Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam. Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam. Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam. Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam. Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THÙY DƯƠNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THÙY DƯƠNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Phạm Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 7
1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã 7
1.2 Nội dung và ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã 14
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 24
2.1 Quy định của pháp luật về THQCT trong điều tra vụ án về động vật hoang dã 24
2.2 Hoạt động thực hành quyền công tố đối với các vụ án về động vật hoang dã của Viện kiểm sát nhân dân 31
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THQCT TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 47
3.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nhận thức pháp luật 47
3.2 Giải pháp tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng công tác THQCT vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra 49
3.3 Tăng cường hợp tác quốc tế 63
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra
ĐVHD : Động vật hoang dã KSĐT : Kiểm sát điều tra
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới Bên cạnh đó, Việt Nam cũng được biết đến như là một trong những quốc gia có truyền thống khai thác, nuôi trồng và sử dụng tài nguyên
đa dạng sinh học trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nước ta đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng, điểm nóng về buôn bán và sử dụng sản phẩm từ động, thực vật hoang dã ở Đông-Nam Á và là địa bàn trung chuyển lớn trong khu vực về buôn bán các sản phẩm từ động vật hoang dã Ngoài ra, hàng nghìn loài thực vật hoang dã đang được khai thác và sử dụng làm dược liệu cùng với hàng chục nghìn tấn cây thuốc được sử dụng hàng năm Bên cạnh các hoạt động buôn bán hợp pháp, buôn bán động thực vật hoang dã và sử dụng bất hợp pháp đã trở thành một
vấn đề ảnh hưởng đến sự tồn tại của các quần thể tự nhiên của các loài
Hậu quả của việc buôn bán trái phép và sử dụng không bên vững các loài hoang dã trong những năm qua dẫn đến sự suy giảm quần thể của nhiều động, thực vật hoang dã, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đa dạng sinh học
Nhận thức được được tầm quan trọng của công tác bảo tồn đa dạng sinh học và những rủi ro tiềm ẩn từ việc buôn bán, sử dụng trái phép động vật hoang dã, từ năm 1994 Việt Nam đã tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES) Đây là bản hiệp ước giữa các quốc gia thành viên về việc kiểm soát việc buôn bán, trao đổi các loài động thực vật hoang dã để tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn đến tình trạng tuyệt chủng của các loài trong tự nhiên Thực hiện cam kết và nghĩa vụ thành viên của Việt Nam, nhiều chính sách và pháp luật liên quan đến bảo tồn động vật hoang dã và đấu tranh, phòng, chống buôn bán trái phép động vật hoang dã đã được Việt Nam xây dựng và cụ thể hóa như trong Bộ luật Hình
Trang 7sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015, Luật bảo vệ phát triển rừng (2004), Luật Thủy sản (2003), Luật Đa dạng sinh học (2008) và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đặt ra yêu cầu
“Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng Ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại Tăng cường quản
lý rủi ro từ sinh vật biến đổi gen” [3]; Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện 9 giải pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong nước và quốc tế liên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm; Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 17/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ nhận định “tại một số địa phương hoạt động chế tác và bày bán các sản phẩm ĐVHD như: Ngà voi và sừng tê giác còn diễn biến phức tạp, thách thức
nỗ lực thực thi pháp luật” [37] và đặt ra yêu cầu phải rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn bán ngà voi, sừng tê giác trái pháp luật;
Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều vụ án buôn bán, tàng trữ, vận chuyển động vật hoang dã đã được phát hiện nhưng không xử lý được hoặc chỉ xử
lý được một phần nên chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm và bảo vệ hiệu quả các loại động vật hoang dã với nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng Hiến định thực hành quyền công tố đối với loại tội này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập cần có những giải pháp khoa học nhằm nâng cao chất lượng đối với nhóm tội phạm đặc trưng này
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tố trong điều tra
vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa cả về
mặt lý luận lẫn thực tiễn
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nước ta hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết của các nhà nghiên cứu liên quan đến vấn đề này mà tác giả đã tiếp cận và tham khảo có thể kể đến như:
- Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần các tội phạm), GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (Chủ biên), Nxb Tư pháp, năm 2018;
- Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, TS Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên), Nxb Lao động, năm 2019;
- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2017;
- Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, Tập 2, Năm 2017;
- Vũ Hải Đăng (2012), Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật
thuộc danh mục loài nguy, cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong luật Hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Đại học Quốc gia, Hà Nội;
- Bùi Thị Hà (2015), Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt
Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học quốc gia Hà Nội;
- Đào Quang Hiếu (2016), Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động
vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội,
Luận văn Thạc sỹ, Học viện Khoa học xã hội;
- Trần Thị Hải (2018), Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy
cấp, quý, hiếm, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội;
- Bùi Đức Tuấn (2018), Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật
nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc
sỹ, Học viện Khoa học xã hội;
- Tiến sĩ Nguyễn Đức Hạnh – Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
(2018), Những khó khăn, vướng mắc trong công tác truy tố các vụ án
về động vật hoang dã, quý, hiếm – Tham luận tại Hội thảo nâng cao
hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về động
Trang 9vật hoang dã, quý hiếm ở Việt Nam do Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội
và Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đồng phối hợp tổ chức tại Hải Phòng;
- Bài viết “Quản lý và xử lý vật chứng là động vật hoang dã trong các
vụ án hình sự” của TS Nguyễn Đức Hạnh, Tạp chí Tòa án số 23/2019;
- Bài viết "Bàn về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã "
của TS Phạm Minh Tuyên, Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Tòa án, tháng 9/2020;
