1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ mức độ tập trung sở hữu và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

62 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinkunmi 2017 nghiên cứu về tác động của luật pháp lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng…Tuy nhiên, có rất ít bài nghiên cứu đề cập đến mức độ nắm giữ cổ phần trực tiếp của các cổ đông lớ

Trang 1

NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG

MỨC ĐỘ TẬP TRUNG SỞ HỮU VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG

MỨC ĐỘ TẬP TRUNG SỞ HỮU VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐINH THỊ THU HỒNG

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Tác giả luận văn

Nguyễn Quỳnh Hương

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

3 Câu hỏi nghiên cứu: 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

7 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀVẤN ĐỀ SỞ HỮU CỦACÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM HIỆN NAY 4

1.1 Cơ sở lý luận cho tác động của độ tập trung sở hữu lên hiệu quả hoạt động ngân hàng 4

1.1.1 Các lý thuyết 4

1.1.2 Vấn đề mức độ tập trung sở hữu và các lý thuyết đại diện, lý thuyết triển vọng 6

1.2 Đặc điểm các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 7

1.3 Thực trạng cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt Nam 8

Trang 5

2.1 Lý thuyết các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước 11

2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 11

2.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 12

2.2 Dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kỳ vọng dấu của mô hình 13

2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 13

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 14

2.2.3 Kỳ vọng dấu của mô hình 16

CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN CÁC KẾT QUẢ 18

3.1 Các số liệu thống kê mô tả và kết quả hồi quy 18

3.1.1 Các số liệu thống kê mô tả 18

3.2 Kết quả hồi quy 20

3.2.1 Các yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng 20

3.2.2 Hồi quy tương tác: Các mức độ sở hữu và lợi nhuận ngân hàng 22

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN, Ý NGHĨA RÚT RATẠI VIỆT NAM 27

4.1 Kết luận của bài nghiên cứu 27

4.2 Ý nghĩa rút ra tại Việt Nam 28 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Vietcombank 9

Bảng 1-3: Bảng xếp hạng 15 ngân hàng TMCP Việt Nam lọt top 500 Ngân hàng mạnh nhất Châu Á - Thái Bình Dương 10

Bảng 2-1: Kỳ vọng dấu của các biến trong mô hình 17

Bảng 3-1: Tóm tắt các chỉ số mô tả 18

Bảng 3-2: Tóm tắt các ngân hàng với mức độ sở hữu khác nhau 18

Bảng 3-3: Mối tương quan giữa các biến 19

Bảng 3-4: Các yếu tố quyết định lợi nhuận 22

Bảng 3-5: Lợi nhuận ngân hàng với mức độ sở hữu phân tán 23

Bảng 3-6: Lợi nhuận ngân hàng tại mức tập trung sở hữu trung bình 24

Bảng 3-7: Lợi nhuận ngân hàng với mức tập trung sở hữu cao 26

Bảng 4-1: Độ tập trung sở hữu của một cổ đông lớn tại Techcombank năm 2016 31

Bảng 4-2: Độ tập trung sở hữu của cổ đông lớn tại MBBank năm 2016 31

Trang 7

Hình 4-1: So sánh quy mô tổng tài sản các ngân hàng từ năm 2012 đến năm

2016 29 Hình 4-2: Mức độ sở hữu tập trung của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam năm 2016 30

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Từ những năm đổi mới1986, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành Ngân hàng Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc và đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội.Có thể thấy, từ cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2007 cho đến nay, hoạt động của ngành ngân hàng nước ta đã và đang dần được cải thiện Theo The Asian Bankers, tạp chí quốc tế uy tín chuyên về ngân hàng, tài chính gần đây đã đưa ra nhận định hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động có hiệu quả tích cực, thể hiện ở tỷ suất tăng trưởng tài sản của Việt Nam cao nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2016 – 2017, và tỷ lệ nợ dưới chuẩn chỉ còn 2.5% vào cuối năm 2016, mức thấp nhất trong các năm gần đây Những kết quả đó đạt được một phần là do nỗ lực cải cách của Chính phủ cũng như chuyển động tích cực của cả nền kinh tế, phần còn lại là nhờ vào sự điều hành và quản trị rủi ro của những người đứng đầu các ngân hàng

Chính vì những thăng trầm của ngành ngân hàng đã nêu ở trên, nên gắn liền với lịch sử phát triển ngành, đã có rất nhiều bài nghiên cứu về những nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.Ilyas Akhisar, K Batu Tunay, Necla Tunay (2015) nghiên cứu về ảnh hưởng của những đổi mới đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, S M Sohrab Uddin, Yasushi Suzuki (2014) nghiên cứu về tác động của cạnh tranh lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Bangladesh, Mustapha

A Kinkunmi (2017) nghiên cứu về tác động của luật pháp lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng…Tuy nhiên, có rất ít bài nghiên cứu đề cập đến mức độ nắm giữ cổ phần trực tiếp của các cổ đông lớn hay còn gọi là mức độ tập trung sở hữu của ngân hàng tác động đến lợi nhuận ngân hàng

Việc nghiên cứu về độ tập trung sở hữu của ngân hàng rất quan trọng bởi vì các nhà quản lý có thể lợi dụng việc này để chuyển dịch lợi nhuận của ngân hàng vào lợi ích của chính bản thân họ hoặc kiểm soát ngân hàng theo mục đích cá nhân

Trang 9

Điều này sẽ làm sụt giảm giá trị ngân hàng cũng như ảnh hưởng đến lợi ích của các

cổ đông khác

Bài viết này tập trung nghiên cứu về mức độ tập trung sở hữu của cổ đông lớn tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Cụ thể, mức độ tập trung sở hữu được chia thành ba mức độ: độ tập trung sở hữu cao, độ tập trung sở hữu trung bình và độ

sở hữu phân tán (thấp)

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Nghiên cứu thực trạng cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu sự tác động của các mức độ tập trung sở hữu lên lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, mức độ tập trung khác nhau ảnh hưởng đến lợi nhuận như thế nào

3 Câu hỏi nghiên cứu:

- Cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là gì?

