1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế việt nam

98 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BIA ngoai

  • BIA trong

  • Thesis 07-30-17 - revised

  • tai lieu tham khao -05-21-17

  • Phuc luc

Nội dung

TRẦN TRUNG QUỐC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM SỬ DỤNG KIỂM ĐỊNH NHÂN QUẢ MIỀN TẦN SỐ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... TRẦN TRUNG QUỐC

GIỚI THIỆU

Bối cảnh nghiên cứu

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của những nhà tạo lập chính sách ở các nền kinh tế là mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính Bắt đầu với Schumpeter (1912), và tiếp tục với Gurley and Shaw (1955), Goldsmith (1969) và Schwarz (1978), một tranh luận gay gắt xuất hiện, cả trong lý thuyết và thực tiễn, liên quan đến các hoạt động kinh tế làm gia tăng sự phát triển tài chính và ngƣợc lại Một câu hỏi khó hơn liên quan đến bản chất dự đoán của giá chứng khoán đƣợc xem nhƣ kết quả của mối tương quan nhân quả giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế Lúc này, tổng tiết kiệm và sự phân bổ hiệu quả vốn cho đầu tƣ sản xuất thì bị chi phối bởi thị trường chứng khoán, đến lượt nó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, có thể tồn tại một mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thị trường chứng khoán và hoạt động kinh tế

Có nhiều cách giải thích khác cho sự liên kết có thể giữa giá chứng khoán và hoạt động kinh tế thực (xem Antonios, 2010; Fama, 1990; Schwert, 1990) Đầu tiên, thông tin về sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai có thể được phản ánh trong giá chứng khoán Trong tường hợp này, giá chứng khoán là một nhân tố dắt sự thịnh vượng của nền kinh tế Ý tưởng này được triển khai dựa theo lý thuyết danh mục theo dõi nền kinh tế (ETP), lý thuyết này liên kết giá tài sản với tin tức về các biến động của nền kinh tế (Lamont, 2001) Vì vậy, các nhà đầu tư kỳ vọng rằng sự thay đổi trong tăng trưởng kinh tế có thể đóng góp vào danh mục theo dõi nền kinh tế (ETP) Thứ hai, sự thay đổi trong lãi suất chiết khấu có thể tác động lên giá chứng khoán và đầu tƣ thực tại cùng một thời điểm, nhƣng sản lƣợng đầu ra đƣợc tạo ra bởi đầu tƣ chỉ xuất hiện sau một giai đoạn nhất định Cuối cùng, sự thay đổi trong giá chứng khoán thì tương quan với sự thay đổi sản lượng Trong trường hợp này, cầu đối với hàng hóa tiêu dùng và đầu tư bị ảnh hường, và tác động đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế

Một số lƣợng đáng kể các nghiên cứu về liên kết giữa hoạt động kinh tế và giá chứng khoán, ở cả các thị trường mới nổi và phát triển Trong khi đối với các thị trường phát triển, nhìn chung tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa các biến kinh tế vĩ mô với thị trường chứng khoán (Choi, Hauser, & Kopecky, 1999; Hassapis & Kalyvitis, 2002; Henry, Olekalns, & Shields, 2010; Panopoulou, 2009; Reboredo & RiveraCastro, 2014), còn đối với các thị trường mới nổi các kết luận vẫn chưa thống nhất (Naifar & Al Dohaiman, 2013; Tsouma, 2009; Zhu, Li, & Li, 2014) Ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu liên quan đến thị trường chứng khoán và các yếu tố ảnh hưởng đến nó như Nguyễn Phong Châu (1996), Diệp Trí Minh (2000), Trần Thị Thùy Linh (2007), Trần Thị Mộng Tuyết (2008), Nguyễn Thị Lệ Hoa (2008), Võ Thị

Hà Hạnh (2010), Lê Đạt Chí (2010), Trần Văn Hoàng và Tống Bảo Trân (2014) Tuy nhiên, có khá ít các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và sự phát triển phát triển của thị trường tài chính sử dụng cách phương pháp kiểm định nhân quả miền tần số.

Mục tiêu nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 đến 2016, trong ngắn hạn và dài hạn sử dụng mô hình kiểm định nhân quả miền tần số Nghiên cứu hy vọng đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này, khi mà các kết quả từ các nghiên cứu trước đây chƣa thống nhất

Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam thành lập từ năm 2000 nhưng giai đoạn nghiên cứu bắt đầu từ năm 2005 vì thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn này bắt đầu phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, và ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế vĩ mô của nền kinh tế

H1: Tồn tại một mối quan hệ hai chiều giữa giá chứng khoán và tăng trưởng kinh tế

H2: Mối quan hệ nhân quả Granger từ giá chứng khoán đến hoạt động kinh tế vĩ mô thì có ý nghĩa thống kê đối với các thành phần miền tần số thấp, nhƣng không có ý nghĩa thống kê đối với thành phần miền tần số cao

H3: Mối quan hệ nhân quả từ hoạt động kinh tế đến giá cổ phiếu có thể xảy ra ở trong ngắn hạn và dài hạn.

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào mối liên hệ giữa giá chứng khoán và tăng trưởng kinh tế Trong khi giá chứng khoán được đo lường bằng giá chứng khoán (SP), tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng chỉ số sản xuất công nghiệp Việt Nam (IPI)

Trong mối liên hệ với các nghiên cứu trước đây, tác giả đưa thêm vào mô hình VAR các biến vĩ mô giải thích cho các hoạt động kinh tế và đƣợc xem nhƣ các biến ngoại sinh (tỷ giá, lạm phát, dự trữ ngoại hối và cán cân thương mại)

Tất cả các dữ liệu đƣợc lấy từ quỹ tiền tệ quốc tế IMF , ngoại trừ tỷ giá hối đoái có hiệu lực (REER), đƣợc lấy từ website http://bruegel.org/publications/datasets/real- effective-exchange-rates-for-178-countries-a-new-database/

Dữ liệu đƣợc chọn theo tháng giai đoạn từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm 2016 (2005M1 – 2006M12) đây là giai đoạn thị trường chứng khoán sôi động và bắt đầu phát triển.

