Đề bài: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu, cho ví dụ cụ thể? Bài làm1. Khái niệm cơ cấu xã hội – nhân khẩu Cơ cấu xã hội – nhân khẩu được hiểu là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác được quy định tại khoản 3 điều 3 Pháp lệnh dân số năm 2003.Cơ cấu xã hội – nhân khẩu có ảnh hưởng lớn đến quá trình vận động, phát triển của xã hội. Những biến động về dân số, cư dân sinh sống, các đặc điểm của dân cư ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, đất đai và đặc biệt quyết định đến sự thay đổi hệ thống pháp luật, các quy định hiện hành của hệ thống pháp luật. Chỉ số về tỉ suất sinh, tử, di dân, thành phần lao động, lứa tuổi có ảnh hưởng nhiều đến nguồn lao động trong tương lai. Cơ cấu xã hội – nhân khẩu giúp tìm hiểu quá trình tái sản xuất dân cư (sinh sản, tử vong...), mật độ dân số và cơ cấu dân cư, sự biến động của dân cư (di dân), độ tuổi, tỷ lệ giới tính và cấu trúc thế hệ...Thông qua đó, dự báo được quy mô biến đổi và những đặc trưng xu hướng xã hội của dân số, sự tương tác của cơ cấu dân số đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến số lượng và chất lượng cuộc sống con người. Chẳng hạn: Sự phân phối nguồn lao động cho nền kinh tế, kế hoạch xây dựng nhà ở, các vấn đề về phát triển đô thị và nông thôn, bảo vệ phúc lợi xã hội... Sự vận động của cơ cấu dân số phụ thuộc vào hoạt động sản xuất, tính chất của các quan hệ xã hội, các chuẩn mực văn hoá, các định hướng giá trị tâm lý của con người...Sự phát triển dân số không hợp lý sẽ dẫn đến việc hạ thấp năng suất lao động, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, dẫn tới đói nghèo...Từ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đặc tính cơ cấu xã hội – nhân khẩu chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu xu hướng, đặc trưng phá triển của cơ cấu xã hội – nhân khẩu góp phần tìm ra quy luật, sự phụ thuộc các yếu tố về nhân khẩu trong xã hội để đưa ra những đánh giá kịp thời, chính xác nhất. Từ những đánh giá đó, các nhà quản lý, Mục lục:1. Khái niệm cơ cấu xã hội – nhân khẩu12. Mối quan hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu22.1 Mối quan hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu dựa trên cơ cấu giới tính22.2 Mối quan hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu dựa trên cơ cấu lứa tuổi52.2.1 Căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi62.2.2 Căn cứ vào khả năng lao động, cơ cấu lứa tuổi112.2.3 Căn cứ vào tình trạng hôn nhân12
Trang 1Đề bài: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân
khẩu, cho ví dụ cụ thể?
Bài làm
1 Khái niệm cơ cấu xã hội – nhân khẩu
Cơ cấu xã hội – nhân khẩu được hiểu là tổng số dân được phân loại theo giới tính,
độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác được quy định tại khoản 3 điều 3 Pháp lệnh dân số năm 2003
Cơ cấu xã hội – nhân khẩu có ảnh hưởng lớn đến quá trình vận động, phát triển của
xã hội Những biến động về dân số, cư dân sinh sống, các đặc điểm của dân cư ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, đất đai và đặc biệt quyết định đến sự thay đổi hệ thống pháp luật, các quy định hiện hành của hệ thống pháp luật Chỉ số về tỉ suất sinh, tử, di dân, thành phần lao động, lứa tuổi có ảnh hưởng nhiều đến nguồn lao động trong tương lai
Cơ cấu xã hội – nhân khẩu giúp tìm hiểu quá trình tái sản xuất dân cư (sinh sản, tử vong ), mật độ dân số và cơ cấu dân cư, sự biến động của dân cư (di dân), độ tuổi,
tỷ lệ giới tính và cấu trúc thế hệ Thông qua đó, dự báo được quy mô biến đổi và những đặc trưng xu hướng xã hội của dân số, sự tương tác của cơ cấu dân số đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến số lượng và chất lượng cuộc sống con người Chẳng hạn: Sự phân phối nguồn lao động cho nền kinh tế, kế hoạch xây dựng nhà
ở, các vấn đề về phát triển đô thị và nông thôn, bảo vệ phúc lợi xã hội Sự vận động của cơ cấu dân số phụ thuộc vào hoạt động sản xuất, tính chất của các quan
