Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả tập chung phân tích về các dấu hiệu của cấu thành tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung được quy định trong Bộ luật hình sự trong đó có tội lạm
Trang 1LU ẬN VĂN THẠC SĨ
LU ẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THANH NAM
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM
CHI ẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THANH NAM
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM
CHI ẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, luận văn thạc sỹ với đề tài “Định tội danh tội lạm dụng
tín nhi ệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, bản án, ví dụ trược trích dẫn, phân tích trong luận văn là trung thực, rõ ràng về nguồn gốc, kết quả nghiên cứu không trùng với bất kỳ đề tài khoa học nào khác và chưa được công bố
Tá c giả
Lê Thanh Nam
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
10
1.1 Khái niệm và đặc điểm định tội danh tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.3 Các giai đoạn và các yếu tố ảnh hưởng đến định tội danh
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
16
1.3.1 Các giai đoạn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
16
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến định tội danh tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
17
1.4 Cở sở pháp lý của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
Trang 5sản
tài sản
23
1.5 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với
một số tội danh khác trong luật hình sự
23
1.5.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
23
1.5.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
với tội tham ô tài sản
25
1.5.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
26
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG
TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA
29
2.1 Những kết quả đạt được trong định tội danh tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
29
2.2 Những hạn chế, sai lầm trong định tội danh tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
31
đoạt tài sản trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đôi
khi còn nhầm lẫn với một số tội phạm khác
32
2.2.3 Xác định dấu hiệu sử dụng tài sản vào mục đích bất
hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
38
vi phạm dân sự, kinh tế
39
Trang 62.3 Nguyên nhân của những hạn chế, sai lầm trong định tội danh tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
39
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG THỜI GIAN TỚI
43
3.1 Yêu cầu bảo đảm định đúng tội danh tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
43
3.2 Giải pháp bảo đảm định đúng tội danh tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
46
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong
công tác xử lý các vụ án hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
46
3.2.2 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
48
3.2.3 Kịp thời hướng dẫn, giải thích pháp luật về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
51
3.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các
cơ quan tư pháp trong việc giải quyết án hình sự về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
52
3.2.5 Bảo đảm hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan tư pháp
trong định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
54
Trang 7Tiểu kết chương 3 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, hoạt động xét xử của Tòa án, Trong đó hoạt động mang tính định tội đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội là một hoạt động của chủ thể mang lại kết quả là có tội hay không có tội Định tội danh là yếu tố cơ bản đảm bảo cho pháp luật hình sự được xét xử
để đưa các quy định pháp luật tiếp cận với thực tiễn Từ đó, xác định được những chủ thể là người có hành vi phạm tội đã thực hiện hành vi đó như thế nào,
có vi phạm điều cấm nào của pháp luật hay không, có tác động tới điểm gì của khách thể, có bị áp dụng hình phạt hay không Do đó, định tội danh đúng đắn, được xem là yếu tố tiên quyết, là cơ sở cho việc Toà án áp dụng một hình phạt đúng đắn đối với người phạm tội, góp phần tăng cường phòng chống oan sai, và
bỏ lọt tội phạm Và ngược lại, việc định tội danh không đảm bảo yếu tố chính xác, không thực hiện đúng quy định của pháp luật, sẽ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của con người, làm ảnh hưởng đến hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, làm suy giảm niềm tin của người dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bên cạnh các quy định hiện hành như BLHS năm 2015, thì các quy định về việc định tội danh nói chung và định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng vẫn còn chưa có tính hệ thống, còn xuất hiện tại nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật khác nhau trong đó có thể kể đến như Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT- TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn áp dụng một số quy định
tại chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 1999", Nghị quyết số
01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
từ đó làm giảm tính thống nhất, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, gây khó khăn trong hoạt động áp dụng
Nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn hiện nay cho thấy, tình hình tội
Trang 9lạm dụng tín nhiệm đoạt tài sản có xu hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay thì các quan hệ dân sự, kinh tế ngày càng đa dạng và phức tạp dẫn đến những đối tượng có ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách lợi dụng lòng tin của người khác ngày càng nhiều
Đây cũng là loại tội phạm có nhiều dấu hiệu bị trùng với các dấu hiệu của tội phạm khác và có những dấu hiệu liên quan đến pháp luật dân sự; vì vậy mà việc "hình sự hóa" các quan hệ dân sự, kinh tế trong loại tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là khá nhiều Thực tiễn khó khăn như vậy là do về mặt pháp
lý, nhiều quy định về tội danh này cũng như những tội danh khác trong luật hình
sự còn chưa thực sự hoàn thiện, chưa có sự rõ ràng về cấu thành, về hướng dẫn
