1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

90 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Tác giả Trần Thúy Hằng
Người hướng dẫn TS. Dương Quỳnh Hoa
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 830,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

Trang 1

HÀ NỘI - 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THÚY HẰNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG

TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI

TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN

QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THÚY HẰNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG

TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI

TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN

QUANG

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS DƯƠNG QUỲNH HOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi, vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi

phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

HỌC VIÊN

Trần Thúy Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP

ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁNError! Bookma

1.1 Khái quát về tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương

mại 7

1.2 Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án 17

1.3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mạitại Tòa án 22

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA

ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 27

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

thương mại tại Tòa án 27

2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 50

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG

KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

Trang 5

Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái BìnhDương

Vietnam-European Free Trade AgreementHiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Châu ÂuHợp đồng Kinh doanh thương mại

Kinh doanh thương mạiTòa án nhân dân

Tranh chấp KDTM

Tố tụng dân sựTrọng tài thương mại

Xã hội chủ nghĩaWorld Trade Organisation

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ Bảng

Bảng 2.1: Tình hình xét xử các vụ án sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng kinh doanhthương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang giai đoạn năm 2015 - năm2019 52

Sơ đồ

Sơ đồ 2.1: Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại 48

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện nền kinh tế ở Việt Nam đang được đổi mới và ngày càngphát triển, đặc biệt khi nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO),Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) các quan hệ kinh doanh thươngmại (KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo, sắc tháimới Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấpKDTM cũng phát sinh ngày càng muôn màu, muôn vẻ và với số lượng lớn là điềukhông tránh khỏi Khi có những bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồngKDTM thì việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào vừa đảm bảo có lợicho doanh nghiệp, thương nhân như giảm được chi phí giải quyết thấp nhất, thờigian giải quyết nhanh nhất, vừa duy trì được mối quan hệ làm ăn là việc mà cácdoanh nghiệp, thương nhân đặc biệt quan tâm và cân nhắc thận trọng Trong kinhdoanh, giữa các doanh nghiệp, thương nhân luôn phải có sự liên kết với nhau đểcùng nhau mang lại lợi nhuận, thông thường doanh nghiệp, thương nhân ký kết vớinhau hợp đồng nhằm xác định quyền và nghĩa vụ trong KDTM Theo quy định phápluật thì các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã giao kết trong hợpđồng Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào các chủ thể cũng thực hiện đầy đủcác quyền và nghĩa vụ của mình

Do đó, các tranh chấp về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hoạt độngKDTM là khó có thể tránh khỏi Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bênkhi tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ nềnkinh tế, các tranh chấp đó cần phải được giải quyết kịp thời, đúng đắn Về nguyêntắc khi tranh chấp trong KDTM xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏathuận trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cáchgiải quyết Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau và có yêucầu thì tranh chấp KDTM được giải quyết tại Trọng tài, theo tố tụng trọng tài hoặctại Tòa án nhân dân, theo thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự(BLTTDS) Đối với Việt Nam các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyếttranh chấp KDTM bằng Toà án sau khi thương lượng, hoà giải không thành Tuy

Trang 8

nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án vẫn còn nhiều vấn đề đángquan tâm đó là: Các quy định pháp luật còn có những nhược điểm, bất cập, dẫn đếnviệc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành Tòa án cũngnhư quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp Tòa án làm cho hoạt độngxét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn vướng mắc Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài

ngiên cứu với chủ đề: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” Thông qua Luận văn này bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về vấn đề

nêu trên

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các vấn đề liên quan đến tranh chấp KDTM và giải quyết tranh chấp KDTMbằng thủ tục tư pháp không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lý ở Việt Nam.Cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các vấn đề liên quanđến giải quyết tranh chấp KDTM trên phạm vi một địa bàn cụ thể và đã có nhữngkết luận xác đáng, những kiến nghị hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảiquyết tranh chấp KDTM ở nhiều phương diện khác nhau Có thể kể đến các công

trình nghiên cứu tiêu biểu như “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Luận án Tiến sĩ của Đào Văn Hội năm 2003, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án

ở Việt Nam” Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Vinh, năm 2002, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động” luận văn thạc sĩ luật học của Đinh Thị Trang (2013) “Pháp luật về giải quyết kinh doanh thương mại theo thủ tục

tố tụng Tòa án ở Việt Nam hiện nay” Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Đinh Ngọc Thương(2016) “Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh thương mại

vô hiệu Theo pháp luật Việt Nam” Khoa Luật thuộc Đại học Huế Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Ban năm 2012, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Thẩm quyền của Tòa

án về tranh chấp kinh doanh thương mại và thực tiễn thực hiện tại Tòa án” của Lê

Thị Oanh năm 2017, Trường Đại học Luật Hà Nội Bên cạnh đó còn có nhiều bài

nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục áp

Trang 9

dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thu Thủy, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2014);

“Xác định thẩm quyền giữa toà án và trọng tài trong quá trình thụ lý vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án và một số kiến nghị hoàn thiện”

của Bùi Thành Trung, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 12/2014;

“Tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa qua

Sở giao dịch” của Vũ Thị Lan Anh, Tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư pháp, Số 3/2016.

