1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ quan quản lý cạnh tranh ở việt nam hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn

58 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Quan Quản Lý Cạnh Tranh Ở Việt Nam Hiện Nay – Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn Th.S Trần Anh Tú
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 732,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Khái quát chung về mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh (10)
    • 1.1.1. Sự hình thành cơ quan cạnh tranh (10)
    • 1.1.2. Một số mô hình cơ quan cạnh tranh trên thế giới (14)
    • 1.2. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh tranh (23)
    • 1.3. Đặc trưng pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh (0)
      • 1.3.1. Tính “lưỡng tính” hay nửa “tư pháp” nửa “hành chính” (25)
      • 1.3.2. Tính độc lập (26)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (28)
    • 2.1. Sự hình thành của cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam (28)
    • 2.2. Hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2004. 25 1. Cục quản lý cạnh tranh (30)
      • 2.2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh.25 2.2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh (30)
      • 2.2.2. Hội đồng cạnh tranh (37)
        • 2.2.2.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Cạnh tranh (38)
        • 2.2.2.2. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh (39)
    • 2.3. Những hạn chế trong mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh theo pháp luật hiện hành (40)
      • 2.3.1. Bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa rõ ràng (40)
      • 2.3.2. Tính độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh còn hạn chế (42)
      • 2.3.3. Tính chuyên môn của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa cao (44)
    • 3.1. Làm rõ bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh (47)
    • 3.2. Cơ cấu lại hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh (47)
    • 3.3. Xác định lại Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh (50)
    • 3.4. Đổi mới nhân sự và cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh.47 PHẦN KẾT LUẬN (52)

Nội dung

Khái quát chung về mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh

Sự hình thành cơ quan cạnh tranh

Khi xã hội xuất hiện sự dư thừa của cải và phân biệt giàu nghèo, sự cạnh tranh bắt đầu hình thành Lịch sử phát triển của nhân loại gắn liền với sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường, trong đó cạnh tranh trở thành yếu tố thiết yếu, thúc đẩy sự phát triển Trong một thời kỳ, nguyên tắc tự do cạnh tranh được tôn trọng tuyệt đối, cho phép mọi cá nhân tự do cạnh tranh mà không có sự can thiệp của Nhà nước Điều này giải thích vì sao mặc dù cạnh tranh đã tồn tại từ lâu, nhưng pháp luật về cạnh tranh lại xuất hiện muộn Tuy nhiên, để quản lý nền kinh tế và xã hội, Nhà nước cần sử dụng pháp luật như một công cụ hiệu quả để thực hiện quyền lực của mình.

Pháp luật cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, giúp xác định vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Việc hiểu rõ lý do cần thiết cho sự xuất hiện của pháp luật cạnh tranh cũng như giới hạn điều tiết của Nhà nước là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Mọi Nhà nước trong lịch sử đều có chức năng kinh tế, phản ánh sự biến chuyển trong đời sống kinh tế và xã hội Những thay đổi này không chỉ là nguyên nhân mà còn là môi trường hình thành Nhà nước Do đó, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự thống trị kinh tế, thực hiện quyền lực chính trị và ảnh hưởng tư tưởng đến quần chúng.

Vai trò kinh tế của Nhà nước thể hiện qua việc bảo đảm quyền lực kinh tế của giai cấp thống trị và duy trì trật tự kinh tế xã hội Nội dung và cách thức thực hiện vai trò này phụ thuộc vào mô hình Nhà nước và từng thời kỳ lịch sử.

Trong giai đoạn đầu của kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đảm nhiệm chức năng bảo vệ an ninh và xây dựng pháp luật để đảm bảo công bằng xã hội Tuy nhiên, khi xã hội phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, những khuyết tật của thị trường trở nên rõ ràng và pháp luật không còn đủ để điều chỉnh Sự thất bại của mô hình kinh tế chỉ huy ở các nước xã hội chủ nghĩa và khủng hoảng kéo dài trên thị trường tự do đã thúc đẩy việc thiết lập mô hình kinh tế thị trường hiện đại Trong mô hình này, Nhà nước không chỉ hạn chế khuyết tật của thị trường mà còn tạo ra môi trường cho thị trường tự do phát triển Nhà nước đóng vai trò định hướng thị trường và thiết lập trật tự, đồng thời quản lý các mối quan hệ trong nền kinh tế Để duy trì trật tự và phát triển thị trường, Nhà nước phải can thiệp bằng pháp luật cạnh tranh, đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp lý nhất định.

“Theo nghĩa kinh điển, pháp luật cạnh tranh chỉ bao hàm các quy định ngăn cấm những hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo cách hiểu của ngày

Trong lịch sử, đã có thời kỳ mà con người chưa nhận thức được hiện tượng độc quyền và những tác hại của nó, đặc biệt là trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do Điều này được phản ánh trong Bộ luật Dân sự của Pháp (Code civil – 1804), cụ thể là Điều 1382.

Theo quy định tại Điều 1383, trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh cho các thương nhân trong cạnh tranh được xem là một hình thức mới của trách nhiệm bồi thường thiệt hại Những hành vi cạnh tranh mà người thực hiện phải chịu trách nhiệm về hậu quả được gọi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hay còn gọi là concurrence déloyale Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 cùng với các văn bản pháp luật liên quan đã hình thành chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh tại Cộng hòa Pháp Tương tự, tại Italia, các Điều 1151 và 1152 của Bộ Luật Dân sự cũng quy định về vấn đề này.

Năm 1865 đã thiết lập các nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm đối với hành vi không lành mạnh Tuy nhiên, chỉ đến năm 1872, khi Bộ luật Dân sự mới được ban hành, các quy định chi tiết và rõ ràng về cạnh tranh không lành mạnh mới được đưa ra.

Lịch sử pháp luật cạnh tranh cho thấy nó được xây dựng dựa trên các nguyên tắc của dân luật và thực hiện thông qua trách nhiệm dân sự Do nhận thức hạn chế và khả năng dự liệu của pháp luật về hành vi cạnh tranh, pháp luật trong giai đoạn này chủ yếu tồn tại dưới dạng án lệ của tòa án Các nguyên tắc dân luật đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự cạnh tranh, và cơ quan thực thi pháp luật dân sự cũng là cơ quan đảm bảo cạnh tranh trong thời kỳ đó.

Sự phát triển của thị trường cùng với sự biến đổi đa dạng và phức tạp trong các biểu hiện của cạnh tranh đã làm giảm hiệu quả của các nguyên tắc kinh doanh.

Các Nhà nước đang tích cực nhận dạng và ngăn cấm các biểu hiện không lành mạnh thông qua các quy định trong luật cạnh tranh Hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường đã ban hành văn bản pháp luật cạnh tranh và thành lập cơ quan thực thi luật này Đến cuối thế kỷ XIX, luật cạnh tranh đã có những thay đổi cơ bản về nội dung và phương pháp điều chỉnh Hiện nay, bên cạnh các quy định về cạnh tranh không lành mạnh, việc chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền là nội dung quan trọng để Nhà nước bảo vệ và điều tiết thị trường Nhà nước đã nhận thức rõ vai trò quản lý thị trường, điều tiết cạnh tranh không chỉ bằng cách loại bỏ các hình thức tranh đua không lành mạnh mà còn tạo ra các thiết chế pháp lý nhằm ngăn chặn các rào cản cạnh tranh Do đó, cơ quan quản lý cạnh tranh đã được thành lập với chức năng và nhiệm vụ độc lập để đảm bảo thực thi pháp luật cạnh tranh hiệu quả.

