1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong TPQT; căn cứ pháp lý quốc tế, căn cứ pháp lý quốc gia, thực tiễn áp dụng.

12 116 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 27,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 19. Vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong TPQT; căn cứ pháp lý quốc tế, căn cứ pháp lý quốc gia, thực tiễn áp dụng.Bài làm Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa diễn ra trên mọi lĩnh vực dẫn đến các xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ tư pháp quốc tế cũng phức tạp, đa dạng. Các chủ thể của tư pháp quốc tế giờ đây không chỉ là giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức mà nhà nước khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế cũng được đánh giá và coi như một chủ thể trong trong hệ đó. Các chủ thể là quốc gia khi tham gia quan hệ tư pháp quốc tế được hưởng một số quyền miễn trừ không như những chủ thể thông thường. Nguyên nhân mà chủ thể là quốc gia có quyền miễn trừ khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế được hưởng quyền miễn trừ là bởi mỗi quốc gia có một thuộc tính chủ quyền quốc gia, có toàn quyền quyết định các vấn đề đối nội, đối ngoại liên quan đến các hoạt động của quốc gia. Không chỉ có vậy, quốc gia là một thực thể rất lớn, trong quan hệ quốc tế các quốc gia luôn bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực kể cả tư pháp quốc tế. Mà đã bình đẳng với nhau thì việc một nước nào đó có quyền xét xử, phán xét một nước khác là điều tối kỵ trong các hoạt động quốc tế. Cũng từ đó mà tranh chấp, bất đồng khi liên quan đến quốc gia thường sẽ được giải quyết theo con đường thương lượng, hòa giải.Mục lục1. Quyền miễn trừ của quốc gia dựa trên căn cứ pháp lý quốc tế11.1 Quyền miễn trừ xét xử21.2 Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia31.3 Quyền miễn trừ về áp dụng các biện pháp đảm bảo sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia41.4 Quyền miễn trừ về thi hành án42. Quyền miễn trừ của quốc gia trong hệ thống pháp luật của quốc gia52.1 Quyền miễn trừ quốc gia trong hệ thống pháp luật tư pháp quốc tế của các nước trên thế giới52.2 Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam63. Thực tiễn áp dụng quyền miễn trừ quốc gia trong các quan hệ tư pháp quốc tế8

Trang 1

Câu 19 Vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong TPQT; căn cứ pháp lý quốc tế,

căn cứ pháp lý quốc gia, thực tiễn áp dụng

Bài làm

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa diễn ra trên mọi lĩnh vực dẫn đến các xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ tư pháp quốc tế cũng phức tạp, đa dạng Các chủ thể của tư pháp quốc tế giờ đây không chỉ là giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức mà nhà nước khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế cũng được đánh giá và coi như một chủ thể trong trong hệ đó Các chủ thể là quốc gia khi tham gia quan hệ tư pháp quốc

tế được hưởng một số quyền miễn trừ không như những chủ thể thông thường Nguyên nhân mà chủ thể là quốc gia có quyền miễn trừ khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế được hưởng quyền miễn trừ là bởi mỗi quốc gia có một thuộc tính chủ quyền quốc gia, có toàn quyền quyết định các vấn đề đối nội, đối ngoại liên quan đến các hoạt động của quốc gia Không chỉ có vậy, quốc gia là một thực thể rất lớn, trong quan hệ quốc tế các quốc gia luôn bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực kể cả tư pháp quốc tế Mà đã bình đẳng với nhau thì việc một nước nào đó có quyền xét xử, phán xét một nước khác là điều tối kỵ trong các hoạt động quốc tế Cũng từ đó mà tranh chấp, bất đồng khi liên quan đến quốc gia thường sẽ được giải quyết theo con đường thương lượng, hòa giải

1 Quyền miễn trừ của quốc gia dựa trên căn cứ pháp lý quốc tế

Nhận thức được tầm quan trọng của việc tạo ra hành lang pháp lý để các quốc gia có thể căn cứ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế Công ước Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ tài sản đối với quốc gia đã ra đời được xem là một trong những cơ sở pháp lý rất quan trọng