- Các mức độ tập trung sở hữu nào ảnh hưởng đến lợi nhuận các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ tập trung sở hữu tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Mức độ tập trung sở hữu tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, số liệu kinh tế vĩ mô từ báo cáo của World Bank trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dùng hai phương pháp để ước tính mô hình đó là phương pháp ước lượng tĩnh và phương pháp ước lượng động Phương pháp ước lượng tĩnh là phương ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) cố định để xác định sự khác biệt của các

Trang 10

yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng và phương pháp động là phương pháp ước lượng GMM để thu thập sự điều chỉnh động đối với lợi nhuận ngân hàng

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Việc nghiên cứu luận văn này có ý nghĩa quan trọng về mặt thực tiễn Nó phân tích thực trạng, đưa ra những hạn chế, tồn tại việc hoạt động không hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam do mức độ tập trung sở hữu trong thời gian qua để từ đó có những kiến nghị đúng đắn và thiết thực cho các hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

7 Bố cục đề tài

Kết cấu đề tài gồm có 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và vấn đề sở hữu của các Ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam hiện nay

- Chương 2: Các công trình nghiên cứu liên quan, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Thảo luận các kết quả

- Chương 4: Kết luận và ý nghĩa rút ra tại Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀVẤN ĐỀ SỞ HỮU CỦACÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Cơ sở lý luận cho tác động của độ tập trung sở hữu lên hiệu quả hoạt động ngân hàng

Trong sở hữu tập trung, cổ đông lớn thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty vận hành Các cổ đông này kiểm soát doanh nghiệp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành, có quyền biểu quyết đáng kể về các hoạt động của công ty

Trong sở hữu phân tán, quyền kiểm soát công ty do ban giám đốc nắm giữ

Do đó, quyền lợi của các cổ đông nhỏ thường bị phụ thuộc vào sự điều hành của các giám đốc, và không có ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của công ty

1.1.1.2 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện được nghiên cứu bởi Jensen và Meckling (1976) và sau đó được đề cập trong sách Tài chính hành vi của Lucy F Ackert và Richard Deaves (2010) Lý thuyết đại diệncho rằng một mối quan hệ đại diện xuất hiện bất cứ khi một người nào đó (người chủ) ký hợp đồng với người khác (người đại diện) để thực hiện các công việc thay cho người chủ và đại diện cho lợi ích của người chủ.Trong mối quan hệ đại diện, người đại diện có quyền đưa ra các quyết định thay cho người chủ.Vấn đề phát sinh khi người đại diện không có cùng lợi ích với người chủ

Chi phí đại diện phát sinh từ vấn đề đại diện – sở hữu bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.Các chi phí này phát sinh bởi vì lợi ích của nhà quản lý

Trang 12

không nhất quán với mục tiêu tối đa hoá giá trị công ty Chi phí trực tiếp bao gồm những chi phí có lợi cho người quản lý nhưng không phải là công ty, chẳng hạn như mua máy bay phản lực sang trọng cho những chuyến du lịch Các chi phí trực tiếp khác xuất phát từ sự cần thiết phải giám sát hoạt động của nhà quản lý, bao gồm chi phí thuê kiểm toán viên bên ngoài Chi phí gián tiếp rất khó để đo lường và xuất phát từ các cơ hội đánh mất Ví dụ, người quản lý của công ty mục tiêu trong một thương vụ mua lại có thể chống lại các nỗ lực bị thâu tóm bởi vì họ e ngại sẽ mất việc, bất chấp các cổ đông sẽ được hưởng lợi từ việc sáp nhập

1.1.1.3 Lý thuyết triển vọng

Lucy F Ackert và Richard Deaves (2010) đề cập về lý thuyết chuẩn tắc và cho rằng con người nên hành động theo một cách nào đó Ngược lại, lý thuyết thực chứng nhìn nhận những gì mà con người thực sự làm và xây dựng các mô hình dựa trên cơ sở những quan sát này Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được đưa ra bởi John Von Neumann và Oskar Morgenstern (1944) nhằm nỗ lực mô tả những hành vi hợp

lý khi con người phải đối mặt với sự không chắc chắn Lý thuyết này cho rằng các

cá nhân nên hành động theo một cách thức cụ thể khi phải đưa ra những quyết định quan trọng mà không có sự chắc chắn Với cách tư duy này, lý thuyết hữu dụng kỳ vọng là lý thuyết “có tính chuẩn tắc” nghĩa là nó mô tả cách thức mà con người hợp

lý nên hành xử.Một lý thuyết khác thay thế cho lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được kiểm định và chấp nhận rộng rãi là lý thuyết triển vọng Lý thuyết triển vọng là thực nghiệm (hay mô tả) vì nó được xây dựng dựa trên việc con người thực sự hành động như thế nào