- Bài viết "Khắc phục những khó khăn, vướng mắc để đấu tranh phòng,
chống tội phạm xâm hại động vật hoang dã có hiệu quả" của TS
Trương Công Lý, Tạp chí Tòa án, tháng 8/2020;
- Bài viết "Bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhìn từ góc độ pháp
luật hình sự" của Th.S Lê Văn Sua, Tạp chí Môi trường & Xã hội,
tháng 3/2020;
- Sổ tay hướng dẫn Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc giải quyết các vụ án liên quan đến động vật hoang dã, Trường Đại học
Kiểm sát Hà Nội, NXB Hồng Đức phát hành năm 2020;
- Các bài viết “Impacts of Wildlife trade and sustainable development
in Vietnam” (Tác động của việc buôn bán động vật hoang dã và sự phát triển bền vững của Việt Nam); International cooperation and mutual legal assistance in criminal matters in handling with transnational wildlife trafficking crimes in Vietnam (Hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự trong giải quyết các vụ án về buôn bán động vật hoang dã xuyên quốc gia ở Việt Nam) và “Legal framework for wildlife farming benefits species conservation and preventing wildlife crimes in Vietnam” (Giá trị của khung pháp luật trong việc gây nuôi động vật hoang dã đối với việc bảo tồn loài và phòng ngừa tội phạm về động vật hoang dã ở Việt Nam) của TS Nguyễn Đức
Hạnh và PGS.TS Đinh Thị Mai đăng trên Tạp chí EDP Sciences - E3S Web
of Conferences, số 157 (2020), 164 (2020) và số 175 (2020)
Trang 10Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều có tính lý luận và thực tiễn cao, nâng cao khả năng xử lý triệt để các vụ việc liên quan đến ĐVHD Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung vào những nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về THQCT trong điều tra các vụ án
về ĐVHD, quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT, đặc biệt là đối với các tội về ĐVHD
- Quy định Luật Hình sự Việt Nam liên quan đến ĐVHD
- Phân tích thực tiễn công tác THQCT và KSĐT các vụ án về ĐVHD ở Việt Nam hiện nay và rút ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác này
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác THQCT trong điều tra các vụ án về ĐVHD trong thời gian tới nhằm bảo vệ tốt hơn nữa pháp chế xã hội chủ nghĩa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động THQCT trong điều tra các vụ án về ĐVHD
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động THQCT trong điều tra vụ
án về ĐVHD ở Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2019
Trang 115 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng; chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, về đấu tranh phòng, chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp Đây là phương pháp chủ đạo trong quá trình làm nghiên cứu Tuy nhiên, bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh, đối chiếu để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của VKSND khi THQCT đối với các vụ án về ĐVHD; góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Bên cạnh đó, luận văn cũng là nguồn tư liệu tham khảo có ý nghĩa đối với nhà nghiên cứu, học viên và các cơ sở đào tạo luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong điều
tra vụ án về động vật hoang dã
Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về
động vật hoang dã
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền
công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ
1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã
1.1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
Để hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã, chúng ta cần nghiên cứu một số khái niệm cơ bản sau:
Thứ nhất, khái niệm về quyền công tố và thực hành quyền công tố: Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố và THQCT như là: “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội” [51, tr.188]; là quyền nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án để xét xử, vì nhà nước nhân danh xã hội duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của nhà nước phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực [41]; là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự Và quyền công tố là quyền của nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [19]; là việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [41]
Tuy nhiên, dù có theo quan điểm nào thì các tác giả đều khẳng định: Quyền công tố là quyền lực công, quyền lực của nhà nước, xuất hiện từ khi có tội phạm xảy ra, các cơ quan nhà nước thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự, chứng minh hành vi phạm tội và tiến hành buộc tội trước tòa Như vậy có thể hiểu Quyền công tố là quyền nhân danh lợi ích công để phát giác, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật ra trước Tòa án để xét xử, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Trang 13Ở nước ta, nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan THQCT Nội dung này thể hiện rõ trong quy định của Hiến pháp, Luật và các Nghị quyết của Đảng ta từ năm 1960 tới nay Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [29] Theo quy định tại Điều 20 BLTTHS năm 2015 thì: Trách nhiệm THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự thuộc về Viện kiểm sát Điều 2 Luật tổ chức VKSND quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [30] Như vậy, quyền công tố là quyền năng pháp lý của nhà nước được pháp luật giao cho một chủ thể duy nhất thực hiện, đó là VKSND
Do vậy, nếu quyền công tố là một quyền năng pháp lý mang tính Hiến định của Viện kiểm sát, là quyền năng pháp lý trao cho Viện kiểm sát đại diện quyền lực công để nhằm buộc tội, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, thì thực hành quyền công tố chính là những hoạt động của Viện kiểm sát nhằm thực hiện các quyền buộc tội này trong tố tụng hình sự
Theo từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “thực hành” được hiểu là “làm để
áp dụng lý thuyết vào thực tế” Như vậy, nếu xét về nghĩa thì thuật ngữ “thực
hành” thường được áp dụng trong trường hợp vận dụng một vấn đề nào đó từ
lý thuyết vào thực tế, là quá trình chuyển biến tri thức thành hiện thực Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Đức được nêu trong bài viết “Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong Nhà nước pháp quyền” đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 1, 2 năm 2012 thì “Thực hành quyền công
tố chính là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó” Tuy nhiên, có thể thấy
quan điểm này chưa phản ánh thật sự chính xác nội hàm của THQCT cũng
Trang 14như chưa thể hiện đúng vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong việc chứng minh tội phạm vì quá chú trọng đến nhiệm vụ buộc tội, bảo vệ sự buộc tội Theo quan điểm trình bày trong cuốn “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của các tác giả Lê Hữu Thể (Chủ biên), Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường do Nhà xuất bản Tư
pháp phát hành năm 2005 thì cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử
dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” Quan điểm này đã chỉ rõ hơn nghĩa của thuật
