Trước tình hình đó, nhằm ngăn chặn, trừng trị những hành vi phạm tội trong lĩnhvực này cũng như ngăn chặn người phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài nhằm trốn tránh tráchnhiệm hình sự hoặc trố
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
-BÀI TIỂU LUẬN
Bộ môn: Công pháp quốc tế 2
CHỦ ĐỀ:
- -PHÁP LUẬT VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH
VỰC HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Hữu Khánh Linh
Nhóm sinh viên: Nhóm 3 Lớp: K41H – Luật học.
Năm học: 2019 - 2020
Huế, tháng 6 năm 2020
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG1
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ 7
1.1 Tội phạm hàng không quốc tế 7
1.1.1 Khái niệm tội phạm hàng không quốc tế 7
1.1.2 Khủng bố hàng không quốc tế 9
1.1.3 Đặc điểm của tội phạm hàng không quốc tế 10
1.1.4 Những quy định pháp luật về tội phạm xâm phạm an ninh hàng không dân dụng quốc tế 11
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về dẫn độ tội phạm 12
1.2.1 Khái niệm dẫn độ 12
1.2.2 Đặc điểm của dẫn độ 14
1.2.3 Mục đích, căn cứ của dẫn độ 15
1.2.4 Đối tượng bị dẫn độ 16
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ DẪN ĐỘ LOẠI TỘI PHẠM NÀY 16
2.1 Những quy định về tội phạm trong lĩnh vực hàng không trong một số điều ước quốc tế 16
2.1.1 Công ước Tokyo năm 1963 về tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay ……….16
2.1.2 Công ước Lahay năm 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay……… 17
2.1.3 Công ước Montreal năm 1971 về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng………18
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG3
Trang 42.1.4 Nghị định thư Montreal năm 1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp
2.3 Quy định pháp luật về dẫn độ tội phạm trong lĩnh vực hàng không quốc tế 232.3.1 Nguồn của chế định dẫn độ tội phạm………23
2.3.2 Các nguyên tắc pháp luật về dẫn độ tộiphạm……… 24
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỘI PHẠM VÀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 26 LỜI KẾT 29 DANH MỤC THAM KHẢO 30
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG4
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa là một quá trình lâu dài và là một xu thế khách quan, có tác động đếntất cả các mặt của đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Quá trình hợp tác quốc tếngày càng mạnh mẽ, đa dạng này đã có nhiều tác động tích cực và tiêu cực đến tất cảquốc gia trên toàn thế giới Một mặt, toàn cầu hóa tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩyphát triển mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội; đem lại tốc độ tăng trưởng kinh tếcao cho nhiều vùng Tuy nhiên, mặt khác, toàn cầu hóa cũng tác động đến nhiều khíacạnh khác khi hoạt động và đời sống con người trở nên kém an toàn: từ an toàn kinh tế,tài chính; văn hóa, xã hội; môi trường và an toàn chính trị Một trong những vấn đề đó là
sự hình thành và phát triển của tội phạm
Hiện nay, thế giới đang chứng kiến việc nảy sinh một số loại tội phạm mới có tínhchất ngày càng phức tạp, nguy hiểm hơn; sử dụng những phương tiện phạm tội hiện đạivới nhiều phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi Đặc biệt là những hành vi phạm tộitrong lĩnh vực hàng không quốc tế như: hành vi đe dọa đặt bom, mìn, vũ khí sinh học vàhóa học trên tàu bay đang bay; các hành vi phá hoại tàu bay, cảng hàng không, sânbay gây thiệt hại vô cùng to lớn về người, tài sản và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnhoạt động hàng không dân dụng quốc tế
Trước tình hình đó, nhằm ngăn chặn, trừng trị những hành vi phạm tội trong lĩnhvực này cũng như ngăn chặn người phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài nhằm trốn tránh tráchnhiệm hình sự hoặc trốn tránh việc thi hành án của bản thân, các quốc gia trên thế giới đãnhanh chóng thiết lập một khung pháp luật quốc tế nhằm mục đích ngăn chặn và trừng trịmột cách có hiệu quả loại tội phạm này