áp dụng Bên cạnh đó, cách xây dựng pháp luật hình sự còn nhiều hạn chế, không có những điểm rõ ràng, hướng dẫn chi tiết cụ thể dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
Tỉnh Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn, biến động dân cư và xã hội khá phức tạp Trong những năm vừa qua, kết quả công tác xét xử của Toà án nhân dân 2 cấp tỉnh Hải Dương trong đó có hoạt động giải quyết các vụ án hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mang lại hiệu quả tương đối cao, có nhiều ưu điểm Tuy nhiên, công tác này vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, nhiều quy định về tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa được đưa vào thi hành trên thực tế, nhiều vụ án định tội danh còn sai sót Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Định tội
đề tài Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên c ứu đề tài
2.1 Những công trình nghiên cứu lý luận về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hiện nay những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về định tội danh đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có thể kể đến như:
Trang 10- Phan Anh Tuấn (2001), Định tội danh trong trường hợp một hành vi
thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm, Tạp chí khoa học pháp lý, (số
02), tr.45 - 49, Hà Nội Trong bài viết của mình, tác giả đã đưa ra lý luận để định tội danh trong trường hợp một hành vi thoả mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành
tội phạm Đây là một vấn đề lớn, phức tạp và khó khăn trong quá trình định tội danh nói chung, trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Tác giả Nguyễn Ngọc Chí (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm) “Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu”, Lê Cảm chủ
biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Trong công trình nghiên cứu của mình, tác
giả tập chung phân tích về các dấu hiệu của cấu thành tội phạm xâm phạm sở
hữu nói chung được quy định trong Bộ luật hình sự trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Tác giả Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình Lý luận về định tội danh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Tại công trình này, tác giả phân tích về những
vấn đề có tính chất lý luận về định tội danh trong luật hình sự, tác giả cũng phân tích về khái niệm, đặc điểm, nội dung, các bước của định tội danh cũng như những kỹ năng định tội danh cơ bản
- Tác giả Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong
mình, tác giả tập trung phân tích về những vấn đề lý luận có tính chất căn bản về định tội danh và quyết định hình phạt, trong đó tác giả phân tích về khái niệm, đặc điểm, các bước của quá trình định tội danh nói chung
Ngoài ra cũng có những công trình nghiên cứu về nhóm tội xâm phạm sở
hữu như:
- Tác giả Nguyễn Sỹ Đại (2001), Bình luận khoa học BLHS 1999 (Phần
này, tác giả đưa ra các bình luận, diễn giải có tính chất khoa học về các tội xâm
phạm sở hữu, trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Trong quá
Trang 11trình phân tích về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì các dấu hiệu pháp lý của tội này sẽ là cơ sở để định tội danh trên thực tế
- Tác giả Đinh Văn Quế (2012), Bình luận khoa học BLHS Phần các tội
của mình, tác giả Đinh Văn Quế phân tích về những dấu hiệu pháp lý về định tội danh đối với tội phạm về xâm phạm sở hữu Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đặc trưng nhất định về
dấu hiệu pháp lý, cần phải xác định để từ đó định tội danh chính xác
2.2 Những công trình nghiên cứu thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Nghiên cứu về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu Đối với công trình nghiên cứu về thực tiễn định tội danh tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho đến nay mới
có duy nhất một công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Kim Chi, tuy nhiên tác giả Hoàng Thị Kim Chi nghiên cứu về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự năm 1999, đến nay tội danh này
đã có những sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Các công trình có thể kể đến như:
- Tác giả Hồ Ngọc Hải (2012), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
có đối tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Trong luận văn của mình, tác giả phân tích về những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam Trong đó có nội dung tác giả phân tích về thực tiễn định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn cả nước, cũng như xác định những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế này
- Tác giả Hoàng Thị Kim Chi (2017), Định tội danh tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
Trang 12tiễn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà
Nội Trong luận văn của mình tác giả đã phân tích về những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Hải Dương Trong đó, tác giả đưa ra phân tích về thực tiễn định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.3 Những công trình nghiên cứu yêu cầu và giải pháp bảo đảm định đúng tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới
Hiện nay, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như bảo đảm định đúng tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng như các tội xâm phạm sở hữu nói chung,
có thể kể đến như:
- Tác giả Hoàng Thị Kim Chi (2017), Định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Trong
luận văn này tác giả phân tích vấn đề hoàn thiện pháp luật tại chương 3 của luận văn Tại đây tác giả có đưa ra 02 nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải, Nguyễn Văn Điền (2019), “Một số vấn đề
về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định của pháp luật hình sự”, Tạp chí Toà án nhân dân số 4/2019, Hà Nội Trong bài viết của mình,
tác giả đã phân tích về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Tác giả Trần Duy Bình (2020) “Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản” - Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Toà