hệ xã hội, các chuẩn mực văn hoá, các định hướng giá trị tâm lý của con người Sự phát triển dân số không hợp lý sẽ dẫn đến việc hạ thấp năng suất lao động, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, dẫn tới đói nghèo
Từ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các đặc tính cơ cấu xã hội – nhân khẩu chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu xu hướng, đặc trưng phá triển của cơ cấu xã hội – nhân khẩu góp phần tìm ra quy luật, sự phụ thuộc các yếu tố về nhân khẩu trong xã hội
để đưa ra những đánh giá kịp thời, chính xác nhất Từ những đánh giá đó, các nhà
Trang 2một cách phù hợp, kịp thời, giải quyết những bài toán phát sinh từ quá trình phát triển của xã hội
2 Mối quan hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu
2.1 Mối quan hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu dựa trên cơ cấu giới tính
Giới tính để chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ theo Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 Theo các nhà khoa học giới tính được quy định bởi gen di truyền từ cha mẹ sang con Là đặc tính, sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh học ở trình độ cao, biến đổi theo quy luật sinh học không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cá nhân Người ta phân biệt giới tính bởi sự khác nhau của cấu tạo thể chất, giải phẫu, sinh lý, gen, cơ quan sinh dục, hooc môn…)
Giới là cách gọi để chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam, nữ trong các quan hệ xã hội, các quan hệ pháp luật, đồng thời phản ánh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội Sự khác biệt này xuất phát từ đặc điểm khác nhau tự nhiên giữa các giới, từ yếu tố văn hóa, lịch sử, truyền thống, kinh tế chính trị… Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học xã hội lại cho rằng phần lớn dẫn đến sự khác biệt giữa nam và
nữ là do xã hội tạo ra
Ví dụ ở miền bắc thì đàn ông thường là người trụ cột gia đình bởi do đặc tính định
cư cuộc sống từ xa xưa, đồng bào miền bắc chủ yếu sống bằng săn bắn, họ thường xuyên chịu cảnh chiến tranh xâm lược nên sức mạnh của người đàn ông là vô cùng quan trọng, từ đó hình thành nên chế độ phụ hệ, người đàn ông là trụ cột của gia đình Tuy nhiên một số đồng bào ở vùng Tây Nguyên như Ê đê, Ba Na do cuộc sống chủ yếu là hái lượn, nuôi tằm… để sinh tồn nên họ đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ của người phụ nữ là chính Vì vậy hình thành nên chế độ mẫu hệ
Những khác biệt, quan niệm về vai trò của nam- nữ giới có sự khác nhau dẫn đến bất bình đẳng giới diễn ra trong xã hội Từ đó nhà nước phải áp dụng các quy định pháp luật để điều chỉnh những quan niệm đó góp phần tạo sự cân bằng, ổn định trong xã hội Sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới chỉ là tương đối, không có căn
cứ tự nhiên để chứng tỏ sự thống trị của đàn ông, đàn bà Vì thế bình đẳng được coi
Trang 3như là yếu tố tự nhiên cần phải được duy trì Tuy nhiên hầu hết mọi xã hội đều có những quy định đặc thù cho nam và nữ Quan niệm đó hình thành hàng vài nghìn năm và đến nay vẫn còn tồn tại
Việc khác nhau về vai trò của nam, nữ còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chế độ chính trị mỗi khu vực, mỗi quốc gia Riêng ở Việt Nam ngay từ khi thành lập, các văn bản pháp luật luôn luôn có các quy định về quyền bình đẳng giới giữa nam và
nữ Điển hình như Điều 9 bản Hiến pháp 1946 đã quy định “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Các bản hiến pháp từ Hiến pháp 1959, 1980,
1992 cũng đều quy định về quyền bình đẳng giới Gần đây nhất là Hiến pháp 2013 với điều 26 khẳng định và nhấn mạnh hơn cả về quyền bình đẳng của nữ với nam trong xã hội Điều 26 quy định: “1 Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới 2 Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phá huy vai tỏ của mình trong
xã hội 3.Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”