Để nhận diện các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ, công ước đã quy định một số đối tượng, đơn vị là: quốc gia và các cơ quan của chính phủ, các đơn vị hợp thành một quốc gia liên bang hoặc các đặc khu chính trị của quốc gia để thực hiện chủ quyền quốc gia, các cơ quan của quốc gia hoặc các chủ thể khác có quyền tiến hành hoặc

Trang 2

đang tiến hành các hoạt động thực tế để thực hiện chủ quyền quốc gia, các cơ quan đại diện cho quốc gia

1.1 Quyền miễn trừ xét xử

Miễn trừ tư pháp được hiểu đơn giản là không bị xét xử tại bất cứ Tòa án nào Việc tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp sẽ giúp cho các quốc gia sẽ không bị một tòa án nào

ở nước ngoài có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện khi quốc gia là bị đơn trong lĩnh vực dân sự Điều 5 và Điều 6 Công ước Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán

và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “ Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo quy định của Công ước Nghĩa vụ của các quốc gia là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa

án nước mình.”

Tuy nhiên miễn trừ không có nghĩa là không phải chịu trách nhiệm, là được miễn toàn bộ nghĩa vụ khi bị tòa án xét xử Nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, các nhân nước ngoài kiện mình, cũng đồng ý cho tòa án nước ngoài xét xử mình thì quốc gia lại tham gia với tư cách bình đẳng là một bị đơn như thông thường Việc tòa án được quyền xét

xử nhưng vẫn bị giới hạn bởi một số quyền khi xét xử các bị đơn khác là: tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản quốc gia để phục vụ cho việc xét xử Vấn đề này đã được điều 18 Công ước của Liên hợp quốc về quyền miễn trừ tài phán và tài sản của quốc gia quy định rõ như sau: “ Không

có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài ”

Không chỉ có xét xử mà chủ thể quốc gia trong tư pháp quốc tế còn miễn trừ với các biện pháp cưỡng chế đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho một tổ chức, các nhân kiện, ngay cả khi đồng ý thì quốc gia vẫn

có quyền từ chối việc thực thi bản án của tòa nếu là bên thua kiện Bởi mỗi quyết định phán quyết của tòa án phải được quốc gia tự giác thi hành mà không thể bị một chủ khác cưỡng chế bảo đảm thực hiện Quyền miễn trừ xét xử còn được bảo lưu và thực

Trang 3

hiện ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử theo điều 19 Công ước của Liên hợp quốc về quyền tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “ Không có biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gai được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”

1.2 Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia

Cũng như quyền miễn trừ xét xử, quyền miễn trừ với tài sản thuộc sở hữu của quốc gia là quyền tối quan trọng bảo vệ quyền lợi của mỗi quốc gia khi tham gia vào quan

hệ dân sự quốc tế Quyền này thực chất quy định là những tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì không thể là đối tượng áp dụng các biện pháp tư pháp khi quốc gia tham gia các quan hệ dân sự quốc tế Ngoài pháp luật quốc tế rất nhiều nước thừa nhận quyền này trong luật quốc gai của mình Ví dụ như Luật miễn trừ nhà nước của Hoa Kỳ tại Điều 169 cũng khẳng định quyền miễn trừ với tài sản của quốc gia nước ngoài Những nước phương tây như Nga, Anh cũng có luật riêng quy định về vấn đề này