ngữ “thực hành” nhưng chưa xác định chủ thể THQCT, và giới hạn phạm vi của THQCT chỉ thực hiện trong ba giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Quan điểm này đã thu hẹp phạm vi THQCT bởi lẽ nếu THQCT chỉ tồn tại trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì cũng sẽ không giải thích được các hoạt động khác trước, trong giai đoạn khởi tố như hoạt động bắt, giữ…
Một điểm chung giữa hai quan điểm nêu trên đó là đều thống nhất THQCT có các đặc điểm gồm:
+ THQCT do một chủ thể là cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện + THQCT là hoạt động áp dụng pháp luật và đối tượng bị buộc tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của Bộ luật hình sự
+ THQCT bắt đầu khi phát hiện được nguồn tin về sự việc có dấu hiệu tội phạm và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật
+ THQCT là việc áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
Từ những phân tích trên tác giả cho rằng khái niệm THQCT có thể hiểu
đó là: "hoạt động thực hiện chức năng Hiến định của Viện kiểm sát để buộc
tội mang tính Nhà nước đối với người có hành vi phạm tội, được bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho đến khi bản
Trang 15án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức”
Như vậy, ngoài chủ thể Viện kiểm sát thì các cơ quan có thẩm quyền điều tra cũng có quyền buộc tội mang tính nhà nước nhưng không hề có quyền công tố và thực hành quyền công tố
1.1.2 Khái niệm vụ án hình sự, điều tra vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Vụ án hình sự có thể được hiểu là một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự được cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý và giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Theo “Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát” của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, năm 2017: “Điều tra vụ án hình sự là quá trình cơ quan có thẩm quyền áp dụng tổng hợp các biện pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chứng minh tội phạm trước pháp luật, phục vụ công tác xử lý và góp phần phòng ngừa tội phạm” Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của VKSND tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng
và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại
về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra
vụ án hình sự hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can
Quá trình giải quyết vụ án hình sự chính là quá trình thực hiện các thủ tục tố tụng hình sự qua các giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau Trong đó, thủ
Trang 16tục tố tụng hình sự được hiểu là trình tự, điều kiện, các bảo đảm chung, thống nhất và có tính bắt buộc phải tuân thủ theo luật định đối với toàn bộ hoạt động
tố tụng hình sự cũng như đối với từng giai đoạn tố tụng, từng hành vi tố tụng
cụ thể, đối với các quyết định tố tụng và đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tố tụng, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh và kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Giai đoạn là phần thời gian trong quá trình phát triển dài mang những đặc điểm riêng biệt nhằm phân biệt giữa các giai đoạn khác nhau Theo đó, dựa vào những đặc điểm riêng biệt để phân ra các giai đoạn trong tố tụng hình
sự Nói cách khác giai đoạn tố tụng là các khâu, các phần việc khác nhau của quá trình tố tụng nhằm giải quyết một vụ án hoặc một vụ việc Tùy vào tính chất, nhiệm vụ của mỗi hoạt động tố tụng, quá trình tố tụng có thể được chia thành các giai đoạn khác nhau Các giai đoạn tố tụng có mối quan hệ mật thiết với nhau Ở mỗi giai đoạn tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn hoặc nghĩa vụ nhất định Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hay nghĩa vụ của các chủ thể này trong mỗi giai đoạn tố tụng đều có ảnh hướng đến việc thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng Đối chiếu với quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 thì tố tụng hình sự Việt nam có thể chia thành bốn giai đoạn là giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử tương ứng với cách chia Chương hiện nay Tuy nhiên cũng có thể ghép giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra và coi đây là giai đoạn điều tra theo nghĩa rộng bởi giai đoạn này chủ thể tiến hành tố tụng chính là cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra, đều được áp dụng biện pháp điều tra nhằm tìm kiếm, phát hiện, ghi nhận, thu thập chứng cứ và đây là cách hiểu về giai đoạn điều tra mà sau đây luận văn sẽ sử dụng để tiếp cận
Trang 17Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, BLTTHS năm 2015, Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công
tố, vì vậy, KSV có nhiệm vụ, quyền hạn ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật hiện hành cũng xác định rõ các giai đoạn THQCT gồm THQCT trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; THQCT trong giai đoạn điều tra, THQCT trong giai đoạn truy tố; và THCQT trong giai đoạn xét xử Vì vậy, có thể thấy THQCT trong điều tra vụ án hình sự là một phần trong hoạt động thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Phạm vi thực hành quyền công tố
trong điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra ra kết luận điều tra, đề nghị truy tố và quyết định đình chỉ điều tra
1.1.3 Khái niệm tội phạm về động vật hoang dã
Tội phạm về động vật hoang dã được hiểu là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do việc trực tiếp xâm phạm đến các loài động vật hoang dã như các hành vi săn, bắt, nuôi nhốt, giết, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép các cá thể, sản phẩm, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của các loài động vật có trong tự nhiên, sinh sống trong môi trường tự nhiên bao gồm các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm
IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; các loài động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp hoặc các loài động vật rừng thông thường theo quy định của pháp luật và động vật hoang dã nguy cấp thuộc Phụ
Trang 18lục III Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Trong đó:
+ Cá thể là một cơ thể động vật còn sống hoặc đã chết Cũng được coi là cá thể đối với cơ thể động vật đã chết mà thiếu một hoặc một số bộ phận cơ thể (ví dụ: cá thể tắc kè đã chết thiếu nội tạng hoặc cá thể hổ đã chết thiếu chân)
+ Bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống là những bộ phận thực hiện các chức năng chuyên biệt của cơ thể động vật, ngay khi tách rời những bộ phận này khỏi cơ thể sống của động vật thì động vật đó chết (ví dụ: đầu, tim,
bộ da, bộ xương, buồng gan )
+ Sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm là các loại sản phẩm có nguồn gốc từ động vật (ví dụ: thịt, trứng, sữa, tinh dịch, phôi động vật, huyết, nội tạng, da, lông, xương, sừng, ngà, chân, móng ); động vật thủy sản đã qua sơ chế, chế biến ở dạng nguyên con; vật phẩm có thành phần
từ các bộ phận của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm đã qua chế biến (ví dụ: cao nấu từ xương động vật hoang dã; túi xách, ví, dây thắt lưng làm từ da động vật hoang dã)
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm THQCT trong giai đoạn
điều tra đối với các vụ án về động vật hoang dã đó là: "hoạt động thực hiện