Từ lâu cộng đồng quốc tế đã cùng thừa nhận rằng việc truy nã và trừng trị tộiphạm có tính chất quốc tế là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng quốc tế chứ không chỉriêng của một quốc gia Việc ngăn ngừa và trừng trị chỉ có hiệu quả đối với tội phạm cótính chất quốc tế với sự tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế đa dạng của các quốc gia.Một loạt các điều ước quốc tế chuyên môn được thông qua trong đó có điều chỉnh về vấn
đề tội phạm hàng không quốc tế là minh chứng cho quyết tâm của nhân loại trước sựbùng phát của loại tội phạm nguy hiểm này Có thể nói, các điều ước quốc tế đa phương
và song phương tạo cơ sở pháp lý để các quốc gia cùng nhau hợp tác, hỗ trợ nhau trongcông tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm trong lĩnh vực hàngkhông quốc tế nói riêng
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG5
Trang 6Bên cạnh đó, các quốc gia đã cùng nhau ký kết những Hiệp định tương trợ tư pháp
về hình sự có những quy phạm quy định về vấn đề dẫn độ tội phạm và Hiệp định về dẫn
độ tội phạm riêng biệt nhằm mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc đấu tranh,ngăn ngừa và trừng trị kẻ phạm tội
Riêng đối với Việt Nam, cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quốcgia, Việt Nam đã ký kết một số điều ước quốc tế đa phương liên quan đến công tác đấutranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực hàng không quốc tế
Chính vì vậy, trên cương vị là một người học luật, trước những biến động phức tạpcủa tình hình tội phạm thế giới, trước những yêu cầu cải cách tư pháp và hợp tác quốc tếcủa nước nhà; việc nhận thức thống nhất về vấn đề tội phạm xâm phạm an ninh hàngkhông quốc tế và vấn đề dẫn độ tội phạm này trong các pháp luật quốc tế là sự cần thiếtkhách quan, đem lại nhiều giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn cho người nghiên cứu vềkhoa học pháp lý Với tất cả những lý do trên, nhóm 3 chúng em đã quyết định lựa chọn
đề tài "Pháp luật về tội phạm trong lĩnh vực hàng không quốc tế" làm đề tài nghiên cứucho bài tiểu luận dưới đây
Nội dung bài tiểu luận bao gồm 3 chương, xoay quanh các vấn đề lý luận, pháp lý
cơ bản và thực trạng chính về Tội phạm trong lĩnh vực hàng không quốc tế:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương 2: Các quy định pháp luật về tội phạm hàng không quốc tế và vấn đề dẫn
độ loại tội phạm này.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định pháp
luật về tội phạm và dẫn độ tội phạm trong lĩnh vực hàng không quốc tế tại Việt Nam.
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG6
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ 1.1 Tội phạm hàng không quốc tế
Tội phạm có tính quốc tế gồm bốn nhóm sau:
+ Nhóm thứ nhất: Các tội xâm phạm tội hợp tác hữu nghị và sự tồn tại bình thường
của các quan hệ quốc tế, bao gồm tội khủng bố, tội cướp máy bay, phương tiệngiao thông khác…
+ Nhóm thứ hai: Các tội xâm hại môi trường sống của con người, di sản văn hóa của
dân tộc trên thế giới như buôn lậu, buôn bán trái phép chất ma túy, làm và buônbán tiền giả…
+ Nhóm thứ ba: Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người, tội cướp biển, tội
tuyên truyền các xuất bản phẩm đồi trụy…
+ Nhóm thứ tư: Các tội phạm có tính quốc tế khác như phá hoại các công trình ngầm
dưới biển, các tội phạm được thực hiện trên máy bay, tàu thủy
Từ đó, cụ thể, trên cơ sở thực tiễn và dựa vào các công ước quốc tế về an ninh hàngkhông, có thể phân chia các hành vi phạm tội xâm phạm an ninh hàng không dân dụng quốc tế thành hai loại:
Loại thứ nhất: Gồm các hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay, gồm:
Một là, hành vi đe dọa của kẻ phạm tội đối với phi hành đoàn hoặc hành kháchbằng vũ khí, bắt thay đổi đường bay, hạ cánh xuống lãnh thổ của nước khác nhằm trốnchạy khỏi sự truy tìm của nhà nước đối với hành vi phạm tội hoặc trốn chạy khỏi đồngbọn của chúng
Hai là, hành vi chiếm đoạt tàu bay nhằm vào lợi ích vật chất hoặc lợi ích kinh tế
