Pham Ngoc Tram University of Social Sciences and Humanities – National University Ho Chi Minh City Tĩm tắt Vùng biển đảo Bà Rịa - Vũng Tàu là một khu vực phát triển rất năng động, từ đầ
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 5(30) - Tháng 7/2015
Quản lí và khai thác biển đảo Bà Rịa – Vũng Tàu
nửa đầu thế kỉ XIX
Management and exploitation of Ba Ria – Vung Tau
islands in the early XIX century
TS Phạm Ngọc Trâm Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM
Ph.D Pham Ngoc Tram University of Social Sciences and Humanities – National University Ho Chi Minh City
Tĩm tắt
Vùng biển đảo Bà Rịa - Vũng Tàu là một khu vực phát triển rất năng động, từ đầu thế kỷ XIX tàu thuyền nước ngồi ra vào bán buơn nhộn nhịp, triều đình nhà Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách bảo
vệ chủ quyền, gắn chặt với việc phát triển các ngành kinh tế biển như xây dựng đồn bĩt, pháo đài, tăng cường quân số, khí giới, tuần tra ở những khu vực xung yếu, trên dọc tuyến biển Bà Rịa – Vũng Tàu và Cơn Đảo
Bằng phương pháp lịch sử, bài viết dựng lại bức tranh lịch sử khá sinh động quá trình quản lí, bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển ở Bà Rịa – Vũng Tàu trong nửa đầu thế kỉ XIX
Từ khĩa: Bà Rịa – Vũng Tàu, Cơn Đảo, biển đảo Việt Nam, quản lí và khai thác biển đảo, chủ quyền
biển đảo…
Abstract
Coastal islands Ba Ria - Vung Tau is an actively developing area In the early nineteenth century, foreign vessels arrived here to buy and sell goods; the Nguyen court had implemented many policies to protect territorial sovereignty tied to the development of economic sectors such as building commercial ports, fortress, strengthening troops, patrolling in the critical areas, offshore and onshore the Ba Ria, Vung Tau and Con Dao
By historical method, this article reconstructs the process of managing and protecting territorial sovereignty and developing sea economy of Ba Ria - Vung Tau in the first half of the nineteenth century
Keywords: Ba Ria - Vung Tau, Con Dao, Vietnam Sea Island, management and exploitation of the sea
and islands, maritime sovereignty…
1 Đặt vấn đề
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cĩ bờ biển dài
305,4 km, diện tích vùng thềm lục địa
100.000 km2 và cĩ tuyến biên giới biển,
đảo gồm 82 xã, phường, thị trấn thuộc 6
huyện, 2 thành phố là nơi cĩ tiềm năng
lớn của đất nước với các mỏ dầu thuộc bồn trũng Cửu Long, Nam Cơn Sơn ở thềm lục địa; và nhiều tiềm năng về hải sản, du lịch, vận tải biển
Vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu được người Việt khai phá từ thế kỉ XVII, là một
Trang 2địa bàn phát triển rất năng động, tàu thuyền
nước ngoài ra vào, bán buôn nhộn nhịp
Đầu thế kỉ XIX Trịnh Hoài Đức đã phác
họa hình ảnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay:
“Bà Rịa ấy là nơi địa đầu giới trấn Biên
Hòa là đất danh tiếng cho nên các phủ miền
Bắc có ngạn ngữ rằng Cơm Nai Rịa, Cá Rí
Rang, là vì lấy Đồng Nai, Bà Rịa làm
đầu… Đất ấy dựa lưng vào núi, mặt nhìn ra
biển, rừng rậm tre dài, ở trên có trường tuần
để với gọi những người Man, Mạch (dân
tộc ít người) đến đổi chác, ở dưới có cửa
bến, để xét hỏi ghe thuyền, trạm thủy, trạm
bộ giao tiếp nhau”[2; tr.31]
Chính do vị thế quan trọng của Bà Rịa
– Vũng Tàu, nên từ đầu thế kỉ XIX triều
Nguyễn đã thực thi nhiều chính sách quản
lí và khai thác biển đảo nhằm bảo vệ vững
chắc chủ quyền biển đảo phía Nam của đất
nước, đồng thời thực hiện tốt việc khai thác
kinh tế biển, ổn định đời sống cộng đồng
cư dân ven biển
2 Những chính sách và hoạt động
quản lí vùng biển đảo Bà Rịa – Vũng Tàu
nửa đầu thế kỉ XIX
Từ thế kỉ XVII vùng đất Đông Nam
Bộ, bao gồm cả Bà Rịa – Vũng Tàu đã
được chính quyền phong kiến Việt Nam
lúc bấy giờ sáp nhập vào lãnh thổ Đàng
Trong Nơi đây là vùng đất địa đầu Nam
bộ, nơi tiếp nhận và trung chuyển lưu dân
từ các nơi khác nhau đến khai hoang và lập
nghiệp Từ năm 1832 dưới thời vua Minh
Mệnh, trên địa bàn Nam Bộ được chia
thành 6 tỉnh (Lục tỉnh), vùng đất Bà Rịa –
Vũng Tàu ngày nay thuộc tỉnh Biên Hòa
Nhận xét về vị thế trọng yếu của Bà