Phương pháp nghiên cứu

Nhƣ đã nhấn mạnh ở các phấn trên, nghiên cứu của tác giả có điểm mới là áp dụng mô hình kiểm định nhân quả miền tần số Phương pháp này được xây dựng như sau:

Thứ nhất, khác biệt với các nghiên cứu trước đây sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị theo thời gian Nghiên cứu này sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị có tính mùa vụ trong dữ liệu sử dụng kiểm định phổ biến đƣợc đề xuất bởi hylleberg cùng cộng sự (1990), đƣợc gọi là kiểm định HEGY Ngoài ra chúng tôi còn so sánh với các kiểm định tính dừng phổ biến là ADF và KPSS Tác giả sử dụng các kiểm định này để xem liệu các chuỗi dữ liệu của chúng tôi có dừng hay không và liệu nó có thể phù hợp để đƣa vào phân tích miền tần số hay không

Thứ hai, chúng tôi sử dụng một mô hình tự hồi quy vector có điều kiện (VAR) nhƣ một mô hình chuẩn để so sánh kết quả kiểm định nhân quả trong phân tích miền tần số và để thể hiện các ưu điểm của phương pháp được đề xuất Bởi vì mối quan tâm chính của chúng tôi là tăng trưởng kinh tế, nên chỉ biến này được xem như là một biến nội sinh trong mô hình VAR có điều kiện (tương tự với mô hình tần số có điều kiện) Các biến vĩ mô khác được sử dụng phổ biến trong tài liệu tham khảo, như tỷ giá, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối hay lạm phát, đƣợc xem nhƣ là các biến ngoại sinh Giả định này đƣợc thực hiện để thực hiện so sánh các phân tích giữa mô hình chuẩn và mô hình miền tần số

Thứ ba chúng tôi kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger ngắn hạn và dài hạn sử dụng cách tiếp cận miền tần số không điều kiện của Breitung and Candelon (2006) Các thành phần tần số này có thể được phân tích riêng lẻ và thường được đặt vào hai đầu, tên là các thành phần miền tần số thấp và cao, tương ứng với ngắn hạn và dài hạn (Lemmens, Croux, & Dekimpe, 2008) Do đó, phân tích nhân quả Granger sẽ giúp phát hiện khả năng dự đoán trong hai thành phần biến động, liệu năng lực dự đoán đƣợc thể hiện ở các thành phần miền tần số cao, hay tại các thành phần miền tần số thấp Trước tiên, người ta tin rằng thị trường chứng khoán có thể dự đoán các thành phần miền tần số thấp của các hoạt động kinh tế hơn là các thành phần miền tần số cao (Croux & Reusens, 2013; Rua, 2010) Do đó, tác giả giả sử rằng nhân quả Granger từ giá chứng khoán đến hoạt động kinh tế là có ý nghĩa đối với thành phần miền tần số thấp, nhƣng không có ý nghĩa thống kê đối với thành phần miền tần số cao Tuy nhiên, kiểm định nhân quả từ hoạt động kinh tế đến giá chứng khoán có thể thể hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn, vì các nguyên nhân lý thuyết đƣợc liệt kê ở trên.

Đóng góp của đề tài

Mặc dù có rất nghiều nghiên cứu về thị trường chứng khoán và các nhân tố tác động đến nó tại Việt Nam Tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả, có rất ít nghiên cứu thể hiện mối liên kết giữa giá chứng khoán và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, sử dụng mô hình tần số Croux và Reusens (2013) điều tra nghiên cứu năng lực dự đoán của giá chứng khoán đối với hoạt động kinh tế nội địa tương lai trong một mô hình miền tần số, nhưng chỉ tập trung vào các nước G7 và chỉ trong một mô hình hai biến Dựa trên nền tảng này, chúng tôi muốn đem đến những đóng góp nhất định vào tài liệu nghiên cứu, bao gồm Croux và Reusens (2013), bằng cách dựa vào mô hình miền tần số có điều kiện.

Bố cục của bài nghiên cứu

Phần còn lại của nghiên cứu được tổ chức như sau: chương hai, trình bày ngắn gọn tổng quan về các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và hoạt động kinh tế ở Việt Nam Chương ba, thảo luận về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương bốn, trình bày kết quả phân tích Chương năm, kết luận và hàm ý chính sách.

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế 7 2.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu quốc tế

Các lý thuyết về kinh tế gợi ý rằng có một liên kết mạnh giữa hoạt động kinh tế và giá chứng khoán, ví dụ giá chứng khoán là hiện giá các giá trị trong tương lai của doanh nghiệp Mô hình chiết khấu dòng tiền cơ sở hàm ý rằng giá chứng khoán dẫn dắt hoạt động kinh tế thực nếu kỳ vọng của các nhà đầu tƣ về giá trị doanh nghiệp trong tương lai là chính xác tương đối Điều này là tạo ra một tranh luận về mặt lý thuyết là bằng cách mà chứng khoán và hoạt động kinh tế có quan hệ với nhau

Có ba lý thuyết nền tảng chỉ ra cách giá chứng khoán có thể tác động trực tiếp lên sản lƣợng nền kinh tế, cụ thể thể hơn là liên kết trong mối quan hệ giữa hai biến này

Kênh đầu tiên đƣợc đề xuất bởi Tobin (1969) Nó tập trung vào tác động của giá chứng khoán lên chi phí sử dụng vốn và đƣợc thể hiện qua hệ số Tobin’s Q là tỷ số giữa giá trị thị trường của nguồn vốn hiện tại trên chi phí vốn thay thế Khi giá chứng khoán cao, giá trị doanh nghiệp liên quan đến việc chi phí thay thế bằng vốn cổ phần (Tobin’s Q) cũng cao Kết quả này dẫn đến chi tiêu cho đầu tƣ gia tăng và dẫn đến sản lƣợng kinh tế gia tăng vì các doanh nghiệp dễ dàng tài trợ cho các hoạt động đầu tƣ của mình Điều này xảy ra bởi vì đầu tƣ dễ dàng hơn khi doanh nghiệp chỉ cần phát hành một số lượng cổ phần thấp hơn trong trường hợp giá cổ phiếu cao

Kênh thứ hai thông qua hiệu quả thị trường tài chính có thể tác động lên GDP bởi Modigliani (1971) Tiền đề của tác giả diễn giải thông qua tác động của các biến tài sản lên tiêu dùng Một sự gia tăng kéo dài trong giá chứng khoán sẽ dẫn đến một sự gia tăng tài sản cá nhân, và do đó thu nhập cố định cũng tăng cao Dựa trên các lý thuyết thu nhập cố định, Modigliani đưa ra định đề rằng trong nhất thời, người tiêu dùng sẽ điều chỉnh chi tiêu để tối đa hóa lợi ích hữu dụng của họ Một sự gia tăng trong thu nhập của họ sẽ dẫn đến khả năng người tiêu dùng điều chỉnh tăng mức chi tiêu của họ trong mỗi giai đoạn