Loại thứ hai: Gồm các hành vi khác đe dọa an ninh hàng không dân dụng như:Một là, thực hiện hành vi bạo lực đối với một người trên tàu bay trong khi tàu bayđang bay nếu như hành động này gây nguy hiểm đến an toàn của tàu bay đó
Trang 8Hai là, đặt hoặc chỉ đạo đặt vào tàu bay đang bay, dù bằng bất cứ phương thứcnào, một thiết bị hoặc chất sẽ phá hủy tàu bay hoặc gây thiệt hại cho tàu bay, dẫn đến làmmất khả năng bay, hoặc làm hỏng tàu bay dẫn đến mất an toàn của tàu bay đang bay
Ba là, phá hủy hoặc làm hỏng phương tiện dẫn đường hàng không hoặc cản trởhoạt động của các thiết bị đó, nếu bất kỳ một hành động nào như vậy sẽ gây mất an toàncủa tàu bay đang bay
Bốn là, chuyển những thông tin mà biết là sai trái, từ đó gây nguy hại đến an toàncủa tàu bay đang bay
Năm là, sử dụng bạo lực chống lại người đang làm nhiệm vụ dịch vụ hàng không
mà gây ra thương tích nặng hoặc tử vong Sáu là, phá hủy hoặc làm thiệt hại nghiêmtrọng các trang thiết bị hàng không hoặc tàu bay đậu tại đó, nếu những hành vi này gâynguy hại hoặc có thể gây nguy hại tới an ninh của sân bay
Xem xét các quy định về tội phạm hàng không trong các điều ước quốc tế về an ninhhàng không, có thể thấy được sự phát triển ngày một hoàn thiện của những quy định
về tội phạm hàng không quốc tế:
Trong Công ước Tokyo 1963 về an ninh hàng không thì tội phạm hàng không được hiểu là hành vi cướp máy bay (không tặc) Đến Công ước LaHay 1970 và Công
ước Montreal 1971, quy định về tội phạm hàng không đã được mở rộng, bao gồm cả
những hành vi cưỡng đoạt tàu bay, làm hư hỏng tàu bay, những hành vi thực hiện đối vớingười, trang thiết bị tại các sân bay, ảnh hưởng đến an toàn bay Ngay cả những hành vi
đe dọa dùng vũ lực đối với một người trên tàu bay cũng bị coi là tội phạm hàng khôngquốc tế
Nguyên nhân chủ yếu của việc mở rộng khái niệm này là do thời kỳ cuối những
năm 60 thế giới trong tình trạng căng thẳng về nạn dịch đe dọa hàng không quốc tế nhưbắt cóc, đánh bom, mìn, đưa chất cháy, nổ vào tàu bay…nhằm vào tổng thể hoạt độnghàng không của ngành hàng không, trong khi đó Công ước Tokyo 1963 còn hạn chế, quyđịnh chưa cụ thể, chưa rõ ràng, Công ước Tokyo 1963 có ghi nhận hành vi chiếm đoạt tàubay là hành vi bất hợp pháp nhưng lại không coi hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay
là hành vi tội phạm hay vi phạm hành chính Đó cũng là kết quả của sự thỏa thuận giữacác quốc gia trong thời kỳ chiến tranh lạnh, là đặc trưng của luật quốc tế so với luật quốcgia, khi thỏa thuận xây dựng các quy định pháp luật quốc tế thường bị chi phối bởi tổngthể lợi ích giữa các quốc gia Công ước LaHaye 1970 và Công ước Montreal 1971 đãkhắc phục được hạn chế của Công ước Tokyo 1963
Tuy nhiên, việc quy định tội phạm hàng không quốc tế trong pháp luật của mỗi quốc gia còn khác nhau Chẳng hạn, hành vi cợt nhả, trêu ghẹo, khiếm nhã của hành
khách đối với nữ tiếp viên hàng không trên máy bay trong luật hình sự của một số nước
Trang 9không định danh cụ thể đây là hành vi phạm tội, song một số nước lại xác định đây làhành vi quấy rối tình dục Hành vi trộm cắp hoặc đánh nhau giữa các hành khách trênmáy bay có thể được quy định trong luật hình sự của một số quốc gia Những hành vi này
trái với các luật lệ, quy định về hàng không, vi phạm trật tự và kỷ luật hàng không: "Các
hành vi phạm tội hay không phạm tội có thể gây nguy hiểm cho an toàn của tàu bay hoặc của người hay tài sản trên tàu bay hoặc nguy hiểm cho trật tự và kỷ luật trên tàu bay"
(Điểm b, khoản 1 Điều 1 Công ước Tokyo 1963 về an ninh hàng không) Do vậy, có
sự khác nhau trong quy định về tội phạm hàng không trong pháp luật của các quốc gia
Như vậy, tội phạm hàng không quốc tế theo các cơ sở pháp lý trên có thể được
định nghĩa ngắn gọn như sau: Tội phạm hàng không quốc tế là những hành vi
xâm phạm đến sự an toàn của tàu bay hoặc của người, tài sản trên tàu bay hoặc gây nguy hiểm cho trật tự, kỷ luật trên tàu bay.