Chưa dừng lại ở việc quy định một cách cơ bản về nguyên tắc bình đẳng giới, Nhà nước Việt Nam còn cụ thể hóa hơn nữa nguyên tắc này ở trong Luật Bình đẳng giới năm 2006 Cụ thể ở Điều 4 đã quy định “ Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.” Ngoài ra chúng ta luôn cố gắng duy trì thực thi một cách nghiêm túc quy định về bình đẳng giới trong các lĩnh vực: giáo dục, lao động, chính trị, văn hóa…
Dù đã có nhiều văn bản quy định về đối xử bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tuy vậy quan niệm phân biệt giới tính vẫn còn tồn tại ở nước ta Bằng chứng là việc mất cân bằng về giới tính khi sinh giữa trẻ em nam và trẻ nữ cho thấy một bộ phận không nhỏ người dân vẫn còn trọng nam khinh nữ, thích sinh con trai với quan niệm lối dõi tông đường Hiện nay theo thống kê tỉ lệ chênh lệch giới tính khi sinh là 115 trẻ em nam/100 trẻ nữ Điều này vô hình chung sẽ nảy sinh rất nhiều hệ lụy cho sự phát triển của xã hội về sau
Trang 4Ngoài ra vấn nạn bạo lực gia đình vẫn tồn tại và có dấu hiệu gia tăng cũng là biểu hiện của sự bất bình đẳng trong giới tính Theo thống kê gần đây nhất, có tới 58% phụ nữ từng chịu cảnh bạo lực thể xác, tinh thần, tình dục Phụ nữ vẫn còn được ít tham gia vào lĩnh vực chính trị, thường chỉ tham gia ở các công việc giản đơn, bị trả công ít hơn trong cùng một loại hình công việc
Những năm gần đây, quan niệm về giới trong xã hội Việt Nam có những thay đổi đáng kể Ngày càng xuất hiện nhiều hơn những người giám đứng ra nhận mình thuộc những nhóm đồng tính luyến ái nữ, đồng tính luyến ái nam, song tính luyến
ái, cộng đồng chuyển giới Điều này tác động rất lớn tới hệ thống pháp luật về giới đòi hỏi phải có sự thay đổi để đảm bảo quyền lợi của những nhóm này trong xã hội -> Như vậy, cơ cấu xã hội - nhân khẩu được phân chia theo giới tác động mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật về giới, đòi hỏi những thay đổi, thích nghi của hệ thống pháp luật nhằm phù hợp với mục tiêu chính trị và góp phần cân bằng, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của mỗi giới trong xã hội
Ví dụ:
- Trước sự chênh lệch cơ cấu giới tính giữa nam và nữ có nguy cơ để lại hệ lụy cho quá trình phát triển của xã hội về sau Nhà nước đã ban hành một loạt các văn bản
để hạn chế sự mất cân bằng này Pháp lệnh dân số năm 2003 đã nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính cho thai nhi Nghị định số 176/2013/NĐ-CP quy định rất cụ thể các chế tài xử phạt với hành vi vi phạm hành chính về dân số và trẻ em Để cụ thể hóa những giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng này, ngày 23/3/2016 Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 468/QĐ-Ttg nhằm kiểm soát mất cân bằng giới tính giai đoạn 2016-2025
- Trong những năm gần đây, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với các nước trên thế giới, trào lưu thừa nhận giới tính thật của mình ở những người thuộc cộng đồng đồng tính nam, đồng tính nữ ngày càng phổ biến Trước sự thay đổi đó, chúng
ra tuy chưa thừa nhận những người thuộc nhóm này trong các văn bản pháp lý nhưng đã có sự điều chỉnh để các văn bản mềm mại hơn, phù hợp với xu thế chung trên thế giới về tư cách của những người này Điển hình là sự thay đổi ở Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Tại khoản 2 điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm
Trang 52014 chỉ quy định: “2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”
Đây là một bước thay đổi lớn trong tư duy của những người làm công tác lập pháp về người đồng tính Qua quy định này cho thấy pháp luật đã thay đổi cách nhìn với hôn nhân đồng giới Pháp luật không nghiêm cấm một cách cứng nhắc như trước đây mà chỉ không thừa nhận hôn nhân giữa những người đồng giới Do đó, các cặp đôi đồng tính vẫn có thể tổ chức đám cưới trên thực tế, vẫn được chung sống với nhau nếu có nhu cầu nhưng về mặt pháp lý thì sẽ không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng Cùng với đó, Nghị định 110/2013/NĐ-CP cũng không quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi kết hôn giữa những người đồng tính Hiện nay, nhu cầu công nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam là rất lớn Các cặp đôi đồng tính