Kênh thứ ba khởi xướng trong nghiên cứu của Bernanke and Gertler (1989); Kiyotaki and Moore (1997) Kênh này tập trung vào tác động của giá chứng khoán lên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Vì sự xuất hiện của bất cân xứng thông tin trong thị trường tín dụng, khả năng vay mượn của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào tài sản thế chấp mà họ có thể cam kết Giá trị tài sản thế chấp mà doanh nghiệp có thể cung cấp sẽ gia tăng trong kịch bản giá cổ phiếu gia tăng Khi tài sản thế chấp gia tăng, vay nợ cao hơn, có thể sử dụng cho các mục đích đầu tƣ và do đó kích hoạt một sự mở rộng trong hoạt động kinh tế

2.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu quốc tế

Rogers (2003) nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển kinh tế là không thể bàn cãi và tác động đến tất cả các lĩnh vực xã hội trực tiếp và gián tiếp Thêm vào đó, chính sách kinh tế vĩ mô liên quan đến các nhân tố nhƣ lãi suất và lạm phát góp phần vào thúc đẩy phát triển kinh tế và cũng quan trọng không kém là các phương tiện phát triển kinh tế như thị trường chứng khoán Tuy nhiên, một tiền đề cơ bản của lý thuyết tăng trưởng là để duy trì tỷ lệ một tỷ lệ tăng trưởng tích cực dương trong dài hạn, phải có những ưu thế nhất định về sự am hiểu công nghệ trong hàng hóa mới, thị trường mới hay quy trình sản xuất mới Mệnh đề này có thể đƣợc mô tả sử dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển được phát triển bởi Solow (1956), giải thích rằng nếu không có quy trình công nghệ, dẫn đến làm giảm lợi nhuận và cuối cùng giảm tăng trưởng Một trong những thách thức mà các nhà tạo lập chính sách phải đối mặt là nhận dạng các nhân tố dẫn dắt căn bản của tăng trưởng và giải thích sự khác biệt đáng kể trong hiệu quả hoạt động kinh tế ở các quốc gia theo thời gian, mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và các mô hình tăng trưởng nội sinh không có khả năng truyền tải

2.2.1 Tác động của hiệu quả thị trường tài chính lên tăng trưởng kinh tế

Một trong những tổ chức dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế hiện đại là thị trường chứng khoán Nó là một trong những điểm nổi bật và công cụ trong tiến trình khởi nghiệp Với sự phát triển của nền kinh tế, quy mô các doanh nghiệp công nghiệp có xu hướng mở rộng Điều này có nghĩa là có thể không còn bị gò bó trong các loại hình tổ chức công nghiệp đối với chủ sở hữu hoặc thậm chí là các đối tác Vai trò chính của thị trường chứng khoán trong Kenya cũng như nhiều các nền kinh tế khác nhau trên thế giới thì thúc đẩy văn hóa trách lãng phí và tiết tiệm Con người có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn và tiêu dùng ít hơn vì thực tế có các tổ chức tín dụng những người này có thể đầu tư một cách an toàn và kiếm lợi nhuận Ví dụ, thị trường chứng khoán bổ trợ truyền tải tiết kiệm đến đầu tƣ vào các doanh nghiệp hiệu quả nhƣ một các thay thế tiết kiệm nhàn rỗi Đầu ra của những cái này là các nhà đầu tƣ có thể kiếm thu nhập đầu tƣ từ tiết kiệm chuyển sang đầu tƣ

Levine và Zervos (1996) tranh luận rằng thị trường chứng khoán phát triển có khả năng đem đến các dịch vụ tài chính khác nhau hơn là hệ thống ngân hàng và do đó có thể thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng hơn là sự phát triển của các hệ thống hành chính khác nhƣ hệ thống ngân hàng Đặc biệt, tác giả chỉ rằng một sự gia tăng trong vốn hóa thị trường chứng khoán, được đo lường bằng tỷ số giá trị thị trường trên GDP hay số lƣợng các doanh nghiệp niêm yết trên sàn, có thể cải thiện năng lực của nền kinh tế đối với huy động vốn và đa dạng hóa rủi ro Một lần nữa, Majid (2007) tranh luận rằng bất cứ kênh tài chính hoạt động tốt nào cũng phân bổ nguồn lực từ các đơn vị thặng dƣ đến các đơn vị thâm hụt và do đó tạo ra sự phân bổ nguồn lực hiệu quả, dẫn đến phát triển kinh tế Trong các nghiên cứu sớm nhất về tác động của hiệu quả thị trường tài chính lên các hoạt động kinh tế vĩ mô, các nhà nghiên cứu nhƣ Bagehot (1873); Hicks (1969) khẳng định rằng sự phát triển của nhân tố tài chính giúp thúc đẩy công nghiệp hóa ở Anh gia tăng sự tiếp cận của con người đến các nguồn vốn, từ đó tài trợ và điều hành các phương án sử dụng vốn

Các nghiên cứu sau kết luận rằng hiệu quả thị trường chứng khoán và thị trường tài chính ảnh hưởng chung đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Levine (1991) tranh luận rằng thị trường chứng khoán phát triển làm giảm cả các cú sốc thanh khoản và các cú sốc sản xuất kinh doanh Likewise, Levine và Zervos (1998), Khan và Senhadji (2000) nhấn mạnh rằng sự hình thành của thị trường chứng khoán đóng vai trò đáng kể trong sự phát triển hệ thống ngân hàng, cụ thể là ở các nền kinh tế thị trường mới nổi Theo đó, tác giả tin rằng sự phát triển của lĩnh vực tài chính (cụ thể thị trường chứng khoán) đóng góp có ý nghĩa vào sự tăng trưởng kinh tế Adjasi và Biekque (2006) kết luận rằng sự các giao dịch trao đổi chứng khoán có thể làm cho các doanh nghiệp huy động vốn nhanh chóng, vì tạo thị trường cho các chứng khoán được giao dịch Các hoạt động trao đổi chứng khoán cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp xác định các nhân tố tác động đến nền kinh tế vĩ mô Tính thanh khoản là một nhân tố quan trọng khác của sự phát triển thị trường chứng khoán tương quan nghịch với chi phí giao dịch cản trở chức năng hiệu quả của thị trường chứng khoán Tính thanh khoản theo Levine và Zervos (1996) chỉ ra rằng các thước đo khác nhau của hoạt động thị trường chứng khoán thì tương quan dương với các thước đo hoạt động kinh tế luật, ở các quốc gia khác nhau, và mối tương quan đó thì rất chặt chẽ ở các quốc gia phát triển