1.1.2 Khủng bố hàng không quốc tế
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc đưa ra định nghĩa chung về khủng bố là cần thiết vì có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm này.
Trong 13 điều ước quốc tế thuộc khuôn khổ Liên hợp quốc về đấu tranh chốngkhủng bố hiện nay chỉ có ba Công ước trực tiếp nhắc đến khái niệm "khủng bố"
(Terrorism) ngay tại tiêu đề, đó là: Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng
bố bằng bom; Công ước New York năm 1999 về trừng trị việc tài trợ khủng bố; Công
ước New York năm 2005 về ngăn chặn các hành vi khủng bố hạt nhân Các công ước
còn lại quy định về những tội phạm mà việc thực hiện các tội phạm đó được coi nhưbiểu hiện của khủng bố quốc tế Như vậy, hiện nay cộng đồng quốc tế vẫn chưa đưa rađược định nghĩa chung hoàn chỉnh về khủng bố mà mới chỉ ghi nhận một số hành vinhất định là khủng bố và các biện pháp để hợp tác đấu tranh chống lại các hành vi này
Khái niệm khủng bố theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Khủng bố là hoạt
động phá hoại, đe dọa bằng lời nói, hoặc truyền đi các hình ảnh hoặc video giết người
do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện làm thiệt mạng người, gây hoang mang khiếp sợ hoặc tổn thất cho xã hội và cộng đồng, nhằm mục đích chính trị hoặc tôn giáo.
Khái niệm khủng bố trong Từ điển Công an nhân dân năm 2006: "Khủng bố
là dùng biện pháp tàn bạo làm cho khiếp sợ để hòng khuất phục Khủng bố tinh thần"
Trong lịch sử hàng không quốc tế, đã xảy ra nhiều vụ khủng bố hàng không quốc
tế lớn Đặc biệt là vụ khủng bố kinh hoàng ngày 11/9/2001 của mạng lưới khủng bố doOsama bin Laden lãnh đạo nhằm vào nước Mỹ, mười chín tên không tặc chiếm quyềnkiểm soát bốn máy bay thương mại đang trên đường từ Boston, Newark và WashingtonD.C tới San Francisco và Los Angeles đâm vào tòa tháp phía bắc và phía nam của Trung
Trang 10tâm thương mại thế giới làm ba tòa nhà trong khu Trung tâm thương mại thế giới đổsập Vụ tấn công khủng bố này gây hỗn loạn khắp nước Mỹ
Như vậy, khủng bố hàng không quốc tế cũng là tội phạm hàng không
nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả thiệt hại của tội phạm này gây ra rất to lớn Thuật ngữ "khủng bố hàng không quốc tế" được sử dụng dùng để xác địnhtổng thể các hành vi khủng bố quốc tế được thực hiện nhằm chống lại và đe dọa an ninhcủa các hoạt động hàng không dân dụng quốc tế Thuật ngữ này bao gồm nhiều hành vikhác nhau, trong đó nổi bật nhất là hành vi bắt cóc hoặc cưỡng bức tàu bay mà thườngđược gọi bằng thuật ngữ pháp lý chung là "hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay"
Khủng bố hàng không quốc tế phải được hiểu là các hành vi khủng bố quốc tế, nghĩa là các hành vi đó thỏa mãn bốn điều kiện sau:
+ Là tội phạm theo luật hình sự của các quốc gia
+ Hành vi này xâm hại đến khách thể kép (nó nhằm vào lợi ích của quốc gia hay tổchức quốc tế, đồng thời gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tự do của con người).+ Có yếu tố quốc tế, yếu tố này phát sinh trong mối quan hệ tổng thể của các hành viđối với nhau - từ góc độ quốc tế Đó là mối quan hệ giữa chủ thể tội phạm với cácthành phần khách thể của tội phạm
+ Các hành vi này bị truy cứu và trừng phạt trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặcnguyên tắc phổ cập quốc tế