Rịa – Vũng Tàu vào đầu thế kỉ XIX tác
phẩm Địa chí Bà Rịa – Vũng Tàu đã viết
rất hay: “Đây là khu vực có nhiều cửa
quan hiểm yếu, về phía núi có trường tuần
– vừa là trạm kiểm soát, vừa là nơi trao đổi
hàng hóa với các dân tộc thiểu số – về phía
biển có cửa bến để xét hỏi ghe thuyền ra
vào Đầu đời Gia Long, con đường thiên lý Bắc – Nam từ Gia Định đến Phú Xuân chạy ngang qua huyện Phước An đã thông suốt, tạo nên một sự giao lưu kinh tế, văn hóa thuận lợi giữa miền ngoài với miền trong Chợ Bến, cũng được gọi là chợ Long Thành được Trịnh Hoài Đức đánh giá là
chợ to nhất ở nơi bểm chằm thời ấy; chợ
nằm bên cạnh đường thiên lý và ở nơi đầu con rạch thông ra cửa sông Lấp, nơi tụ họp thuyền buôn tứ xứ, kể cả Trung Hoa, Chân Lạp”[13; tr.27]
Đầu thế kỉ XIX, khi quan hệ trong khu vực có nhiều biến động và trước sự đe dọa xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây nhà Nguyễn đã thi hành các chính sách cứng rắn để bảo vệ chủ quyền biển đảo, cho xây dựng hệ thống thành và bảo trấn
để bảo vệ lãnh thổ Lực lượng quân đội được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địa phương Trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền của lực lượng quân đội được quy định chặt chẽ trong Luật Gia Long - 1812
Trên dọc tuyến biển Bà Rịa – Vũng Tàu lúc bấy giờ triều Nguyễn tiến hành xây dựng hệ thống đồn lũy phòng thủ ven biển,
đảo; đặt các thủ, bảo như những tiền đồn
canh phòng đặt nơi hiếm yếu, có một số binh lính túc trực (nhiều hay ít tùy theo
từng nơi) do một Thủ ngữ hay một Thừa
biện phụ trách Những năm 1802 - 1820
triều đình đặt thủ Vũng Tàu, thủ Tắc Khái, (Cửa Lấp), thủ Long Hương – thuộc trấn Biên Hòa Năm 1814 thủ Vũng Tàu đổi thành thủ Phước Thắng; năm 1842 đổi thành bảo Phước Thắng [8; tr.65] “Bảo Phước Thắng (cũng gọi là pháo đài Phước Thắng) tồn tại cho đến khi chiến thuyền Pháp – Tây Ban Nha mở cuộc tiến công
Trang 3quy mô vào ngày 10-2-1859, phá hủy hoàn
toàn”[13; tr.115]
Đối với Côn Đảo, do nằm trên tuyến
đường hàng hải quốc tế nên từ rất sớm đã
được nhiều quốc gia chú ý, đặc biệt là
trong giai đoạn phát triển thương mại hàng
hải trên biển Đông vào các thế kỉ XVI,
XVII, XVIII Bước sang thế kỉ XIX, với vị
trí đặc biệt quan trọng của mình, Côn Đảo
tiếp tục là địa điểm thu hút sự chú ý của
các nước trong khu vực và các đế quốc
phương Tây nhiều đoàn thương thuyền đến
thăm dò, khảo sát khai thác tài nguyên –
trong số đó những đoàn thuyền mà sử sách
triều Nguyễn hay gọi là giặc biển
Hơn ai hết vua Gia Long – tức là Chúa
Nguyễn Ánh – nhận thức rất rõ vị thế trọng
yếu của Côn Đảo nên khi thống nhất đất
nước nhà vua vẫn duy trì truyền thống bảo
vệ chủ quyền các vùng biển và hải đảo
được thực hiện tốt từ thời các chúa
Nguyễn, kiên quyết đánh dẹp các thế thực
có mưu đồ xâm hại đến chủ quyền và an
ninh biển đảo của đất nước Năm 1805,
“Giặc biển Chà Và cướp bóc ở ngoài biển,
dân Côn Lôn bị hại Quan canh giữ xin hạ
lệnh cho các thuyền công và thuyền tư đều
được sửa sang khí giới để phòng bị Vua y
cho”[9; tr 634]
Như vậy, sau khi lên ngôi Gia Long đã
hạ lệnh cho các thuyền công và thuyền tư
đều được sửa sang khí giới để phòng bị,
tăng cường hệ thống phòng bị trên đảo
nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo và bảo vệ
cuộc sống, hoạt động khai thác hải sản của
người dân trên vùng biển Côn Đảo
Sau thời Gia Long, Minh Mạng lên
ngôi tiếp tục kế thừa ý chí và khát vọng
bảo vệ chủ quyền biển đảo của vua cha,
tăng cường hệ thống quản lí và thực thi chủ
quyền ở Côn Đảo Đây cũng là thời kì giặc
biển thường xuyên quấy phá hoạt động
khai thác của cộng đồng cư dân ven biển phía Nam, tực tiếp đe dọa chủ quyền biển đảo ở Côn Đảo và vùng ven biển nước ta
Sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán
triều Nguyễn phản ánh, năm 1832, trên vùng biển phía Nam “giặc biển Chà Và lén lút nổi lên cướp bóc bắt người đem đi Quan Trấn thủ Lê Văn Nghĩa thân đem binh thuyền đuổi bắt Việc đến tai vua, vua lại sai Trấn thủ Biên Hòa là Phạm Hữu Tâm, thự Trấn thủ Phiên An là Trần Hữu Thăng, đều đem binh thuyền hội tiễu Giặc liền ra đảo Côn Lôn thuộc Phiên An, đón cướp các thuyền buôn, lại lên bờ đốt nhà, cướp của… Nhân đó vua dụ: Côn Lôn thủ