án nhân dân số 3/2020, Hà Nội Trong bài viết của mình, tác giả phân tích về những hạn chế, vướng mắc của công tác áp dụng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và từ đó tác giả đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng đối với tội phạm này
Trang 13Các công trình nghiên cứu, các bài viết, đề tài khoa học nói trên đều là những công trình có giá trị về mặt lý luận khoa học và thực tiễn, tuy nhiên, nội
dung các đề tài chỉ hướng đến việc phân tích, nghiên cứu những vấn đề lý luận
về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong mối quan hệ tách biệt hoàn toàn với những kiến thức lý luận về định tội danh Vì vậy, có thể nói có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề định tội danh và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng các công trình nghiên cứu ở góc độ hoàn chỉnh về định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa nhiều đặc biệt là nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn cụ thể là tỉnh Hải Dương Mặc dù vậy, kết quả của những công trình nghiên cứu, bài viết đã công bố là một trong những nguồn tài liệu quan trọng tác giả có thể vận dụng để hoàn thiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài luận văn này là phân tích dưới góc
độ khoa học để làm sáng tỏ hơn nữa các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự, từ đó đưa ra các giải pháp bảo đảm định đúng tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu là làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về định tội danh nói chung và
định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như: Khái niệm, đặc điểm của định tội danh; cơ sở pháp lý, căn cứ pháp lý của việc định tội danh; định tội danh trong một số trường hợp đặc biệt; đặc điểm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; đặc điểm và yêu cầu định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian qua, thông qua đó đánh giá
Trang 14các kết quả và tìm ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
Thứ ba, đưa ra các định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường
hiệu quả định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài là quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
và thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giai đoạn
2018 đến 2020 trên địa bàn tỉnh Hải Dương (thời điểm từ khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực) thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin; tư tưởng về nhà nước và pháp quyền của Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách hình sự, xử lý đối với tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận nêu trên, luận văn có các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích được luận văn sử dụng để nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quan điểm của các tác giả đã công bố về vấn đề định tội danh và định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; ngoài ra phương pháp phân tích còn được luận văn sử dụng để phân tích quy định của Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Phương pháp tổng hợp được luận văn sử dụng để tổng hợp các quan điểm về vấn đề nghiên cứu cũng như tổng hợp các số liệu, bản án về định tội
Trang 15danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Phương pháp thống kê được luận văn sử dụng để nghiên cứu thực trạng định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua thống kê số liệu gồm có: số vụ án, số bị can, các dạng hình phạt đối với bị cáo; thống kê số bản án định tội danh về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn từ 2018 đến 2020 trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phương pháp so sánh pháp luật để đối chiếu với các quy định của pháp luật với nhau nhằm tìm ra những điểm mới trong quá trình nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nhiệm vụ trọng tâm của khoa học luật hình sự hiện nay là nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh đối với các tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, đây cũng là một trong những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta giai đoạn hiện nay
6.1 Về mặt lý luận
Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu một cách hoàn chỉnh vấn đề định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Việc nghiên cứu của tác giả nhằm làm sáng tỏ những khía cạnh pháp lý về định tội danh nói chung và định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Hải Dương nói riêng, qua đó góp phần bổ sung, hoàn thiện trên lý thuyết định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy
Trang 16định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Luận văn có thể là cơ sở để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình
sự liên quan đến định tội danh nói chung và định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt là Thẩm phán thuộc Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương, góp phần giải quyết các vụ án hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được đúng đắn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Chương 2: Thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian qua
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm định đúng tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới
Trang 17Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic, đồng thời
là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành dựa trên cơ sở các chứng
cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành
vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ
thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự Việc định tội được thực hiện nhằm đi đến các quyết định hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không; xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội Bộ luật hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định tội phạm và hình phạt Vì vậy,
Bộ luật hình sự là cơ sở pháp lí duy nhất của việc định tội danh, khi định tội danh, người định tội căn cứ vào quy phạm pháp luật cụ thể quy định về tội phạm
để xác định hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong chương các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình
sự thì người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người có hành vi nhận được tài sản của người khác thông qua hình thức hợp đồng hợp pháp hoặc vay, mượn, thuê tài sản của người khác rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả, hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp
Trang 18pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả tài sản, giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định từ mức bốn triệu đồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định trong Bộ luật hình sự
Như vậy, định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được
hiểu là dạng hoạt động của nhận thức, là quá trình áp dụng pháp luật của các
nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự, xác định chính xác người thực hiện hành vi có phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
Ngoài những đặc điểm chung với định tội danh các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn có đặc điểm riêng như: hoạt động định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam là hoạt động có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự, và được tiến hành bằng cách: trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thụ thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự
để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản do luật hình sự quy định, nhằm xác định được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hoá và phân hoá trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm là việc đưa ra nhận định sai khi định tội danh trong thực tiễn, do đó khi định tội danh cần được tiến hành tuần tự qua các bước sau [50]
Bước 1: Xác định tội phạm
Trang 19Trong đời sống xã hội có nhiều người có hành vi gây nguy hại cho xã hội, nhưng không phải tất cả các hành vi gây nguy hại cho xã hội đều là tội phạm Trong Bộ luật hình sự hiện hành có quy định, có hành vi tuy có gây nguy hại cho xã hội nhưng không phải là tội phạm như là: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự); hoặc là hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm (quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự); hoặc là hành vi trong tình thế cấp thiết vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa tới lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa (quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự)
Như vậy, ngoài các trường hợp mà BLHS quy định không phải là tội phạm và tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, thì người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà hành vi gây nguy hại cho xã hội đó
là bị coi là tội phạm, thì họ phải chịu hình phạt của Nhà nước đối với hành vi gây nguy hại cho xã hội mà họ đã gây ra
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [33]
Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự về khái niệm tội phạm, chúng ta
có thể hiểu: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một hành vi
Trang 20nguy hiểm cho xã hội, mà hành vi nguy hiểm cho xã hội đó xâm phạm đến một trong các quan hệ xã hội quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự thi hành vi nguy hiểm đó là tội phạm
Đã từ lâu, các nhà khoa học về tội phạm học, cùng các cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự đã xác định được các căn cứ để xác định tội phạm hay còn gọi là các yếu tố cấu thành tội phạm hoặc là các cấu thành bắt buộc của tội phạm Các yếu tố cấu thành đó gồm:
Một là, chủ thể của tội phạm: Là con người cụ thể, đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và là người có năng lực trách nhiệm hình sự
Hai là, mặt chủ quan của tội phạm: Là động cơ, mục đích thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật; lỗi khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (bao gồm lỗi
vi này, có thể bằng hành động nhưng cũng có thể bằng không hành động
Phải có đủ bốn yếu tố này mới cấu thành tội phạm Thiếu một trong bốn yếu tố này, thì không phải là tội phạm Do đó, chúng ta thấy rằng: + Những hành
vi có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng
kể, thì không phải là tội phạm + Những tội phạm được quy định trong các điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự được gọi là tội phạm + Người
nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định, thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Bước 2: Đối chiếu hành vi của bị cáo bị truy tố với dấu hiệu cấu thành của tội bị truy tố
Nghiên cứu nội dung các điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự, chúng ta thấy trong tổng điều luật có quy định rõ các cấu thành của tội trong điều luật đó Các cấu thành này, tạo nên sự khác biệt giữa tội này với tội
Trang 21khác
Tóm lại, việc xác định tội danh tiến hành theo hai bước ở trên là phù hợp với lý luận ở chỗ căn cứ vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm và phù hợp với thực tiễn ở chỗ là đối chiếu các cấu thành của tội mà Viện kiểm sát truy tố với hành
vi mà bị cáo thực hiện có trùng hợp với nhau hay không Nếu trùng hợp thì chấp nhận tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, nếu không trùng hợp thì cần phải làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật bị truy tố phạm vào tội nào Có như vậy xác định tội danh mới đúng
1.2 Ý nghĩa của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Một trong những giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự là việc định tội danh, bởi định tội danh đúng có ý nghĩa pháp lý quan trọng, ngoài ra còn có ý nghĩa chính trị, xã hội, đạo đức rất lớn và ngược lại
Định tội danh là giai đoạn cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị - xã hội, đạo đức và pháp lí quan trọng Thể hiện thái độ của Nhà nước đối với những hành vi nhất định; là cơ sở quan trọng cho việc xử lý tội phạm và áp dụng hình phạt, loại trừ việc truy cứu trách nhiệm hình sự, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, bênh cạnh đó là cơ sở cho việc xác định các thủ tục tố tụng và giúp cho việc đánh giá chính xác tình hình tội phạm
để có biện pháp phòng ngừa phù hợp, có hiệu quả