Luật Cạnh tranh, thuộc lĩnh vực pháp luật dân sự, trước đây yêu cầu Nhà nước chỉ can thiệp khi có yêu cầu Tuy nhiên, với sự phát triển của pháp luật kiểm soát độc quyền toàn cầu, Nhà nước đã có thể chủ động ngăn chặn và kiểm soát các nguy cơ hạn chế cạnh tranh thông qua các biện pháp mạnh mẽ, bao gồm cả chế tài hình sự cho các hành vi vi phạm Điều này đã củng cố sự độc lập và tính cưỡng chế của cơ quan quản lý cạnh tranh.

Luật Cạnh tranh là công cụ quan trọng trong việc quản lý thị trường và xã hội Để đảm bảo tính thực thi của Luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò thiết yếu, đại diện cho Nhà nước để thực thi hiệu quả các quy định của luật này Sự hình thành và phát triển của cơ quan này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Luật cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển cơ quan quản lý cạnh tranh, nhằm đảm bảo thực thi Luật Cạnh tranh Cơ quan này có chức năng bảo vệ sự cạnh tranh công bằng và minh bạch trên thị trường, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), tính đến năm

Năm 2007, có 113 quốc gia và vùng lãnh thổ đã thiết lập luật điều tiết cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, cùng với các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh Mặc dù mỗi quốc gia xây dựng mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh khác nhau dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội của mình, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là thực thi Luật Cạnh tranh một cách hiệu quả nhất.

Một số mô hình cơ quan cạnh tranh trên thế giới

Cơ quan quản lý cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc thi hành hiệu quả Luật Cạnh tranh Mỗi quốc gia xây dựng mô hình cơ quan này dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị riêng, với các nguyên tắc tổ chức, hoạt động, chức năng và nhiệm vụ phù hợp Một số quốc gia đặt cơ quan quản lý cạnh tranh dưới Quốc hội, trong khi những quốc gia khác xác định nó là cơ quan ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ hoặc Tổng thống, hoặc là một đơn vị thuộc Bộ.

Theo thống kê của UNCTAD đến năm 2008, hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ban hành luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, đồng thời thiết lập cơ quan quản lý cạnh tranh với bốn mô hình khác nhau.

Đến tháng 04/2017, có 150 cơ quan quản lý cạnh tranh trên toàn thế giới, trong đó 5% thuộc Quốc hội, 42% thuộc Chính phủ và các bộ/ngành, và 22% thuộc các thiết chế khác như Tòa án.

Mô hình thứ nhất, cơ quan quản lý cạnh tranh là cơ quan thuộc Quốc

Cơ quan chống độc quyền Italia, được thành lập theo Luật số, là một trong những cơ quan quản lý cạnh tranh tiêu biểu tại Italia.

Luật Cạnh tranh và Thương mại công bằng số 287, được ban hành vào ngày 10/10/1990, quy định về cơ cấu và quy trình bổ nhiệm các thành viên của cơ quan chống độc quyền Italia Chủ tịch và bốn thành viên của cơ quan này được bổ nhiệm bởi Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Thượng viện, với tiêu chí lựa chọn nghiêm ngặt và không được tái bổ nhiệm Chủ tịch phải là người có vị trí cao trong chính quyền và độc lập, trong khi bốn thành viên còn lại là những cá nhân có uy tín như thẩm phán Tòa hành chính tối cao, Tòa kiểm toán, Tòa phúc thẩm tối cao, giáo sư đại học hoặc đại diện cộng đồng doanh nghiệp, tất cả đều phải đáp ứng tiêu chuẩn nghiệp vụ cao Mỗi thành viên giữ chức vụ trong 7 năm và không được tái bổ nhiệm.

Cơ quan chống độc quyền Italia hoạt động độc lập với Chính phủ, thực thi Luật Cạnh tranh và Luật Thương mại công bằng số 287 năm 1990 Nhiệm vụ của cơ quan bao gồm kiểm soát các thỏa thuận ngăn cản cạnh tranh, xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, và giám sát các vụ mua lại hoặc sáp nhập có thể làm giảm cạnh tranh trên thị trường Cơ quan này báo cáo trực tiếp lên Chính phủ và Quốc hội, đồng thời tư vấn cho hai cơ quan này về các vấn đề liên quan Ngoài ra, cơ quan còn có quyền yêu cầu Chính phủ và Quốc hội xem xét kỹ lưỡng các yêu cầu của thị trường và người tiêu dùng khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Hoa Kỳ tổ chức cơ quan cạnh tranh theo mô hình thuộc Quốc hội, với các cơ quan chủ chốt là Uỷ ban Thương mại Liên bang (US-FTC) và Vụ Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp (US-DOJ) chịu trách nhiệm xử lý các vụ việc cạnh tranh.

Uỷ ban Thương mại Liên bang Mỹ (US-FTC) được thành lập vào năm 1914 với nhiệm vụ ngăn chặn các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, góp phần thúc đẩy lòng tin trong thương mại Qua các năm, Quốc hội đã ban hành nhiều luật bổ sung để tăng cường quyền lực cho Uỷ ban trong việc kiểm soát hoạt động cạnh tranh Để đối phó với sự phức tạp ngày càng tăng của thị trường, Bộ Tư pháp đã thành lập Vụ Chống độc quyền vào năm 1933 US-FTC là cơ quan độc lập, báo cáo trực tiếp cho Quốc hội và hoạt động dưới sự chỉ đạo của năm ủy viên có nhiệm kỳ 7 năm, do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn, trong đó có một ủy viên được chỉ định làm Chủ tọa và không quá ba ủy viên thuộc cùng một Đảng.

Hoạt động của US-FTC bao gồm các Cục như Cục Bảo vệ người tiêu dùng, Cục Cạnh tranh và Cục Kinh tế, cùng với các Văn phòng như Văn phòng các vấn đề cộng đồng, Văn phòng quan hệ Quốc hội, Văn phòng Giám đốc điều hành, Văn phòng Tổng thanh tra và Văn phòng Tổng tham vấn Các cơ quan này thực hiện nhiều nhiệm vụ nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và duy trì cạnh tranh trên thị trường.

Cục Bảo vệ người tiêu dùng có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trước các hành vi gian lận và không công bằng Cục thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng do Quốc hội ban hành và các quy định thương mại do Uỷ ban ban hành Hoạt động chính của Cục bao gồm điều tra các công ty tư nhân và ngành công nghiệp lớn, giải quyết tranh chấp tại toà hành chính và toà án liên bang, cũng như nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và người tiêu dùng Ngoài ra, Cục còn hỗ trợ Uỷ ban trong việc báo cáo Quốc hội và các cơ quan Chính phủ về những hoạt động có thể ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.