Đây là một quyền vô cùng quan trọng không thể tách rời khỏi các quốc gia và thể hiện vai trò quan trọng của mình giúp bảo vệ các quốc gia khi tham gia một quan hệ nào trong tư pháp quốc tế Vì thực chất đây là quyền có đi có lại thể hiện sự tôn trọng của các quốc gia dành cho nhau Các nội dung của quyền miễn trừ của quốc gia tồn tại trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau và được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Tuy nhiên, giữa các quyền vẫn có sự độc lập tương đối và quốc gia có quyền từ bỏ nội dung trong quyền miễn trừ Việc quốc gia đó lựa chọn từ bỏ một hay hai quyền trong quyền miễn trừ thực chất không làm ảnh hưởng đến việc hưởng các quyền còn lại hoặc các mối quan hệ khác Việc từ bỏ quyền miễn trừ của quốc gia cần phải được thể hiện rõ ràng trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc trong các văn bản cụ thể mà quốc gia

ký kết

Trang 4

1.3 Quyền miễn trừ về áp dụng các biện pháp đảm bảo sơ bộ cho vụ kiện liên quan đến quốc gia

Thông thường khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện tụng, tranh chấp thì

họ thường áp dụng các biện pháp bảo đảm như kê biên, tịch thu tài sản đang tranh chấp, cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi Tất cả các biện pháp này nhằm bảo đảm sơ bộ cho vụ kiện Nội dung của quyền này được quy định theo quy định của luật pháp quốc tế là việc các cơ quan tư pháp không được phép áp dụng bất

cứ một biện pháp đảm bảo sơ bộ nào cho vụ kiện liên quan đến quốc gia Đó có thể như bắt giữ, kê biên tài sản của quốc gia Trong trường hợp các quốc gia đồng ý thì các cơ quan tư pháp mới được phép thực hiện việc này Nội dung này được quy định rất cụ thể tại điều 18 Công ước của Liên Hợp quốc về quyền miễn trừ quốc gia:

“Không có biện pháp cưỡng chế nào trước khi xét xử được thực hiện như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”

1.4 Quyền miễn trừ về thi hành án

Cũng như các quyền miễn trừ khác quyền này là quyền miễn trừ đối với biện pháp cưỡng chế để thi hành một quyết định của tòa án Căn cứ của quyền này nằm tại điều

19 khi mà: “ Không có biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án được phép áp dụng đối với quốc gia như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia…”

Tuy vậy, quyền miễn trừ của chủ thể là quốc gia có thể mang tính tương đối bởi không phải trường hợp nào cũng đặt ra quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia Tính chất của các quan hệ dân sự là thỏa thuận và bình đẳng, để tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển, bảo đảm quyền và lợi ích của các đương sự khi tham gia vào mối quan hệ tư pháp quốc tế, hệ thống pháp luật trên thế giới đều quy định trường hợp ngoại lệ khi tham gia vào hệ thống tư pháp quốc tế, các quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp Ngay cả công ước của Liên Hợp quốc về quyền miễn trừ quốc gia đã quy định rõ một số lĩnh vực nhất định mà quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia

Trang 5

sẽ không được viện dẫn Đó là tại điều 10 của công ước đã quy định: “ Nếu quốc gia tham gia giao dịch thương mại với một cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế, thuộc thẩm quyền của tòa án một quốc gia khác, thì quốc gia không được viễn dẫn quyền miễn trừ đối với các vụ kiện phát sinh từ các giao dịch đó” Trường hợp này thì công ước cũng quy định không áp dụng với các giao dịch thương mại giữa các quốc gia với nhau hoặc khi tham gia giao dịch thương mại đó các bên đã có các thỏa thuận khác Để tránh trường hợp mất công bằng khi các doanh nghiệp có yếu tố nhà nước tham gia quan hệ tư pháp quốc tế thì tại khoản 3 điều

10 của Công ước các doanh nghiệp nhà nước khi mua, sở hữu, hoặc định đoạt tài sản bao gồm cả tài sản mà nhà nước cho phép doanh nghiệp sử dụng và quản lý thì quyền miễn trừ được hưởng từ nhà nước sẽ không được áp dụng Rõ ràng đây là một tư duy rất mới mẻ, đúng đắn trong sự phát triển của nền kinh tế đa thành phần như hiện nay