Lý thuyết triển vọng cho rằng với lý thuyết hữu dụng kỳ vọng chuẩn, chúng

ta không thể giải thích một cách đầy đủ việc ra quyết định trong điều kiện có rủi ro Luận điểm này dựa trên bằng chứng thực nghiệm cho thấy con người có những hành vi trái ngược với lý thuyết hữu dụng kỳ vọng

Trang 13

1.1.2 Vấn đề mức độ tập trung sở hữu và các lý thuyết đại diện, lý thuyết triển vọng

Trên thực tế, bất cứ một ngân hàng hay doanh nghiệp nào cũng phải cử ra một người đại diện theo pháp luật để thực hiện các hoạt động giao dịch cũng như điều hành công ty Việc bỏ phiếu và bầu ra người đại diện đều được các thành viên trong ngân hàng hoặc doanh nghiệp thông qua Điều này cho thấy một cổ đông sở hữu nhiều hay ít cổ phần cũng sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn người đại diện cho công ty của mình Khi đó vấn đề chi phí đại diện sẽ phát sinh nếu như người đại diện không có cùng lợi ích với các cổ đông còn lại

Fazlzadeh và cộng sự (2011) cho rằng mức độ sở hữu phân tán sẽ thường gây

ra các vấn đề đại diện trong doanh nghiệp, bởi vì khả năng của các cổ đông nhỏ trong việc điều hành và kiểm soát công ty là yếu Về mặt lý thuyết, các cổ đông sở hữu doanh nghiệp nhưng đối với các cổ đông nhỏ, dường như họ không cảm thấy bất kỳ động thái về việc sở hữu này cũng như là kiểm soát đối với hoạt động công

ty bởi vì số lượng cổ phần của họ nắm là quá nhỏ Hơn nữa, các cổ đông này thường đầu tư vào nhiều loại hình công ty để tối thiểu hóa rủi ro mà họ phải gánh chịu.Bên cạnh đó, mục đích chính việc đầu tư của họ là để nhận được cổ tức trong tương lai hơn là đầu tư vào sự phát triển của công ty.Ngược lại, đối với mức độ sở hữu tập trung, các cổ đông lớn có khả năng điều hành cũng như kiểm soát các hoạt động của công ty, bởi vì họ sẽ được hưởng lợi rất nhiều khi giá cổ phiếu của công ty gia tăng

Lý thuyết triển vọng cũng chỉ ra rằng khi đứng trước một quyết định, thay vì một người nên hành xử một cách hợp lý “có tính chuẩn tắc”, nhưnglại hành động trái ngược với tính chuẩn tắc đó Và điều này cũng sẽ dễ xảy ra đối với người đại diện của một ngân hàng hoặc doanh nghiệp, thay vì họ cần lựa chọn quyết định đúng đắn để tất cả các cổ đông đều có lợi, nhưng ngược lại họ lại chọn hành động

để họ được lợi nhiều nhất

Và tất cả những lý do trên có thể giải thích cho những xung đột lợi ích và mâu thuẫn xảy ra giữa các cổ đông trong cùng một ngân hàng hoặc doanh

Trang 14

nghiệp.Xung đột lợi ích được hiểu là một tình huống trong đó một cá nhân hay một

tổ chức ở vào một vị thế có thể lợi dụng khả năng nghề nghiệp hay chức vụ theo cách nào đó để trục lợi cho cá nhân hay tổ chức ấy Một xung đột lợi ích xảy ra khi một cá nhân hay một tổ chức có liên quan tới nhiều lợi ích, mà một trong những lợi ích ấy có thể phá hoại động cơ thực hiện một lợi ích khác (Theo Trung tâm thông tin – tư liệu chuyên đề số 4/2013)

1.2 Đặc điểm các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Đại Á (Daiabank) (2017) thì ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có những đặc trưng sau đây:

- Về cấu trúc tài chính và tài sản: là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt

Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-NHNN ngày 25 tháng 11 năm 2013 quy định mức vốn pháp định cho các ngân hàng thương mại cổ phần là 3000 tỷ đồng.Bên cạnh đó, mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý.Đồng thời, tuy có mức vốn tối thiểu cao như vậy, nhưng hoạt động của các ngân hàng chủ yếu là từ nợ huy động bên ngoài Ngân hàng.Vì thế mà đặc trưng của các ngân hàng này đó là hệ số nợ rất cao.Ngoài ra, sự đặc biệt của cấu trúc tài sản của các ngân hàng được thể hiện ở chỗ, phần lớn tài sản là tài sản tài chính như tiền, chứng khoán, vàng, ngoại tệ… khác hoàn toàn so với các loại hình doanh nghiệp còn lại

- Hoạt động của Ngân hàng thương mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu

sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật

Như phần trên đã đề cập, ta có thể thấy tài sản của ngân hàng rất đặc biệt, phần lớn là các tài sản tài chính Do đó, hoạt động của ngân hàng thường gắn liền với các loại tài sản này Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng được coi như là xương sống, là nguồn cung vốn cho hoạt động của cả một nền kinh tế, chính trị Một khi ngân hàng sụp đổ thì nền kinh tế cũng lao đao Vì vậy mà hoạt động của ngân hàng phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước, của hệ thống pháp luật