- Cục Cạnh tranh có nhiệm vụ phát hiện các hoạt động kinh doanh gây

Cục Cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra và xử lý các hành vi vi phạm cạnh tranh nhằm bảo vệ lợi ích người tiêu dùng thông qua việc duy trì mức giá thấp và tính sẵn có của sản phẩm Khi phát hiện vi phạm, Cục sẽ trình Uỷ ban để xem xét và thực thi các quyết định xử lý thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của toà án liên bang hoặc quy định hành chính Ngoài ra, Cục còn nghiên cứu và hoạch định chính sách về cạnh tranh, chuẩn bị báo cáo và chứng cứ cho Quốc hội, đồng thời phát triển kiến thức chuyên sâu về các ngành công nghiệp quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, lương thực, năng lượng và dịch vụ chuyên môn Luật Chống độc quyền được thực hiện bởi cả Cục Cạnh tranh và Vụ Chống độc quyền.

Bộ Tư pháp sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết và để tránh sự chồng chéo trong công việc, hai cơ quan sẽ tham khảo ý kiến lẫn nhau trước khi xử lý bất kỳ trường hợp nào.

Cục Kinh tế hỗ trợ US – FTC trong việc đánh giá tác động kinh tế của các hoạt động của tổ chức này thông qua các phân tích kinh tế và điều tra về chống độc quyền và bảo vệ người tiêu dùng Ngoài ra, Cục còn phân tích ảnh hưởng của các quy định cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng do Chính phủ ban hành, cung cấp cho Quốc hội và công chúng những phân tích kinh tế liên quan đến quy trình thị trường, chống độc quyền và các quy định khác.

- Văn phòng các vấn đề cộng đồng: cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động của US – FTC, các tin tức, vụ việc… cho công chúng

Văn phòng quan hệ Quốc hội cung cấp hỗ trợ cho các thành viên Quốc hội cùng với nhân viên riêng và nhân viên ủy ban của họ Nhiệm vụ chính của văn phòng là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và toàn diện về các vấn đề liên quan đến chống độc quyền và bảo vệ người tiêu dùng cho Quốc hội.

- Văn phòng Giám đốc điều hành phục vụ mục tiêu quản lý và thực thi

Cơ quan FTC được quản lý bởi 13 thành viên, chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của tổ chức Văn phòng bao gồm 4 tiểu ban chức năng: Ban Dịch vụ Hành chính, Ban Quản trị Tài chính, Ban Quản trị Nhân lực, và Ban Quản trị Công nghệ và Thông tin.

- Văn phòng Tổng tham vấn có nhiệm vụ là đại diện cho Ủy ban trước tòa và tham vấn luật cho Ủy ban

Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh tranh

Cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò quan trọng trong việc thực thi Luật Cạnh tranh của mỗi quốc gia, và hiệu quả thực thi này phụ thuộc vào hoạt động của cơ quan Mặc dù mô hình của các cơ quan quản lý cạnh tranh khác nhau giữa các quốc gia với điều kiện kinh tế và chính trị - xã hội khác nhau, nhưng chúng đều có những chức năng và nhiệm vụ cơ bản chung.

- Điều tra, ngăn chặn, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường

- Chống độc quyền và lạm dụng vị trí độc quyền trên thị trường

- Điều tra, xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

- Kiểm soát quá trình sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp trên thị trường

- Thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh trên thị trường

Thứ nhất, về chức năng, nhiệm vụ điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Điều 19 quy định về các hành vi xâm hại đến hoạt động cạnh tranh trên thị trường và quyền tự do cạnh tranh công bằng của doanh nghiệp Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm điều tra nhanh chóng và chính xác để ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời đưa ra quyết định xử lý nhằm đảm bảo sự công bằng và trong sạch của thị trường.

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt áp lực cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động độc lập của đối thủ Nội dung của các thỏa thuận này rất đa dạng và phức tạp, yêu cầu cơ quan quản lý cạnh tranh phải điều tra và thu thập chứng cứ để chứng minh sự tồn tại của chúng Nếu không có đủ bằng chứng, không thể kết luận về sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Mặc dù cơ quan quản lý có thể phát hiện các thỏa thuận công khai, nhưng phần lớn các thỏa thuận này thường là ngầm, khiến cho việc điều tra trở nên khó khăn.

Chống độc quyền và lạm dụng vị trí độc quyền trên thị trường là nhiệm vụ quan trọng nhằm ngăn chặn các doanh nghiệp lớn sử dụng quyền lực của mình để gây áp lực lên đối thủ và xâm hại quyền lợi người tiêu dùng Trong mỗi nền kinh tế, sẽ luôn có những doanh nghiệp mạnh với thị phần lớn, có khả năng ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh Do đó, cơ quan quản lý cạnh tranh cần thực hiện chức năng của mình để đảm bảo sự công bằng và điều tiết thị trường, từ đó tạo ra một nền kinh tế cạnh tranh lành mạnh.

Thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh là rất quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không ngừng gia tăng, với mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận ngày càng trở nên rõ ràng.

Đặc trưng pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh

Thị trường cạnh tranh mạnh mẽ và phức tạp có thể dẫn đến những hành vi không lành mạnh, gây ảnh hưởng đến tính minh bạch và công bằng, từ đó tác động tiêu cực đến sự phát triển cân bằng của nền kinh tế Để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, nhà nước cần thực hiện chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế Do đó, cơ quan quản lý cạnh tranh được thành lập với nhiệm vụ đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh.

Một số quốc gia có cơ quan quản lý cạnh tranh không chỉ thực hiện chính sách cạnh tranh mà còn có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Ngoài những chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên thì cơ quan quản lý cạnh tranh còn có thẩm quyền:

- Phát hiện, kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến môi trường cạnh tranh lành mạnh

- Yêu cầu tổ chức, các nhân có liên quan hợp tác, cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh

1.3 Đặc trƣng pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh

1.3.1 Tính “lưỡng tính” hay nửa “tư pháp” nửa “hành chính”

Cơ quan quản lý cạnh tranh ở nhiều quốc gia thường mang tính "lưỡng tính", vừa thực hiện chức năng hành pháp vừa có quyền tư pháp Là công cụ thi hành chính sách và pháp luật cạnh tranh, cơ quan này đảm nhận vai trò hành chính, nhưng đồng thời cũng có khả năng phán xử và áp dụng chế tài đối với các hành vi vi phạm Sự kết hợp giữa chức năng tư pháp và hành chính giúp cơ quan quản lý cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và không bị ảnh hưởng bởi các cơ quan khác.

Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho tính lưỡng tính của cơ quan quản lý cạnh tranh, thể hiện rõ qua chức năng và nhiệm vụ của nó Theo pháp luật cạnh tranh Nhật Bản, cơ quan này đảm nhận vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường cạnh tranh công bằng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Bản, Ủy ban này có cả thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tư pháp:

- Tiếp nhận thông báo của các doanh nghiệp theo luật chống độc quyền

- Điều tra, giám sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường; tình trạng độc quyền trong nền kinh tế

Việc ban hành mới và sửa đổi các đạo luật kinh tế liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh và chống độc quyền là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và thúc đẩy môi trường kinh doanh công bằng Các cơ quan soạn thảo cần xem xét kỹ lưỡng các quy định hiện hành, đồng thời lắng nghe ý kiến từ các bên liên quan để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các đạo luật này Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh, từ đó tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh và bền vững.