chức năng Hiến định của Viện kiểm sát để buộc tội mang tính Nhà nước đối với người có hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm do hành vi gây nguy hiểm cho xã hội bởi nó xâm hại đến các loài động vật hoang dã, được thực hiện bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho đến khi cơ quan có thẩm quyền điều tra kết thúc điều tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề nghị Viện kiểm sát truy tố và được Viện kiểm sát thụ lý hoặc cho đến khi có quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra”
Trang 191.2 Nội dung và ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã
1.2.1 Nội dung chính của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ
án về động vật hoang dã
Nội dung hoạt động THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra bắt đầu
từ thời điểm Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án đến khi có kết luận điều tra và chuyển hồ sơ tới Viện kiểm sát đề nghị truy tố và được Viện kiểm sát thụ lý hoặc kết thúc khi có quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan có thẩm quyền được thể hiện thông qua các nhiệm vụ quyền hạn gắn với một số các hoạt động đặc trưng cơ bản đối với loại tội này, cụ thể như sau:
- Thực hành quyền công tố trong việc áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế các biện pháp ngăn chặn Biện pháp ngăn chặn là biện pháp tố tụng được các
cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thể hiện sự cưỡng chế mạnh mẽ của Nhà nước đối với người phạm tội, bảo đảm ngăn chặn các đối tượng này bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở hoạt động tố tụng Biện pháp ngăn chặn bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh… Cũng như những vụ án hình sự khác, đối với các vụ án về động vật hoang dã thì hoạt động THQCT và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của VKSND thể hiện dưới hai góc độ Một là, Viện kiểm sát phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, hủy bỏ các quyết định áp dụng các biên pháp ngăn chặn không có căn cứ và trái pháp luật Hai
là, trong trường hợp cần thiết yêu cầu CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn nếu các cơ quan này không áp dụng thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn
Trang 20- Thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can, kiểm sát việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố có nội dung thể hiện sau khi nhận được quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tài liệu kèm theo của CQĐT,
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát phải nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, tài liệu, kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định này như biên bản khám nghiệm hiện trường, nơi phát hiện chuồng trại, nơi đóng hàng, ngụy trang trước khi vận chuyển, nơi nhốt, giữ động vật, giết động vật; đối với hành vi săn bắn kiểm tra biên bản thu giữ các phương tiện săn bắn như cung, nỏ, bẫy, súng… đảm bảo có căn cứ và đúng pháp luật Trường hợp không có căn cứ và trái pháp luật thì yêu cầu hủy
bỏ các quyết định này, nếu cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định hủy
bỏ thì Viện kiểm sát sẽ trực tiếp hủy bỏ quyết định Nếu thấy quyết định khởi
tố có căn cứ và hợp pháp thì Viện kiểm sát gửi quyết định phân công kiểm sát viên THQCT và KSĐT, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can khi cơ quan điều tra khởi tố Đối với các vụ án về động vật hoang dã, đối tượng phạm tội có thành phần đa dạng, phức tạp, bao gồm người Việt Nam, người nước ngoài
Có đối tượng hoạt động chuyên nghiệp, hoạt động có tổ chức theo tuyến, địa bàn nhưng cũng có đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật nhất thời do hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc do điều kiện tự nhiên thuận lợi sẵn có để thực hiện hành vi vi phạm Nếu thấy có dấu hiệu của tội phạm nhưng chưa rõ căn
cứ để khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ; Nếu thấy quyết định khởi tố không có căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc tự mình hủy bỏ quyết định đó Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố hoặc tự mình ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố Nếu thấy quyết định thay
Trang 21đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan này hoặc tự mình hủy bỏ quyết định đó
- Đề ra yêu cầu điều tra là một trong trong những nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát Khi cần làm rõ về tội phạm, người phạm tội
và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hoặc để hoàn thiện thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát mà cụ thể là kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc giải quyết vụ án đề ra những yêu cầu điều tra Việc đề ra yêu cầu có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản và có thể thực hiện nhiều lần đối với một vụ án Đối với các vụ án về động vật hoang dã cần đề ra những yêu cầu, làm rõ các vấn đề sau: Làm rõ nhận thức của đối tượng vận chuyển thuê xem có nhận thức được vật chứng có phải là động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm không? Đối với hành vi nuôi nhốt cần xác minh làm rõ việc nuôi nhốt có giấy phép hay không? Làm rõ các vấn đề: Thực hiện hành vi nhằm mục đích gì? Vận chuyển lấy tiền công hay bán kiếm lời? Tàng trữ để bán kiếm lời hay dùng để sử dụng Phương thức, thủ đoạn thực hiện thế nào? Đã thực hiện bao nhiêu lần? Tiêu thụ ở đâu? Có hứa hẹn trước hay không? Hình thức nào? Giá cả như thế nào? Có ai biết hay bàn bạc giúp sức không? Nếu có đồng phạm thì bàn bạc, phân công vai trò như thế nào? Ăn chia lời lãi ra sao? Về công cụ, phương tiện sử dụng để phạm tội cần làm rõ nguồn gốc của những công cụ, phương tiện này; xác minh chủ sở hữu; làm rõ chủ sở hữu hoặc người đại diện hợp pháp có biết và đồng ý cho đối tượng sử dụng vào mục đích phạm tội hay không, nhất là đối với hành vi vận chuyển động vật nguy cấp, quý, hiếm hoặc những sản phẩm từ những loài động vật này
- Một nội dung khác của THQCT trong giai đoạn điều tra đó là THQCT liên quan đến các biện pháp điều tra của cơ quan điều tra như THQCT liên quan đến việc hỏi cung bị can, lấy lời khai…
+ THQCT của Viện kiểm sát liên quan đến hoạt động hỏi cung bị can thể hiện bằng việc Viện kiểm sát phối hợp với cơ quan có thẩm quyền điều tra
Trang 22tiến hành hỏi cung bị can nhằm thu thập chứng cứ buộc tội Hoặc tự mình trực tiếp hỏi cung bị can nhằm xác định các chứng cứ để quyết định việc có tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can hay không
+ Thực hành quyền công tố trong lấy lời khai người làm chứng Do người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án hình
sự Lấy lời khai của người làm chứng là để thu thập những thông tin về vụ án hình sự, phục vụ cho công tác điều tra xử lý tội phạm Lời khai người làm chứng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, bởi
