (Trang 25)
Hình 1.10: Attachment Settings - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.10 Attachment Settings (Trang 25)
Hình 1.11: Khai báo thông tin giáo viên - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.11 Khai báo thông tin giáo viên (Trang 26)
Hình 1.17: Hộp thoại New Quiz - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.17 Hộp thoại New Quiz (Trang 30)
Hình 1.19: Hộp thoại Multiple choice question - Question - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.19 Hộp thoại Multiple choice question - Question (Trang 31)
Hình 1.21: Hộp thoại Multiple choice question - Reporting - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.21 Hộp thoại Multiple choice question - Reporting (Trang 32)
Hình 1.28: Cửa sổ Publish Presentation - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 1.28 Cửa sổ Publish Presentation (Trang 35)
- Trang màn hình 8: Cách tính 35612 : 6  - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
rang màn hình 8: Cách tính 35612 : 6 (Trang 48)
- Trang màn hình 18, 19: Giải thích bài tập 4  - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
rang màn hình 18, 19: Giải thích bài tập 4 (Trang 50)
Hình 2.5: Giải thích bài tập 2 - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.5 Giải thích bài tập 2 (Trang 52)
Hình 2.10: Khai báo thông tin bài giảng - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.10 Khai báo thông tin bài giảng (Trang 54)
Hình 2.9: Hộp thoại Settings - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.9 Hộp thoại Settings (Trang 54)
Hình 2.12: Hộp thoại Theme Editor – Player Text Labels - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.12 Hộp thoại Theme Editor – Player Text Labels (Trang 55)
Hình 2.13: Hộp thoại Import Video - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.13 Hộp thoại Import Video (Trang 56)
Hình 2.20: Mục Default Labels – Quiz Manager - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.20 Mục Default Labels – Quiz Manager (Trang 58)
Hình 2.21: Mục Appearance – Quiz Manager - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.21 Mục Appearance – Quiz Manager (Trang 58)
Hình 2.24: Hộp thoại Multiple Choice Question - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.24 Hộp thoại Multiple Choice Question (Trang 60)
Hình 2.27: Hộp thoại Select File(s) to Import - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.27 Hộp thoại Select File(s) to Import (Trang 61)
Hình 2.26: Hộp thoại Import Audio - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.26 Hộp thoại Import Audio (Trang 61)
Hình 2.31: Hộp thoại Blank Answer - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.31 Hộp thoại Blank Answer (Trang 64)
Hình 2.33: Hộp thoại Sequence Question - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.33 Hộp thoại Sequence Question (Trang 65)
Hình 2.36: Hộp thoại Publish Presentation - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.36 Hộp thoại Publish Presentation (Trang 66)
Hình 2.38: Giải thích bài tậ p3 Hình 2.39: Giải thích bài tậ p4 - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.38 Giải thích bài tậ p3 Hình 2.39: Giải thích bài tậ p4 (Trang 70)
3. Diễn biến màn hình Trang màn hình 1:  - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
3. Diễn biến màn hình Trang màn hình 1: (Trang 72)
Hình 2.49: Hộp thoại Drag Drop question - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.49 Hộp thoại Drag Drop question (Trang 74)
Hình 2.53: Hộp thoại Blank Answer - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.53 Hộp thoại Blank Answer (Trang 76)
Trang màn hình 11, 12: Thực hiện giống như chèn bài tập cho trang màn hình 9. Kết quả là:  - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
rang màn hình 11, 12: Thực hiện giống như chèn bài tập cho trang màn hình 9. Kết quả là: (Trang 78)
Hình 2.66: Publish - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
Hình 2.66 Publish (Trang 80)
 hình thành kiến thức - XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING DẠY HỌC CÁC PHÉP TÍNH TRÊN SỐ TỰ NHIÊN LỚP 3
h ình thành kiến thức (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w