Trong một số trường hợp nhất định, Ủy ban xử lý vi phạm Luật chống độc quyền tổ chức phiên họp tương tự như tòa án để ra phán quyết và quyết định chế tài xử lý vi phạm Phán quyết của Ủy ban có thể bị kháng cáo.

Các quốc gia đều quy định rằng cơ quan cạnh tranh phải độc lập và không bị can thiệp bởi các cơ quan khác như hành pháp, lập pháp hay tư pháp Tính độc lập này là yếu tố quyết định để đảm bảo sự công bằng trong việc xử lý các vụ việc, điều mà các bên đương sự luôn mong đợi Sự độc lập cũng giúp cơ quan cạnh tranh thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả, nhằm bảo vệ trật tự công bằng và duy trì môi trường kinh tế cạnh tranh lành mạnh.

Nguyên tắc tối cao trong Luật cạnh tranh yêu cầu các cơ quan quản lý cạnh tranh hoạt động độc lập, không bị chi phối bởi bất kỳ cơ quan nào khác Những cơ quan này được thành lập theo quy định của Luật và thực hiện chức năng mà Luật giao phó Để đảm bảo tính độc lập, một số quốc gia đã đặt cơ quan cạnh tranh dưới sự quản lý của Quốc hội, tách biệt với tư pháp và chính phủ, hoặc thiết lập cơ quan cạnh tranh như một Bộ hoặc cơ quan ngang bộ, độc lập với các ngành khác.

Sự độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh được thể hiện qua quy trình bổ nhiệm nhân sự nghiêm ngặt, cùng với chế độ đãi ngộ và ngân sách hoạt động rõ ràng, minh bạch.

THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sự hình thành của cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế không chỉ đơn thuần là cạnh tranh mà còn chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp, dẫn đến những tác động tiêu cực đến thị trường Để quản lý tình hình này, nhà nước đã thành lập cơ quan quản lý cạnh tranh, một thiết chế kinh tế quan trọng nhằm thực thi pháp luật cạnh tranh và bảo đảm trật tự trong nền kinh tế.

Giữa thập niên thứ hai của quá trình đổi mới, các nhà làm luật Việt Nam đã xác định nhiệm vụ quan trọng là xây dựng một đạo luật cạnh tranh cơ bản cho hệ thống pháp luật thương mại Dựa trên kinh nghiệm từ các quốc gia khác, Luật Cạnh tranh Việt Nam đã được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

Năm 2004, cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam được thành lập nhằm xây dựng và bảo vệ các thiết chế kinh tế, thúc đẩy và giám sát hoạt động kinh tế, tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh Cơ quan này, ban đầu là Ban Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Thương mại, được thành lập vào năm 2003 với nhiệm vụ soạn thảo Luật Cạnh tranh và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá Ngày 26/02/2004, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ban hành Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM để thành lập Cục quản lý cạnh tranh theo Nghị định số 29/2004/NĐ-CP.

Cục Quản lý Cạnh tranh, được thành lập theo Quyết định số 1808/2004/QĐ-BTM, là cơ quan thuộc Bộ Thương mại, có nhiệm vụ quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua vào ngày 03/12/2004 và có hiệu lực từ 01/07/2005, quy định rằng Cục Quản lý Cạnh tranh sẽ do Chính phủ thành lập Ngày 09/01/2006, Nghị định số 06/2006/NĐ-CP được ban hành để xác định chức năng và cơ cấu tổ chức của Cục Đến ngày 05/02/2013, Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định lại cơ cấu tổ chức của Cục Cục chỉ đảm nhận vai trò điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh, trong khi Hội đồng Cạnh tranh sẽ xử lý và giải quyết các vụ việc liên quan.

Hội đồng cạnh tranh là cơ quan độc lập được Chính phủ thành lập, gồm 11 đến 15 thành viên do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ Công thương Ngày 09/01/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2006/NĐ-CP quy định chức năng và cơ cấu tổ chức của Hội đồng Đến ngày 12/06/2006, Thủ tướng đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg bổ nhiệm 11 thành viên đầu tiên Tính đến năm 2018, Hội đồng đã có tổng cộng 14 thành viên, theo Nghị định số 07/2015/NĐ-CP ban hành ngày 16/01/2015.

1 Điều 1, Điều 4, Nghị định số 07/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh.

Hội đồng cạnh tranh có cơ quan thường trực là Văn phòng Hội đồng cạnh tranh, chịu trách nhiệm tham mưu và hỗ trợ hoạt động của Hội đồng Ngày 30/06/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 24/2015/QĐ-TTg, quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng cạnh tranh.

Hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2004 25 1 Cục quản lý cạnh tranh

Hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam hiện nay bao gồm hai tổ chức chính là Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh, hoạt động độc lập để đảm bảo hiệu quả trong việc quản lý và giám sát hoạt động cạnh tranh.

2.2.1 Cục quản lý cạnh tranh

Năm 2003, Ban quản lý cạnh tranh được thành lập thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), đánh dấu sự khởi đầu cho Cục quản lý cạnh tranh Đến năm 2004, Cục quản lý cạnh tranh chính thức ra đời trên cơ sở của Ban quản lý cạnh tranh, là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống Bộ Công thương, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, với trụ sở tại Hà Nội Ngày 03/12/2004, Luật Cạnh tranh được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2005 Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh.

Năm 2013, Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Cạnh tranh Hiện tại, Cục Quản lý Cạnh tranh có trụ sở chính tại Hà Nội, được thành lập vào năm 2004, cùng với các văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh (thành lập năm 2007) và Đà Nẵng.

2.2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh.[20]

Cục Quản lý cạnh tranh có tên giao dịch viết bằng tiếng Anh: Vietnam Competition Authority, viết tắt là VCA, trụ sở chính tại Hà Nội

Cục Quản lý cạnh tranh, thuộc Bộ Công Thương, có nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ Bộ trưởng trong việc thực hiện quản lý nhà nước và tổ chức các hoạt động liên quan đến cạnh tranh.

Pháp luật Việt Nam quy định các biện pháp cạnh tranh, chống bán phá giá và trợ cấp nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đối phó với kiện tụng trong thương mại quốc tế Các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu cũng được áp dụng theo quy định pháp luật để đảm bảo sự công bằng trong thị trường.

Cụ thể, Cục quản lý cạnh tranh có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện các nhiệm vụ:

- Quản lý nhà nước về cạnh tranh (thực thi Luật Cạnh tranh);

Quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước Việc thực thi pháp lệnh về chống bán phá giá và chống trợ cấp giúp ngăn chặn các hành vi thương mại không công bằng, đồng thời đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường Các biện pháp tự vệ được áp dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước khỏi những tác động tiêu cực từ hàng hóa nhập khẩu, góp phần duy trì ổn định kinh tế và phát triển bền vững.

- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (thực thi Luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng);

Cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng để ứng phó hiệu quả với các vụ kiện thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và thực hiện các biện pháp tự vệ.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh được quy định tại Điều 49 Luật Cạnh tranh năm 2004 bao gồm:

1 Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế theo Luật định

2 Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

3 Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh

4 Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh

5 Một số nhiệm vụ khác theo Luật định

Năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/NĐ-CP/2006

2 Khoản 1-điều 1 Quyết định 848QĐ/BCT ngày 05/02/2013

27 trong đó quy định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh trên nền tảng Luật Cạnh tranh năm 2004 Đến năm 2013,

Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định 848/QĐ-BCT, quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Quản lý cạnh tranh Cục Quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể khác.

Xây dựng và trình Bộ trưởng các văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, và áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

2 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, ban hành Phát hiện và kiến nghị cơ quan có liên quan giải quyết theo thẩm quyền về những văn bản đã ban hành có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

3 Ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật

4 Về cạnh tranh a) Thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh để Hội đồng cạnh tranh xử lý theo quy định của pháp luật; b) Tổ chức điều tra, xử lý hoặc đề xuất biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh theo quy định của pháp luật; c) Thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ theo các quy định của pháp luật để trình Bộ trưởng quyết định;

3 Điều 2 Quyết định 848QĐ/BTC ngày 05/02/2013

Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế là cần thiết để xây dựng và quản lý hệ thống thông tin liên quan đến các doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường và các doanh nghiệp độc quyền Điều này bao gồm việc theo dõi quy tắc cạnh tranh trong hiệp hội và các trường hợp miễn trừ.

5 Về xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; b) Thụ lý, tổ chức điều tra việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt nam để đề xuất áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ theo quy định của pháp luật; c) Kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp tạm thời và quyết định áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời theo quy định của pháp luật; d) Báo cáo kết quả điều tra lên Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ xem xét, trình Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; e) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện, rà soát việc chấp hành các quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

6 Cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá; chủ trì hoặc phối hợp với các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

Những hạn chế trong mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh theo pháp luật hiện hành

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh phụ thuộc lớn vào vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh Với bản chất là luật công, cơ quan công quyền có vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính thực thi của Luật cạnh tranh Để hoạt động hiệu quả, cơ quan quản lý cạnh tranh cần chú trọng đến các yếu tố quan trọng.

- Phải đảm bảo hoạt động độc lập và được trao đầy đủ quyền hạn theo quy định của pháp luật;

- Đảm bảo tính minh bạch khi thực hiện nhiệm vụ được giao;

- Phải nhận được sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và người tiêu dùng

2.3.1 Bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa rõ ràng

Hiện nay cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam về cơ bản mang tính chất

Mặc dù khái niệm "hành chính" và "tài phán" đã được đề cập trong các quy định pháp luật, nhưng vẫn chưa rõ ràng Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, Việt Nam duy trì mô hình hai cơ quan cạnh tranh: Cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương và Hội đồng cạnh tranh, với Văn phòng Hội đồng hỗ trợ Các cơ quan cạnh tranh trên toàn cầu thường có bản chất "lưỡng tính", vừa là cơ quan hành chính vừa hoạt động như cơ quan tư pháp thông qua điều trần và xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh Tương tự, cơ quan cạnh tranh tại Việt Nam cũng mang bản chất "lưỡng tính", nhưng vẫn cần được làm rõ hơn.

36 pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa thực sự được quy định rõ ràng trong quy định của pháp luật

Cục quản lý cạnh tranh là một cơ quan hành chính Nhà nước, có nhiệm vụ thực thi pháp luật và thiết lập các quan hệ trong lĩnh vực cạnh tranh Cơ quan này chịu trách nhiệm kiểm soát quá trình tập trung kinh tế, thụ lý hồ sơ miễn trừ và trình lên Bộ trưởng Bộ Công thương hoặc Chính phủ, đồng thời điều tra các vụ việc cạnh tranh và xử lý vi phạm Luật Cạnh tranh.

Hội đồng Cạnh tranh thực hiện hoạt động xét xử theo kiểu hành chính, có nhiệm vụ xử lý và giải quyết các khiếu nại liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh Cơ quan này quyết định xử phạt các vi phạm pháp luật cạnh tranh theo trình tự thủ tục nhất định, tương tự như Tòa án Quyết định của Hội đồng Cạnh tranh có thể bị khiếu nại và được đưa ra Tòa án Nhân dân huyện, thành phố, trong đó Hội đồng Cạnh tranh tham gia tố tụng hành chính theo Luật Tố tụng hành chính Tính chất tài phán của Hội đồng Cạnh tranh được thể hiện qua quy trình tố tụng cạnh tranh mà cơ quan này thực hiện.

Thủ tục tố tụng tranh tụng diễn ra thông qua phiên điều trần, tạo cơ hội cho các bên liên quan trình bày quan điểm và trao đổi trực tiếp với nhau cũng như với cơ quan tiến hành tố tụng.

Việc xử lý vụ việc được thực hiện theo trình tự tố tụng chặt chẽ và rõ ràng, mang tính chất tài phán, không chỉ đơn thuần là xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Khi quyết định xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh trong các vụ việc về cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh làm việc theo chế độ tập thể

- Quyết định của Hội đồng cạnh tranh không thể bị khiếu nại trong hệ thống cơ quan hành chính mà phải khởi kiện ra tòa án…

Việc quy định rằng quyết định của Hội đồng Cạnh tranh có thể bị khởi kiện và đưa ra xét xử bởi Tòa án đã tạo ra sự đảm bảo cho cơ quan này trong việc thực hiện quyền tài phán của mình.

Mô hình quản lý cạnh tranh của Việt Nam có tính "lưỡng tính" tương tự như các mô hình trên thế giới, nhưng Luật Cạnh tranh và các Nghị định liên quan chưa quy định rõ ràng về tính chất này Mặc dù vậy, tính lưỡng tính vẫn được nhận diện như một bản chất vốn có của cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam.

2.3.2 Tính độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh còn hạn chế Điều 2 Nghị định số 05/2006/NĐ-CP đã quy định Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước độc lập có chức năng xử lý vụ việc cạnh tranh Theo nghiên cứu hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam, có thể nhận thấy không có cơ quan Nhà nước nào được quy định là cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước độc lập mà chỉ có một số cơ quan có chức năng thực thi pháp luật độc lập (có Tòa án nhân dân, Kiểm toán Nhà nước) hoặc thực thi nhiệm vụ độc lập (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) Tương tự như vậy, quy định của Nghị định số 05/2006/NĐ-CP nên được hiểu theo nghĩa là Hội đồng Cạnh tranh tiến hành xử lý các vụ việc cạnh tranh một cách độc lập – chỉ tuân theo pháp luật, không chịu ảnh hưởng của bất cứ tổ chức, cá nhân nào (như Tòa án nhân dân) nhưng không phải là độc lập hoàn toàn – theo nghĩa không có mối quan hệ nào với các cơ quan Nhà nước khác

Theo quy định hiện hành, Luật về nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn của Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là về tính độc lập trong hoạt động của các cơ quan này.