vì người làm chứng thường cung cấp chứng cứ một cách trung thực, khách quan, nhưng vì lý do nào đó người làm chứng lại cung cấp thông tin sai sự thật thì sẽ gây nhiều khó khăn, thậm chí làm sai lệch kết quả điều tra Vì vậy kiểm sát viên cần đặc biệt chú ý việc kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng Do vậy, nội dung THQCT của Viện kiểm sát trong hoạt động này được thể hiện bằng việc Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án chủ động phối hợp, yêu cầu điều tra viên, cán bộ điều tra cung cấp đầy đủ biên bản ghi lời khai và các tài liệu liên quan đến việc lấy lời khai người làm chứng Khi thấy có người làm chứng chưa được lấy lời khai, thì kiểm sát viên yêu cầu điều tra viên, cán bộ điều tra kịp thời lấy lời khai… nhằm phục vụ việc buộc tội Khi phát hiện lời khai của người làm chứng chưa rõ, không khách quan, không phù hợp hoặc mâu thuẫn với lời khai của người tham gia
tố tụng khác, với chứng cứ khác thì kiểm sát viên phải yêu cầu điều tra viên, cán bộ điều tra lấy lời khai bổ sung; nếu phát hiện vi phạm trong việc lấy lời khai, kiểm sát viên phải yêu cầu điều tra viên, cán bộ điều tra khắc phục ngay [50] Viện kiểm sát có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng trong các trường hợp sau đây: Có căn cứ xác định việc lấy lời khai của điều tra viên, cán bộ điều tra không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật; Trong trường hợp lời khai của người làm chứng có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những chứng cứ khác đã thu thập được; Có nghi ngờ về tính trung thực, khách
Trang 23quan trong lời khai của người làm chứng; hoặc trường hợp cần thiết khác để làm rõ chứng cứ, tài liệu Biên bản ghi lời khai do kiểm sát viên lập được đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát [50]
- Thực hành quyền công tố trong việc tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra có nội dung thể hiện, trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường, xuất phát từ những lý do khách quan khiến việc điều tra không thể tiếp tục tiến hành vì nếu tiếp tục điều tra sẽ vi phạm thời hạn luật định vì vậy khi thấy có một trong những quy định tại Điều 229 BLTTHS thì CQĐT ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự Nếu thấy có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 155, Điều 157 BLTTHS, khi
có đủ căn cứ khẳng định bị can thuộc trường hợp người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 16 BLHS, khi thấy cần miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 BLHS 2015, người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát giáo dục (theo khoản 2 Điều 91 BLHS 2015) hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra Quyết định này phải gửi đến Viện kiểm sát cùng cấp, sau khi nhận được quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra của CQĐT, Viện kiểm sát phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định này Nếu việc tạm đình chỉ, đình chỉ của CQĐT không đúng Viện kiểm sát ra quyết định hủy quyết định của CQĐT và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra vụ án Trường hợp việc tạm đình chỉ, đình chỉ có căn cứ, đúng quy định thì Viện kiểm sát phải tiếp tục mở sổ sách theo dõi Khi lý do, căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ không còn thì Viện kiểm sát chủ động yêu cầu CQĐT ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và ra quyết định phục hồi điều tra, nếu CQĐT không thực hiện thì Viện kiểm sát tự ra quyết định phục hồi điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra
Trang 24- Thực hành quyền công tố liên quan đến hoạt động giám định
Kết quả giám định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng và các cơ quan tố tụng có thể sử dụng phục vụ việc buộc tội bị can Do vậy, Viện kiểm sát có thẩm quyền THQCT đối với hoạt động trưng cầu giám định của CQĐT nhằm bảo đảm nội dung trưng cầu giám định cụ thể, rõ ràng, phù hợp với sự việc và những vấn đề cần yêu cầu kết luận với các nội dung như:
+ Yêu cầu cơ quan trưng cầu bảo đảm mẫu phải đủ để giám định, bảo quản đúng cách để không bị hỏng, mất mát, lẫn lộn hoặc thối Khi trưng cầu giám định loài, bộ phận, sản phẩm ĐVHD, phải chú ý trưng cầu đối với với cơ quan có thẩm quyền giám định tư pháp Hiện nay Cơ quan giám định phục vụ việc cấp phép theo công ước CITES có trường hợp không phải là Cơ quan giám định tư pháp Nếu mẫu vật thu giữ quá nhiều hoặc khó khăn cho việc di chuyển thì thực hiện việc giám định tại chỗ bằng cách mời Giám định viên tới, thay vì gửi mẫu vật đi giám định; chủ động trao đổi với chuyên gia để có thể nhận diện nhanh ban đầu bằng cách gửi ảnh qua Zalo, Viber, Email hoặc phần mềm nhận diện chuyên biệt do Tổ chức Bảo tồn ĐVHD (WCS) Việt Nam, tổ chức bảo vệ ĐVHD khác hỗ trợ Kiểm sát viên trao đổi với điều tra viên liên hệ trước với cơ quan giám định hoặc giám định viên để có thể ghi thời gian trả lời kết quả giám định, câu hỏi giám định, cách lấy mẫu, thu mẫu trọn vẹn hay đại diện, niêm phong và bảo quản mẫu trưng cầu, mẫu so sánh
+ Sau khi có kết luận giám định đánh giá những nội dung kết luận giám định xem có đảm bảo giá trị buộc tội và chứng minh tội phạm hay không Trong trường hợp cần thiết Viện kiểm sát có quyền yêu cầu giám định lại, giám định bổ sung; yêu cầu tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định giải thích kết luận giám định, hỏi thêm người giám định; yêu cầu thay đổi người giám định; tự mình ra quyết định trưng cầu giám định
- Thực hành quyền công tố đối với việc thu giữ tang vật, vật chứng, khám xét có nội dung như khi thấy việc thu giữ tang vật, tổ chức khám xét có
Trang 25ý nghĩa đối với buộc tội bị can thì Viện kiểm sát sẽ thực hiện việc yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành hoạt động này, một số trường hợp theo quy định phải
có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thực hiện thì Viện kiểm sát sẽ phê chuẩn Lệnh, Quyết định thu giữ vật chứng, khám xét Xử lý vật chứng là ĐVHD, động vật nguy cấp, quý, hiếm thì KSV cần lưu ý đó là những vật chứng thuộc loại mau hỏng, hay ĐVHD còn sống thì trong giai đoạn điều tra,
cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải
xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật Đặc biệt, đối với một số vật chứng như ngà voi Châu phi, sừng tê giác… thì cần tịch thu xử lý theo quy định của pháp luật để làm công trình nghiên cứu khoa học chứ không được tịch thu tiêu hủy? Việc xử lý vật chứng là ĐVHD hoặc sản phẩm của chúng được thực hiện như sau: Vật chứng là ĐVHD, còn sống thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành để trả về tự nhiên, giao cho trung tâm cứu hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc giao cho cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Vật chứng
là cá thể động vật chết hoặc sản phẩm ĐVHD thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật Trường hợp không có căn cứ thì không phê chuẩn và yêu cầu cơ quan điều tra trả lại vật, tài sản cho chủ sở hữu hoặc không được khám xét
- Thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động điều tra khác Trong quá trình điều tra vụ án, CQĐT còn có thể áp dụng các biện pháp điều tra khác như: Đối chất; Nhận dạng; Nhận biết giọng nói (quy định tại các Điều
189, 190, 191 BLTTHS); Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật (quy định tại Chương XIII BLTTHS); Khám nghiệm hiện trường; Xem xét dấu vết trên thân thể; Thực nghiệm điều tra (quy định tại các Điều 201, 203, 204); Định giá tài sản (quy định tại Chương XV BLTTHS) Khi CQĐT thực hiện các biện pháp điều tra trên, Viện kiểm sát đều có trách nhiệm kiểm sát tính hợp pháp, tính có căn cứ của các hoạt động đó Đối với những hoạt động đòi hỏi