và Hà Tiên, Phú Quốc thủ đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường
có giặc biển ẩn hiện Liền truyền dụ cho quan thành chọn đất 2 chỗ thủ ấy, xây đặt pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ Những cư dân cũng cấp cho khí giới để cùng phòng giữ Lại chuyển sức cho 5 trấn trong thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh bắt”[10; tr.384]
Đoạn dụ nêu trên của vua Minh Mạng
thể hiện sự đánh giá của triều đình đối với tình hình bảo vệ chủ quyền biển đảo đất nước nói chung, ở Vũng Tàu – Côn Đảo nói riêng trong những năm đầu thế kỉ XIX, thời kỳ hưng thịnh nhất của vương triều Nguyễn Do đó, triều đình tăng cường
phòng bị xây đặt pháo đài, liệu cấp súng
đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh bắt nhằm ngăn chặn
nạn giặc biển đang trực tiếp đe dọa cuộc
sống và hoạt động đánh bắt, khai thác hải
Trang 4sản của cộng đồng dân cư biển, đảo khu
vực này
Từ năm 1833 đến năm 1837 triều đình
tăng cường củng cố hoạt động quản lý, bảo
vệ chủ quyền biển đảo bằng cánh gia tăng
kiểm soát các tàu thuyền đi qua vùng biển
đảo, tăng cường quân số cho Côn Đảo,
củng cố bộ máy hành chính Triều đình cho
xây dựng một khu đồn trú và một pháo đài
khá kiên cố ở Côn Đảo: “Bốn mặt đồn bảo
đều dài 12 trượng, cao 5 thước, chân rộng
6 thước 3 tấc Đằng trước và đằng sau đều
mở một cửa Pháo đài xây ở phía Nam đồn
bảo Sai quản tỉnh vát lính và thuê dân tất
cả 500 người để làm việc” Triều đình cho
sắp đặt lại quân hiệu, “Quân đóng ở Côn
Lôn thuộc Gia Định 6 người, trước gọi là
đồn An Hải, nay đổi làm quân đồn Côn
Lôn”[11; tr.538] Vua Minh Mạng còn
chuẩn y cho lời tâu của Bộ Binh, đưa quân
ra Côn Đảo vừa làm nhiệm vụ canh gác,
tuần tra, vừa để khai khẩn đất hoang và sản
xuất lương thực: “phái một xuất đội và 50
lính thuộc tỉnh, cấp cho thuyền và khí giới
đến đóng giữ, mỗi năm thay phiên một lần
Tiền và lương thì dự trữ đủ chi dùng trong
một năm” Đó là một chính sách nhất cử
lưỡng tiện vì nơi đây còn có nhiều đất
hoang, có thể khai hoang để trồng trọt
trong những lúc rảnh rỗi việc quân - vẫn
theo lời tâu - “Như thế, có lính để phòng
thủ, có ruộng để cày cấy, giặc biển không
dám lại đến, thuyền buôn ngày một đông
nhiều, sau vài năm tất thành một nơi vui
vẻ, mà việc phòng giữ mặt biển sẽ bền
vững được”[12; tr.872 - 873]
Bước sang năm 1840, triều đình tiếp
tục ban hành chính sách phòng thủ tại
những nơi xung yếu, trong đó có Côn Đảo
để bảo vệ chủ quyền biển đảo: “Kể ra, biết
tự trị thì mạnh, có phòng bị thì không lo
Nay cửa biển Đà Nẵng ở Quảng Nam, đã
đặt thêm pháo đài phòng Hải; cửa biển Thị Nại ở Bình Định lại mới xây pháo đài Hổ
Cơ, để giữ chỗ hiểm yếu; còn đảo Côn Lôn
ở Vĩnh Long, đảo Phú Quốc ở Hà Tiên, đều có đặt đồn bảo chia phái lính thú tuần phòng, để răn ngừa sự bất trắc Như thế, ta ngăn giữ bờ biển đã có cái thế, làm cho kẻ xấu đáng sợ mà không thể xâm phạm được Việc võ bị mà chỉnh đốn, thì người ngoài trông thấy cũng tiêu tan lòng tà Không chỉ người Tây dương cách trở xa xôi, không dám nhằm thẳng vào nước ta, mà nước mạnh láng giềng tiếp giáp cõi đất, cũng không dám manh tâm dòm ngó nữa” [12; tr.199]
Do vị trí đắc địa của mình nên Côn Đảo thường xuyên bị giặc biển nhòm ngó
Cho nên, khi quan binh canh phòng Côn
Đảo lơ là lập tức bị giặc biển cướp phá,
tiêu biểu như sự kiện năm 1851 “Mười chiếc thuyền của giặc biển đến cướp bảo Côn Lôn Bọn tấn thủ coi bảo ấy có lỗi về canh phòng sơ suất đều bị giáng chức Rồi sai tỉnh thần phái lính đến cùng biền binh ở bảo ấy đàn áp Truyền Chỉ cho Kinh lược
sứ Nam Kỳ là bọn Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản tùy tiện mà điều khiển” [12; tr.199]
Những sự kiện diễn ra từ nửa đầu thế
kỉ XIX chứng tỏ triều Nguyễn rất coi trọng việc quản lí, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở
Bà Rịa, Vũng Tàu và Côn Đảo, kiên quyết ngăn chặn các thế lực nước ngoài, kể cả
giặc biển xâm phạm chủ quyền biển đảo
Sau mỗi lần thực hiện thành công việc bảo
vệ chủ quyền biển đảo triều đình đều có ban thưởng hậu hĩ và ngược lại nếu quan binh lơ là thì xử phạt rất nghiêm minh