tại nước ta đều kỳ vọng rằng pháp luật Việt Nam cho phép kết hôn đồng giới như 26 quốc gia khác trên thế giới Những người trong cộng đồng LGBT đều khao khát được kết hôn với những người có cùng giới tính để đồng cảm, chia sẻ, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình Tuy nhiên để Việt Nam chấp nhận hôn nhân đồng giới thì cần rất nhiều thời gian Bản thân nước ta là nước có nền văn hóa Á Đông, nếu thừa nhận có thể sẽ gây ra những hệ lụy tiêu cực với xã hội, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam, không phù hợp quy luật sinh học và không bảo đảm chức năng duy trì nòi giống của gia đình Hiện tại, mọi người tuy đã có cái nhìn cởi mở, tích cực hơn về cộng đồng LGBT nhưng để hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới thì lại là một vấn đề cần cân nhắc kĩ lưỡng Dưới góc độ pháp lý, nếu thừa nhận hôn nhân đồng giới thì sẽ phải sửa đổi, bổ sung tất cả các quy định liên quan trong hệ thống pháp luật, như xác định quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ con Cùng với đó là các vấn đề sửa đổi hộ tịch sẽ phát sinh, gây ra việc khó khăn trong việc thực thi, quản lý
2.2 Mối quan hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội – nhân khẩu dựa trên cơ cấu lứa tuổi
Cơ cấu lứa tuổi là sự phân chia cơ cấu xã hội theo nhóm tuổi trên cơ sở đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi hoặc theo khả năng lao động của từng nhóm tuổi khác nhau
Trang 6Có nhiều cách phân chia cơ cấu lứa tuổi để chia thành các nhóm nhân khẩu khác nhau nhưng thông thường người ta dựa vào 2 đặc điểm đó là dựa vào đặc điểm tâm sinh lý và dựa vào đặc điểm khả năng lao động
2.2.1 Căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi
Dựa vào yếu tố này chúng ta chia cơ cấu lứa tuổi thành các nhóm: trẻ em, thanh niên, trung niên, người cao tuổi
Trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em 2016 là người dưới 16 tuổi Trẻ em theo quan niệm phải được đi học để rèn luyện các quy tắc ứng xử, học tập những thái độ tình cảm tốt đẹp thông qua quá trình xã hội hóa Quá trình này bắt nguồn từ môi trường gia đình, được thực hiện một cách không chính thức, là sản phẩm của quá trình tương tác và học tập xã hội Cách giáo dục, hướng dẫn cho trẻ em của mỗi gia đình là khác nhau mang tính đặc thù Những quy tắc ứng xử, kinh nghiệm đầu tiên của trẻ cũng xuất phát từ chính các thành viên trong gia đình, từ đó tạo nên những đứa trẻ với tính cách riêng biệt đặc thù Ngoài ra đình trẻ em còn được học tập bơi những nhân tố ngoài xã hội khi chúng tiếp xúc và giao lưu Ví dụ nhóm bạn bè, thầy cô, môi trường sống xung quanh của đứa trẻ Chẳng hạn một đứa trẻ sẽ trở nên ngoan ngoãn, hiền lành nếu sống trong môi trường với những người tử tế, cư xử chuẩn mực, biết yêu thương giúp đỡ nhau Trái lại đứa trẻ đó sẽ hư hỏng, bướng bỉnh nếu ở trong môi trường nhiều bạo lực, có những vi phạm chuẩn mực đạo đức
xã hội
Những hành vi xử sự của cha mẹ, các thành viên trong xã hội tiếp xúc với trẻ em sẽ tác động trực tiếp đến trẻ em Một chương tình giáo dục phù hợp sẽ giúp định hình thói quen xử sự theo đúng quy định của pháp luật của trẻ Do đặc thù về thể chất và trí lực nên bản thân trẻ em có nhận thức chưa đầy đủ và toàn diện về mọi mặt Vì vậy quyền của trẻ em đôi khi phải được thực hiện thông qua cha mẹ, người giám
hộ, người nuôi dưỡng, nhà trường… Tùy từng lĩnh vực pháp lý mà độ tuổi của trẻ
em cũng có sự thanh đổi khác nhau sao Chẳng hạn trong lĩnh vực hình sự thì độ tuổi chịu trách nhiệm của trẻ em là 14 tuổi trở lên về một số loại tội phạm Trong
hệ thống pháp luật nước ta, trẻ em luôn luôn được quan tâm và được bảo vệ ở mọi thời điểm trước các nguy cơ xâm hại đến sự an toàn về sức khỏe, thể chất, tinh thần
Trang 7của trẻ Từ Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất cho đến luật chuyên ngành về trẻ