Trang 26phải có phê chuẩn của Viện kiểm sát thì sau khi nhận được yêu cầu phê chuẩn, Viện kiểm sát phải nghiên cứu kỹ các tài liệu liên quan trước khi quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Nếu thấy cần thiết phải áp dụng một hoạt động điều tra nào đó nhưng CQĐT không tiến hành hoặc không yêu cầu thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu CQĐT tiến hành hoặc ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành, nếu CQĐT không thực hiện thì Viện kiểm sát tự mình tiến hành hoặc ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành, đồng thời ra văn bản kiến nghị đối với CQĐT
1.2.2 Ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã
- Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa đối với hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung, điều này được thể hiện: Những năm gần đây, nước ta trở thành một điểm nóng về săn bắt, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã và các sản phẩm từ động vật hoang dã ở Đông Nam Á và là địa bàn trung chuyển lớn trong khu vực về buôn bán các sản phẩm từ ĐVHD Hậu quả của việc buôn bán trái phép và săn bắt, nuôi, nhốt, vận chuyển trái phép dẫn đến sự suy giảm quần thể của nhiều loài ĐVHD, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đa dạng sinh học
Thị trường chợ đen buôn bán ĐVHD vẫn diễn ra sôi động dù cho các quốc gia vào cuộc đấu tranh mạnh mẽ Theo Tổ chức Liêm chính Tài chính Toàn cầu, lợi nhuận hàng năm thu được từ buôn bán ĐVHD khoảng từ 7,8 tỷ USD đến 10 tỷ USD, chỉ đứng sau thị trường buôn bán vũ khí và ma túy Việc săn bắt trộm, giết hại hoặc bắt giữ bất hợp pháp ĐVHD có liên quan đến các dạng buôn bán bất hợp pháp khác Thực tế các tội phạm này thường có mối liên
hệ với nhau khi những kẻ buôn lậu ma túy núp bóng dưới hình thức buôn lậu động vật để che dấu việc buôn lậu ma túy của mình, khiến việc thực thi pháp luật trở nên khó khăn hơn Bên cạnh đó, tội phạm về ĐVHD còn liên quan tới nhiều loại tội phạm khác như tội phạm tham nhũng, tội phạm rửa tiền,…
Trang 27Vì vậy, việc ngăn chặn, phát hiện, triệt phá các đường dây, tổ chức buôn bán trái phép ĐVHD không chỉ góp phần bảo tồn loài, bảo vệ thiên nhiên mà còn góp phần to lớn trong công cuộc đấu tranh với các tội phạm xuyên quốc gia, và tội phạm buôn lậu nói chung
- Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân bởi Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam THQCT là hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự, thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự VKS thực hành quyền công tố nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
và người phạm tội
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong điều tra các vụ án hình sự nói chung và trong điều tra vụ án về động vật hoang dã nói riêng Số lượng các vụ án về ĐVHD ngày càng gia tăng với thủ đoạn tinh vi, phức tạp, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải phối hợp chặt chẽ
- Thực hiện tốt công tác THQCT trong giai đoạn điều tra đồng nghĩa với việc tiếp tục thực hiện tốt những kết quả mà Viện kiểm sát đã thực hiện THQCT trong giai đoạn khởi tố, bổ sung, củng cố những chứng cứ buộc tội
mà giai đoạn khởi tố còn thiếu hoặc còn yếu THQCT trong giai đoạn điều tra tốt sẽ giúp việc THQCT trong giai đoạn truy tố và xét xử đạt chất lượng và kết quả cao, đồng thời giúp Kiểm sát viên chủ động, chắc chắn khi thực hiện nhiệm vụ THQCT đối với vụ án trong giai đoạn tiếp theo để không làm oan người vô tội nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm, lọt người phạm tội
Trang 28Tiểu kết Chương 1
Chương 1, luận văn đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận về các khái niệm gồm quyền công tố; thực hành quyền công tố; giai đoạn điều tra, kiểm sát điều tra; phạm vi hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; vụ án về động vật hoang dã; thực hành quyền công tố đối với vụ án
về ĐVHD cùng với nội dung và các giai đoạn của thực hành quyền công tố đối với vụ án về ĐVHD; ý nghĩa của thực hành quyền công tố đối với vụ án
về ĐVHD Đây là vấn đề thuộc nhận thức lý luận là cơ sở để nghiên cứu, phân tích thực tiến THQCT trong điều tra vụ án về ĐVHD tại Chương 2 của luận văn nên cần được phân tích, làm rõ
Trang 29Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA
VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 2.1 Quy định của pháp luật về THQCT trong điều tra vụ án về động vật hoang dã
2.1.1 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố
- Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy
định Viện kiểm sát có chức năng, nhiệm vụ “là cơ quan thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
- Ngoài ra, Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 cũng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là những nội dung thống nhất với quy định tại Điều 165 BLTTHS năm 2015 với các nội dung như:
+ Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
+ Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trái pháp luật
+ Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định
+ Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân
+ Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật
Trang 30+ Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can
+ Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm,
vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục
+ Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm
+ Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án
2.1.2 Quy định của pháp luật về xử lý tội phạm về động vật hoang dã
- Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng tại Điều 181 BLHS 1985 xử lý đối với hành vi săn bắt trái phép chim, thú nếu gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng với cấu thành cơ bản
sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Trong trường hợp phạm tội thuộc cấu thành tăng nặng thì sẽ bị phạt tù
Trang 31từ 2 năm đến 10 năm Bộ luật không quy định loài chim, thú ở đây là loài nào
và loài động vật thủy sinh không là đối tượng của tội phạm
- Điều 190 BLHS 1999 quy định trực tiếp hành vi vi phạm quy định về bảo
vệ ĐVHD, ngoài ra còn có một số điều khác mà các cơ quan tiến hành tố tụng thường vận dụng để xử lý các tội phạm liên quan đến ĐVHD như Điều 153 (Tội buôn lậu), Điều 154 (Tội vận chuyển hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), Điều 183 (Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản)
+ Năm 2009, Điều luật này đã được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm sự phù hợp với Luật Đa dạng sinh học 2008 Theo đó, tên điều luật được thay đổi là “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, như vậy, động vật hoang
dã là đối tượng bảo vệ của Điều luật này được sửa đổi là loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Danh mục loài được ban hành kèm theo Nghị định
số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài
và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (sau đây viết tắt là Nghị định số 160/2013/NĐ-CP)
+ Ngoài quy định tại Điều 190, đối với động vật không thuộc danh mục
IB (trước năm 2009) và danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP (sau năm 2009) hoặc các sản phẩm chế tác từ động vật hoang dã như đồ thủ công mỹ nghệ làm từ ngà voi, thì tuỳ từng trường hợp