Có thể thấy rằng, tội phạm hàng không quốc tế là các hành vi trái với các quy địnhcủa luật hàng không quốc tế và được điều chỉnh tại các điều ước quốc tế có liên quantới an ninh hàng không quốc tế Còn khủng bố hàng không quốc tế là các hành viphải đáp ứng bốn điều kiện nêu trên, trong khi đó tội phạm hàng không quốc tếkhông nhất thiết phải đáp ứng
Chúng ta có thể khẳng định rằng: Khủng bố hàng không quốc tế là các hành vi khủng bố quốc tế có liên quan tới các loại hình hoạt động của hàng không dân dụng quốc tế Khủng bố hàng không quốc tế được xem là hành vi cực kỳ nguy hiểm cho xã hội, là một trong những loại hình nghiêm trọng nhất của khủng bố quốc tế Tính nguyhiểm cho xã hội của khủng bố hàng không quốc tế là gây thiệt hại lớn cho Nhà nước,gây tử vong cho nhiều người không chỉ trên máy bay mà còn ở mặt đất Nó làm chấnđộng môi trường hàng không, làm mất niềm tin của con người vào sự an toàn của ngànhhàng không dân dụng quốc tế Các quốc gia đều nhận thức được vấn đề này, vì vậy mộttrong những lĩnh vực mà cộng đồng quốc tế đã thành công nhất trong việc điều chỉnhbằng pháp luật quốc tế là phòng chống tội phạm khủng bố hàng không quốc tế, đảm bảo
an ninh hàng không dân dụng quốc tế
1.1.3 Đặc điểm của tội phạm hàng không quốc tế
Trang 11Hiện nay, các hành vi xâm phạm an ninh hàng không dân dụng quốc tế ngày càngphức tạp và có chiều hướng ra tăng Những kẻ phạm tội thường sử dụng một số phươngpháp dụng như:
Một là, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của lực lượng an ninh hàng không những
kẻ phạm tội mang vũ khí, bom, mìn…lên tàu bay
Hai là, sử dụng vũ khí đe dọa, khống chế phi hành đoàn, tiếp viên hàng không,
hành khách và sử dụng họ làm con tin để gây sức ép, thực hiện các hành vi phạm tội.Đặc biệt, các phần tử này còn sử dụng máy bay như một loại vũ khí để tấn công vào cácmục tiêu đã định trước
Ba là, bằng thủ đoạn sử dụng các chất độc, chất gây mê làm tê liệt phi hành đoàn,
nhân viên an ninh nhằm cướp máy bay nhằm mục đích cá nhân như trốn chạy sự truyđuổi của các cơ quan chức năng hoặc vì động cơ kinh tế
Bốn là, sử dụng các loại bom, mìn, hóa chất gây nổ mang lên tàu bay Năm là,
phá hoại cảng hàng không bằng cách đặt các thiết bị bom, mìn tại khu vực hành kháchlàm thủ tục bay, kho xăng… nhằm làm cho hoạt động tại các cảng hàng không ngừngtrệ, gây hoang mang, lo sợ cho hành khách
Sáu là, đe dọa với phi hành đoàn rằng đang nắm giữ bom, mìn, hóa chất gây
nổ… nhằm đe dọa, yêu cầu phi hành đoàn phải thực hiện những yêu sách của kẻ phạmtội
Đặc biệt đối với các hành vi khủng bố hàng không quốc tế thì các phần tử khủng
bố hiện nay có đủ khả năng để thực hiện những vụ tấn công khủng bố ngày càng chuyênnghiệp, với quy mô lớn, phức tạp Các phần tử khủng bố cũng sử dụng những phươngpháp phạm tội như trên nhưng với sự liên kết giữa các phần tử khủng bố, các tổ chứckhủng bố ngày càng chặt chẽ hơn mà biểu hiện của sự liên kết đó là cùng vạch kếhoạch, cùng phối hợp thực hiện, giúp đỡ huấn luyện, thậm chí còn có sự giúp đỡ lẫnnhau về tài chính để thực hiện cuộc khủng bố giữa các tổ chức khủng bố hoặc nhómkhủng bố; phương thức tấn công khủng bố ngày một đa dạng (tấn công đơn lẻ hoặc tấncông liên hoàn)…
Mục tiêu tấn công của kẻ khủng bố thường là những trung tâm thương mại, trungtâm chính trị, cơ quan, tổ chức nước ngoài, những nơi tập trung đông người và việccướp, sử dụng máy bay như là một loại vũ khí tấn công vào các mục tiêu đã lựa chọn
Kế hoạch khủng bố thường được chúng vạch ra một cách chi tiết, cụ thể, có sự phânchia nhiệm vụ đối với từng phần tử