Việc cung cấp thanh khoản là một vai trò quan trọng khác của thị trường chứng khoán trong một nền kinh tế Bằng cách này, thị trường chứng khoán tạo cho các nhà đầu tƣ một kênh hiệu quả để thanh lý các khoản đầu tƣ chứng khoán của họ bất cứ khi nào họ muốn Lợi ích cuối cùng là ngày càng có nhiều người sử dụng tiền để đầu tư vào các dự án thay vì giữ tiền nhàn rỗi và kết quả là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Levine (1991), Bencivenga và Smith (1991) xây dựng nghiên cứu về vấn đề thanh khoản thị trường như khả năng giao dịch chứng khoán một cách dễ dàng như một vai trò chính trong sự phát triển kinh tế Các tác giả khẳng định rằng thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho các cá nhân nắm giữ tài sản có thể dễ dàng thanh lý tài sản bất cứ khi nào họ mong muốn và tại thời điểm này các doanh nghiệp cần mở rộng kinh doanh tiếp cận nguồn vốn Mauro (2000) chỉ ra rằng thị trường chứng khoán đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở các nền kinh tế mới nổi Do đó, một thị trường chứng khoán hiệu quả là kênh vận chuyển vốn đến người sử dụng competing, nhìn chung các nền kinh tế tạo sản lƣợng tối đa ở mức chi phí thấp nhất Các công trình nghiên cứu thực nghiệm khác cũng tiếp tục chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa thị trường chứng khoán và phát triển kinh tế Ví dụ, trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Rousseau và Wachtek (2000) sử dụng kiểm định nhân quả Granger xác định mối liên kết giữa thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế, phân tích 47 nền kinh tế và báo cáo rằng sự phát triển ngành tài chính càng lớn thì càng gia tăng các hoạt động kinh tế Ý kiến khác cũng đƣợc đƣa ra bởi các nghiên cứu về vài trò của các hoạt động thị trường chứng khoán lên tăng trưởng kinh tế, Dailami và Aktin (1981) kết luận rằng thị trường chứng khoán năng động phát triển có tiềm năng thay thế đường cầu tiền vì thị trường chứng khoán phát triển tạo tính thanh khoản qua đó thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh tế Các tác động của chính sách cộng đồng lên tăng trưởng kinh tế cũng được thể hiện qua nghiên cứu của Mehr (2005), một phần có thể được đo lường bằng sự gia tăng hay sụt giảm trong giá chứng khoán

Các thị trường chứng khoán cũng được xem là một nhân tố dự đoán hiệu quả hoạt động kinh tế trong một quốc gia Bằng cách này, sự thay đổi giá chứng khoán đƣợc xem nhƣ đóng một vai trò đáng kể trong các hoạt động kinh tế trong trung và dài hạn

Ví dụ, nghiên cứu của Nasseh và Strauss (2000); và Adjasi và Biekpe (2006) đồng ý rằng giá chứng khoán phản ảnh kỳ vọng của cộng đồng về các hoạt động kinh tế trong tương lai, và giả sử có một cuộc khủng hoảng, thì giá chứng khoán sẽ phản ánh các kỳ vọng về triển vọng tăng trưởng kinh tế trong tương lai Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiên cứu về bản chất mối liên hệ giữa hiệu quả thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế điều tuyên bố có một mối tương quan dương giữa hai biến này Ví dụ,

Shleifer và Summers (1988) chỉ ra rằng sự phát triển của thị trường chứng khoán có thể gây bất lợi đối với tăng trưởng kinh tế vì khuyến khích sự tiếp quản doanh nghiệp phản tác dụng Các tác giả khác như Mayer (1988) và Stiglitz (1994) chỉ ra rằng thị trường chứng khoán chỉ tạo ra lợi nhuận ngắn hạn và chúng không tạo ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp một cơ hội để tập trung vào triển vọng dài hạn, mà trong đầu tƣ đây là nhân tố của tăng trưởng và phát triển kinh tế

2.2.2 Tác động của tăng trưởng kinh tế lên hiệu quả thị trường chứng khoán

Phát triển tài chính đang được quan sát để xem xét tăng trưởng kinh tế ở rất nhiều các nghiên cứu khác nhau Ví dụ, Ibrahim (1999) phát hiện rằng kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng bất đối xứng lên giá chứng khoán thông qua các ảnh hưởng lên dòng tiền tương lai kỳ vọng Mối quan hệ giữa giá chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô là đáng kể, giả sử rằng biến động kinh tế vĩ mô tác động lên giá chứng khoán thông qua tác động của chúng lên dòng tiền tương lai và tỷ lệ chiết khấu (Chen cùng cộng sự 1986 và Fama (1981)) Ví dụ, Singh (1997) gợi ý rằng các thị trường chứng khoán dẫn đến tăng trưởng kinh tế dài hạn vì sự bất ổn, thay đổi kinh tế vĩ mô và hoạt động arbitrage, và thay vào đó các hoạt động kinh tế vĩ mô có ưu thế hơn trong sự tương tác giữa hai biến này Do đó, bản chất của kinh tế đóng một vai trò đáng kể trong thành phần xác định giá cả chứng khoán các nhân tố phức tạp dường như ảnh hưởng đến sự thay đổi giá trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, thậm chí nếu nền kinh tế đi xuống, hiệu quả của thị trường chứng khoán và thị trường tài chính nói chung có thể làm gia tăng thị trường chứng khoán có lẽ là một trong các thành phần năng động nhất của thị trường thế giới, bên cạnh các thị trường khác như thị trường ngoại hối Charkavarty (2005) cũng lưu ý rằng giá chứng khoán có thể nhạy cảm cao với các nhân tố kinh tế vĩ mô cơ bản Khi nền kinh tế mở rộng, nhu cầu sử dụng các công cụ tài chính gia tăng, dẫn đến phát triển các dịch vụ này, và kết quả là sự phát triển các hoạt động kinh tế vĩ mô tác động đến hiệu quả thị trường tài chính (S Van Nieuwerburgh cùng cộng sự 2006)

Thị trường chứng khoán luôn sôi động với bất kỳ triển vọng lợi nhuận tiềm năng nào, nhìn chung giá chứng khoán và thị trường chứng khoán rất biến động Tuy nhiên, sẽ sai sót nếu cho rằng thay đổi của thị trường chứng khoán chỉ do các hoạt động kinh tế vĩ mô gây nên, bởi vì thị trường tài chính rất sôi động và chịu ảnh hưởng bởi các hành vi không hợp lý của các nhà đầu tƣ Giá chứng khoán cũng có thể lên và xuống theo các nhân tố khác chẳng hạn nhƣ kỳ vọng của nhà đầu tƣ về triển vọng của một công ty nào đó hay ngành công nghiệp nào đó Sự thay đổi giá chứng khoán cũng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi cơ chế cung và cầu trên thị trường Ví dụ, khi cầu về một loại chứng khoán nào gia tăng, giá của nó sẽ gia tăng theo, và khi có nhiều người thực hiện giao dịch bán một cổ phiếu nào đó, giá của nó sẽ có xu hướng giảm Điều này chỉ ra rằng tác động qua lại giữa cung và cầu có ảnh hưởng đến hiệu quả của thị trường tài chính

Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước

Sử Đình Thành cùng cộng sự (2016) với mục tiêu khám phá các thành phần tác động đến sự phát triển của thị trường chứng khoán ở các Việt Nam và các quốc gia đang phát triển sử dụng mô hình GMM trong giai đoạn từ 2003 đến 2014 Phát hiện của nghiên cứu cho thấy sự phát triển của thị trường chứng khoán Viêt Nam chịu tác động của các nhân tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, đầu tư trong nước và nước ngoài, tín dụng trong nước, thanh khoản… và chiều của các mối quan hệ này là dương

Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo (2013) đã sử dụng mô hình OLS để tìm ra kết quả cho thấy khi các nhân tố khác không đổi tại Việt Nam thì nhân tố cung tiền, lạm phát, giá dầu và sản lượng công nghiệp có tương quan dương, còn lãi suất, tỷ giá có tương quan âm với giá cổ phiếu trên TTCK

Trần Thị Quế Giang (2013) tranh luận TTCK là một thành tố quan trọng trong hệ thống tài chính bên cạnh ngân hàng Thông qua các chức năng nhƣ giảm chi phí giao dịch, sàng lọc và hỗ trợ vốn cho các dự án kinh doanh hiệu quả, đảm bảo tính thanh khoản sẽ làm giảm bớt rủi ro, thông tin cần minh bạch và cần giảm sự bất cân xứng về thông tin Qua đó giúp giảm bớt chi phí cung cấp vốn, tăng hiệu quả đầu tƣ và qua đó tinh thần doanh nhân được tăng cường do đó sẽ thúc đẩy sự đổi mới công nghệ, kỹ thuật phục vụ sản xuất Qua đó tạo ra nền tảng cơ sở hạ tầng kinh tế, những yếu tố này cấu thành nên các nguồn lực bổ sung quan trọng cho tăng trưởng kinh tế

Nguyễn Phong Châu (1996) đã nghiên cứu về TTCK mới nổi và tăng trưởng kinh tế và ứng dụng cho Việt Nam Mô hình tổng quát này gồm cách đo ba kiểm định: (i) Kích cỡ TTCK và tăng trưởng kinh tế; (ii) Tính thanh khoản và tăng trưởng kinh tế; (iii) Sự giao động lên xuống giá cổ phiếu và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu đã kết luận rằng TTCK có thể là chất xúc tác đến tăng trưởng thông qua ảnh hưởng tích cực của nó đến đầu tƣ tài chính, dòng vốn chảy vào, làm giảm sự sụp đổ tài chính có thể thúc đẩy cho tăng trưởng nhanh hơn Tác giả cũng đưa ra những ngụ ý về chính sách bao gồm sự ổn định, tăng trưởng kinh tế bền vững, hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả, giảm chi phí giao dịch, sàng lọc và hỗ trợ các dự án hiệu quả, giảm bất cân xứng thông tin và rủi ro, tăng tiết kiệm, đầu tƣ ( tích lũy vốn), tăng hiệu quả sử dụng vốn Tăng tinh thần doanh nhân Cải tiến công nghệ Tăng trưởng kinh tế tạo môi trường đầu tư minh bạch, tạo động lực để tham gia thị trường thông qua việc chi trả cổ tức hấp dẫn

Diệp Trí Minh (2000) nghiên cứu các vấn đề cơ bản về TTCK và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế của Việt Nam nêu bật mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và quá trình xây dựng TTCK ở Việt Nam Trong đó cần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn để phát triển sản xuất, điều tiết nguồn vốn từ nơi kém hiệu quả sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó, TTCK còn nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn nước ngoài TTCK đều tuân theo các quy luật khắt khe của thị trường về quy luật giá trị, quy luật quan hệ cung-cầu, cạnh tranh TTCK ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, giúp cải thiện quá trình phân phối vốn, đẩy mạnh hoạt động đầu tƣ, tạo điều kiện tăng trưởng và phát triển kinh tế lâu dài Do đó, đây là công cụ thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế vào đầu tƣ dài hạn, thu hút vốn đầu tƣ đơn giản, giảm áp lực của lạm phát, thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu tăng vốn nhanh chóng thông qua việc phát hành chứng khoán, tạo ra sự kết hợp hài hoà giữa rủi ro và lợi nhuận, thúc đẩy quá trình huy động vốn đầu tƣ cho phát triển kinh tế, cung cấp một danh mục cho các khoản đầu tƣ, phản ánh đƣợc mức lãi suất đầu tƣ của nhà đầu tƣ, hoàn thiện quá trình phân bổ vốn của nền kinh tế Ngoài ra, TTCK thể hiện sự năng động và nhạy cảm của nền kinh tế rất rõ ràng thông qua giá cổ phiếu và thông qua những tín hiệu của thị trường, phản ảnh nhanh các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Ngoài ra, còn thu hút vốn từ nước ngoài cho các khoản vốn thiếu hụt của nền kinh tế Những tác động tiêu cực của TTCK theo đề tài có thể kể đến là sự phân phối của cải bất bình đẳng thông qua các hoạt động đầu cơ, gây mất ổn định cho nền kinh tế, thông tin bất cân xứng, không hoàn hảo, gây tâm lý hoang mang, mất ổn định cho các nhà đầu tư, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội Hơn nữa, còn những hành vi gây tác động tiêu cực có thể nói là mua bán gian lận, nội gián, không trung thực, đầu cơ, lũng đoạn thị trường, có thể làm nền kinh tế tác hại Một số quy luật cơ chế thị trường bị bóp méo ở các nước đang phát triển, chất lượng phân bổ vốn đầu tư thật sự có thể không chảy vào những nơi cần vốn thực sự TTCK không thể hoạt động khi nền kinh tế chưa tiền tệ hoá cao, vì nền kinh tế bị cất trữ dưới các hình thức tài sản khác nhƣ vàng, bất động sản…Một số lề lối cũ của nền kinh tế nhƣ làm việc theo cảm tính, không quen công khai, minh bạch…là trở ngại cho việc phát triển của TTCK Mặt khác, với xu hướng toàn cầu hoá, dẫn đến sự phụ thuộc ngày càng tăng của các nền kinh tế và tài chính, nên việc khủng hoảng ở một khu vực hoặc một nước sẽ ảnh hưởng lớn đến TTCK các nước