“Bọn tấn thủ coi bảo ấy có lỗi về canh phòng sơ suất đều bị giáng chức” Triều đình thường xuyên củng cố lực lượng, tăng cường trang bị vũ khí, phương tiện cho
Trang 5việc quản lí, bảo vệ chủ quyền biển đảo
3 Phát triển các ngành kinh tế biển ở
Bà Rịa - Vũng Tàu nửa đầu thế kỉ XIX
Hoạt động vận tải đường thủy
Bà Rịa – Vũng Tàu có vị trí rất quan
trọng trong việc giao thông đường thủy, ở
một địa bàn mà mạng lưới sông ngòi, kênh
rach chằng chịt tiếp giáp với biển cả mênh
mông nên việc sử dụng ghe thuyền làm
phương tiện đi lại, vận chuyển hàng hóa rất
phổ biến trong những năm đầu thế kỉ XIX,
nhất là khi điều kiện đi lại và vận tải hàng
hóa bằng đường bộ và đường không còn
nhiều hạn chế Ghe thuyền ở Bà Rịa –
Vũng Tàu rất đa dạng, phong phú với
nhiều kiểu loại, tên gọi khác nhau
Trong nửa đầu thế kỉ XIX cộng đồng
cư dân ven sông, ven biển ở Bà Rịa – Vũng
Tàu đã tổ chức hoạt động vận tải đường
thủy để vận chuyển hàng hóa đi dọc bờ
biển hoặc buôn bán xa, dài ngày và sống
trên sông nước Những loại ghe dùng
để vận chuyển hàng hóa thường là những
chiếc ghe có kích thước lớn, sức chở nặng,
đi được đường dài Trong số đó, ghe bầu là
loại ghe lớn nhất, mũi và lái nhọn, bụng
phình to, có tải trọng tương đối lớn, chạy
buồm (từ 1 đến 3 buồm), lướt sóng tốt và
đi nhanh, có nhiều chèo để đi sông và đi
biển dài ngày thường dùng đi đường biển
Ghe bầu (Prau) bắt nguồn từ tiếng Mã Lai,
do người Việt trong quá trình Nam tiến tiếp
thu được của người Chăm Trong nửa đầu
thế kỉ XIX, hàng năm các lái buôn lớn ở Bà
Rịa, Vũng Tàu chở cá, nước mắm ngược
theo các dòng sông đi sâu vào miền lục
tỉnh, lên Campuchia để buôn bán Ghe bầu
là biểu trưng cho một cơ ngơi, một tài sản
to lớn của những nhà giàu có ven biển Bà
Rịa, Vũng Tàu, lúc bấy giờ
Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX hoạt
động vận tải đường thủy của người dân Bà
Rịa, Vũng Tàu khá phát triển, từ nơi thị tứ
đô hội cho đến chốn kinh cùng, từ đầu nguồn đến cuối bãi, nơi giáp nước, ngã ba sông, dọc ven biển… người ta dùng ghe thuyền đi mua bán, thu hoạch nông sản, đánh bắt tôm cá trên biển, trên sông cho đến đi thăm người quen, giỗ chạp, ma chay, cưới xin… Hoạt động vận tải đường thủy ở Bà Rịa – Vũng Tàu phản ánh tình phát triển kinh tế biển của cộng đồng cư dân ven sông, ven biển Bà Rịa, Vũng Tàu
Khai thác thủy hải sản
Biển đảo Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều điều kiện thuận lợi về địa hình, khí hậu, chế độ thủy triều, độ mặn… nên có khả năng phát triển việc đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản Từ lâu các ngành kinh tế này được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương
Đầu thế kỉ XIX đánh cá biển là một trong những nguồn thu chính của cộng đồng cư dân ở đây Cư dân nhiều làng Phước Tỉnh, Long Hải, Phước Hải, Lộc
An, Thuận Biên… chỉ sống bằng nghề chài lưới Người dân ở đây gắn bó với nghề này
vì nó đem lại thu nhập khá ổn định Một phần cá đánh bắt được tiêu thụ tại chỗ, hoặc đưa đến bán ở các chợ lân cận Thắng Tam, Thắng Nhứt và Phước Tỉnh cung cấp nguồn cá cho chợ Vũng Tàu; Lộc An và Phước Hải thì cung cấp cho chợ Phước Thọ và Long Điền Nhưng phần lớn số lượng cá đánh bắt được phơi khô để xuất đi nơi khác hay để làm nước mắm
Trong xã hội lúc bấy giờ, nghề cá được xem là nghề có thu nhập tương đối cao, đời sống của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu không đến nỗi quá khó khăn hay thiếu thốn
Về phương tiện và cách thức đánh bắt hải sản của ngư dân ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu hồi thế kỷ XIX chủ yếu đó là sử
dụng lưới rê, ngư dân Phước Hải sử dụng
Trang 6lưới rê, không có phao chì Người ta dùng
lưới để “rê” cá lại Phương pháp này chỉ thật
sự hiệu quả khi biển có nhiều cá gần bờ Bởi
vậy, ngư dân dùng lá dừa ủ thành từng
khóm trên biển Tôm cá tụ tập kiếm thức ăn,
ngư dân dùng lưới vây lại và kéo cá
Đánh cá bằng lưới rùng, người ta
dùng hai ghe xuất phát từ hai điểm khác
nhau, kéo lưới, chèo ra xa bờ Sau khi hai
ghe giáp mối nhau, người ta ghép hai đầu