Trang 15

- Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng

Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam có tính phụ thuộc nhau rất lớn.Điều này dễ nhận biết khi chúng ta tiến hành giao dịch thanh toán tại các ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại ATM của các ngân hàng khác nhau.Có thể thấy các ngân hàng hoạt động như một mắc xích liên kết với nhau, rất chặt chẽ và thể hiện sức mạnh của cả một hệ thống ngân hàng.Vì thế, nếu như một mắc xích bị đứt thì hệ thống đó không còn tồn tại Đó cũng là lý do vì sao mà hệ thống ngân hàng Việt Nam lại có tính ổn định

1.3 Thực trạng cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hiện nay, theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hệ thống ngân hàng được chia thành 03 loại hình bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách và Ngân hàng hợp tác xã (Hình 1) Trong đó, ở loại hình Ngân hàng thương mại có 4 dạng ngân hàng nhỏ đó là: Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại Cổ phần, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và Ngân hàng liên doanh Tuy nhiên đối với bài nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung phân tích sâu vào cấu trúc sở hữu của các Ngân hàng thương mại Cổ phần ở Việt Nam

Hình 1-1: Hệ thống các ngân hàng Việt Nam hiện nay

Nguồn: Website Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 16

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần có tổng cộng 31 ngân hàng Trong đó, 03 ngân hàng có tỷ lệ sở hữu của Ngân hàng nhà nước trên 50% bao gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), và Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Bảng 1-1 thể hiện tỷ lệ sở hữu của nhà nước năm 2016 tại 3 ngân hàng này

Bảng 1-1: Tỷ lệ sở hữu nhà nước của Ngân hàng BIDV, Vietinbank, Vietcombank

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Theo công bố mới đây của The Asian Bankers, có 15 ngân hàng thương mại của Việt Nam được lọt vào danh sách 500 ngân hàng thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương năm 2017 Trong số 5 ngân hàng dẫn đầu, có 3 ngân hàng thương mại

cổ phần có tỷ lệ sở hữu nhà nước trên 50% là ngân hàng Vietcombank, Vietinbank

và BIDV (Bảng 1- 3)

Như vậy có thể thấy, các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu của nhà nước cao (trên 50%) tại Việt Nam có hiệu quả hoạt động tương đối tốt so với các ngân hàng còn lại trong hệ thống và điều này được thể hiện qua kết quả của xếp hạng The Asian Bankers năm 2017

Trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu mức độ sở hữu có thật

sự tác động lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng như thực trạng hiện nay hay không và kết quả chương 3 sẽ giải thích cho chúng ta vấn đề này

Trang 17

Bảng 1-2: Bảng xếp hạng 15 ngân hàng TMCP Việt Nam lọt top 500 Ngân

hàng mạnh nhất Châu Á - Thái Bình Dương

Nguồn: The Asian Bankers

Bên cạnh sở hữu nhà nước, Nguyễn Hồng Sơn và nhóm nghiên cứu (2015) nghiên cứu về định dạng hệ thống ngân hàng Việt Nam sau tái cơ cấu cho rằng, cấu trúc sở hữu của hệ thống các tổ chức tài chính hiện tại rất phức tạp (sở hữu chéo, sở hữu tháp, sở hữu ngầm) là nguồn gốc sinh ra cơ chế quản trị độc quyền cá nhân, lợi ích nhóm, biến Ngân hàng thương mại cổ phần đại chúng thành những ngân hàng thực chất phi đại chúng, làm phân bổ nguồn vốn không hiệu quả và tăng rủi ro hệ thống tài chính

Trang 18

CHƯƠNG 2: CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN, DỮ LIỆU

NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Lý thuyết các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước

2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Ảnh hưởng của độ tập trung sở hữu lên hoạt động của ngân hàng đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả qua các năm Micco, Panizza, và Yanez (2006) nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nhà nước và tư nhân được cân nhắc chính trị trong giai đoạn 1995 đến 2002 Họ thấy rằng các ngân hàng nhà nước ở các nước đang phát triển có khả năng sinh lợi thấp hơn và chi phí cao hơn các ngân hàng do tư nhân sở hữu Họ không tìm thấy mối tương quan giữa quyền sở hữu và hiệu quả của ngân hàng đối với các ngân hàng ở các nước công nghiệp Iannotta, Nocera, và Sironi (2007) điều tra mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, đánh giá rủi ro

và hoạt động của ngân hàng đối với 181 ngân hàng châu Âu trong giai đoạn

1999-2004 Họ thấy rằng độ tập trung sở hữu không ảnh hưởng đáng kể tới khả năng sinh lời của ngân hàng, tuy nhiên mức độ tập trung quyền lực cao gắn liền với chất lượng nợ tốt hơn, rủi ro tài sản thấp hơn và rủi ro phá sản thấp hơn, qua đó cải thiện hoạt động của ngân hàng Lin và Zhang (2009) điều tra tác động của cải cách sở hữu ngân hàng đối với hoạt động của các ngân hàng Trung Quốc Họ nghiên cứu 60 ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 1997 đến 2004, và thấy rằng các ngân hàng thương mại 'Big Four' có sở hữu tập trung thì ít có lợi nhuận, kém hiệu quả và có chất lượng tài sản tồi tệ hơn các loại ngân hàng khác Nghiên cứu của Parichart Riewsathirathorn, Seksak Jumroenvong và Pornsit Jiraporn (2011) cho rằng độ tập trung sở hữu càng cao thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng yếu và độ chấp nhận rủi ro càng thấp Nghiên cứu Sarra Ben Slama Zouari và Neila Boulila Taktak (2012) cho thấy không có mối tương quan chắc chắn giữa độ tập trung sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Islamic Bên cạnh đó, Rokwaro Massimiliano Kiruri và cộng sự (2013) chỉ ra rằng độ tập trung sở hữu và sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều lên lợi nhuận ngân hàng trong khi sở hữu nước ngoài và sở hữu