Có hai hình thức định tội danh: 1) Định tội danh chính thức do người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có liên quan thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện việc buộc tội, bào chữa hay xét xử vụ án và làm phát sinh hậu quả pháp lí; 2) Định tội danh không chính thức do các nhà nghiên cứu thực hiện nhằm thể hiện quan điểm khoa học, nhận thức của người định tội
và không làm phát sinh hậu quả pháp lí Việc định tội được thực hiện nhằm đi đến các quyết định hành vi được thực hiện có cấu thành tội phạm hay không; xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội
Trang 22Định tội danh là sự thể hiện việc đánh giá chính trị, xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định Do đó, xu hướng của hoạt động định tội danh chỉ
có thể là: định tội danh đúng và định tội danh sai
Việc định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả pháp lý kéo theo
đó là áp dụng pháp luật không có căn cứ, không công bằng hoặc không áp dụng một loạt các biện pháp pháp lý khác như trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và đặc biệt là quyết định hình phạt sai Những vụ việc oan sai chủ yếu bắt nguồn từ việc thu thập chứng cứ không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu thận trọng, phiến diện, nôn nóng trong khởi tố, bắt giam, suy diễn chủ quan Việc định tội danh sai
sẽ làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm
Định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất quan trọng và trên nhiều phương diện khác nhau:
1.2.1 Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội
Bộ luật hình sự thể hiện ý chí Nhà nước đối với vấn đề đấu tranh với tình hình phạm tội Do vậy, việc định tội danh đúng là thực hiện đúng chính sách hình
sự của Nhà nước ta, thực thi đúng ý chí của nhân dân đã được thể hiện trong luật Định tội danh đúng, nhất là đối với Tòa án nhân dân, cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ có hiệu quả quyền con người, các lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của, cơ quan, tổ chức
Định tội danh đúng là thể hiện sự đánh giá đúng đắn của Nhà nước đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm trên thực tế Định
tội danh đúng, một mặt hướng dư luận xã hội đến việc phê phán với tội phạm;
mặt khác, động viên được toàn xã hội có thái độ tích cực với hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm Hoạt động định tội danh cũng như quyết định hình phạt chỉ nhận được sự đồng tình của quần chúng nhân dân nếu hoạt động đó được thực hiện chính xác, vô tư, khách quan, đúng pháp luật
Kết quả cuối cùng của hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ có thể phát triển theo hai hướng: khẳng định là có
Trang 23tội hoặc khẳng định không có tội Do đó, định đúng tội danh đối với các loại tội phạm nói chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng góp phần quan trọng trong việc phòng, chống oai sai hoặc bỏ lọt tội phạm, xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật; định tội danh đúng còn góp phần củng cố lòng tin của người dân vào công lý, sự chí công, vô tư của các cơ quan bảo vệ pháp luật; củng cố lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài về tính minh bạch và đúng đắn của pháp luật Việt Nam Thông qua định tội danh với các tội nói chung và đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, Nhà nước ta thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người [12]
1.2.2 Ý nghĩa về phương diện pháp lý
Việc định tội danh sai không chỉ dẫn đến việc quyết định hình phạt không chính xác, không công bằng, mà còn áp dụng không có căn cứ hoặc không áp dụng một loạt các biện pháp cưỡng chế pháp lý khác như biện pháp tư pháp, xác định án tích, áp dụng hoặc không áp dụng đặc xá, miễn trách nhiệm hình sự,
Bước 1: Xem xét, đánh giá đúng các tình tiết của vụ án đã xảy ra trên thực
tế khách quan Ở bước này, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, không định kiến, không suy diễn Phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập được và đánh giá theo quy định của
Bộ Luật Tố tụng hình sự Ngoài ra, phải xem xét hành vi đã thực hiện có thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự hay không và tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Bước 2: Đối chiếu hành vi của người phạm tội đã thực hiện với các dấu hiệu cấu thành của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều
175 Bộ luật hình sự Để xác định đúng tội danh nhằm xét xử đúng người, đúng
Trang 24tội, đúng pháp luật thì cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào cấu thành cơ bản của điều luật để xác định tội danh, vì mỗi cấu thành cơ bản của tội phạm thể hiện một đặc điểm riêng của tội phạm Căn cứ vào đặc điểm riêng đó mà chúng
ta xác định được tội danh của từng hành vi phạm tội, tránh được sự nhầm lẫn giữa tội phạm này và tội phạm khác
Bước 3: Ra văn bản áp dụng pháp luật: chính là bản án và các quyết định
có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục để xác định tội danh cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội của người đó
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ nhất: Định tội danh thực chất là quá trình lựa chọn quy phạm pháp
luật hình sự để áp dụng, theo đó, định tội danh Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động của chủ thể trong việc xác định hành vi người phạm tội thực hiện có thỏa mãn quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự hay không, nếu thỏa mãn thì thuộc điểm, khoản nào của điều luật Để đảm bảo định tội danh đúng, đòi hỏi người có thẩm quyền định tội danh ngoài việc nắm vững các quy định của pháp luật như các yếu tố cấu thành tội phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự… còn phải xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, tránh suy diễn chủ quan, quy kết không có căn cứ
Thứ hai: Trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật của người có thẩm
quyền trong việc định tội danh
Thứ ba: Hoạt động đảm bảo áp dụng pháp luật
Thứ tư: Hoạt động định tội danh phải được kiểm tra, giám sát Với sự
phức tạp của tội danh và những hành vi của cơ quan, chủ thể tiến hành tố tụng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền chính trị con người nên cần thiết phải có một cơ chế hữu hiệu với chức năng giám sát hoạt động định tội danh của các chủ thể có