Thứ nhất, khi xử lý một vụ việc cạnh tranh thì Cục quản lý Cạnh tranh

Cơ quan thụ lý và điều tra vụ việc cạnh tranh là Cục Quản lý Cạnh tranh, sau khi hoàn tất điều tra, sẽ chuyển hồ sơ cho Hội đồng Cạnh tranh để xét xử và quyết định xử phạt theo quy định tại Mục IV và V của Luật Cạnh tranh năm 2004 Nếu trong quá trình xét xử, Hội đồng phát hiện vướng mắc trong điều tra và thu thập chứng cứ, vụ việc sẽ được chuyển lại cho Cục Quản lý Cạnh tranh để tiếp tục điều tra Quy trình này khiến việc xét xử của Hội đồng Cạnh tranh phụ thuộc vào thời gian và kết quả điều tra, do đó, quyết định của Hội đồng cũng chịu ảnh hưởng và tính độc lập bị hạn chế.

Nghị định số 05/2006/NĐ-CP không thể khẳng định sự độc lập của Hội đồng Cạnh tranh, vì Bộ trưởng Bộ Công thương có quyền đề nghị bổ nhiệm và miễn nhiệm thành viên cũng như chủ tịch Hội đồng Ngoài ra, Bộ trưởng còn quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban thư ký Hội đồng, dẫn đến khả năng chi phối hoạt động của cơ quan này Kinh phí hoạt động của Hội đồng cũng phụ thuộc vào ngân sách hàng năm của Bộ Công thương, điều này khiến cho tính độc lập của Hội đồng trở nên khó khăn Hơn nữa, Bộ Công thương vẫn giữ vai trò chủ quản đối với một số công ty Nhà nước quan trọng, gây ảnh hưởng đến tính khách quan trong các cuộc điều tra liên quan đến doanh nghiệp Nhà nước.

Khi có khiếu nại về quyết định xử phạt của Hội đồng cạnh tranh, người nhận quyết định có quyền khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại Tòa án sẽ là cơ quan thụ lý vụ việc, trong khi Hội đồng cạnh tranh tham gia như một chủ thể trong quá trình tố tụng hành chính.

6 Điều 115, Luật Cạnh tranh năm 2004, Khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại

Quyết định về 39 đồng cạnh tranh không phải là tối thượng, mà có thể bị tác động bởi các yếu tố và cơ quan khác, dẫn đến sự thay đổi; đồng thời, tính độc lập trong quyết định này cũng bị hạn chế.

Theo nghiên cứu về mô hình cạnh tranh toàn cầu, các lý thuyết pháp luật cạnh tranh nhấn mạnh rằng tính độc lập và tự quyết là yếu tố quan trọng cho sự hoạt động hiệu quả của các cơ quan quản lý cạnh tranh Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh hiện tại ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về tính độc lập của cơ quan cạnh tranh, điều này cần được xem xét và sửa đổi để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này cũng như cải thiện việc thực thi Luật cạnh tranh.

2.3.3 Tính chuyên môn của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa cao

Làm rõ bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh

Việc xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh là rất quan trọng, ảnh hưởng đến tên gọi, mô hình tổ chức, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan này Hiện tại, cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam chủ yếu mang tính “hành chính”, trong khi tính “tài phán” vẫn chưa rõ ràng, với một phần chức năng điều tra thuộc về CQLCT và HĐCT thực hiện xét xử theo kiểu hành chính Do đó, cơ quan quản lý cạnh tranh cần có bản chất pháp lý kết hợp các đặc điểm này để hoạt động hiệu quả hơn.

Việc xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh giữa "hành chính" và "tài phán" mang lại lợi ích lớn, vì nó không chỉ đảm bảo vai trò điều tiết mà còn nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực cạnh tranh.

Chính phủ cần tạo ra các điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và tự do của doanh nghiệp, đồng thời đóng vai trò như một cơ quan hành chính và tư pháp Điều này giúp giải quyết những bất cập trong việc quy định cơ quan quản lý cạnh tranh, không chỉ giới hạn ở vai trò hành chính hay tư pháp.

Cơ cấu lại hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh

Qua việc nghiên cứu và rút ra bài học từ các mô hình tổ chức cơ quan cạnh tranh trên thế giới, chúng ta nhận thấy những bất cập hiện tại trong hệ thống của mình.

Cơ quan cạnh tranh của Việt Nam cần được cải cách để hoạt động hiệu quả hơn Việc sửa đổi pháp luật cạnh tranh là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Dựa trên đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội hiện tại, mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh phù hợp nhất là cơ quan ngang Bộ.

Cơ quan cạnh tranh hiện gặp khó khăn trong việc điều tra và xử lý vi phạm từ các cơ quan quản lý nhà nước do địa vị pháp lý không đủ mạnh Để hoạt động hiệu quả, cơ quan này cần đảm bảo tính độc lập không chỉ về tổ chức mà còn về chức năng và quyền hạn, nhằm tránh sự tác động từ các cơ quan nhà nước khác Việc xây dựng cơ quan quản lý cạnh tranh ngang Bộ là cần thiết để khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Hiện nay, cơ quan này chủ yếu thực hiện điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhà nước lớn, tổng công ty và cả các cơ quan quản lý nhà nước Nếu không có vị thế đủ mạnh, cơ quan cạnh tranh sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ của mình, trong khi cấu trúc tổ chức thuộc Chính phủ sẽ giúp đảm bảo tính độc lập và khách quan trong các vụ điều tra.

Bài viết đề cập đến 44 hoạt động liên quan đến doanh nghiệp và tập đoàn lớn của Nhà nước, cùng với các hành vi bị cấm của cơ quan quản lý nhà nước Ngoài ra, nó cũng nhấn mạnh những vụ việc cạnh tranh diễn ra bên ngoài lãnh thổ nhưng vẫn có tác động tiêu cực đến thị trường Việt Nam.

Việc thành lập một cơ quan quản lý cạnh tranh độc lập từ Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường nguồn thu ngân sách và nâng cao tính tự chủ của cơ quan này Kinh nghiệm từ việc tách bộ, ngành và tái cơ cấu trong những năm gần đây cho thấy rằng việc thiết lập một cơ quan ngang bộ với cơ cấu gọn nhẹ trong giai đoạn đầu và có cơ chế huy động ngân sách cụ thể là hoàn toàn khả thi.

Ba là, vị trí độc lập của cơ quan ngang bộ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chuyên môn, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình Tự chủ trong tuyển chọn, bổ nhiệm và đào tạo nhân sự, cùng với ngân sách hoạt động độc lập, giúp cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền lực thực sự, đáp ứng tốt hơn yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Sự gia tăng đáng kể trong số vụ kiện vi phạm pháp luật cạnh tranh cho thấy tầm quan trọng của mô hình này, đã được áp dụng hiệu quả tại nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada và Úc.