Trang 19

tư nhân có tác động cùng chiều lên lợi nhuận ngân hàng Ben Slama và Boulila (2014) điều tra mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu và kết quả hoạt động của ngân hàng với trọng tâm là 53 ngân hàng Hồi giáo trong giai đoạn 2005-2009 Họ không tìm thấy mối tương quan giữa tập trung sở hữu và kết quả hoạt động của ngân hàng được đo bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Bian và Deng (2017) nghiên cứu các ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 2007-2014 và thấy rằng độ sở hữu phân tán cao hơn làm tăng lợi nhuận trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và giảm tỷ lệ các khoản cho vay không hiệu quả Nghiên cứu của Peterson Kitakogelu Ozili và Olayinka Uadiale (2017) về độ tập trung sở hữu tác động lên lợi nhuận ngân hàng ở Nigeria cho thấy các ngân hàng có độ tập trung sở hữu cao cho lợi nhuận trên tài sản cao hơn trong khi các ngân hàng có sở hữu phân tán cho lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao hơn Nehme Azoury, Andre Azouri và cộng sự (2017) nghiên cứu về tác động của độ tập trung sở hữu, các loại hình sở hữu ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng Leban như thế nào Bài nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả tài chính ngân hàng tương quan tích cực với độ tập trung sở hữu, sở hữu quản lý, sở hữu nước ngoài và sở hữu tổ chức, tuy nhiên sở hữu gia đình lại không tương quan với hiệu quả hoạt động ngân hàng Bên cạnh đó, cả độ tập trung sở hữu và sở hữu quản

lý đều có mối quan hệ hình chữ U đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng Nhìn chung, các tài liệu về độ tập trung sở hữu và hiệu quả hoạt động ngân hàng cung cấp những bằng chứng hỗn hợp

2.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam chưa có nhiều bài nghiên cứu về tác động của mức độ tập trung sở hữu lên lợi nhuận của các ngân hàng, chủ yếu các bài nghiên cứu thường tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, đáng chú ý là nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Thanh Tú, Đinh Xuân Cường, Lại Anh Ngọc, Phạm Bảo Khánh (2014) về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu Kết quả cho thấy độ tập trung vốn và sở hữu tư nhân có tác

Trang 20

động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Phan Mạnh Hùng (2015) nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả cho thấy sở hữu Nhà nước tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, trong khi đó sở hữu nước ngoài lại

có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

2.2 Dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kỳ vọng dấu của mô hình.

2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung vào các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, cụ thể

dữ liệu tài chính của các ngân hàng được trích từ báo cáo tài chính và được tổng kết

từ trang Vietdata Bên cạnh đó, số liệu tăng trưởng GDP được thu thập từ trang World Bank Data.Vì dữ liệu chủ yếu lấy từ Vietdata, trong khi Vietdata chỉ cung cấp dữ liệu từ năm 2007, nên số liệu của tôi bao quát từ năm 2007 đến năm 2016

Dữ liệu gồm 29 ngân hàng, nhưng do có 5 ngân hàng bị thiếu một số năm (vì chưa

được thành lập từ năm 2007), nên dữ liệu cuối cùng chỉ còn 24 ngân hàng (Xem phụ lục 1)

Trong nghiên cứu về mức độ sở hữu tác động lên lợi nhuận các ngân hàng, Peterson Kitakogelu Ozili, Olayinka Uadiale (2017) sử dụng tỷ lệ sở hữu là 70% và 40% để phản ánh các mức độ tập trung sở hữu khác nhau Cụ thể, để phản ánh độ tập trung sở hữu cao, họsử dụng biến giả “CN” lấy giá trị là 1 nếu cổ đông lớn nắm giữ ít nhất là 70% cổ phần trực tiếp, thể hiện ngân hàng có độ tập trung sở hữu cao

Để phản ánh độ sở hữu phân tán, bài nghiên cứu sử dụng biến giả “DISP” có giá trị

là 1 nếu một cổ đông lớn nắm giữ ít hơn 40% cổ phần trực tiếp, thể hiện ngân hàng

có cấu trúc sở hữu phân tán Cuối cùng, để phản ánh độ tập trung sở hữu trung bình,

họ sử dụng biến giả “MOD” lấy giá trị là 1 nếu một cổ đông lớn nắm giữ từ 50% đến 60% cổ phần

Tuy nhiên, bài nghiên cứu của các tác giả được đặt trong trường hợp của Nigeria Đối với trường hợp ở Việt Nam, quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về

Trang 21

quyền kiểm soát cũng như quyết định các hoạt động của doanh nghiệp được tóm tắt tại phụ lục 2