thẩm quyền
1.4 Cở sở pháp lý của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
Trang 25đoạt tài sản
Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người
bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản [33]
Như vậy cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đó chính là các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này Trong lý luận về luật hình sự thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có những dấu hiệu pháp lý sau:
1.4.1 Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các quan
hệ xã hội đó được luật hình sự bảo vệ Khách thể là một yếu tố rất quan trọng của tội phạm; các hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội không phải là khách thể của tội phạm thì hành vi đó không phải là tội phạm; hiểu rõ khách thể của tội phạm giúp chúng ta xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân biệt tội phạm này với tội phạm khác Khoa học luật hình sự chia
Trang 26khách thể của tội phạm làm ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Việc phân biệt các loại khách thể chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu khoa học, còn thực tiễn xét xử khi nghiên cứu khách thể của tội phạm chủ yếu nghiên cứu khách thể trực tiếp, nếu một hành vi nguy hiểm chưa xâm phạm khách thể trực tiếp thì hành vi đó chưa cấu thành tội phạm Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa con người với con người trong việc sở hữu tài sản trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ Hành vi xâm phạm quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Cũng như trong các hành vi phạm tội khác, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng có đối tượng tác động cụ thể, đó là tài sản - đối tượng vật chất mà nhờ đó tồn tại quan hệ sở hữu Theo pháp luật Việt Nam, tài sản gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Vật và tiền nói chung luôn là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Hành vi xâm phạm tài sản của người khác, dù là tài sản hợp pháp hay bất hợp pháp vẫn bị coi là trái pháp luật, hành vi đó có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và người thực hiện hành vi đó có thể bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật
Tài sản là đối tượng xâm phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải là những tài sản hữu hình, tài sản vô hình không là đối tượng xâm phạm của tội phạm này
Mức độ gây thiệt hại cho tài sản là một căn cứ để xác định cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Theo quy định tại Khoản1 Điều 175 của
Bộ luật hình sự thì tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên hoặc nếu dưới bốn triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành
vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính
Trang 27của người bị hại và gia đình họ, thì mới cấu thành tội phạm
1.4.2 Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan là mặt bên ngoài của tội phạm, nó là những biểu hiện khách quan mà bằng những giác quan của con người chúng ta có thể nhận biết được như: nhìn thấy được, nghe thấy được… Các dấu hiệu hợp thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi và hậu quả, các điều kiện chi phối hành vi và hậu quả của hành vi Ngoài ra, còn các dấu hiệu khách quan khác như: thời gian, không gian, công cụ, phương tiện phạm tội…
Hành vi khách quan là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng của đối tượng bị tác động của tội phạm và do vậy, chính nó là nguyên nhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội và cho khách thể của tội phạm Hình thức thể hiện của hành vi khách quan được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động (làm hoặc không làm một việc)
Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản mà người chủ tài sản đã tín nhiệm giao cho một cách ngay thẳng, hợp pháp Việc giao tài sản thường thông qua một hợp đồng, hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng Sau khi có tài sản trong tay, chủ thể thực hiện hành vi tiếp theo như gian dối, bỏ trốn để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của chủ tài sản, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc
dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, hoặc sử dụng tài sản đó vào một mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Bên cạnh
đó cũng phải xét đến tình tiết ý thức chiếm đoạn có trước hay sau khi được giao tài sản để định tội danh
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, tức hậu quả thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc Tuy nhiên, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi lạm dụng tín nhiệm gây ra không được phản ánh một cách trực tiếp mà được phản ánh thông qua đối tượng tác động của tội phạm đó là tài sản Ở đây, quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
Trang 28vệ đã bị tội phạm xâm hại chính là quan hệ sở hữu Do cấu thành và đặc điểm của Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, nên hành vi khách quan của tội này có các đặc điểm sau:
Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một giao dịch hợp pháp và ngay thẳng, nghĩa là quan hệ giữa hai bên lúc này là quan hệ dân sự hoặc kinh tế với mong muốn mỗi bên đều đạt được lợi ích của mình từ giao dịch đó
Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, giữa bị hại và người phạm tội có quan hệ tài sản để làm một việc gì đó, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ thực hiện xong hợp đồng phải hoàn trả tài sản cho chủ tài sản nhưng người phạm tội đã không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả tài sản của mình một cách cố ý, bằng các thủ đoạn gian dối, bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc đã sử dụng tài sản đó một cách bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả tài sản
Việc giao nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội thông qua hình thức hợp đồng có thể là hợp đồng viết hoặc thoả thuận miệng, có thể là hợp đồng dân sự hoặc hoặc hợp đồng kinh tế