1.1.4 Những quy định pháp luật về tội phạm xâm phạm an ninh hàng không
dân dụng quốc tế của Việt Nam
Trang 12Là một thành viên của Liên hợp quốc, có truyền thống tôn trọng và yêu chuộnghòa bình, với mong muốn góp phần vào việc ổn định an ninh quốc tế, thời gian qua ViệtNam đã tham gia hầu hết các điều ước quốc tế đa phương của Liên hợp quốc về đấutranh, phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm hàng không quốc tế nói riêng, baogồm: Công ước năm 1963 về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàubay; Công ước năm 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay; Công ướcnăm 1971 về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dândụng; Công ước năm 1973 về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại nhữngngười được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao; Nghị định thư năm
1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng hàng không phục vụhàng không dân dụng quốc tế; Công ước quốc tế năm 1999 về trừng trị việc tài trợ chokhủng bố
Việt Nam đang tích cực nghiên cứu khả năng gia nhập bốn điều ước quốc tế cònlại và đã ký kết Công ước của ASEAN về chống khủng bố Đồng thời, Chính phủ ViệtNam, Bộ Công an Việt Nam đã ký nhiều hiệp định, thỏa thuận song phương về hợp tácphòng, chống khủng bố Trong đó, phải kể đến những hiệp định tương trợ tư pháp, dẫnđộ
Nhận thức được tính chất đặc biệt nguy hiểm của tội phạm khủng bố nên Nhànước Việt Nam luôn có thái độ rất kiên quyết trong phát hiện, ngăn chặn và trừng trịloại tội phạm này Theo các quy phạm pháp luật Việt Nam, tội khủng bố có một số đặcđiểm cơ bản sau:
+ Là một trong những tội được quy định trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốcgia và theo đó dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm là phải có mụcđích nhằm chống chính quyền nhân dân;
+ Hành vi khách quan của tội phạm này được biểu hiện: xâm phạm hoặc đe dọa xâmphạm tính mạng, xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc những hành vi khác uyhiếp tinh thần của con người; đối tượng tác động của tội phạm chỉ có thể là conngười cụ thể mà không phải là tài sản hoặc các vật khác
+ Những hành vi tuy xâm phạm đến con người nhưng không nhằm mục đích chốngchính quyền hoặc hành vi khác xâm phạm đến tài sản sẽ bị điều tra, xử lý theo cáctội danh khác tương ứng
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về dẫn độ tội phạm
1.2.1 Khái niệm dẫn độ
Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, dẫn độ trở thành nội dung tương trợ tư pháp về hình sự được áp dụng phổ biến, là một yêu cầu khách quan trong hoạt động tương trợ tư pháp giữa các quốc gia, nhu cầu dẫn độ được đặt ra trước khi các quốc gia
ký kết các điều ước quốc tế
Trang 13Dẫn độ được quy định trong pháp luật quốc gia cũng như trong các điều ước quốc
tế, trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tếtrong đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, về bản chất pháp lý của dẫn độ tộiphạm còn có rất nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng dẫn độ người phạmtội là chế định của Công pháp quốc tế, vì đây là quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền,thực hiện chủ yếu thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế hoặc thông qua con đườngngoại giao giữa các quốc gia
+ Có quan điểm cho rằng, dẫn độ người phạm tội là chế định của luật tố tụng hình sự, vì