em, các công ước quốc tế về quyền trẻ em luôn được nhà nước quan tâm và đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc Hiếp pháp 2013 đã quy định: “ Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi vi phạm quyền trẻ em” Để cụ thể hóa hơn tinh thần này trong Hiến pháp, Luật Trẻ em 2016 đã quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của trẻ em, của mọi thành viên có trách nhiệm nuôi dưỡng, bảo vệ giáo dục trẻ em Trên phương diện quốc tế Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990
Tất cả các lĩnh vực khác từ hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình đều hướng tới bảo vệ và đảm bảo tốt nhất cho quyền trẻ em được thực hiện đầy đủ
Thanh niên theo quy định là những người từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi Trong suốt tiến trình thành lập và phát triển của đất nước vai trò của thanh niên luôn được Đảng và nhà nước chú trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc Các chính sách của nhà nước luôn tạo điều kiện để thanh niên học tập, tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Với đặc trưng của thanh niên là những người có trình độ, nhiều mơ ước cống hiến nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm
lý trí để vượt qua mọi rào cản khó khăn trong cuộc sống hiện tại đầy cám dỗ Vì vậy việc tính đến khả năng và điều chỉnh các văn bản pháp luật về vai trò, định hướng cho thế hệ thanh niên luôn cần phải được quan tâm, thay đổi kịp thời góp phần đưa nhóm người này thực sự trở thành chỗ dựa cho đất nước
Người cao tuổi theo định nghĩa của Luật Người cao tuổi năm 2009 là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên Nhưng những quy định của Luật có thể sẽ phải cân nhắc tính theo hướng điều chỉnh theo sự điều chỉnh của độ tuổi lao động, tuổi nghỉ hưu Bởi lẽ theo kết quả điều tra năm 2018, tuổi thọ trung bình của nam giới hiện nay là 70,6, của nữ giới là 76 Tỉ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở nước ta giờ đây đã trên 10% dân số Như vậy với thống kê này chúng ta đã chính thức bước sang giai đoạn dân số “già” Nếu không có sự điều chỉnh nhanh chóng trong chính sách dân
số thì nguồn lực cho sự phát triển đất nước sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều Việc trẻ hóa
Trang 8dân số là giải pháp để cải thiện tình trạng trên Việc quan tâm chăm sóc sức khỏe
và đời sống của người cao tuổi luôn được chúng ta chú trọng Luật Người cao tuổi năm 2009 đã quy định rất rõ quyền lợi, trách nhiệm của các nhân tổ chức trong việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi Một loạt các chính sách hỗ trợ động viên người cao tuổi được quan tâm Ví dụ như là người cao tuổi trên 80 không có lương hưu sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng Các địa phương Hội Người cao tuổi phát triển và trở thành tổ chức sinh hoạt cộng đồng của người cao tuổi Trách nhiệm chăm sóc phụng dưỡng ông bà nói riêng đồng thời cũng là trách nhiệm của giới trẻ với người cao tuổi được Luật Hôn nhân gia đình quy định cụ thể Những hành vi vi
đi ngược lại với truyền thống đạo lý kính trọng, biết ơn với người cao tuổi cũng bị coi là hành vi phạm tội Bộ luật Hình sự 2015 có quy định tội ngược đãi , hành hạ ông bà cha mẹ, vợ chồng, con cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình và có các quy định giảm nhẹ trách nhiệm cho người cao tuổi khi họ phạm tội, đồng thời tăng nặng hình phạt cho người nào phạm tội có nạn nhân là người cao tuổi
Ví dụ:
Trước khi xây dựng Bộ luật hình sự năm 2015, theo thống kê của Bộ Công an tỉ lệ tội phạm ở trẻ em ngày càng trẻ hóa về độ tuổi và với mức độ nghiêm trọng nguy hiểm hơn trước Vì vậy, khi xây dựng về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của trẻ
em trong Bộ luật hình sự đã diễn ra rất nhiều tranh luận trái chiều để phù hợp với tình hình thực tế của xã hội