Phụ lục 2 tóm tắt mức tỷ lệ sở hữu mà ở đó một cổ đông lớn có quyền kiểm soát cũng như quyết định mọi hoạt động của công ty Từ đó, tôi sử dụng tỷ lệ 65%

và 35% để phản ánh các mức độ sở hữu của một ngân hàng Cụ thể, để phản ánh độ tập trung sở hữu cao, tôi sử dụng biến giả “CN” lấy giá trị là 1 nếu cổ đông lớn nắm giữ ít nhất là 65% cổ phần trực tiếp, thể hiện ngân hàng có độ tập trung sở hữu cao.Để phản ánh độ sở hữu phân tán, tôi sử dụng biến giả “DISP” có giá trị là 1 nếu một cổ đông lớn nắm giữ ít hơn 35% cổ phần trực tiếp, thể hiện ngân hàng có cấu trúc sở hữu phân tán Cuối cùng, để phản ánh độ tập trung sở hữu trung bình, tôi sử dụng biến giả “MOD” lấy giá trị là 1 nếu một cổ đông lớn nắm giữ từ 35% đến 65%

cổ phần của ngân hàng

Trong số 24 ngân hàng được lấy dữ liệu ở trên, các ngân hàng có mức độ tập trung sở hữu cao đó là các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước như Vietcombank, BIDV, Vietinbank, ngân hàng có mức độ tập trung sở hữu trung bình là ngân hàng Vietbank, còn lại là các ngân hàng có mức độ sở hữu phân tán

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên, để ước tính yếu tố lợi nhuận của các ngân hàng, tôi sử dụng mô hình dữ liệu bảng động và mô hình bảng tĩnh được thừa kế từ bài nghiên cứu của Peterson Kitakogelu Ozili, Olayinka Uadiale (2017) Bài nghiên cứu sử dụng hai thước đo về lợi nhuận của ngân hàng (Π)là một hàm bao gồm tỷ lệ an toàn vốn(EQTA), hiệu quả chi phí (CI), tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), chất lượng tài sản (AQ) và tỷ lệ tăng trưởng vĩ mô (∆GDP)

Mô hình như sau:

Πi, t = c + CIi, t + AQi, t + EQTA i, t + CARi, t + ∆GDPt + ε (OLS) (1)

Πi, t = c + Πi, t-1 + CIi, t + AQi, t + EQTA i, t + CARi, t + ∆GDPt + ε (GMM) (2)

Trong đó:

Trang 22

- Π là biến phụ thuộc đại diện cho hai thước đo về lợi nhuận bao gồm: Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

+ ROA là thước đo cho hiệu quả hoạt động của công ty, được tính bằng tỷ lệ của lợi nhuận sau thuế chia cho tài sản trung bình của ngân hàng “i” vào năm “t”

+ Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được tính bằng tỷ lệ của lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu trung bình của ngân hàng “i” vào năm “t”

- Hiệu quả chi phí (CI) được tính bằng tỷ lệ của chi phí trên thu nhập cho ngân hàng “i” vào năm “t”

- Chất lượng tài sản (AQ) được tính bằng tỷ lệ của dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng khoản cho vay của ngân hàng “i” vào năm “t”

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) được tính bằng tỷ lệ của tổng vốn cấp I

và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng “i” vào năm “t”

- Độ an toàn vốn (EQTA) được tính bằng tỷ lệ của tổng vốn chủ sở hữu chia cho lượng tài sản trung bình của ngân hàng “i” vào năm “t”

- Tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm quốc nội (∆GDP) được tính bằng chênh lệch trong tổng sản phẩm quốc nội vào năm t

Tiếp đến, chúng ta sẽ tương tác các yếu tố lợi nhuận trên các biến sở hữu để phát hiện tác động (nếu có) của các mức độ tập trung sở hữu khác nhau lên lợi nhuận ngân hàng; do đó chúng ta sẽ có các mô hình:

Πi, t = c + DISP *CIi, t + DISP * AQi, t + DISP * EQTA i, t + DISP * CARi, t + ∆GDPt + ε (3)

Πi, t = c + Πi, t-1 + DISP * CIi, t + DISP * AQi, t + DISP * EQTA i, t + DISP * CARi, t + ∆GDPt + ε (4)

Πi, t = c + MOD *CIi, t + MOD * AQi, t + MOD * EQTA i, t + MOD * CARi, t + ∆GDPt + ε (5)

Πi, t = c + Πi, t-1 + MOD *CIi, t + MOD *AQi, t + MOD *EQTA i, t + MOD *CARi, t + ∆GDPt + ε (6)

Πi, t = c + CN *CIi, t + CN * AQi, t + CN * EQTA i, t + CN * CARi, t + ∆GDPt + ε (7)

Πi, t = c + Πi, t-1 + CN * CIi, t + CN * AQi, t + CN * EQTA i, t + CN * CARi, t + ∆GDPt + ε (8)

Trang 23

Để ước lượng mô hình, bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ước lượng động và ước lượng tĩnh Ước lượng tĩnh là ước lượng hồi quy OLS tác động cố định để xác địnhmối tương quan của các yếu tố ngân hàng lên lợi nhuận của ngân hàng, trong khi ước lượng động là ước lượng GMM để xác định các điều chỉnh động cho lợi nhuận của ngân hàng Các điều chỉnh động đối với lợi nhuận ngân hàng được xem xét bằng cách sử dụng độ trễ của các biến lợi nhuận để tính đến tính nội sinh liên quan đến lợi nhuận, bởi vì người ta có thể tranh luận rằng một ngân hàng có lợi nhuận trong năm nay có khả năng duy trì được lợi nhuận trong năm tới do sự tồn tại của lợi nhuận Do đó đòi hỏi các phân tích sử dụng giá trị lợi nhuận trễ vì lợi nhuận hôm nay có thể tác động đến lợi nhuận của ngày mai Đối với mô hình động, tôi sử dụng ước lượng D-GMM của Arellano và Bond (1991).Công cụ GMM chỉ áp dụng cho biến trễ phụ thuộc, các biến còn lại được xem như là ngoại sinh