nó gần như một thủ tục bắt người phạm tội Điều này cũng có cơ sở nhất định vì nhưpháp luật Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam đều có những quy định về vấn đề này là một
bộ phận trong pháp luật tố tụng hình sự quốc gia, mặt khác hầu hết việc yêu cầu hoặcquyết định việc dẫn độ theo pháp luật quốc gia được quyết định bởi Tòa án, một trongnhững chủ thể của pháp luật tố tụng hình sự
+ Tuy nhiên, có thể nói quan điểm dẫn độ người phạm tội là một chế định của luật hình
sự là hợp lý hơn cả vì về bản chất dẫn độ người phạm tội chính là xác định hiệu lựccủa luật hình sự quốc gia với một cá nhân, cá nhân đó có đủ điều kiện để phải chịutrách nhiệm hình sự hay không, hay nói cách khác cả quốc gia yêu cầu hay quốc giađược yêu cầu dẫn độ đều phải nghiên cứu các bằng chứng, các dấu hiệu để xác địnhngười đó có phải là tội phạm hay không
Trên cơ sở tổng kết quan điểm khoa học và thực tiễn đấu tranh chống tội phạm tạiViệt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm:
Dẫn độ người phạm tội là một chế định của luật hình sự nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc đấu tranh phòng và chống các tội phạm quốc tế và các tội phạm xuyên quốc gia, được thể hiện trong việc: một quốc gia này (nước được yêu cầu) căn cứ vào các quy định của hiệp ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đã được ký kết (hoặc các quy phạm pháp luật quốc tế) trong trường hợp hiệp ước chưa được ký kết) chuyển giao người phạm tội đang ở trên lãnh thổ của nước đó theo đề nghị của quốc gia kia (quốc gia yêu cầu) để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người ấy.
Tuy nhiên, khái niệm trên chỉ đề cập đến dẫn độ tội phạm quốc tế và tội phạmxuyên quốc gia Mà tội phạm quốc tế là khái niệm chỉ hành vi đặc biệt nguy hiểm đượcquy định trong luật hình sự quốc tế xâm phạm sự tồn tại hòa bình và an ninh của nhânloại; tội phạm xuyên quốc gia được hiểu là tội phạm có các giai đoạn được thực hiện trênnhiều quốc gia khác nhau Như vậy, nếu khái niệm dẫn độ người phạm tội chỉ nhằm tăngcường phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm quốc tế là chưa bao quát hết,trường hợp không phải là tội phạm quốc tế hoặc tội phạm xuyên quốc gia nhưng có thểvẫn phải dẫn độ
Trang 14 Tổ chức cảnh sát quốc tế Interpol đưa ra khái niệm: Dẫn độ người phạm tội là quá trình được thực hiện bởi một quốc gia (nước được yêu cầu) chuyển giao một cá nhân
có mặt trên lãnh thổ nước mình đến quốc gia khác (nước yêu cầu) nơi người đó đã vi phạm hoặc để thi hành một hình phạt đã được quyết định chống lại người đó
Như vậy, dẫn độ là hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, theo đó quốc gia
được yêu cầu dẫn độ trao người có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã
có hiệu lực pháp luật đang ở trên lãnh thổ của quốc gia mình cho quốc gia yêu cầu dẫn độ
để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để chấp hành hình phạt
Dẫn độ được thực hiện trong mối quan hệ giữa quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu Quốc gia yêu cầu dẫn độ là quốc gia mà người bị yêu cầu dẫn độ mang quốc tịch, quốc gia mà tội phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc quốc gia bị thiệt hại do tội phạm gây ra Còn quốc gia được yêu cầu dẫn độ là quốc gia nơi hiện diện thể nhân bị yêu cầu dẫn độ Trong khi đó, Tòa án hình sự quốc tế không phải tòa án của quốc gia yêu cầu mà là tòa án quốc tế có thẩm quyền xét xử các tội phạm quy định tại Điều 5 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế.
+ Theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng củaViệt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài dẫn độ
và thực hiện dẫn độ cho quốc gia yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đểchấp hành hình phạt Cơ sở pháp lý này không phải là quy phạm định nghĩa về dẫn
độ nhưng các quy định của điều luật này không chỉ phù hợp với quan niệm truyềnthống quốc tế về dẫn độ mà còn phù hợp với quy định khác trong luật quốc gia
+ Luật Tương trợ tư pháp Việt Nam năm 2007 đưa ra khái niệm về dẫn độ tại khoản 1Điều 32 quy định: "Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người cóhành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt tại lãnh thổ nước mình đểnước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với ngườiđó"
1.2.2 Đặc điểm của dẫn độ
Qua những phân tích về khái niệm dẫn độ, ta có thể hiểu dẫn độ là một trongnhững hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia và có những đặc điểmsau:
Thứ nhất, dẫn độ là việc một nước chuyển giao một người phạm tội cho một
quốc gia khác Việc chuyển giao này được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của nước có yêucầu Người bị dẫn độ là người thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước yêu cầu,đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án bằng một bản án, sau đó bỏ trốnsang nước được yêu cầu Việc chuyển giao do các cơ quan có thẩm quyền của các quốcgia tiến hành
Thứ hai, dẫn độ chỉ được thực hiện khi có yêu cầu dẫn độ từ một quốc gia Nước
mà người phạm tội mang quốc tịch, nước nơi hành vi phạm tội xảy ra, nơi tội phạm
Trang 15hoàn thành hoặc nước có quyền lợi bị tội phạm xâm phạm đều có quyền yêu cầu dẫn độ.Tuy nhiên, việc chấp nhận dẫn độ hay không lại phụ thuộc vào nước được yêu cầu dẫn
độ
Nếu trường hợp, nhiều nước yêu cầu dẫn độ cùng một đối tượng thì nước đượcyêu cầu dẫn độ căn cứ vào quy định pháp luật quốc gia mình và điều ước quốc tế có liênquan để chấp nhận yêu cầu dẫn độ của một trong những nước đó
Thứ ba, dẫn độ nhằm hai mục đích: dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
dẫn độ để thi hành án Hoạt động này do nước yêu cầu dẫn độ thực hiện sau khi đã tiếpnhận người được yêu cầu dẫn độ từ quốc gia được yêu cầu;
Thứ tư, dẫn độ thường được thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặc mối
quan hệ giữa các quốc gia Điều ước quốc tế về dẫn độ bao gồm điều ước song phươnghoặc đa phương yêu cầu các quốc gia ký kết hoặc gia nhập phải thực hiện những quyđịnh của điều ước đó Nếu có một yêu cầu dẫn độ phù hợp với điều ước có liên quangiữa các nước thành viên thì yêu cầu đó phải được thi hành Nếu từ chối không có cơ sởthì nước được yêu cầu dẫn độ đã vi phạm nghĩa vụ quốc tế Hoạt động dẫn độ phải tuânthủ nguyên tắc của pháp luật quốc tế và nguyên tắc riêng của dẫn độ
Các đặc điểm nêu trên là căn cứ để phân biệt dẫn độ với các hoạt động tương trợ
tư pháp khác hoặc với các biện pháp hợp tác phòng chống tội phạm như: chuyển giaongười bị kết án, trục xuất, đẩy trả, giao nộp, áp giải, dẫn giải, chuyển giao đặc biệt…
1.2.3 Mục đích, căn cứ của dẫn độ
Mục đích chung của dẫn độ là buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm do mình gây ra Đồng thời còn có tác dụng ngănngừa, răn đe những người phạm tội khác đang có ý định bỏ trốn và tăng cường hợp tácgiữa các quốc gia trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Cơ sở pháp lý để yêu cầu dẫn độ và thực hiện dẫn độ là các điều ước quốc tế về
dẫn độ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kí kết hoặc gia nhập Dẫn độtrong trường hợp này là thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã được cam kết
Trong trường hợp Việt Nam chưa kí kết hoặc chưa gia nhập các điều ước quốc tế
có liên quan, vẫn có thể yêu cầu dẫn độ và thực hiện dẫn độ trên nguyên tắc có đi
có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế
Nội dung của nguyên tắc có đi có lại thể hiện: Quốc gia này chỉ thực hiện dẫn độcho quốc gia kia nếu quốc gia kia đã hoặc đảm bảo sẽ thực hiện dẫn độ cho quốc gianày Khác với dẫn độ theo điều ước, dẫn độ theo nguyên tắc có đi có lại không phải lànghĩa vụ quốc tế Trong luật quốc tế không có tập quán quốc tế về nghĩa vụ dẫn độ.Nguyên tắc có đi có lại là cơ sở thay thế cho điều ước quốc tế trong việc yêu cầu dẫn độ