Trần Thị Thuỳ Linh (2007) nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển TTCK Việt Nam trong giai đoạn hội nhập đến năm 2020 Tác giả nghiên cứu các lý luận cơ bản về TTCK, cơ chế vận hành của thị trường cũng như hàng hoá và nguồn tài trợ vốn cho doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập Phân tích đánh giá TTCK Việt Nam là một chuỗi các sự kiện mang tính lịch sử Tác giả đã làm rõ những lý luận về TTCK tìm hiểu sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam thông qua đánh giá thực tiễn hoạt động của các loại chứng khoán: trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình, trái phiếu công ty, thị trường cổ phiếu với những thành tựu đạt được như UBCKNN đã có nhiều nổ lực trong hoạch định chính sách, việc sát nhập UBCKNN vào Bộ tài chính đã tạo ra sức mạnh to lớn trong việc thực thi các chính sách

Trần Thị Mộng Tuyết (2008) nghiên cứu về định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020 đã tổng kết những vấn đề cơ bản nhất về chứng khoán và TTCK, phân tích thực trạng TTCK trong những năm qua TTCK Việt Nam đã có một hạ tầng tài chính hữu hiệu thu hút vốn đầu tƣ phát triển kinh tế, bởi nó là kênh bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho Nhà nước và các doanh nghiệp, việc xây dựng và phát triển TTCK có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế TTCK đã tạo điều kiện tích tụ vốn của xã hội, thông qua các quỹ đầu tƣ giúp hiệu quả đầu tƣ cao hơn gấp bội, tạo ra sự linh hoạt cho các nhà đầu tư trong việc chuyển hướng đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng do tính thanh khoản cao của chứng khoán Nhƣ vậy, thông qua TTCK, Nhà nước có thể huy động và kiểm soát các nguồn vốn đầu tư nước ngoài bởi đầu tư nước ngoài thường được thu hút dưới hai hình thức là đầu tư trực tiếp thông qua các dự án sản xuất kinh doanh, đầu tƣ gián tiếp thông qua các định chế tài chính trung gian Những mặt hạn chế bao gồm TTCK luôn tiềm ẩn khả năng lũng đoạn thị trường, dễ gây nên khủng hoảng do sự đầu cơ trục lợi của nhà đầu tư, có biểu hiện của giao dịch nội gián, sử dụng thông tin nội bộ, thông tin mật chƣa đƣợc công bố, TTCK có thể phát sinh những thông tin không đúng về các loại chứng khoán và doanh nghiệp do thông tin bị mất cân xứng trên thị trường

Nguyễn Thị Lệ Hoa (2008) nghiên cứu về những giải pháp để thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển bền vững do đó cần xây dựng TTCK hoàn chỉnh, có các chủng loại hàng hoá đa dạng, phát triển thành viên thị trường, xây dựng Uỷ ban giám sát chứng khoán để kiểm soát tình hình hoạt động của TTCK Nghiên cứu cũng rút ra những bất cập của TTCK Việt Nam như thiếu vai trò nhà tạo lập thị trường do các CTCK đảm nhiệm đặc biệt là thị trường trái phiếu, hơn ai hết những nhà tạo lập thị trường sẽ thúc đẩy thị trường này phát triển, và việc thiếu các công cụ chứng khoán phái sinh như hoán đổi, quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn Ngoài ra, TTCK còn dễ bị các nhà đầu cơ làm ảnh hưởng đến thị trường như hiện tượng làm giá, thao túng cổ phiếu để chờ tăng giá bán kiếm lời, đầu cơ các cổ phiếu IPO để kiếm lời Bên cạnh đó có những bất cập về hệ thống thông tin thiếu rõ ràng, minh bạch, nhà đầu tƣ dễ bị ảnh hưởng của các thông tin sai lạc như các bài báo, quảng cáo truyền miệng, các bản cáo bạch và báo cáo tài chính hiện có xu hướng khá hình thức và nặng về bệnh thành tích, chƣa trở thành căn cứ tốt để các nhà đầu tƣ đƣa ra quyết định đầu tƣ cho mình Cơ chế chính sách quản lý chứng khoán còn nhiều bất cập và chƣa nhất quán, chuẩn mực kế toán còn bất cập trong TTCK Việt Nam… Nghiên cứu cũng mạnh dạn đề ra những giải pháp giúp thị trường phát triển lành mạnh như tăng cường công khai minh bạch về thông tin, lập Hiệp hội bảo vệ nhà đầu tƣ, đẩy mạnh phát triển các công cụ phái sinh trên TTCK để giảm thiểu rủi ro cho các khoản đầu tƣ chống lại những rủi ro do sự sụt giảm giá bất ngờ hay thua lỗ của việc đầu tƣ chứng khoán

Lê Đạt Chí (2010) đã nghiên cứu TTCK Việt Nam bằng cách ứng dụng mô hình mạng thần kinh nhân tạo trong dự báo kinh tế (ANN) Mức độ dự báo khá cao, gần sát với thực tế Các biến số nghiên cứu bao gồm: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, sản lƣợng công nghiệp, cán cân thương mại, cung tiền, Vn-Index Đối với các doanh nghiệp niêm yết, các biến phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động đến VN-Index mạnh mẽ hơn các biến khác (nhóm biến vĩ mô) Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy các biến số vĩ mô cũng góp phần dự báo đƣợc VN-index ở mức độ khá lớn đặc biệt là các biến tăng trưởng tín dụng, lãi suất và lạm phát

Võ Thị Hà Hạnh (2010) nghiên cứu về những nhân tố quyết định của sự phát triển TTCK ở những nước ASEAN Tác giả khảo sát mối quan hệ giữa sự phát triển của TTCK và tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tiết kiệm, khu vực ngân hàng, tính thanh khoản TTCK, và sự ổn định vĩ mô ở các nước ASEAN từ đó khám phá ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển TTCK trong dài hạn Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoại trừ tỷ lệ lạm phát, tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa sự phát triển TTCK và tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm, sự phát triển khu vực ngân hàng và tính thanh khoản TTCK Sự phát triển trung gian tài chính ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa lên vốn hoá TTCK Liên quan đến TTCK Việt Nam, tác giả đã kết luận do tuổi đời còn trẻ do thành lập từ năm

2000, nền kinh tế chưa ổn định, kích cỡ thị trường nhỏ, tính thanh khoản thấp Do đó cần tự do hoá nền kinh tế và thị trường tài chính, gia tăng tính thanh khoản bằng cách gia tăng hàng hoá chất lượng trên thị trường, gia tăng hoạt động của các định chế tài chính