2.2.3 Kỳ vọng dấu của mô hình

Tham khảo từ kết quả nghiên cứu của Peterson Kitakogelu Ozili và Olayinka Uadiale (2017), tôi kỳ vọng dấu của mô hình cụ thể như sau:

- Đối với biến độc lập hiệu quả sử dụng chi phí (CI), kỳ vọng sẽ có tương quan âm (ngược chiều) với biến phụ thuộc (ROA, ROE) ở cả 8 mô hình Điều này

có nghĩa, tỷ lệ chi phí trên thu nhập càng thấp thì lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) càng cao và ngược lại

- Đối với biến độc lập chất lượng tài sản (AQ) – được tính bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng các khoản cho vay, kỳ vọng sẽ tác động ngược chiều lên biến phụ thuộc ROA và ROE ở cả 8 mô hình.Điều này có ý nghĩa, dự phòng rủi

ro tín dụng càng nhiều thì lợi nhuận càng giảm và ngược lại

- Với biến Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) được tính bằng tỷ lệ của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro, kỳ vọng sẽ tác động ngược chiều lên biến phụ thuộc ROA và ROE Điều này có nghĩa, vốn cấp I và vốn cấp II càng cao thì ROA, ROE càng thấp và ngược lại

Trang 24

- Độ an toàn vốn (EQTA) được tính bằng tỷ lệ của tổng vốn chủ sở hữu chia cho lượng tài sản trung bình, kỳ vọng sẽ tác động ngược chiều với ROA và ROE Điều này có nghĩa, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên lượng tài sản trung bình càng cao thì ROA, ROE càng thấp và ngươc lại

- Tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm quốc nội (∆GDP) được kỳ vọng sẽ tác động cùng chiều với ROA và ROE

Bảng 2-1: Kỳ vọng dấu của các biến trong mô hình

Trang 25

CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN CÁC KẾT QUẢ

3.1 Các số liệu thống kê mô tả và kết quả hồi quy

3.1.1 Các số liệu thống kê mô tả

Bảng 3-1 trình bày về các số liệu thống kê mô tả đầy đủ cho các biến trong khi bảng 3-2 trình bày các số liệu thống kê mô tả các biến lợi nhuận theo từng mức

độ tập trung sở hữu Ở bảng 3-2, các ngân hàng có mức độ tập trung sở hữu cao có lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cao nhất, điều này có nghĩa là các ngân hàng có mức độ tập trung sở hữu cao có hiệu quả hoạt động tốt hơn trong khi các ngân hàng có mức độ tập trung sở hữu trung bình lại có ROA và ROE thấp nhất

Bảng 3-1: Tóm tắt các chỉ số mô tả

Mean 0087942 0900646 5106917 0158962 1143346 1683837 060396 Std Dev .0063419 0664724 1644869 0543178 0790951 1526503 0058271

Bảng 3-2: Tóm tắt các ngân hàng với mức độ sở hữu khác nhau

Các ngân hàng có độ sở hữu phân tán (DISP)

Trang 26

Bảng 3-3: Mối tương quan giữa các biến

Trang 27

Bảng 3-3 trình bày mối tương quan giữa các biến với nhau.Tập trung vào mối tương quan giữa các biến về lợi nhuận (ROA, ROE) và các biến mức độ tập trung sở hữu (DISP, MOD và CN), ta thấy rằng CN có mối tương quan dương đối với ROA và ROE cho thấy mức độ tập trung sở hữu cao có tác động tích cực đối với lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, MOD có tương quan âm với cả ROA và ROE cho thấy mức độ tập trung sở hữu trung bình

có tác động tiêu cực đối với ROA và ROE.Tuy nhiên, đối với DISP lại có sự tác động khác nhau đối với ROA (tương quan dương) và ROE (tương quan âm).Điều này có nghĩa mức độ sở hữu phân tán có ảnh hưởng tích cực đối với lợi nhuận trên tài sản (ROA) và ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Tập trung vào các biến độc lập trong mô hình ở bảng 3-3 (CI, AQ, EQTA, CAR và ∆GDP), ta thấy rằng hệ số tương quan giữa CAR và EQTA rất cao (0.9275) gần tiến đến 1.Điều này cho thấy có khả năng xảy ra đa cộng tuyến giữa hai biến này.Sau khi kiểm tra đa cộng tuyến, và chạy mô hình hồi quy OLS fix-effect có đồng thời cả hai biến CAR và EQTA để lựa chọn biến nào nên giữ lại, kết quả cho thấy biến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) có tác động không đáng kể đối với ROA, ngược lại với tác động tích cực của biến tỷ lệ độ an toàn vốn (EQTA) lên

ROA Do đó, tôi quyết định bỏ đi biến CAR và giữ lại biến EQTA (Xem phụ lục 2

và 3)

3.2 Kết quả hồi quy (Xem phụ lục 4 – 35)

3.2.1 Các yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng

Bảng 3-4 thể hiện các yếu tố quyết định lợi nhuận trên tổng tài sản của các ngân hàng (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