lưới Ở trong bờ, từ hai bên, dân chài kéo
thu lưới Kiểu đánh lưới này thích hợp
trong khoảng 6 tháng, từ tháng 3 tới tháng
9 Thời gian đánh bắt bằng lưới rùng kéo
dài 6 tháng, thời gian còn lại trong năm
người ta thường đánh bắt bằng lưới rê
Ngoài ra, ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu
còn đánh bắt cá bằng lưới rút Lưới rút
(mành rút), thường đan bằng chỉ vải
khúng, phần sau cần chắc chắn hơn để giữ
cá nên thường đan bằng sợi gai, nhuộm
đen, phía sau cùng của lưới rút có cái đảy
Lưới rút có chiều dài tương đương chiều
rộng, khoảng 45 sải (gần 75m), phẩn đảy
dài 4-5 sải
Mành đăng, là lưới đăng nhưng đánh
cá gần bờ, trong lộng, có thể xê dịch vị trí
Giả cào, là hình thức đánh bắt khi ghe
đã dùng động cơ di chuyển Hiện nay khá
phổ biến Giả cào thường đơn (một chiếc
ghe) hoặc đôi Người ta dùng ghe kéo lưới
để “cào” thu cá vào lưới
Câu chạy, là cách câu bằng mồi lông
gà Ngư dân lấy lông gà nhỏ, mềm, dài từ
6-7 phân ở gần đuôi có màu trắng, vàng lợt
hoặc ửng hồng tùy theo thời tiết Người ta
gắn lưỡi câu vào lông gà và nối bằng dây
thau hay dây mi (sau này là dây cước) có
buộc chì và phao sao cho hơi nặng, thả cách
ghe chừng 50-60 thước Cho ghe chạy, lông
gà nổi trên mặt nước, cá thu, có bò tưởng cá
nhỏ chạy theo đớp và dính câu [7]
Nhìn chung, việc đánh bắt cá ngày xưa hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, ngư cụ thô sơ và đơn giản, thuyền nhỏ, lưới ngắn, nên chỉ có thể đánh bắt ven bờ hay trong lộng (vùng biển cách bờ không xa) Thuyền đánh cá thường ra biển vào ban đêm hay gần sáng, đến một hai giờ chiều thì theo gió và nước triều chạy về bến Thuyền đánh lưới hay câu ban đêm, thì sáng sớm vào bờ để kịp đưa sản phẩm ra chợ bán Với điều kiện tự nhiên thuận lợi,
từ đầu thế kỉ XIX Bà Rịa, Vũng Tàu đã trở thành một trong những trung tâm nghề cá lớn của Nam Bộ
Nghề đóng tàu thuyền
Song song với việc phát triển các làng
cá và nghề cá thì nghề đóng tàu thuyền ở
Bà Rịa – Vũng Tàu nửa đầu thế kỉ XIX khá hưng thịnh Nghề đóng thuyền ở đây vốn là nghề truyền thống của cộng đồng ngư dân miền Trung theo bước chân Nam tiến du nhập vào từ thế kỉ XVIII
Sở dĩ nghề đóng tàu thuyền ở Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển mạnh trong thế kỉ XIX
vì Vũng Tàu là một thương cảng lớn của
xứ Đàng Trong Từ thế kỷ XVIII khách buôn người Hoa, người Nhật, người Pháp
đã đến tấp nập Các thương thuyền của người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, Pháp, Anh cũng cập bến Vũng Tàu Ở Nam Bộ
có nhiều “lò” đóng ghe nổi tiếng (ghe Bình Đại, ghe Cần Đước, ghe Phú Quốc) trong
đó có ghe Bà Rịa Thế kỉ XIX ở Bà Rịa có các trại ghe chuyên đóng những ghe cửa lớn vận chuyển hàng hóa đi buôn với các tỉnh cực Nam Trung Bộ, nổi tiếng một thời Các trại ghe tập trung chủ yếu ở Bình Châu, Phước Bửu, Long Hải, Phước Lễ, Phước Tỉnh, Phước Hải, Vũng Tàu… Các làng đóng thuyền Bà Rịa, Vũng Tàu trở thành một trong những “cái nôi” lan tỏa tinh hoa đóng thuyền của xứ Nam Bộ “Do
Trang 7có nghề cá phát triển nên việc đóng những
chiếc tàu làm phương tiện để đánh bắt hải
sản cũng rất được chú trọng Từ ngày xưa,
kĩ thuật đóng tàu đã được những người thợ
ở đây tìm tòi, phát triển để có thể đóng
được những chiếc tàu chịu lực, chịu sóng
tốt và có thời gian sử dụng lâu bền Những
loại gỗ tốt, nhẹ, độ bền lâu, ít thấm nước…
như bô, xương gà, chò…
Để có thể ráp những tấm ván dày và
uốn theo kết cấu của thân tàu, người thợ
phải ép những thanh gỗ to bản và dài qua
lửa ở nhiệt độ cao Sau đó ghép với nhau
theo hình răng cưa rất chắc chắn… Nghề
đóng tàu đem lại việc làm quanh năm suốt
tháng.”[14]
Đan lưới
Đan lưới là nghề truyền thống ở Bà
Rịa, Vũng Tàu trực tiếp phục vụ nghề đánh
bất cá Nửa đầu thế kỷ XIX, nghề đan lưới
đánh bắt cá ở Bà Rịa - Vũng Tàu phát triển
hơn so với các tỉnh khác thuộc vùng Nam
Bộ Tuy nhiên nghề đan lưới đánh bắt cá ở
đây chỉ được xem là một nghề phụ
Thợ đan lưới tập trung ở các làng chài
ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu Trước đây
người thợ đan lưới tự tìm nguyên vật liệu
để quay xa, đan lưới thủ công Muốn đan
một tấm lưới thủ công, trước hết người thợ