2 Quyền miễn trừ của quốc gia trong hệ thống pháp luật của quốc gia

2.1 Quyền miễn trừ quốc gia trong hệ thống pháp luật tư pháp quốc tế của các nước trên thế giới

Để tương đồng các quy định của luật quốc gia với các quy định trong công ước quốc

tế về quyền miễn trừ của chủ thể là các quốc gia, các quy định về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nước ngoài được ghi nhận khá phổ biến và chi tiết trong các hệ thống pháp luật trên thế giới Một số nước ban hành văn bản Luật miễn trừ tư pháp dành cho quốc gia nước ngoài Điển hình trong số này như Luật miễn trừ quốc gia dành cho quốc gia nước ngoài của Hoa Kỳ năm 1976, của Anh năm 1978, Singapore năm 1979, Canada năm 1982, Australia năm 1985 Dù là các văn bản được ban hành bởi những quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung quyền miễn trừ trong các văn bản này đều quy định một nguyên tắc cơ bản đó là quốc gia nước ngoài được quyền miễn trừ đối với thẩm quyền của tòa án của quốc gia sở tại Ngoài những quyền miễn trừ cơ bản, luật của các nước này cũng không quên ghi nhận quy định các trường hợp loại trừ quyền miễn trừ tư pháp quốc gia Đó là các trường hợp mà khi phát sinh các vụ kiện liên quan đến quốc gia, các quốc gia không được viện dẫn quyền miễn trừ tư pháp để

Trang 6

tạo nên sự bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của chủ thể là quốc gia với các chủ thể thông thường khác

Ngoài các quy phạm thông thường tồn tại trong hệ thống luật pháp của các quốc gia, các quy phạm thực chất thống nhất điều chỉnh quyền miễn trừ của quốc gia còn tồn tại

ở rất nhiều các hiệp định song phương cũng như đa phương Có thể phải kể đến ở đây

là công ước Brussels về thống nhất các quy định miễn trừ tàu thuyền nhà nước năm

1926, Công ước Vienna 1963 về quan hệ lãnh sự, Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao năm 1961…

2.2 Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam

Quá trình hội nhập của Việt Nam làm phát sinh rất nhiều quan hệ tư pháp quốc tế, trong đó chủ thể là các quốc gia nước ngoài tham gia vào quan hệ này cũng ngày càng nhiều Trong xu thế đó, pháp luật của Việt Nam phải có sự thích nghi và thay đổi theo

xu thế chung của toàn thế giới Do sự khác biệt về điều kiện kinh tế, xã hội, nhận thức của Việt Nam và các quốc gia nên phạm vi và mức độ của quyền miễn trừ tư pháp cũng như việc thực hiện quyền miễn trừ tư pháp ở nước ta cũng có sự khác biệt đáng

kể so với các nước khác trên thế giới

Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm riêng nào quy định về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia nước ngoài Tuy nhiên, tinh thần tôn trọng và nguyên tắc tôn trọng quyền này của các quốc gia được ghi nhận khá rõ tại khoản 4, điều 2 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 đó là: “ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao.” Quy định này thực chất

là việc ghi nhận quyền miễn trừ tư pháp của các quốc gia nước ngoài được tôn trọng

và đảm bảo tại Việt Nam Ngoài quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự thì tại công ước Viên 1961 và 1963 Việt Nam tham gia cũng quy định vấn đề miễn trừ với nhân viên

Trang 7

ngoại giao và nhân viên lãnh sự Điều này góp phần tạo điều kiện để các nhân viên nước ngoài yên tâm làm việc, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam

Cũng như hệ thống của nhiều nước trên thế giới quy định về vai trò của nhà nước mình trong một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tại điều 97 Bộ luật dân sự 2015 chúng ta quy định “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thế khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại điều 99 và điều 100 của Bộ luật này.” Như vậy có thể thấy chúng ta cũng chủ động nhằm xây dựng một vị thế công bằng cho các cá nhân tổ chức nước ngoài khi tham gia vào mối quan hệ dân sự

có chủ thể là các cơ quan nhà nước Việt Nam để từ đó tạo sự yên tâm làm việc, đóng góp của họ trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước

Tại điều 99 Bộ luật Dân sự 2015 luật đã quy định rất rõ trách nhiệm, nghĩa vụ dân sự như những chủ thể thông thường khi tham gia vào một quan hệ dân sự đó là:

“1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… liên quan có quy định khác.” Với điều 100 Bộ luật Dân sự 2015 thì vai trò của nhà nước Việt Nam khi tham gia với tư cách là một chủ thể như những chủ thể thông thường khác trong quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài càng được biểu hiện rõ:

“1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, …tương tự khoản 1 Điều này.” Như vậy, bất cứ nhà nước nào khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế đều được nhà nước Việt Nam thừa nhận và tôn trọng quyền miễn trừ của mình

Theo cách quy định của các văn bản pháp luật hiện hành thì quyền miễn trừ này chỉ đặt ra với tài sản do nhà nước là chủ sở hữu và quản lý trực tiếp Đó là tài sản được quy định theo điều 197 Bộ luật dân sự như: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý Còn các tài sản ở nước ngoài thì theo nghị định 23/2010/NĐ-CP sẽ bao gồm: tài sản là đất, trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp, nhà ở,

Trang 8

tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện, trao đổi theo hiệp định giữa chính phủ Việt Nam và nước sở tại, bất động sản thuê… Các tài sản cũng có thể là các tài sản Nhà nước Việt Nam được kế thừa, viện trợ, tặng cho

Việc quy định về quyền miễn trừ của quốc gia trong hệ thống pháp luật nước ta nhìn chung rất phù hợp và được nhiều học giả, bạn bè quốc tế ủng hộ đánh giá cao Những quy định này vừa thể hiện sự tiếp thu, hòa nhập với hệ thống pháp luật quốc tế, vừa là cam kết thực hiện đúng theo tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về quyền miễn trừ quốc gia

3 Thực tiễn áp dụng quyền miễn trừ quốc gia trong các quan hệ tư pháp quốc tế

- Trong quá khứ cũng như hiện tại chúng ta dễ dàng nhận ra, việc tôn trọng và đảm bảo quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế hoàn toàn do sự lập luận, ý chí chủ quan của các quốc gia chứ không tồn tại một khuôn khổ pháp lý nhất định đủ mạnh và chặt chẽ để đảm bảo các quốc gia thực hiện các nguyên tắc này Thường thì quyền miễn trừ quốc gia được thực hiện nghiêm túc, khách quan hay không lại dựa vào quan điểm và sự chi phối không thể thiếu của nguyên tắc trong quan hệ quốc tế là

có đi có lại Thực tế cũng chỉ ra, các nước là đồng minh hay có quan hệ gắn bó với nhau thì việc áp dụng quyền miễn trừ sẽ được ưu tiên và đảm bảo thực hiện

Ví dụ vụ kiện lao động giữa Clerget một công dân Pháp và Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước đây là điển hình của điều đó Clerget là công dân của Pháp đã giữ chức vụ Tổng giám đốc Công ty than Hòn Gai tại Pháp.Sau đó, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã huỷ bỏ hợp đồng lao động với Clerget Clerget dã khởi kiện Đại diện thương mại của Việt Nam có trụ sở tại quận 16 của Paris ra Toà Lao động Paris (Conseil de Prud’hommes) Đại diện thương mại của Việt Nam cho rằng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền miễn trừ tư pháp và không tham gia vào vụ kiện Toà lao động Paris khi đó đã xét xử vắng mặt vào ngày 03 tháng 5 năm 1965 và trên cơ sở các tình tiết của vụ kiện đã ra phán quyết yêu cầu Phái đoàn thương mại của

Trang 9

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải trả cho Clerget tổng số tiền là 74,123 france gồm có tiền lương và tiền bồi thường thiệt hại