Trần Văn Hoàng và Tống Bảo Trân (2014) sử dụng kiểm định nhân quả để nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó sử dụng VN-Index để đo lường sự phát triển TTCK Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ nhân quả một chiều từ thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế

Tóm lại, các công nghiên cứu trong nước hiện tại chủ yếu sử dụng kiểm định nhân quả Granger, đồng liên kết, hồi quy, mô hình VAR Tác giả muốn nhấn mạnh rằng đến hiện tại, các phân tích theo miền thời gian không thể cung cấp cho các nhà tạo lập chính sách một câu trả lời cụ thể đối với các câu hỏi liệu thị trường chứng khoán có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, liệu tăng trưởng kinh tế phản ánh vào thị trường chứng khoán, hoặc cả hai Nhƣng, chúng ta phải thừa nhận rằng mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tăng trưởng kinh tế là năng động và phi tuyến tính về mặt bản chứng Do đó nghiên cứu hiện tại phân tích mối quan hệ nhân quả Granger giữa thị trường chứng khoán và hoạt động kinh tế trong mô hình miền tần số Dựa trên các tranh luận lý thuyết trong các phần trên, chúng tôi đặt ra các giả thuyết sau:

H1: Tồn tại một mối quan hệ hai chiều giữa giá chứng khoán và tăng trưởng kinh tế

H2: Mối quan hệ nhân quả Granger từ giá chứng khoán đến hoạt động kinh tế vĩ mô thì có ý nghĩa thống kê đối với các thành phần miền tần số thấp, nhƣng không có ý nghĩa thống kê đối với thành phần miền tần số cao

H3: Mối quan hệ nhân quả từ hoạt động kinh tế đến giá cổ phiếu có thể xảy ra ở trong ngắn hạn và dài hạn, bởi vì, một mặt, thị trường thì nhạy cảm với các tin tức vĩ mô, một mặt khác, sự tăng tưởng kinh tế dài hạn phản ánh các hoạt động tài chính

CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Mô tả các biến trong nghiên cứu

Biến Mô tả Nguồn và đơn vị

Giá cổ phiếu (SP) Giá chứng khoán Việt Nam Đvt: Điểm

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ nhân quả của giá chứng khoán (SP) và tăng trưởng kinh tế đại diện bởi chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) Theo tìm hiều của tác giả, hầu hết các nghiên cứu trong nước về chủ đề này, áp dụng chủ yếu phương pháp kiểm định nhân quả Granger thông qua mô hình VAR hoặc VAR có điều kiện ở dạng chuỗi dữ liệu thời gian và phi tần số Áp dụng một phương pháp kiểm định nhân quả mới đó là kiểm định nhân quả miền tần số có điều kiện và không có điều kiện, tác giả kỳ vọng rằng các phát hiện trong nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm để khẳng định lại hoặc phản biện lại các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam

Tuy nhiên mô hình kiểm định nhân quả miền tần số chỉ áp dụng đƣợc với các chuỗi dữ liệu dừng Vì vậy việc kiểm định tính chất của dữ liệu hay tính dừng đƣợc tác giả chú trọng trong nghiên cứu thông qua các phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị khác nhau

Quy trình nghiên cứu đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bước một: Thống kê mô tả dữ liệu và kiểm định tính dừng của các biến

Bước hai: Kiểm định nhân quả Granger truyền thống thông qua mô hình VAR có điều kiện với giá chứng khoáng (SP) và chỉ số công nghiệp (IPI) đƣợc xem nhƣ các biến nội sinh và tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực (REER), lạm phát (CPI), dự trữ ngoại hối (R) và cán cân thương mại (TB) được xem như các biến ngoại sinh trong mô hình Kết quả kiểm định nhân quả Granger truyền thống này sẽ đƣợc so sánh với kết quả kiểm định nhân quả miền tần số được thực hiện ở bước ba

Bước ba: Kiểm định nhân quả miền tần số hai biến có điều kiện và không có điều kiện theo cách tiếp cận của Breitung and Candelon (2006)

Hình 3.1 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu (nguồn: tự tổng hợp bởi tác giả)

3.2.1 Kiểm định nghiệm đơn vị

Tác giả bắt đầu phân tích thực nghiệm với một chuỗi các kiểm định nghiệm đơn vị Vì tác giả sử dụng dữ liệu theo tháng, nên tính mùa vụ có thể tác động đến kết quả nghiên cứu của chúng ta Do đó, khác biệt với các nghiên cứu trước đây, tác giả áp dụng cách tiếp cận 2 bước để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu

- Đầu tiên, chúng tôi kiểm định nghiệm đơn vị có tính mùa vụ trong dữ liệu sử dụng kiểm định phổ biến đƣợc đề xuất bởi hylleberg cùng cộng sự (1990), đƣợc gọi là kiểm định HEGY

- Bước hai, để kiểm định tính vững của kết quả, tác giả chọn kiểm định nghiệm đơn vị ADF và KPSS đƣợc phát triển gần

Các phương pháp khác được đề xuất bởi các tài liệu nghiên kinh tế lượng về kiểm định nghiệm đơn vị đối với các chuỗi có tính mùa vụ (xem ví dụ Dickey, Hasza, & Fuller, 1984; Hylleberg et al., 1990; Canova & Hansen, 1995; Caner, 1998; Shin & So, 2000)

•Kiểm định nghiệm đơn vị bằng 3 phương pháp

•Lựa chọn độ trễ tối ƣu

•Kiểm định phần dƣ mô hình VAR

•Kiểm định nhân quả Granger

Kiểm định nhân quả Granger • Kiểm định nhân quả hai biến có điều kiện

•Kiểm định nhân quả hai biến không có điều kiện

Kiểm định nhân quả miền tần số

Tuy nhiên, Hylleberg cùng cộng sự (1990) đã đề xuất kiểm định, HEGY, so sánh với các kiểm định nghiệm đơn vị theo mùa khác có một số ƣu điểm nhƣ truyền tải thông tin hợp lý vì nó loại bỏ các nghiệm đơn vị (theo mùa) có thể trực tiếp từ quy trình của nó và không phải thực nghiện các điểm định tiền nghiệm.

Kiểm định nhân quả Granger truyền thống qua mô hình VAR

Tác giả sử dụng kiểm định nhân quả Granger trong mô hình VAR nhƣ một mô hình chuẩn để xem xét mối quan hệ và chiều tác động giữa tăng trưởng kinh tế đại diện bởi chỉ số công nghiệp (IPI) và giá chứng khoán (SP) ở Việt Nam Mô hình VAR đƣợc xây dựng nhƣ sau:

Với Y t là vector tập hợp của các biến nội sinh bao gồm chỉ số sản xuất công nghiệp IPI và giá chứng khoán SP

X t là vector tập hợp của các biến ngoại sinh tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực (REER), lạm phát (CPI), dự trữ ngoại hối (R) và cán cân thương mại (TB) Ф và Ө là những đa thức εt là vector của thay đổi ngoài kỳ vọng theo cấu trúc.

