1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÌNH LUẬN VỀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI QUY PHẠM CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

18 527 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 35,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN HỌC: TƯ PHÁP QUỐC TẾNHÓM 2ĐỀ BÀI: BÌNH LUẬN VỀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI QUY PHẠM CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAMMỤC LỤCA.MỞ BÀI1B.NỘI DUNG1I.Tổng quan về hệ thống các loại quy phạm của TPQT Việt Nam1II.Quy phạm thực chất21.Các loại quy phạm thực chất2a.Quy phạm thực chất thống nhất2b.Quy phạm thực chất thông thường22.Ưu điểm của quy phạm thực chất33.Nhược điểm của quy phạm thực chất4III.Quy phạm xung đột51.Các loại quy phạm xung đột5a.Quy phạm xung đột thống nhất5b.Quy phạm xung đột thông thường62.Ưu điểm của quy phạm xung đột73.Nhược điểm của quy phạm xung đột7C.KẾT BÀI9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO10 

Trang 1

MÔN HỌC: TƯ PHÁP QUỐC TẾ

NHÓM 2

ĐỀ BÀI: BÌNH LUẬN VỀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI QUY PHẠM CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

MỤC LỤC

A MỞ BÀI 1

B NỘI DUNG 1

I Tổng quan về hệ thống các loại quy phạm của TPQT Việt Nam 1

II Quy phạm thực chất 2

1 Các loại quy phạm thực chất 2

a Quy phạm thực chất thống nhất 2

b Quy phạm thực chất thông thường 2

2 Ưu điểm của quy phạm thực chất 3

3 Nhược điểm của quy phạm thực chất 4

III Quy phạm xung đột 5

1 Các loại quy phạm xung đột 5

a Quy phạm xung đột thống nhất 5

b Quy phạm xung đột thông thường 6

2 Ưu điểm của quy phạm xung đột 7

Trang 2

3 Nhược điểm của quy phạm xung đột 7

C KẾT BÀI 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 3

A MỞ BÀI

Trong xu hướng hội nhập hóa quốc tế, tăng cường giao lưu văn hóa, kinh tế như hiện nay, các mối quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài (quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài) ngày càng phát triển một cách khách quan, phong phú và đa dạng Thực tiễn cho thấy số lượng người nước ngoài đến đầu tư kinh doanh tại Việt Nam cũng như số du khách sang Việt Nam du lịch không ngừng gia tăng bởi Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng kinh tế và du lịch Song song với đó, lượng người Việt Nam ra nước ngoài để học tập, kinh doanh, du lịch cũng ngày càng nhiều

Vì vậy, sự ra đời của hệ thống quy phạm trong các văn bản pháp luật của quốc gia để điều chỉnh các mối quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài là một yếu tố rất cần thiết Đây gọi là tư pháp quốc tế Tư pháp quốc tế với vị trí là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia, có phương pháp điều chỉnh riêng biệt phù hợp với đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hai phương pháp được sử dụng để điều chỉnh cơ bản đó là: phương pháp thực chất và phương pháp xung đột Trong đó thực hiện trên

cơ sở áp dụng các quy phạm thực chất và quy phạm xung đột để giải quyết

Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có những quy phạm tư pháp quốc tế để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Vì vậy,

để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề: “Bình luận

về hệ thống các loại quy phạm của Tư pháp quốc tế Việt Nam.”

B NỘI DUNG

I Tổng quan về hệ thống các loại quy phạm của TPQT Việt Nam

Hệ thống quy phạm của TPQT Việt Nam được chia thành hai loại là: quy phạm thực chất và quy phạm xung đột

Trang 4

Quy phạm thực chất: là quy phạm định sẵn các quyền, nghĩa vụ, biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra, nếu có sẵn quy phạm thực chất để áp dụng thì các đương sự cũng như cơ quan có thẩm quyền căn cứ ngay vào quy phạm để xác định được vấn đề mà

họ đang quan tâm mà không cần phải thông qua một khâu trung gian nào Trong thực tiễn việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế được áp dụng bởi các quy phạm thực chất thống nhất là quy phạm thực chất được xây dựng bằng cách các quốc gia kí kết, tham gia các điều ước quốc tế hoặc chấp nhận và sử dụng tập quán quốc tế