Sau khi nhận được tài sản của người bị hại bằng hình thức hợp đồng thì người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý như xoá dấu tích việc nợ, huỷ bỏ các tài liệu, chứng cứ chứng minh nghĩa vụ thanh toán như giấy vay nợ, các cam kết hoặc che dấu hành vi chiếm đoạt bằng hiện trường giả như tạo hiện trường bị mất, để quên, bị cướp, bị người khác chiếm đoạt
Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối mà sau khi đã nhận được tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý thì cũng là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Khi đánh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội cũng phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội
Trang 29bỏ trốn mà không có ý thức chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm
Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối nhưng sau khi đã nhận được tài sản một cách hợp pháp, đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả thì cũng là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Như vậy trong điểm a Khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015, nhà làm luật
đã dự liệu 3 trường hợp mà nếu chứng minh được một trong ba trường hợp đó trong thực tế là phản ánh được ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội Trường hợp thứ tư cũng bị coi là là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp, đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Ở điều khoản này không cần chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội, chỉ cần chứng minh được người phạm tội đã sử dụng tài sản một cách “bất hợp pháp” và
đã mất khả năng thanh toán cho chủ sở hữu
Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên Nếu trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 4 triệu đồng thì phải có các điệu kiện: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172,
173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc hoàn toàn không có khả năng trả lại tài sản
1.4.3 Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội và chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình Một người là chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi họ ở một độ tuổi nhất định và không bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm khả năng nhận thức hoặc khả năng
Trang 30điều khiển hành vi của mình, thiếu một trong hai điều kiện này thì không thể là chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.4.4 Mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong, không được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, nên bằng các giác quan chúng ta không thể nhận biết được mà phải thông qua một quá trình nhận thức theo một phương pháp biện chứng Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm nhiều yếu tố hợp thành nhưng khoa học luật hình sự chỉ nghiên cứu những yếu tố có liên quan đến hành vi phạm tội bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Về mặt lý luận: Lỗi gồm có lỗi
cố ý và lỗi vô ý; cố ý gồm có cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp; vô ý gồm có vô ý
vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả
Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý Theo đó, người thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật xâm
phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại, đồng thời thấy trước
hậu quả của hành vi đó là tài sản của người bị hại bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.5 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác trong Bộ luật hình sự
đảo chiếm đoạt tài sản
Theo quy định ở Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trường hợp người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của
Trang 31người khác trị giá từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng mà thuộc một số các trường hợp luật định Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin mà tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác nhau ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, về thời điểm người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản Đối
với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ý thức chiếm đoạt tài sản có trước khi người phạm tội thực hiện thủ đoạn gian dối, thủ đoạn gian dối có trước việc giao tài sản Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sau khi có giao dịch hợp pháp của hai bên (có được tài sản), người phạm tội mới có ý định chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, về hành vi phạm tội Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản: Người phạm tội có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời hạn trả lại tài sản
dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Cụ thể là người phạm tội đưa ra thông tin giả làm cho người khác tin đó là sự thật và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội, người có tài sản bị người phạm tội lừa dối nên mới giao tài sản cho người đó
Với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc ký kết hợp đồng chỉ nhằm mục đích vay, mượn, thuê được tài sản Người phạm tội nhận tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp Trước và trong khi nhận tài sản không có ý thức chiếm đoạt tài sản Trong khi đó, đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản trước khi người bị hại giao tài sản Nếu trong trường hợp người phạm tội có được tài sản bằng giao dịch hợp đồng với người bị hại, thì hợp đồng này thực chất là phương thức để chiếm đoạt tài sản,
Trang 32mang tính chất giả tạo, gian dối nhằm tạo lòng tin để người bị hại giao tài sản
Thứ ba, về thời điểm hoàn thành tội phạm Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, tội phạm hoàn thành ngay sau khi người phạm tội nhận được tài sản Còn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm người phạm tội vi phạm những cam kết đã thỏa thuận, cố tình không trả, chiếm đoạt tài sản của người khác
Thứ tư, về trị giá tài sản bị chiếm đoạt Đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, trị giá tài sản từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì mới phạm tội Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do tính nguy hiểm cao hơn nên trị giá tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp theo quy định thì phạm tội