Sau khi có phán quyết của Toà lao động Paris, Clerget đã gửi lệnh của toà án yêu cầu Ngân hàng thương mại Bắc Âu thực thi phán quyết của toà án đối với số tiền được gửi tại ngân hàng dưới tên chủ tài khoản là Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tài khoản của phái đoàn thương mại của Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Paris và phái đoàn của nước này tại Paris và Ngân hàng thương mại của Việt Nam ở nước ngoài Clerget đã kháng cáo tới Toà phúc thẩm Paris và Toà Phá án Pháp yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành đối với tài sản gửi tại Ngân hàng thương mại Bắc Âu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nhưng đều bị bác đơn kháng cáo Các toà

án của Pháp đã lập luận rằng: “Dù Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa chính thức được chính phủ Pháp công nhận, nhưng sự tồn tại của nó với tư cách là một quốc gia là không thể chối cãi và vì vậy quốc gia này được hường quyền miễn trừ quốc gia” Trong vụ kiện này, “Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà không được hưởng quyền miễn trừ xét xử do hợp đồng đang tranh chấp là hợp đồng mang các đặc điểm của luật

tư và không phải là hoạt động mang tính chất chủ quyền quốc gia” Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải bị huỷ bỏ do một quốc gia được hưởng quyền miễn trừ thi hành tuyệt đối Toà tư pháp tối cao của Pháp cũng cho rằng “các tài sản của Việt Nam dân chủ cộng hoà không xác định xuất xứ và mục đích đều không thể là đối tượng của các biện pháp tịch biên” kể cả trong trường hợp tài sản đó chỉ được sử dụng

“nhằm thanh toán các khoản nợ pháp sinh từ các hoạt động mang tính chất thương mại”

- Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia mang ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện trong nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và tôn trọng chủ quyền của các quốc gia Hầu hết các quốc gia đều thừa nhận quyền miễn trừ này Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội mà các quốc gia sẽ có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng được nhu cầu hội nhập Một số quốc gia vì để đảm bảo lợi ích của công dân, tổ chức của mình một cách thái quá mà đã phớt lờ đi quyền này với các

Trang 10

quốc gia khác, gây ra những căng thẳng không đáng có trong quan hệ ngoại giao quốc

tế, làm ảnh hưởng đến quá trình hợp tác, phát triển kinh tế

Ví dụ về vụ việc tàu Sài Gòn bị bắt giữ ở Tanzania là điển hình cho việc này Năm

1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua 6.000 tấn gạo của Công

ty Thanh Hòa ở Tiền Giang Sau đó, Công ty Thanh Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên Nhưng con tàu mà Công ty Thanh Hòa thuê lại là một con tàu

“ma”, trên đường chở gạo đã trốn bặt tăm Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm Bốn năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số

nợ năm 1999 Ngày 22/7/2005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed Enterprises và tiền lãi phát sinh Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị đơn thứ

12 của vụ án Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước Việt Nam trong trường hợp này không tuyệt đối vì Chính phủ Việt Nam đã tham gia tích cực vào các giai đoạn của việc thực hiện hợp đồng Vì vậy, Chính phủ Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ xét xử

- Một thực tế nữa cũng đang tồn tại là hiện nay trên thế giới vẫn còn rất nhiều mâu thuẫn và cách áp dụng khác nhau của quyền miễn trừ tuyệt đối và miễn trừ tương đối Việc thừa nhận một cách cứng nhắc quyền miễn trừ tuyệt đối của nhà nước nước ngoài

ở Việt Nam nói chung cũng như các nước chấp nhận quyền miễn trừ tuyệt đối này chỉ làm thiệt hại nước đó vì chắc chắn trong quy định của pháp luật nhiều quốc gia chỉ dành cho nhà nước Việt Nam và những nước chấp nhận quyền miễn trừ tuyệt đối này quyền miễn trừ tương đối tại quốc gia đó Chính vì vậy, trong điều kiện giao lưu kinh

tế thương mại hiện nay cũng như cùng với sự phát triển của tư pháp quốc tế hiện đại, nên chấp nhận thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia khi tham gia vào các

Ngày đăng: 27/06/2021, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w