cụ thể, các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng Điều 153 (Tội buôn lậu), Điều
154 (Tội vận chuyển hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), Điều 155 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm) để xử lý các tội phạm liên quan đến ĐVHD với tính chất là hàng cấm theo quy định của pháp luật (Luật Thương mại năm 2005) hoặc Điều 183 (Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản)
- Điều 244 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi, bổ sung Điều 190 của BLHS năm 1999 theo hướng mở rộng phạm vi đối tượng các loài động vật hoang dã được bảo vệ tại Điều này, không chỉ đối với động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ là loài nghiêm
Trang 32cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ thuộc loài danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (sau đây gọi là Nghị định số 160/2013/NĐ-CP), mà còn đối với cả các cá thể thuộc Nhóm 1B ban hành kèm theo Nghị định 06/2019//NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và ĐVHD quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang
dã nguy cấp (CITES)
- Điều 244 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bổ sung nhóm hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép sừng tê giác và ngà voi như là nhóm đối tượng được bảo vệ đặc biệt nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này (điểm c khoản 1)
- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã hình sự hoá hành vi tàng trữ cá thể (động vật đã chết), bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; tàng trữ cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật thuộc loài quy định tại nhóm IB
và Phụ lục I CITES nhằm bảo đảm xử lý triệt để các hành vi phạm tội, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
- Để bảo đảm cá thể hoá trách nhiệm hình sự cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất áp dụng các quy định trong việc xử lý tội phạm, Điều 244 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định về số lượng cá thể một số loài như voi, tê giác, gấu, hổ Đặc biệt, khoản 2 Điều 244
đã bổ sung tình tiết tăng nặng “buôn bán, vận chuyển qua biên giới” để khắc phục tình trạng xảy ra trong thực tiễn xử lý loại tội này, đó là cùng một hành
vi phạm tội buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã qua biên giới nhưng lại
áp dụng các quy định khác nhau để xử lý
Trang 33- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nâng mức hình phạt tiền đối với người thực hiện tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm tại khung cơ bản từ 500 triệu đồng đến 02 tỉ đồng, tăng mức phạt tù
từ 03 năm lên 05 năm (khoản 1 Điều 244); nâng mức cao nhất của hình phạt
tù từ 07 năm (khoản 2 Điều 190 BLHS 1999) lên 15 năm (khoản 3 Điều 244 BLHS năm 2015) nhằm bảo đảm chính sách xử lý phù hợp với tính chất, mức
độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và tình hình thực tiễn Như vậy, theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm đã được điều chỉnh từ tội phạm nghiêm trọng thành tội phạm rất nghiêm trọng
- Để tăng cường bảo vệ ĐVHD, nâng cao khả năng phòng ngừa vi phạm, BLHS năm 2015 đã bổ sung một tội danh mới, độc lập để có chính sách xử lý hình sự các hành vi phạm tội xâm hại nhóm ĐVHD thuộc nhóm IIB (Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/1/2019 của Chính phủ), phụ lục II CITES hoặc ĐVHD thông thường khác, đó là tội vi phạm quy định về bảo vệ ĐVHD (Điều 234 BLHS năm 2015)
- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 20117) bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã
- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội phạm kinh tế, môi trường, trong đó có các tội liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã Việc xử
lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã được thực hiện theo các quy định chung Về chế tài xử lý, pháp nhân thương mại vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã quy định tại Điều 234 BLHS, tuỳ từng mức độ vi phạm có thể bị phạt tiền từ ba trăm triệu đồng đến sáu tỉ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; pháp nhân thương mại vi phạm quy định
Trang 34về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm quy định tại Điều 244 BLHS thì tuỳ từng trường hợp cụ thể có thể bị bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 15 tỉ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
- So với BLHS năm 2015, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi với những nội sau:
* Tại Điều 234 thay đổi:
+ Tại điểm a, b khoản 1 giảm giá trị định lượng để cấu thành tội phạm của các loài động vật thuộc nhóm II hoặc phụ lục II của Công ước CITES từ
300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng xuống còn 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng ĐVHD thông thường khác giảm giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng xuống còn 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng Bổ sung thêm tình tiết định tội thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng + Tại điểm c khoản 1 đối với hành vi đã bị xử lý hành chính hoặc chưa
bị xóa án tích do phạm tội đã bị xét xử theo Điều 234 nay lại tiếp tục có hành
vi được mô tả trong cấu thành tội phạm thì điều luật đã quy định giảm giá trị định lượng để cấu thành tội phạm của các loài động vật thuộc nhóm II hoặc phụ lục II của Công ước CITES từ 300 triệu đồng thành dưới 150 triệu đồng
Bổ sung thêm tình tiết định tội thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng
+ Các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 234 cũng có sự thay đổi như điều luật đã bỏ tình tiết "lợi dụng danh nghĩa cơ quan tổ chức"
và sửa đổi tình tiết "Số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có giá trị từ 1 tỷ đồng đến dưới 2 tỷ đồng giảm xuống từ
500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng; ĐVHD thông thường hoặc bộ phận, sản phẩm của các động vật đó trị giá 1,5 tỷ đồng trở lên sửa thành có trị giá từ
700 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng
Trang 35+ Tình tiết tăng nặng thuộc Khoản 3 số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II Bộ phận, sản phẩm của các động vật đó trị giá 2 tỷ đồng trở lên sửa thành trị giá từ 1 tỷ đồng trở lên và ĐVHD khác trị giá từ 1,5 tỷ đồng trở lên
* Điều 244 thay đổi:
+ Trong cấu thành cơ bản bổ sung thêm hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống các loài động vật
+ Đối với các cấu thành tăng nặng cũng bổ sung thêm bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống có mức định lượng như đối với cá thể
- Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoãng dã và Điều 244 về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự năm 2015 Trong đó có các nội dung hướng dẫn quan trọng như:
+ Hướng dẫn áp dụng một số tình tiết định tội như: Động vật hoang
dã quy định tại Điều 234; động vật hoang dã khác quy định tại Điều 234 của
Bộ luật Hình sự; động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều 244; cá thể động vật; bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống; sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm…