Quy phạm xung đột: quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể Quy phạm xung đột có thể do các quốc gia tự xây dựng nên trong hệ thống pháp luật của mình được gọi là quy phạm xung đột thông thường Quy phạm xung đột cũng có thể được các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên trong các điều ước quốc tế được gọi là quy phạm xung đột thống nhất

II Quy phạm thực chất

1 Các loại quy phạm thực chất

Tư pháp quốc tế tác động lên các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh thông qua các quy phạm pháp luật thực chất là quy phạm quy định 1 cách cụ thể cách thức hành xử của các chủ thể liên quan được áp dụng phổ biến và là phương pháp điều chỉnh cơ bản của tư pháp quốc tế

Ví dụ: Hợp đồng dân sự chỉ được xem là hợp pháp khi được lập thành văn bản và được công chứng

Có hai loại quy phạm thực chất đó là: quy phạm thực chất thống nhất

và quy phạm thực chất thông thường

a Quy phạm thực chất thống nhất

Trang 5

Quy phạm thực chất tồn tại trong điều ước quốc tế và tập quán quốc

tế, theo quy ước được gọi là quy phạm pháp luật thực chất thống nhất Ví dụ

điều 11 Công ước Vienna 1980 quy định: “ Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng lời khai của nhân chứng.”

b Quy phạm thực chất thông thường

Bên cạnh quy phạm pháp luật thực chất thống nhất thì tư pháp quốc tế còn có quy phạm pháp luật thực chất nội địa (hay thông thường) là quy phạm pháp luật thực chất được xây dựng trong pháp luât quốc gia Ví dụ khoản 2 điều 161 luật nhà ở 2014 quy định:

“ Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:

a) Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá hai trăm năm mươi căn nhà.

Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng

lẻ trên một tuyến phố thì Chính phủ quy định, cụ thể số lượng căn hộ, số lượng nhà ở riêng lẻ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu;”

2 Ưu điểm của quy phạm thực chất

Trang 6

Quy phạm thực chất chính là quy phạm được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết cũng như các bên tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế sử dụng để giải quyết các tranh chấp quốc tế Có thể là các quy phạm đã được quy định sẵn trong các điều ước quốc tế hoặc đã được quy định trong luật quốc gia để xem xét và giải quyết các xung đột Điều này có nghĩa là sẽ trực tiếp áp dụng quy phạm đó để giải quyết mà loại trừ việc phải chọn luật và áp dụng luật nước ngoài Vì thế quy phạm thực chất có những ưu điểm sau:

- So với quy phạm xung đột thì quy phạm thực chất có ưu điểm hơn hẳn, đó là chỉ ra nội dung, cách giải quyết trực tiếp các quan hệ và nó thường áp dụng trong các quan hệ, lĩnh vực cụ thể, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong

mối quan hệ dân sự phải chịu trách nhiệm thực hiện Làm cho mối quan hệ tư pháp quốc tế được điều chỉnh nhanh chóng, các vấn đề cần quan tâm được xác định ngay, các chủ thể của quan hệ đó và các cơ quan có thẩm quyền khi gây tranh chấp

sẽ tiết kiệm được thời gian tránh được việc tìm hiểu pháp luật nước ngoài là một vấn đề phức tạp

- Quy phạm này chỉ được áp dụng đối với các bên tham gia quan hệ cụ thể trong các không gian giới hạn và đôi khi chỉ áp dụng với các chủ thể cụ thể Vì thế

mà các chủ thể này thường biết trước các điều kiện pháp lí đó, để hợp tác với nhau trong các quan hệ, tránh được các xung đột xảy ra

- Quy phạm này còn điều chỉnh trực tiếp bằng cách các quốc gia kí kết điều ước quốc tế mà trong các điều ước quốc tế đó tồn tại các quy phạm thực chất thống nhất, vì vậy nó đã làm tăng khả năng điều chỉnh hữu hiệu của luật pháp, tính

khả thi cao hơn, loại bỏ được sự khác biệt, thậm chí mẫu thuẫn trong luật pháp giữa các nước với nhau

- Quy phạm này là căn cứ rõ ràng, thuận tiện để các nhà làm luật điều chỉnh các quan hệ có yếu tố nước ngoài trên cơ sở bảo đảm chủ quyền quốc gia trong những lĩnh vực nhạy cảm có thể tác động nên an ninh quốc gia, an toàn xã hội

Trang 7

Ví dụ rõ nhất là: “ Khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở 2014 quy định: “ Đối tượng

được sở hữu nhà ở và hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài

2 Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này

và pháp luật có liên quan;

b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn

hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.”