gầy theo kích cỡ yêu cầu, theo một đầu dây
cước với dụng cụ đan gọi là ghim (bằng tre
hoặc bằng gỗ) Chọn cước và làm cử bằng
tre, sau đó là gầy lưới và đan theo số mét
đã định Sau khi đan xong là đến công
đoạn rắn (kéo) lưới, người ta treo lưới đã
đan và đổ nước sôi 90oC từ trên xuống, sau
đó rắn (kéo) 2 đầu cho thẳng, căng
Khoảng 10 phút sau đó, lưới được rãi xen
kẽ một đầu phao, một đầu chì Tiếp theo là
lượm (nhặt) lần lượt theo đầu phao, đầu chì
để thu gom cả tấm lưới
Nửa đầu thế kỷ XIX, chưa có máy
móc và lưới nhân tạo, người thợ đan lưới ở đây phải kì công mới tạo ra được một tấm lưới Để đan được thành tấm lưới phải nuôi tằm, lấy kén, kéo tơ và đánh thành chỉ rồi mới đan nên tấm lưới để phục vụ việc đánh bắt cá Nghề đan lưới bắt cá là một công việc rất công phu, đầy sự tỉ mỉ với từng sợi đan và rất mất thời gian Công việc chỉ dành cho những người có tính cần cù, kiên nhẫn nhất mới làm được
Tuy nghề đan lưới ở Bà Rịa - Vũng Tàu trong những năm đầu thế kỷ XIX không mang lại thu nhập cao nhưng người dân ở đây vẫn duy trì nghề, bởi có thể tận dụng được thời gian rảnh rỗi và người già, trẻ em đều có thể làm được Nghề đan lưới tuy không dãi nắng dầm mưa, nhưng phải chịu khó vì ngồi một chỗ suốt ngày Người lớn làm những công đoạn phức tạp, còn trẻ
em cũng có thể góp sức, như: căng dây, kéo sợi cước cho thẳng Sau bữa cơm tối,
cả nhà 3-4 người vừa chuyện trò vừa ngồi đan lưới lại có thêm thu nhập Tuy chỉ là nghề phụ, nhưng nếu người thợ khéo tay, chịu khó và khi đã quen việc thì thu nhập
từ việc đan lưới mang lại ổn định hơn so với làm nông nghiệp Điều thuận lợi nữa là công việc này làm quanh năm Mỗi tấm lưới sau khi đan hoàn chỉnh, người thợ được trả tiền công trung bình một người trong một ngày được 10 – 15 kg thóc Nghề đóng tàu thuyền và đan lưới ở
Bà Rịa, Vũng Tàu được hình thành cùng với quá trình lập làng với hàng trăm hộ làm nghề nghề đan lưới, chài, rọ tôm, rọ cá… Những nghề này đơn giản, dễ làm và có thể làm tranh thủ vào buổi tối và vào những lúc nông nhàn Từ những nghề phụ này đã góp phần quan trọng vào việc tăng thu nhập, cải thiện đời sống công đồng cư dân ven biển trong thời kỳ này
Làm muối
Trang 8Bà Rịa - Vũng Tàu có đường bờ biển
dài 114 km, là vùng biển có độ mặn nước
biển vào mùa khô (từ tháng 12 tới tháng 4
năm sau) lớn hơn 32o/oo Vào mùa mưa (từ
tháng 5 tới tháng 10) lượng nước ngọt của
các sông đổ ra biển mạnh xuất hiện hiện
tượng phân tầng nước rỏ rệt Lớp bề mặt có
độ muối thấp hơn 32o/oo, nồng độ muối ở
ven bờ giảm từ 5 – 8% so với mùa khô
Nhờ sự ưu đãi của tự nhiên, Bà Rịa
-Vũng Tàu là một trong những vùng có
nguồn nguyên liệu sản xuất muối vô tận
của Việt Nam Nghề làm muối ở Bà Rịa -
Vũng Tàu đã có lịch sử trên hai trăm năm;
tức hình thành từ cuối thế kỉ XVII đầu thế
kỉ XVIII, thời các Chúa Nguyễn cùng với
quá trình cộng đồng cư dân người Việt mở
đất về phương Nam Tính đến giữa thế kỉ
XIX diện tích ruộng muối ở Bà Rịa - Vũng
Tàu lên đến 371 ha [3; tr.90] Cuối thế kỉ
XIX diện tích ruộng muối ở Bà Rịa - Vũng
Tàu lên đến gần 600 ha [6; tr.54] Trong
đó, Long Thạnh có 200 ha, Long Điền 214
ha, Núi Nưa 26,5 ha, Phước Lễ 30,3 ha,
Phước Hội 47,6 ha, Phước Trinh 22,4 ha
Ruộng muối tập trung ở các xã An Ngãi,
Long Thạnh, Phước Diền, Phước Hội,
Phước Lễ, Phước Trinh, Long Sơn
Chế biến thủy hải sản
Nghề chế biến hải sản của cư dân
vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu trong
những năm đầu thế kỉ XIX khá phát
triển, vì đây là vùng biển có nguồn
nguyên liệu hải sản phong phú, lại nằm gần
các vùng nuôi trồng và đánh bắt hải sản lớn
nhất nước (Ninh Thuận - Bình Thuận,
Kiên Giang - Cà Mau)
Những năm đầu thế kỷ XIX Bà Rịa -
Vũng Tàu đã là xứ sở của các loại mắm
Từ mắm nêm, mắm ruốc, mắm ruốc, mắm
ồ, mắm mực, mắm ruột… đến các loại khô
mắm, khô mặn đặc biệt là mắm nước
thường được gọi là nước mắm hay mắm nhỉ Nước mắm làm từ cá sống, cá khô; hoặc từ cả các loại sò hến, tôm cua Một số loại nước mắm được làm từ cá nguyên con, một số khác thì chỉ được từ tiết hay nội tạng cá Một số loại nước mắm chỉ có cá và muối, một số khác có thể có thêm dược thảo và gia vị Nước mắm lên men ngắn ngày có mùi tanh đặc trưng của cá Quá trình lên men dài ngày sẽ giảm được mùi tanh và tạo ra hương vị mùi quả hạch và béo hơn