Có nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến độ tuổi chịu TNHS Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, cần quy định độ tuổi chịu TNHS sớm hơn 14 Quan điểm này cho rằng, việc quy định tuổi chịu TNHS sớm hơn không vi phạm pháp luật quốc tế cũng như không làm giảm đi tính chất nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam Do điều kiện sống của trẻ em ngày càng tốt hơn, sự phát triển về thể chất, năng lực nhận thức, năng lực hành vi của trẻ em vượt bậc hơn so với các thế hệ trước đây Trẻ em được tham gia các quan hệ xã hội từ rất sớm, có cơ hội tiếp cận các dịch vụ công nghệ nên ngày càng có kinh nghiệm sống, phán xét, xử lý tình huống nhanh nhạy hơn Cũng chính vì vậy các hành vi phạm tội do trẻ em gây ra ngày càng nghiêm trọng hơn Đặc biệt là sự trẻ hóa về độ tuổi phạm tội của trẻ em
Trang 9trong thời gian qua đã gióng lên hồi chuông báo động, cảnh báo tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội ở nước ta Do đó, cần quy định độ tuổi chịu TNHS là từ đủ 12 tuổi
Quan điểm khác cho rằng, vẫn giữ nguyên độ tuổi chịu THNS của trẻ em như quy định hiện nay 14 Quy định về độ tuổi chịu TNHS tại nước ta đã hợp lý và không nên giảm độ tuổi chịu TNHS Trẻ em phạm tội thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, có tuổi thơ phức tạp, giáo dục không đầy đủ dẫn đến nhận thức lệch lạc Vì vậy, thay vì dán nhãn tội phạm cho những đứa trẻ, gia đình và xã hội trước hết cần phải giải quyết từ “cái gốc”, tức là từ những nguyên nhân gây nên những hành vi phạm tội ở người vị thành niên, để từ đó công tác phòng chống tội phạm được hiệu quả, đồng thời góp phần ngăn chặn tình trạng tái phạm của người phạm tội vị thành niên
Đồng nhất với quan điểm trên, khi bàn về tuổi tối thiểu chịu TNHS có quan điểm
đã cho rằng quy định tuổi chịu TNHS không chỉ đơn thuần căn cứ vào năng lực nhận thức của con người mà còn phải căn cứ vào chính sách của Nhà nước trong việc bảo vệ và giáo dục trẻ em, chính sách hình sự của Nhà nước Quy định độ tuổi chịu TNHS không nên chỉ nhấn mạnh yêu cầu là điều kiện để chủ thể có năng lực TNHS hay là biểu hiện của chính sách hình sự mà phải kết hợp cả hai Do đó, để đảm bảo tính ổn định tương đối của luật hình sự, trong điều kiện các phương tiện đấu tranh phòng chống người chưa thành niên vi phạm và phạm tội ngày càng đa dạng chứ không nhất thiết chỉ bằng phương tiện duy nhất là pháp luật hình sự, nên giữ nguyên tuổi tối thiểu phải chịu TNHS là 14 tuổi như quy định của luật hình sự hiện nay
Khác với các quan điểm trên, quan điểm này cho rằng dù không phải chịu TNHS, nhưng trẻ em từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị đưa vào trường giáo dưỡng Biện pháp này mặc dù là biện pháp xử lý vi phạm hành chính, nhưng có nội dung là loại biện pháp cưỡng chế và có tính chất hạn chế tự do do vi phạm hình sự Do đó, nếu mở rộng phạm vi nghiên cứu thì có thể nói rằng, độ tuổi thấp nhất mà một người có thể
Trang 10phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi họ vi phạm pháp luật hình sự ở Việt Nam
là 12 tuổi
Tuổi chịu TNHS là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải vừa đạt được mục đích bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên, quyền của trẻ em kể cả khi
họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Từ quy định về độ tuổi của trẻ em theo Luật Trẻ em, Điều 12 BLHS năm 2015 đã quy định về tuổi chịu TNHS của trẻ em như sau:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: …”
Khoản 2 Điều 12 đã liệt kê cụ thể những tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 phải chịu TNHS nhằm đảm bảo tính minh bạch, nhân đạo trong xử lý đối với đối tượng này theo tinh thần của Hiếp pháp năm 2013 và Công ước của LHQ về Quyền trẻ em Theo đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về 28 tội danh quy định tại khoản 2 Điều 12 Sửa đổi này phù hợp với quan điểm nhất quán của Nhà nước ta được thể hiện trong BLHS năm 1985 và năm 1999 là chỉ xem xét TNHS đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do
cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; đồng thời cũng phù hợp với Công ước của LHQ về Quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, so với BLHS năm 1999, độ tuổi chịu TNHS của trẻ em trong BLHS năm 2015 không nhiều thay đổi Tuy nhiên, BLHS năm 2015
đã điều chỉnh phạm vi chịu TNHS của trẻ em cho phù hợp với pháp luật quốc tế