Theo thống kê của Bộ Công thương, hiện nay trên thế giới không còn nước nào duy trì mô hình hai cơ quan quản lý cạnh tranh như Việt Nam, trong đó một cơ quan chịu trách nhiệm điều tra và một cơ quan khác xử lý Mô hình này bộc lộ điểm yếu lớn khi các thành viên của cơ quan xử lý không theo sát quá trình điều tra, dẫn đến sự thiếu liên kết và chính xác trong việc xét xử và ra quyết định Do đó, việc hợp nhất hai cơ quan quản lý cạnh tranh thành một cơ quan duy nhất sẽ mang lại nhiều lợi ích và khắc phục những hạn chế hiện tại.

Cơ quan quản lý cạnh tranh mới, được hình thành từ sự hợp nhất giữa Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh, sẽ hoạt động như một cơ quan ngang Bộ, phù hợp với xu hướng toàn cầu Để đảm bảo tính độc lập và hiệu quả, cần tách biệt bộ phận điều tra và bộ phận xử lý vụ việc, mặc dù chúng sẽ phối hợp chặt chẽ trong quá trình giải quyết các vụ việc Nhân sự của cơ quan này sẽ hoạt động theo chế độ chuyên trách.

Xác định lại Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh

– Về chức năng và nhiệm vụ:

Cơ quan quản lý cạnh tranh mới sẽ tập trung vào điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng, trong khi các chức năng liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ sẽ được chuyển giao cho Bộ Công thương Mặc dù có những nguyên tắc chung, pháp luật cạnh tranh và pháp luật chống bán phá giá, chống trợ cấp có đối tượng điều chỉnh khác nhau: pháp luật cạnh tranh áp dụng cho doanh nghiệp và hiệp hội trong nước, trong khi pháp luật chống bán phá giá nhắm đến hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài Trên thế giới, không có quốc gia nào giao cho một cơ quan thực hiện đồng thời hai chính sách này; cơ quan quản lý cạnh tranh thường thuộc bộ hoặc chính phủ, trong khi quản lý chống bán phá giá lại thuộc Bộ Kinh tế hoặc Công thương.

Có ý kiến cho rằng nên giao cho Tòa án chức năng xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Điều này phản ánh sự cần thiết phải có một cơ quan có thẩm quyền để giải quyết các vấn đề liên quan đến cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.

Hiện nay, số lượng chuyên viên về cạnh tranh còn thiếu và yếu, dẫn đến hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh chưa đạt chất lượng cao Trình độ am hiểu pháp luật cạnh tranh của các thẩm phán Việt Nam còn hạn chế, trong khi Luật Cạnh tranh mới được áp dụng chưa lâu và số vụ việc còn ít Khi số lượng vụ việc cạnh tranh gia tăng, việc chuyển giao chức năng điều tra và xử lý vụ việc cho Tòa án là cần thiết để nâng cao chất lượng thực thi pháp luật và giảm tải cho cơ quan quản lý cạnh tranh Điều này giúp cơ quan này tập trung vào việc điều tiết quy luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luật Cạnh tranh không chỉ đảm bảo quyền cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp mà còn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, do đó, cơ quan cạnh tranh cần giữ vai trò thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

– Về thẩm quyền: có thể trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh mới những thẩm quyền sau đây:

Hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh và tư vấn cho Quốc hội, Chính phủ trong việc ban hành các văn bản quy phạm điều tiết cạnh tranh là nhiệm vụ quan trọng Bên cạnh đó, cung cấp tư vấn cho các hiệp hội ngành nghề, hiệp hội người tiêu dùng và doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý cạnh tranh liên quan đến lợi ích của họ cũng góp phần thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Thứ hai, điều tra, khảo sát lập báo cáo hàng năm về tình trạng cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế;

Kiến nghị cần thiết phải thay đổi, sửa đổi hoặc hủy bỏ những quy định pháp luật không phù hợp, vi phạm nguyên tắc cạnh tranh, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh và quyền lợi của người tiêu dùng.

Thứ tư, phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến môi trường cạnh tranh;

Thứ năm, yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh.

Đổi mới nhân sự và cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh.47 PHẦN KẾT LUẬN

Để nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả của cơ quan quản lý cạnh tranh, cần cải cách quy trình bổ nhiệm nhân sự Việc đổi mới này sẽ đảm bảo rằng các nhân sự được lựa chọn phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của cơ quan, từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý cạnh tranh.

Các thành viên quản lý của cơ quan quản lý cạnh tranh mới, bao gồm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch, sẽ được Thủ tướng bổ nhiệm từ các chuyên gia pháp luật cạnh tranh, thương mại và kinh tế, ngoài các bộ Điều kiện bổ nhiệm yêu cầu các thành viên phải có kiến thức vững về pháp luật cạnh tranh và thương mại, cùng với kỹ năng điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh Họ cũng cần có uy tín trong lĩnh vực pháp lý hoặc kinh tế, phẩm chất đạo đức tốt, và trình độ cử nhân luật hoặc kinh tế, tài chính Ngoài ra, ứng viên phải có ít nhất 9 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan và khả năng hoàn thành nhiệm vụ Các thành viên này sẽ là công chức hoặc viên chức chuyên trách, với nhiệm kỳ từ 5 đến 7 năm và có thể được tái bổ nhiệm.

Việc tổ chức thi tuyển cho nhân viên các bộ phận của cơ quan quản lý cạnh tranh, như Cục quản lý cạnh tranh hiện nay, là một phương pháp hợp lý Điều này cho phép người đứng đầu các bộ phận được bổ nhiệm một cách công bằng và minh bạch, đảm bảo chất lượng nhân sự trong công tác quản lý cạnh tranh.

Thủ tướng trên cơ sở đề nghị của người đứng đầu cơ quan quản lý cạnh tranh hoặc được tuyển dụng công khai

Thứ hai, đổi mới về cơ chế hoạt động:

Cục quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ thụ lý và điều tra các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, sau đó chuyển sang Hội đồng cạnh tranh để xử lý vi phạm Tuy nhiên, Hội đồng cạnh tranh hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm, khiến quá trình giải quyết vụ việc thiếu tập trung và hiệu quả Các thành viên của Hội đồng thường là lãnh đạo từ các Bộ, ngành khác nhau, dẫn đến việc họ phải cân đối giữa công việc tại cơ quan đương nhiệm và Hội đồng Với tính chất phức tạp của các vụ việc cạnh tranh, cơ chế này không hợp lý, gây ra sự chậm trễ và thiếu tính độc lập trong xử lý khi có mâu thuẫn lợi ích.

Để xây dựng cơ chế rà soát và giải quyết các khiếu kiện liên quan đến quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh sẽ xem xét lại các quyết định khi có yêu cầu Nếu các bên không đồng ý với kết quả xử lý, họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương Tuy nhiên, hiện nay, nước ta còn thiếu chuyên gia về pháp luật cạnh tranh, dẫn đến việc hiểu biết về lĩnh vực này chưa đầy đủ.