3 Nhược điểm của quy phạm thực chất

Bên cạnh những ưu điểm thì quy phạm thực chất cũng có những nược điểm nhất định Nhược điểm của quy phạm này là:

- Các quy phạm thực chất thông thường được xây dựng dựa trên những ý chí của Nhà nước, chủ yếu trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của quốc gia dẫn đến không có sự lựa chọn cho các chủ thể Những lĩnh vực áp dụng của quy phạm pháp luật thực chất

thường là những lĩnh vực thể hiện đậm nét quan điểm, ý chí của mỗi quốc gia, dựa trên trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau để xây dựng các quy định nhằm điều chỉnh những quan hệ có yêu tố nước ngoài Các quy phạm pháp luật thực chất thông thường thường mang tính phiếm diện Bởi vậy, những quy phạm thực chất thông thường khi dùng để giải quyết những quan hệ mang tính chất quốc tế trong nhiều trường hợp sẽ không khách quan

- Việc xây dựng các quan hệ pháp luật thực chất, đặc biệt là các quan

hệ thực chất thống nhất không đơn giản, vì lợi ích của các quốc gia khi

Trang 8

tham gia vào các điều ước quốc tế là khác nhau, trình độ phát triển kinh tế

-xã hội của các quốc gia cũng khác nhau Vì vậy để đi đến thống nhất ý chí

giữa các bên còn phải tốn rất nhiều thời gian và công sức Bên cạnh đó, để

có thể đi đến kí kết được các quy phạm thực chất, không đơn giản các quốc gia chỉ ngồi lại với nhau mà đôi bên còn phải bỏ ra một lượng chi phí nhất định mới có thế bảo đảm quy phạm thực chất được xây dựng thành công Do vậy, pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế có các quy phạm thực chất chiếm số lượng không nhiều

- Trên thực tế, quy phạm thực chất nằm tại các văn bản chúng ta là thành viên tham gia kí kết không được nhiều, từ đó chưa thực sự phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay

Ví dụ: Trong hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước,

để điều chỉnh quan hệ dân sự, Hiệp định chỉ có những quy phạm thực chất thống nhất để giải quyết vấn đề di sản không người thừa kế, còn lại đều là quy phạm xung đột

III Quy phạm xung đột

Quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp

dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng Quy phạm xung đột có thể do các quốc gia tự xây dựng nên trong hệ thống pháp luật của mình gọi là quy phạm xung động thông thường hoặc do các chủ thể là các quốc gia thỏa thuận xây dựng trong điều ước quốc tế gọi là quy phạm thống nhất

* Quy phạm xung đột thống nhất

Quy phạm xung đột thống nhất là những quy phạm được các quốc gia thỏa thuận xây dựng trong các điều ước quốc tế (song phương và đa phương), hay nói cách khác, đó là những quy phạm được ghi nhận trong các điều ước quốc tế

Trang 9

Là một loại của quy phạm xung đột, quy phạm xung đột thống nhất cũng không quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ, không quy định các hình thức và biện pháp chế tài có thể được áp dụng đối với bên vi phạm, mà nó chỉ xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ Muốn giải quyết vấn đề thì cơ quan có thẩm quyền cần căn cứ vào quy phạm xung đột thống nhất, áp dụng hệ thống pháp luật mà quy phạm xung đột pháp luật thống nhất dẫn chiếu đến

Trong tư pháp quốc tế, Việt Nam đã tiến hành ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều quốc gia trên thế giới, tạo thành một khối lượng lớn các quy phạm xung đột thống nhất để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Có thể kể đến một số ví dụ như:

Trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Ucraina, tại

khoản 1 Điều 29 quy định rằng: “Việc nhận nuôi trẻ em là công dân của bên

ký kết này nhưng lại thường trú trên lãnh thổ bên ký kết kia được tiến hành theo pháp luật của bên ký kết mà người con là công dân khi sinh ra” Hay giữa Việt Nam và Bungari đã ký kết với nhau Hiệp định tương trợ tư pháp

về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hào nhân dân Bungari, và theo khoản 1 Điều

20 của Hiệp định này thì: “Các điều kiện kết hôn giữa công dân của hai nước ký kết được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người kết hôn

là công dân.”