- Đối với ROA: Ta có thể quan sát thấy hệ số của hiệu quả chi phí (CI) là âm

và có ý nghĩa ở mức 1% trong cả ước lượng OLS và ước lượng GMM Điều này cho thấy hiệu quả chi phí là một yếu tố quyết định đến ROA một cách đáng kể cho các ngân hàng Việt Nam (Hiệu quả chi phí càng cao dẫn đến lợi nhuận trên tổng tài sản càng thấp) Ngược lại với CI, hệ số chất lượng tài sản AQ là âm nhưng lại không có ý nghĩa tại các mức anpha ở cả hai ước lượng OLS và GMM Hệ số

Trang 28

antoàn vốn EQTA có tương quan dương với ROA ở mức ý nghĩa 1% trong cả hai ước lượng OLS và GMM Điều này cho thấy độ an toàn vốn càng cao sẽ tác động đến lợi nhuận trên tài sản càng cao Bên cạnh đó, hệ số tăng trưởng GDP hàng năm (∆GDP) có ảnh hưởng tiêu cực đối với ROA trong cả ước lượng OLS và GMM, chứng tỏ tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm càng tăng thì ROA của các ngân hàng

càng thấp.Đặc biệt, xét đến biến trễ phụ thuộc ROAt-1 trong ước lượng GMM, ta

nhận thấy rằng không có sự tác động của ROA năm trước tác động đến ROA năm nay ở các ngân hàng Việt Nam

- Đối với ROE: Ta có thể thấy hệ số của hiệu quả chi phí (CI) là âm và có ý nghĩa ở mức 1% trong cả ước lượng OLS và ước lượng GMM tương tự như đối với ROA Điều này cho thấy hiệu quả chi phí là một yếu tố quyết định đến ROE một cách đáng kể cho các ngân hàng Việt Nam (Hiệu quả chi phí càng cao dẫn đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữuu càng thấp).Ngược lại với CI, hệ số chất lượng tài sản

AQ là âm nhưng lại không có ý nghĩa tại các mức anpha ở cả hai ước lượng OLS và GMM Hệ số an toàn vốn EQTA có tương quan âm với ROE ở mức ý nghĩa 1% trong cả hai ước lượng OLS và GMM Điều này cho thấy độ an toàn vốn càng cao

sẽ tác động đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng thấp Bên cạnh đó, hệ số tăng trưởng GDP hàng năm (∆GDP) có ảnh hưởng tiêu cực đối với ROE trong cả ước lượng OLS và GMM, chứng tỏ tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm càng tăng thì ROE

của các ngân hàng càng thấp.Đặc biệt, xét đến biến trễ phụ thuộc ROEt-1 trong ước

lượng GMM, ta nhận thấy rằng có sự tác động đáng kể của ROE năm trước tác động đến ROA năm nay ở các ngân hàng Việt Nam

Trang 29

Bảng 3-4: Các yếu tố quyết định lợi nhuận

∆GDP = tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội ROAt-1, ROEt-1 thể hiện độ trễ của lợi nhuận

3.2.2 Hồi quy tương tác: Các mức độ sở hữu và lợi nhuận ngân hàng

- Bảng 3-5 trình bày kết quả ước lượng OLS và GMM của các yếu tố tác động đến ROA và ROE ở các ngân hàng với độ

sở hữu phân tán

+ Đối với ROA: Ta có thể thấy tác động của hiệu quả chi phí (DISP*CI) là ngược chiều đáng kể trong cả hai ước lượng OLS và GMM Điều này cho thấy rằng trong các ngân hàng với mức độ tập trung sở hữu thấp thì hiệu quả chi phí càng cao thì lợi nhuận trên tổng tài sản càng thấp và ngược lại Tương tự, ta thấy hệ số của độ

Trang 30

an toàn vốn (DISP*EQTA) là dương và có ý nghĩa ở cả hai ước lượng OLS và GMM, cho thấy độ an toàn vốn ở các ngân hàng với độ sở hữu phân tán càng cao thì ROA càng cao và ngược lại

Bảng 3-5: Lợi nhuận ngân hàng với mức độ sở hữu phân tán

+ Đối với ROE: Nhìn chung, tương tự với kết quả đối với ROA ta có thể thấy tác động của hiệu quả chi phí (DISP*CI) là ngược chiều đáng kể đối với ROE trong cả hai ước lượng OLS và GMM Điều này cho thấy rằng trong các ngân hàng với mức độ tập trung sở hữu thấp thì hiệu quả chi phí càng cao thì lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng thấp và ngược lại

Trang 31

- Bảng 3-6trình bày kết quả ước lượng OLS và GMM của các yếu tố tác động đến ROA và ROEở các ngân hàng với độ tập trung sở hữu trung bình

Bảng 3-6: Lợi nhuận ngân hàng tại mức tập trung sở hữu trung bình

+ Đối với ROA: Nhìn chung, ta có thể thấy tác động của hiệu quả chi phí (MOD*CI) là ngược chiều đáng kể trong cả hai ước lượng OLS và GMM Điều này cho thấy rằng trong các ngân hàng với mức độ tập trung sở hữu thấp thì hiệu quả chi phí càng cao thì lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) càng thấp và ngược lại.Hệ số của MOD*AQ, MOD*EQTA, ∆GDP đều dương và có ý nghĩa trong cả ước lượng OLS

và GMM đối với ROA

Ngày đăng: 27/06/2021, 17:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w