+ Hướng dẫn áp dụng một số tình tiết định khung hình phạt như: Săn bắt trong khu vực bị cấm; săn bắt vào thời gian bị cấm; sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm hoặc các công cụ, phương tiện nguy hiểm khác mà
cơ quan có thẩm quyền quy định không được phép sử dụng để săn bắt… + Hướng dẫn về việc xử lý vật chứng như: Việc xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm hoặc sản phẩm của chúng… + Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm hoặc sản phẩm của chúng
Trang 362.2 Hoạt động thực hành quyền công tố đối với các vụ án về động vật hoang dã của Viện kiểm sát nhân dân
2.2.1 Tội phạm về động vật hoang dã và những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thực hành quyền công tố
Tổng số những trường hợp được ghi nhận trong 5 năm thuộc kỳ nghiên cứu các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam đã phát hiện và bắt giữ 1.504 vụ việc liên quan đến động vật hoang dã với hơn 130 loài đã bị vận chuyển, buôn bán, săn bắt trái phép (Với các tỷ lệ: Dựa trên cơ sở loài (Crookes et al 2005)), trong đó những vụ liên quan đến Rắn chiếm tỷ lệ cao nhất với 20,55% (309/1.504 vụ), tiếp theo là các trường hợp liên quan đến các loài Rùa với 10,31% (155/1.504 vụ), loài Chim với 8,58% (129/1.504 vụ) và Tê tê với 7,38% (111/1.504 vụ) Voi và Tê giác chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, trong đó Voi với 3,39% (51/1.504 vụ), Tê giác với 2,73% (41/1.504 vụ)
Trong tổng số 130 loài động vật hoang dã bị vận chuyển, buôn bán, săn bắt trái phép bị phát hiện, thu giữ tang vật là các cá thể động vật hoang dã cho thấy Rùa là loài có số lượng cá thể bị vi phạm lớn nhất, chiếm gần 1/3 trong tổng số các cá thể được phát hiện, bắt giữ (31,23% với 8.118/26.221 cá thể), tiếp theo là Chim (29,11% với 7.632/26.221 cá thể), Rắn và bò rừng (18.56% với 4,867/ 26,221 cá thể) và Tê tê là (7.43% với 1,949/26,221 cá thể)
Theo số liệu của Tổ chức bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam thì trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 12 năm 2017 có tới 80.13% với 21,011/26,221 cá thể động vật hoang dã còn sống khi tiến hành thu giữ, 18.64% với 4,887/26,221 cá thể động vật hoang dã đã chết khi thu giữ và 3,19% khối lượng bộ phận cơ thể động vật hoang dã với 1,317/41,328kg và 1% sản phẩm từ động vật hoang dã với 262/26,221kg, có 5.22% tổng khối lượng thu giữ với 2,156/41,328kg là sản phẩm động vật hoang dã đang ở trạng thái đông lạnh (Biểu đồ 1) (Các tỷ lệ: Số cá thể chết và còn sống, bộ phận cơ thể động vật đã thu giữ
Trang 37Biểu đồ số cá thể chết và còn sống, bộ phận cơ thể động vật đã thu giữ
(Nguồn WCS)
Trong thời gian qua tội phạm về động vật hoang dã đã bị phát hiện, xử
lý có rất nhiều những đặc điểm có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng THQCT của Viện kiểm sát như:
- Về đối tượng phạm tội hoặc vi phạm phạm pháp luật có thành phần đa
dạng, phức tạp bao gồm người Việt Nam, người nước ngoài Có đối tượng hoạt
động chuyên nghiệp, hoạt động có tổ chức theo tuyến, địa bàn nhưng cũng có
đối tượng phạm tội, vi phạm pháp luật nhất thời do hoàn cảnh kinh tế khó khăn
hoặc do điều kiện tự nhiên thuận lợi sẵn có để thực hiện hành vi phạm
- Về loài ĐVHD thường bị xâm hại là những loài được phân bổ tự
nhiên tại Việt Nam hoặc mua bán, vận chuyển, trung chuyển từ nước ngoài
vào Việt Nam rất đa dạng và phong phú Có loài động vật quý, hiếm như Hổ,
Gấu, Báo, mèo rừng, tê tê, các loài linh trưởng, rắn hổ mang chúa,… hoặc các
sản phẩm như sừng tê giác, ngà voi, sừng trâu rừng, bò rừng, sơn dương sừng
kiếm, linh dương đầu bò, nai sừng tấm,… Song cũng có nhưng loài được
phép gây nuôi vì mục đích thương mại
- Về phương thức thủ đoạn phạm tội, phụ thuộc vào tính chất hoạt động
của từng loại đối tượng, trên từng tuyến, địa bàn theo từng loại khác nhau mà
Trang 38phương thức thủ đoạn hoạt động của các đối tượng có những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn công tác đấu tranh với loại tội phạm này có thể khái quát như:
+ Tội phạm hình thành các băng nhóm, đường dây để thực hiện tội phạm, vi phạm pháp luật về ĐVHD Việc hình thành các băng nhóm, đường dây tội phạm đang là xu thế hoạt động của tội phạm môi trường hiện nay, tuy không xuất hiện các băng nhóm, đường dây, tổ chức hoạt động công khai, trắng trợn nhưng tính chất mức độ vi phạm và hậu quả tác hại gây ra làm mất cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững nói chung Các đối tượng trong và ngoài nước câu kết, móc nối với nhau để hình thành đường dây mua bán, vận chuyển ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD từ nước ngoài vào Việt Nam để tiêu thụ hoặc trung chuyển sang các nước thứ ba với phương thức, cách thức thực hiện ngày một tinh vi hơn
+ Thủ đoạn che giấu, cất giấu, vận chuyển rất tinh vi, xảo quyệt như cho Hổ mang chúa vào cặp số, tê tê đóng vào các thùng hàng đặt trong container thuộc diện miễn kiểm tra hoặc kiểm tra xác suất (kết hợp với việc mua chuộc hoặc có sự “bảo kê” của một số cán bộ công chức) hoặc sản phẩm của ĐVHD để lẫn với các loại thực phẩm nhằm trốn tránh sự kiểm tra của các
cơ quan chức năng hoặc trộn lẫn ĐVHD với các loại động vật thông thường, ĐVHD được phép gây nuôi
+ Hợp pháp hóa hồ sơ giấy tờ chứng minh nguồn gốc ĐVHD hoặc sản phẩm của ĐVHD
+ Thường xuyên thay đổi địa điểm giao hàng, thời gian giao hàng và thay đổi số máy điện thoại hoặc trao đổi với nhau bằng quy ước riêng, sử dụng tiếng lóng để giao dịch nhằm tránh sự phát hiện, theo dõi của cơ quan chức năng
Trang 39+ Sử dụng các trang mạng xã hội như facebook, viber, zalo, instagram,…để giao dịch, mua bán, trao đổi Đây là phương thức thủ đoạn rất tinh vi và khó phát hiện trong giai đoạn hiện nay
+ Sử dụng đa dạng các hình thức vận tải để vận chuyển, “xé lẻ” ĐVHD
để vận chuyển, sử dụng biển số giả, xe cộng vụ để vận chuyển
- Về tuyến, địa bàn trọng điểm, trong những năm qua nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, vi phạm pháp luật về ĐVHD các cơ quan chức năng đã xác định được các tuyến, địa bàn trọng điểm về săn, bắt, giết, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ ĐVHD cũng như sản phẩm cụ thể:
Về tuyến trọng điểm có thể kể đến như các tuyến: Hà Nội – Quảng Ninh – Móng Cái; Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội – Nghệ An – Hà Tĩnh; các tuyến biên giới từ Lào về Việt Nam; các tuyến biên giới từ các tỉnh biên giới Tây Nam về thành phố Hồ Chí Minh;…
Về địa bàn trọng điểm có thể kể đến như các địa bàn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh biên giới như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Tây Ninh, …; địa bàn chuyên nuôi nhốt ĐVHD như Quảng Ninh, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,…
- Về thủ đoạn trốn tránh trách nhiệm hình sự bao gồm:
+ Hối lộ, mua chuộc cán bộ chức năng trực tiếp phát hiện, bắt giữ hoặc dùng “mối quan hệ” để chạy tội, chạy hàng
+ Lợi dụng nơi vắng vẻ để đánh tháo, tẩu tán tang vật hoặc chênh lệch
về lực lượng để chống trả, dùng vũ lực đe dọa, chống lại lực lượng phát hiện, bắt giữ
+ Không khai báo, khai báo nhỏ giọt, khai báo thăm dò để tìm cách đối phó với cơ quan chức năng
+ Sử dụng các phương tiện giao thông cơ động, tốc độ cao để bỏ chạy và
sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ để chống trả…khi bị phát hiện, truy bắt