ô tài sản
Tội tham ô tài sản là loại tội phạm điển hình trong nhóm tội phạm tham nhũng Tội tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý Ở hai tội này có những điểm giống nhau là: cả hai hành vi phạm tội đều xâm phạm quyền sỡ hữu; mặt khách quan đều là tội cấu thành vật chất; mặt chủ quan: đều là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích tư lợi Tuy nhiên, tội tham ô tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khác nhau ở các dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất, về khách thể: tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm
phạm quan hệ sở hữu Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản mà người phạm tội nhận được một cách ngay thẳng thông qua các giao dịch hợp pháp Trong khi tội tham ô sài sản xâm phạm khách thể trực tiếp là hoạt động đúng
Trang 33đắn của cơ quan, tổ chức Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý
Thứ hai, về chủ thể: chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
là chủ thể thường, tức là chỉ cần có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị xử lý về tội danh này Còn đối với tội tham ô tài sản, chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, tức là ngoài việc thỏa mãn các dấu hiệu của chủ thể tội phạm thông thường, còn cần có thêm một dấu hiệu nữa: là người
có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý tài sản bị chiếm đoạt Những người không có chức vụ, quyền hạn chỉ có thể là đồng phạm về tội tham ô tài sản với vai trò là người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức, không thể là người thực hành
Thứ ba, về mặt khách quan: cùng là hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng
cách thức và biện pháp chiếm đoạt khác nhau Ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản biểu hiện ở hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến hạn trả lại tài sản mặc dù có khả năng, điều kiện nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không
có khả năng trả lại tài sản Trong khi, tội tham ô tài sản biểu hiện ở hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, đánh tráo tài sản do mình quản lí thành tài sản cá nhân, làm mất đi một khối lượng tài sản nhất định của cơ cơ quan, tổ chức mà người đó quản lí
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã làm những việc vượt ra ngoài phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật quy định để chiếm đoạt tài sản của người khác
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn cùng là hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản, người thực hiện các hành vi này với lỗi cố ý trực tiếp và đều có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
Trang 34sản
Tuy nhiên, với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội chiếm đoạt tài sản do chính họ đang quản lý còn đối với tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì tài sản do người khác quản lý
Điểm khác nhau rõ nét nhất đó là về chủ thể của hai tội danh này Nếu trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chủ thể là chủ thể thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản, chủ thể ngoài các dấu hiệu trên còn bắt buộc phải là người có chức vụ, quyền hạn Người không có chức
vụ, quyền hạn chỉ có thể là đồng phạm với vai trò người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức
Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã thực
hiện hành vi lạm dụng sự “tín nhiệm” của chủ tài sản, chiếm đoạt toàn bộ hoặc
một phần tài sản trong hợp đồng Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã lạm dụng “chức vụ, quyền hạn” uy hiếp
tinh thần chủ tài sản hoặc gian dối hoặc dung thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản Ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì sự tín nhiệm có được từ uy tín của người phạm phạm tội, trong khi đó ở tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản sự tín nhiệm lại bắt nguồn từ chức vụ, quyền hạn mà họ có
Như vậy, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản mình được giao trên cơ sở hợp đồng (lạm dụng tín nhiệm của chủ tài sản) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình (chức vụ, quyền hạn được sử dụng như phương tiện để chiếm đoạt) Tuy nhiên, để phân biệt rõ trên thực tế, trường hợp nào chỉ sử dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản và trường hợp nào sử dụng chức vụ, quyền hạn để lấy sự tín nhiệm của chủ tài sản lại là việc không dễ, cần căn cứ vào tổng hợp các tình tiết trong vụ án thực tế để xác định tội danh một cách chính xác
Trang 35Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 luận văn phân tích về những vấn đề lý luận về định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Nội dung chương 1 bao gồm:
Thứ nhất, về khái niệm định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được xác định đi từ khái niệm định tội danh nói chung, sau đó phân tích đến vấn đề định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
có đặc điểm nhất định giống với định tội danh nói chung và đặc điểm riêng của định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, về ý nghĩa, vai trò của định tội danh được thể hiện thông qua ý nghĩa của nó với vai trò đảm bảo hiệu lực hiệu quả của pháp luật hình sự trên thực tế, cũng như bảo đảm yếu tố đấu tranh, phòng chống tội phạm và bảo đảm bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan
Thứ ba, về cơ sở của định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xuất phát từ các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Theo đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có 4 dấu hiệu pháp lý gồm khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan với những đặc điểm riêng để từ đó khi định tội danh chúng ta xác định những dấu hiệu pháp lý này có phù hợp với yêu cầu đòi hỏi cần thiết hay không
Thứ tư, về sự phân biệt giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và các tội danh khác có liên quan như tội tham ô tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác Đây là
cơ sở để chúng ta có thể định tội danh chính xác khi xử lý đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên thực tế