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, các vùng miền duyên hải đều làm nước mắm Nước mắm thường chủ yếu làm từ các loại cá biển (cá cơm, cá thu, cá nục v.v.) và rút chiết ra dưới dạng nước Tùy theo độ đạm trong nước mắm mà người ta phân cấp độ (nước mắm cốt, nước mắm loại 1, nước mắm loại 2) Chén nước mắm dùng chung giữa mâm cơm được coi là nét đặc trưng cho văn hoá chia sẻ trong ẩm thực Việt Nam
Mắm ruốc Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành món truyền thống Từ đầu thế kỷ XIX, nghề đánh bắt và làm mắm ruốc đã phát triển Ngư dân đánh bắt bằng mành ruốc Ruốc ở đây sạch tinh, không bị pha tạp rác rưởi hay đổ xuống lẫn cát như trong
bờ Ruốc thường được dùng để làm mắm Mắm ruốc được làm nhiều ở Tam Thắng, Bến Đình, Rạch Dừa Ruốc chủ yếu được phơi khô và làm mắm
Bên cạnh nghề làm muối và chế biến mắm, Bà Rịa - Vũng Tàu còn được nhiều người biết đến với các nghề chế biến cá khô, lột ghẹ, lột tôm, tôm khô, ruốc khô… góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm cho lao động và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động tại địa phương
4 Hoạt động kinh tế biển ở Côn Đảo đầu thế kỷ XIX
Hoạt động kinh tế biển ở Côn Đảo đầu
Trang 9thế kỷ XIX được Trịnh Hoài Đức phản ánh
như sau: “Ở giữa biển Đông, từ cửa cảng
Cần Giờ chạy ghe về hướng mặt trời mọc
đi xuống phía đông hai ngày đêm mới đến
Đảo lớn 100 dặm có ruộng núi trồng lúa,
bắp, khoai, đậu nhưng không nhiều, thường
mua gạo ở Gia Định để bổ túc Thổ sản là
ngựa và trâu, không có hùm beo… Quân
lính ở đây, thường lấy yến sào, đồi mồi, ba
ba, quế nắm, ốc tai tượng, theo thời tiết
dâng nộp, còn sinh kế thì nhờ ở hải sản: cá,
tôm, quả cau to lớn vỏ hồng, khí vị ngon
thơm, thường đến mùa Xuân nhân cau ở
Gia Định chưa kết quả mà cau ở đảo đã
dùng được, chở vào đổi bán, được giá rất
cao”[2; tr.49]
Quốc sử quán triều Nguyễn viết về
Côn Đảo: “Trên đảo có ruộng có thể trồng
lúa đậu Thổ sản có trâu ngựa, không có
hùm beo Dân cư thì có dân thôn An Hải,
biên chế thành đội Thanh Hải, ở đấy giữ
đất không được dời đi nơi khác; hàng năm
đi lấy yến sào, ốc tai voi, đồi mồi, con
vích, dây mây để nộp Giữa đảo rất nhiều
cỏ tốt”.[8; tr.153]
Nhằm phát huy chính sách tự trị, hàng
năm triều đình còn tổ chức cho binh lính ra
khai thác tài nguyên, sản vật ở Côn Đảo
Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), khai thác
tổ yến ở đảo Côn Lôn: “ tỉnh Gia Định
phái bắt binh thuyền đưa đến đảo Côn Lôn
cùng với lính đồn đi lấy tổ yến ”
[1; tr.231] Năm Kỷ Hợi, đời vua Minh
Mạng thứ 20 (1839), đưa binh lính đến đảo
Côn Lôn, Phú Quốc tìm lượm sản vật, tổ
yến, trầm hương: “Phái viên là Ngự sử
Trần Thiện thấy Yến hộ binh đi lấy tổ yến
ở đảo Côn Lôn , chuẩn cho các nơi sản ra
tổ yến, hàng năm bắt binh lính ở đảo đi
kiếm về nộp, nếu dám ẩn giấu thì trị tội
[1; tr.231]
Bên cạnh đó, để tổ chức lực lượng để
thực thi chủ quyền biển đảo theo tinh thần
tự trị triều đình còn vận dụng chính sách
“ngụ binh ư nông” vào việc sử dụng binh lính khai phá đất đai ở những khu vực gần nơi đóng quân để tự canh tác nuôi quân và
mộ dân, tổ chức tập trung như hình thức trại lính để lập đồn điền khẩn hoang Những người này họ vừa là lính vừa là dân nên được gọi là dân binh Nhiệm vụ của dân binh ở Côn Đảo chính là bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhưng để tự trị lâu dài thì phải sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, khai thác hải sản phục vụ cuộc sống theo lối tự cung tự cấp Năm Minh Mạng năm thứ 21 (1840), xuống tiếp tục ban Dụ thúc đẩy việc sản xuất và bảo vệ chủ quyền ở Côn Đảo: “đảo Côn Lôn thuộc tỉnh Vĩnh Long, đất rộng và tốt, có thể cày cấy trồng trọt được, mà dân cư còn thưa, đã xuống Dụ cho biền binh đóng giữ ở đảo ấy ngày thường không có việc gì, phải đem sức khai khẩn ”[12; tr.138] Theo chính sử triều Nguyễn cũng trong năm 1840, Minh Mạng gửi Dụ chỉ đạo đốc thúc biền binh trú đóng ở Côn Lôn ra sức khẩn ruộng hoang để tự túc lấy lương thực