Việc giao cho Tòa án xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh là không hợp lý khi trình độ luật cạnh tranh của cán bộ, công chức còn thấp Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để đáp ứng yêu cầu chuyên môn cao, nhiều quốc gia đã thành lập bộ phận chuyên trách thuộc Tòa án tối cao để giải quyết khiếu kiện liên quan đến quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh Tại Việt Nam, cần xây dựng một bộ phận riêng trong cơ quan quản lý cạnh tranh để rà soát và giải quyết các khiếu kiện này Nếu các bên không đồng ý với kết quả xử lý, quyền giải quyết các khiếu kiện nên được giao cho Tòa án tối cao hoặc thành lập một Tòa án riêng biệt chuyên xử lý các vụ việc liên quan.

Cần xây dựng cơ chế tham khảo ý kiến trước cho các văn bản pháp luật sắp ban hành nhằm tăng cường chức năng tham vấn của Cục quản lý cạnh tranh, theo quy định tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP Cơ chế này sẽ cho phép các cơ quan Chính phủ xem xét các tác động đến cạnh tranh trước khi ban hành hoặc sửa đổi luật và quy định Trong quá trình tham khảo, cơ quan cạnh tranh sẽ tập trung vào các vấn đề như hạn chế gia nhập thị trường và duy trì giá bán, đồng thời đề xuất các giải pháp để khắc phục những hạn chế trong dự thảo Việc áp dụng cơ chế này không chỉ giúp đảm bảo tính hợp pháp của các văn bản mà còn tiết kiệm thời gian và chi phí cho việc xử lý các hậu quả phát sinh sau khi ban hành.

Bốn là, Xây dựng cơ chế hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Đội ngũ điều tra viên đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả công tác điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh, với thời gian điều tra có thể kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm và tính đa ngành cao Để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí, pháp luật nên quy định rằng trước khi ra quyết định điều tra chính thức, điều tra viên phải trình bày lập luận trước các thành viên và người phụ trách quản lý hành chính Điều này sẽ giúp giảm thiểu các trường hợp xin điều tra bổ sung và kịp thời đình chỉ những vụ việc cần thiết, từ đó nâng cao vai trò của điều tra viên Hơn nữa, sự gắn bó giữa bộ phận điều tra và bộ phận xử lý sẽ cải thiện hiệu quả xử lý vụ việc Để đạt được những mục tiêu này, cần có sự thay đổi toàn diện trong pháp luật cạnh tranh, chú trọng đào tạo điều tra viên và hoàn thiện quy chế tài chính Việc hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh mới cho Việt Nam cần được đầu tư và phát triển hơn nữa để phù hợp với xu hướng phát triển chung.

Cơ quan quản lý cạnh tranh là đơn vị thực thi Luật Cạnh tranh tại Việt Nam, đang đối mặt với những thách thức do sự gia tăng và phức tạp của các hành vi cạnh tranh trong xã hội Bài viết nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan này, so sánh với các mô hình quản lý cạnh tranh trên thế giới, và phân tích các quy định pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý cạnh tranh, nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thi hành luật.

Bài nghiên cứu chỉ ra những thiếu sót và bất cập của mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh hiện tại, đồng thời đề xuất các kiến nghị điều chỉnh và sửa đổi nhằm cải thiện mô hình này Những ý kiến này sẽ góp phần quan trọng vào Dự thảo Luật cạnh tranh sửa đổi, hiện đang trong giai đoạn trưng cầu ý kiến và soạn thảo.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Công thương, (2017), “Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Luật cạnh tranh sửa đổi”,tr20

2 Bộ Công Thương,(2017), “Tờ trình chính phủ của Bộ Công thương, Tờ trình chính phủ về Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi)”, tr3

3 Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr365

4 Bộ Công thương, (2013), Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh

5 Bộ Công Thương,(2015), Quyết định số 7389/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Hội đồng cạnh tranh

6 Bộ Thương Mại, (2004),Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM thành lập Cục quản lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh tranh

7 Đại học Luật ( 2003), giáo trình “ Lý luận Nhà nước và pháp luật”, NXB Công an nhân dân

8 Chính phủ, (2006), Nghị định số 06/2006/NĐ-CP về các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh

9 Chính phủ, (2015), Nghị định số 07/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh

10 Cục quản lý cạnh tranh, (2008), Nghiên cứu trao đổi “Ủy ban cạnh tranh

Hà Lan (NMA) và những bước phát triển”

11 Quốc hội, (2004), Luật Cạnh tranh năm 2004

12 Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn, (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để HCCT, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 285.

Ngày đăng: 27/06/2021, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương, (2017), “Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Luật cạnh tranh sửa đổi”,tr20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Luật cạnh tranh sửa đổi”
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2017
2. Bộ Công Thương,(2017), “Tờ trình chính phủ của Bộ Công thương, Tờ trình chính phủ về Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi)”, tr3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công Thương,(2017), "“Tờ trình chính phủ của Bộ Công thương, Tờ trình chính phủ về Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi)”
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2017
3. Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Pháp (1998), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr365 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Pháp (1998)
Tác giả: Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1998
6. Bộ Thương Mại, (2004),Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM thành lập Cục quản lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM
Tác giả: Bộ Thương Mại
Năm: 2004
7. Đại học Luật ( 2003), giáo trình “ Lý luận Nhà nước và pháp luật”, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Lý luận Nhà nước và pháp luật”
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
10. Cục quản lý cạnh tranh, (2008), Nghiên cứu trao đổi “Ủy ban cạnh tranh Hà Lan (NMA) và những bước phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban cạnh tranh Hà Lan (NMA) và những bước phát triển
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh
Năm: 2008
12. Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn, (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để HCCT, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr 285 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để HCCT
Tác giả: Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2006
13. Phùng Văn Thành, (2014), “Giới thiệu pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của Nhật Bản”, Cục quản lý cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giới thiệu pháp luật kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của Nhật Bản”
Tác giả: Phùng Văn Thành
Năm: 2014
14. Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (2011), “Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”, NXB Công an nhân dân, tr 244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2011
15. Thủ tướng Chính phủ, (2015),“Quyết định số 24/2015/QĐ-TTg” ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 24/2015/QĐ-TTg
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
16. TS. Đinh Thị Mỹ Loan, ( 2005), “Xây dựng mô hình cơ quan nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp thương mại và tự vệ trong thương mại quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, tr61,62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình cơ quan nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp thương mại và tự vệ trong thương mại quốc tế. Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho việt Nam”
17. Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 6 (2011), “Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam
Tác giả: Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 6
Năm: 2011
18. Trương Hồng Quang, (2011), “Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam: Những bất cập và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí lập pháp, số 6/2011, tr47-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam: Những bất cập và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Trương Hồng Quang
Năm: 2011
19. Ủy ban Kinh tế, (2017), “Báo cáo số 650/2017/BC-UBKT14,báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật Cạnh tranh sửa đổi.”,tr47-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 650/2017/BC-UBKT14,báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật Cạnh tranh sửa đổi.”
Tác giả: Ủy ban Kinh tế
Năm: 2017
4. Bộ Công thương, (2013), Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh Khác
5. Bộ Công Thương,(2015), Quyết định số 7389/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Hội đồng cạnh tranh Khác
8. Chính phủ, (2006), Nghị định số 06/2006/NĐ-CP về các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục cạnh tranh Khác
9. Chính phủ, (2015), Nghị định số 07/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w