Hay như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào ở điều 17 quy định: “ Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của nước kí kết mà cá nhân đã là công dân”

* Quy phạm xung đột thông thường

Quy phạm xung đột thông thường là những quy phạm xung đột nằm trong pháp luật quốc gia Hiểu đơn giản hơn là quy phạm do quốc gia quy

Trang 10

định việc lựa chọn pháp luật nước nào đó để áp dụng làm căn cứ điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài

Ví dụ: Điều 677 BLDS Việt Nam năm 2015 quy định: “Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản.” Đây là một quy phạm pháp luật nằm trong BLDS của

Việt Nam có nhiệm vụ xác định luật áp dụng trong việc phân loại tài sản nên quy phạm này là quy phạm xung đột thông thường

Khác với quy phạm xung đột thống nhất, quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến cả phần pháp luật quy định về quyền, nghĩa vụ lẫn các quy định về xác định pháp luật áp dụng Do đó, khi về cùng một vấn đề mà các quy phạm xung đột ở các nước khác nhau có các hệ thuộc luật khác nhau

sẽ nảy sinh hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ

ba

Ví dụ: Ông D, quốc tịch nước Anh, đến Việt Nam 1992 với tư cách CEO cho công ty B làm việc tại Hải Phòng và đó cũng là nơi cư trú của ông

D Sau đó ông đã kết hôn với chị C quốc tịch Việt Nam Theo Khoản 1 Điều

126 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn ” hay nói cách khác nguyên tắc chọn luật của

Việt Nam trong vấn đề này là hệ thuộc luật quốc tịch Vậy điều kiện kết hôn của ông D do pháp luật nước Anh điều chỉnh Nhưng pháp luật nước Anh, vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi cư trú (hệ thuộc luật nơi cư trú) Do vậy, điều kiện đăng ký kết hôn của ông D được pháp luật nước Anh dẫn ngược trở lại pháp luật Việt Nam

1 Một số loại quy phạm xung đột

Các quy phạm xung đột khi có tiêu chí khác nhau, căn cứ khác nhau thì có các loại quy phạm xung đột khác nhau:

Trang 11

- Căn cứ vào kỹ thuật xây dựng quy phạm thì quy phạm xung đột được chia thành 02 loại: quy phạm xung đột một chiều (quy phạm xung đột một bên) và quy phạm xung đột hai chiều (quy phạm xung đột hai bên) + Quy phạm một chiều là quy phạm xung đột chỉ ra việc áp dụng luật của một nước cụ thể và đó chính là nước đã ban hành ra quy phạm

+ Quy phạm xung đột hai chiều là quy phạm xung đột chỉ xác định về mặt nguyên tắc là luật áp dụng sẽ là luật nào, luật của nước đương sự là công dân, hay luật nước người cư trú, hay luật nước nơi có tài sản…Loại quy phạm này không chỉ đích danh sẽ là luật của Việt Nam, hay luật của nước cụ thể nào khác mà là nguyên tắc chung áp dụng luật mà thôi Luật nước được

áp dụng sẽ là hệ thống pháp luật thỏa mãn tiêu chí mà xung đột xác định Như vậy, việc quy định của quy phạm xung đột hai chiều là sự thừa nhận cho việc không chỉ áp dụng luật nước mình mà còn áp dụng pháp luật nước ngoài

- Căn cứ vào phạm vi áp dụng có thể phân chia thành quy phạm xung đột

về quyền sở hữu, quy phạm xung đột về hôn nhân, gia đình, quy phạm xung đột về hợp đồng…

- Căn cứ vào hệ thuộc pháp luật có thể có quy phạm xung đột áp dụng pháp luật quốc tịch, quy phạm xung đột áp dụng pháp luật nơi cư trú, quy phạm xung đột áp dụng pháp luật nơi giao kết hợp đồng…

- Căn cứ vào tính chất của quy phạm xung đột có quy phạm xung đột mệnh lệnh (bắt buộc phải tuân theo) và quy phạm xung đột tùy nghi (được lựa chọn)

+ Quy phạm xung đột mệnh lệnh thường được hiểu như quy phạm xung đột một chiều hoặc quy phạm xung đột hai chiều tuy nhiên có sự khác biệt đó là loại quy phạm thứ nhất thì hệ thống luật áp dụng đã được xác định

rõ ràng là luật của nước ban hành ra quy phạm, còn ở loại quy phạm thứ hai

Ngày đăng: 27/06/2021, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w