Chính sách đẩy mạnh sản xuất tự cấp
tự túc của vua Minh Mạng đối với Côn Đảo đã có nhiều ý nghĩa quan trọng và có những tác dụng nhất định trong việc gắn chặt phát triển kinh tế với nhiệm vụ canh phòng, tuần tra vùng, bảo vệ chủ quyền biển đảo Đồng thời, với chính sách này, nhà Nguyễn đã thu hút được lực lượng nông dân và các thành phần xã hội khác đến Côn Đảo, góp phần khai thác những tiềm năng của quần đảo rộng lớn này Đây cùng là một bài học hay để vận dụng trong việc thực hiện chính sách quốc phòng toàn dân hiện nay
Như vậy, cùng với việc lập khu đồn trú, xây dựng pháo đài, đưa quân ra Côn
Trang 10Đảo, triều đình nhà Nguyễn tổ chức kêu
gọi người dân ra đảo làm ăn sinh sống, tạo
điều kiện tăng cường nhân lực và vật lực
cho Côn Đảo Tính đến năm 1840, trên đảo
Côn Lôn ngoài những người phát vãng
biền binh trú phòng, đã xuất hiện những
người dân thường thuộc 5 tỉnh Nam Kỳ tự
nguyện di cư ra đảo làm ăn sinh sống, cư
dân sống ở đây ngày càng đông đúc, việc
khai hoang phát triển kinh tế ngày càng
được đẩy mạnh Đến giữa thế kỉ XIX, dân
số ở Đảo lên tới 1.000 người, gồm 3 thành
phần: dân thường, biền binh trú phòng và
những người bị phát vãng
Những chính sách tiến bộ và sự hỗ trợ
tích cực của triều đình nhà Nguyễn đã góp
phần to lớn vào đời sống sản xuất trên đảo,
khai thác tối đa những nguồn lợi có được,
tạo dựng một cơ sở kinh tế - xã hội vững
chắc cho các đội quân đồn trú, góp phần
vào việc bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Côn
Đảo, nói riêng, vùng biển đảo cả nước nói
chung trong nửa đầu thế kỷ XIX
5 Kết luận
Nửa đầu thế kỷ XIX, vùng biển đảo
Bà Rịa - Vũng Tàu là một khu vực phát
triển rất năng động, tàu thuyền nước ngoài
ra vào bán buôn nhộn nhịp Đây cũng là
thời kì đất nước ta đáng đứng trước mối
họa xâm lăng của chủ nghĩa thực dân
phương Tây, do đó đối với Bà Rịa, Vũng
Tàu nói riêng và cả nước nói chung, triều
đình nhà Nguyễn đã thực hiện nhiều chính
sách quản lí và khai thác vùng biển đảo
Về quản lí, triều Nguyễn đã nhà
Nguyễn đã ban hành và thực hiện có hiệu
quả các chính sách bảo vệ vùng biển, đảo
Bà Rịa, Vũng Tàu, Côn Đảo như cho xây
dựng hệ thống thành và bảo trấn, tổ chức
và xây dựng lực lượng quân đội, đặt các
thủ, bảo canh phòng, tăng cường quân số,
khí giới, tuần tra ở những khu vực xung
yếu, trên dọc tuyến biển, đảo; tăng cường kiểm soát các tàu thuyền đi qua vùng biển đảo, kiên quyết ngăn chặn các thế lực nước
ngoài, kể cả giặc biển xâm phạm chủ
quyền biển đảo Triều đình ban thưởng hậu
hĩ - và ngược lại nếu quan binh lơ là thì xử phạt rất nghiêm minh - trong việc canh phòng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Chính sách quản lí biển đảo Bà Rịa - Vũng Tàu, Côn Đảo nói riêng và cả nước nói chung trong thời kỳ này của triều đình
là luôn khẳng định sự tự trị Tự trị là tự
mình giải quyết tất cả mọi hoạt động quản
lí, bảo vệ chủ quyền biển đảo, từ việc đề ra chính sách đến xây dựng, tổ chức lực lượng để thực thi chủ quyền biển đảo Tinh thần ấy thể hiện tinh thần tự lực cách sinh, đảm bảo độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trong đó, luôn nêu cao tinh thần
cảnh giác, tích cực phong bị để người
ngoài trông thấy cũng tiêu tan lòng tà Không chỉ người Tây dương cách trở xa xôi, không dám nhằm thẳng vào nước ta,
mà nước mạnh láng giềng tiếp giáp cõi đất, cũng không dám manh tâm dòm ngó nữa Đây là một chủ trương, có tầm nhìn
tiến bộ, nhưng tiếc rằng vị thế triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã lỗi thời, không phát triển kịp xu thế chung của thời đại, nên không đủ khả năng giải quyết những bức xúc của tình hình đất nước Dù gì, đây
cũng là một điểm sáng rất đáng cho hậu thế
học hỏi vận dụng vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay
Về phát triển kinh tế biển, trong nửa đầu thế kỉ XIX, cộng đồng cư dân ven biển
ở Bà Rịa - Vũng Tàu và Côn Đảo đã phát triển mạnh các ngành kinh tế biển như vận tải đường thủy, đóng ghe thuyền, đan lưới, làm muối, chế biến thủy hải sản… tập trung ở Bình Châu, Lộc An, Phước Hải, Phước Tỉnh, Thắng Nhứt, Thắng Nhì,