Phân tích nhân quả trong miền tần số

Trong thống kê, miền tần số là một thuật ngữ đƣợc sử dụng để mô tả miền phân tích của các hàm toán học và dấu hiệu tương ứng với các tần số, hơn là thời gian

Trong miền tần số, một quy trình dừng có thể đƣợc thể hiện nhƣ một tổng có tỷ trọng của các thành phần hình sin với một tần số nhất định (ω) Tuy nhiên, trong miền tần số, một định nghĩa rất tương đồng được áp dụng cho kiểm định nhân quả Granger, như trong miền thời gian Đặt nó trong một cách phi công nghệ, đồ thị miền thời gian cho thấy một sự thay đổi có dấu hiệu theo thời gian, trong khi đồ thị miền tần số cho thấy số lƣợng tín hiệu nằm trong mỗi bang tần số cho trước trong một loạt các tần số

Hiểu một cách đơn giản hơn, “thời gian” nghĩa là khả năng chỉ ra khi nào một sự thay đổi nhất định xảy ra, trong khi “tần số’ là một thành phần mà đo lường mức độ của một sự thay đổi nhất định

Mặc dù có những các tiếp cận khác nhau, nhƣ Partial Directed Coherence (PDC) kiểm định nhân quả Granger trong miền tần số tuy nhiên, tác giả tập trung vào cách tiếp cận nhân quả Granger hơi khác biệt, đƣợc đề xuất bởi Geweke (1982) và sau đó là Breitung và Candelon (2006) Cách tiếp cận này cung cấp một sự giải thích đơn giản của nhân quả Granger miền tần số

Cách tiếp cận của Breitung và Candelon (2006) đƣợc diễn giải nhƣ sau: đặt Z t =[x t, y t ] ’ là một vector hai chièu của chuỗi dữ liệu đƣợc quan sát tại thời điểm t=1,…,T và nó đƣợc trình bày trong mô hình VAR có ràng buộc dạng: Θ(L)z t = ε t

Với Θ(L) = I – Θ 1 L -…- Θ p L p là một đa thức có độ trễ ma trận 2x2 với L k z t = z t -k Chúng tôi giả sử rằng vector sai số ε t là nhiễu trắng với E(ε t )=0 và E(ε t ε’ t )= Σ, với Σ là xác định dương Đặt G là ma trận tam giác dưới của phân tích Cholesky G’G=Σ -1 sao cho E(η t ηt’) và ηt=Gεt Nếu hệ thống giả sử dừng, thì MA của hệ thống nhƣ sau:

Với Ф(L)=Θ(L) -1 và ψ(L) = Ф(L)G -1 Sử dụng cách diễn giải này hàm phân bố xác suất của x t đƣợc thể hiện nhƣ sau:

{| ( | | ( | } Phương pháp kiểm định nhân quả của Geweke (1982) được định nghĩa như sau

Nếu | ( )| thì thước đo của Geweke sẽ là không (0), y sẽ không gây ra Granger cho x tại tần số ω

Nếu các thành tử của z t dừng tại sai phân bậc 1 I(1) và có đồng liên kết, thì phương pháp đo lường nhân quả miền tần số có thể xác định bằng cách sử dụng mô hình MA sau: ̃( ) ̃( )

Với ̃( ) ̃( ) , và G là ma trận tam giác dưới với E(ηtηt’)=1 Chú trong một hệ phương trình đồng liên kết hai biến ̃( ) với β là một vector đồng liên kết sao cho β’z t dừng (Engle và Granger, 1987) Trong trường hợp dừng, kiểm định nhân quả được đo lường như sau:

| ( )|| Để kiểm tra giả thuyết y không gây ra nhân quả cho x tại tần số ω, chúng tôi xem xét giả thuyết H 0 trong một phương trình hai biến sau:

Breitung và Candelon (2006) trình bày kiểm định này bằng cách tính toán lại mối quan hệ giữa x và y trong phương trình VAR: x t = α1x t-1 + … + α p x t-p + β 1 y t-1 +…+ β p y t-p + ε 1t

Giả thuyết H 0 được kiểm định bởi Geweke, M y->x (ω)=0, tương ứng với giả thuyết H 0 :

Với β là một vector các hệ số của y và

Thống kê F nguyên mẫu trong phương trình (12) thì xấp xỉ phân phối F(2, T-2p) với ω ϵ(0,π) Điểm thú vị là xem xét kiểm định nhân quả miền tần số trong một mô hình đồng liên kết Breitung và Candelon (2006) đã xuất thay thế xt trong phương trình hồi quy

(7) bởi Δx t , về bên phải của phương trình vẫn không thay đổi Thêm vào đó, điều quan trọng đề cập trong các hệ phương trình đồng liên kết, định nghĩa nhân quả tần số bằng không thì tương ứng với nội dung “nhân quả trong dài hạn”, và trong một mô hình dừng, không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các chuỗi thời gian, nếu không thì một chuỗi có thể giải thích biến động ở tần số thấp trong tương lai một chuỗi khác Vì vậy, trong một hệ dừng, tính nhân quả tại các tần số thấp hàm ý rằng biến bổ sung có thể dự đón thành phần tần số thấp của biến lãi suất trong một khoảng thời gian trước

Kiểm định nhân quả miền tần số hai biến không có điều kiện đƣợc hiểu là mô hình chỉ gồm hai biến nội sinh là giá chứng khoán (SP) và chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI)

Mô hình có điều kiện đƣợc bổ sung thêm các biến vĩ mô đƣợc xem nhƣ các biến ngoại sinh là tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực (REER), lạm phát (CPI), dự trữ ngoại hối (R) và cán cân thương mại (TB)

Trong phân tích miền tần số chiều dài thời gian sẽ bị mất nhƣng cách tiếp cận theo tần số có những ƣu điểm khác, chẳng hạn nhƣ trong một chuỗi thời gian ngắn nhƣ dữ liệu của chúng ta, vấn đề ảnh hưởng mùa vụ có thể quan trọng, và miền tần số cho phép hạn chế những thay đổi này Thêm vào đó, phương pháp này cho phép quan sát các thành phần phi tuyến tính và chu kỳ nhân quả, đó là nhân quả ở các tần số thấp và cao.

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM

Ngày đăng: 27/06/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w