Nhìn chung, các công trình đã chỉ ra sự cần thiết và giới thiệu khái quát về

mô hình tài phán tại Tòa án ở Việt Nam Các công trình đã đề cập đến thủ tục tốtụng giải quyết tranh chấp KDTM một cách khá chi tiết, đầy đủ, góp phần quantrọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật Tố tụngdân sự và các luật liên quan đến hoạt động KDTM; xác định thẩm quyền của Tòa ántrong việc giải quyết tranh chấp KDTM Các công trình nghiên cứu cũng đưa ranhiều giải pháp có giá trị góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết cáctranh chấp KDTM Đây là những tri thức quan trọng mà tác giả luận văn kế thừatrong quá trình nghiên cứu của mình Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề về lý luận,thực trạng pháp luật và thực tiễn về giải quyết tranh chấp KDTM đang tiếp tục đượcđặt ra và có nhu cầu cần được giải quyết Cho tới thời điểm hiện tại chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu việc giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM từ thực tiễnTòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn thạc sĩ Luật Với đề tài này tác giả sẽ

đi sâu nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM của Tòa án nhândân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang để kiến nghị các giải pháp nâng caohiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp trong KDTM

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơbản về tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực KDTM tại toà án nhân dân cấp sơ thẩm,

Trang 10

đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại toà án nhân dânthành phố Tuyên Quang, chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của nó, từ

đó luận văn đưa ra một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng caohiệu quả áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại toà án nhândân cấp sơ thẩm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích để làm rõ cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTMtại toà án nhân dân như khái niệm tranh chấp hợp đồng KDTM, khái niệm đặc điểmcủa giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM, các yếu tố ảnh hưởng đến việc giảiquyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại toà án nhân dân cấp sơ thẩm

- Làm sáng tỏ nội dung pháp luật điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM tại toà án nhân dân cấp sơ thẩm

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồngKDTM tại toà án nhân dân, chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định phápluật

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấphợp đồng KDTM tại toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, chỉ ra những thànhtựu, hạn chế và nguyên nhân của nó

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM tại toà án nhân dân và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giảiquyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại toà án nhân dân cấp sơ thẩm nói chung và toà

án nhân dân thành phố Tuyên Quang nói riêng

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là:

+ Các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM

+ Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp KDTM nói chung và giải quyết tranh chấp về hợp đồng KDTM nói riêng

+ Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa án nhândân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành có so sánh đối chiếuvới các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực liên quan tới hoạt động giải quyết tranhchấp hợp đồng KDTM tại toà án nhân dân cấp huyện

Nghiên cứu và phân tích thực trạng hoạt động giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang qua các năm từ năm

2015 đến năm 2020

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, về xây dựng và hoàn thiện phápluật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình giải quyết cáctranh chấp KDTM Do đó, các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật đều dựa trên cácquan điểm chỉ đạo nêu trên

Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng kết hợp cácphương pháp:

- Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm làm rõ những vấn đề về lý luận

về giải quyết tranh chấp KDTM tại Chương 1

- Phương pháp hệ thống hóa pháp luật giúp tổng hợp một cách đầy đủ, chínhxác các quy phạm pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại tại Mục

1.3 Chương 1, Mục 2.1 Chương 2

- Phương pháp thống kê được sử dụng trong việc thống kê các số liệu trongthực tiễn tình hình giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nhân dân thành phốTuyên Quang làm cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động tố tụng tại Mục 2.3, Chương 2

- Phương pháp nghiên cứu bản án nhằm tóm lược một cách ngắn ngọn, xúctích bản án thực tiễn làm cơ sở đưa ra bình luận, đánh giá về hoạt động giải quyếttranh chấp KDTM tại Mục 2.2 Chương 2

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc tổng hợp các vấn đề đãnghiên cứu nhằm đưa ra những nhận định và những kết luận tại Chương 3

Trang 12

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu góp phần làm rõ những vấn đề lý luận vềgiải quyết tranh chấp KDTM, việc giải quyết tranh chấp KDTM bằng tố tụng tưpháp Chỉ ra những bất cập của hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTMbằng thủ tục tư pháp, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềgiải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể trởthành nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luậttrong quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các cơ quan tiến hành tốtụng, đặc biệt là Tòa án các cấp vận dụng trong quá trình giải quyết các vụ án tranhchấp hợp đồng KDTM, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả công tácgiải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án các cấp

7.Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có

cơ cấu gồm 3 Chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vựckinh doanh thương mại tại Tòa án

+ Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giảiquyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử

sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang

+ Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nhằmnâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanhthương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI

TÒA ÁN

1.1 Khái quát về tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng kinh doanh thương mại

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại

Khi nói tới hợp đồng, tức là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mụcđích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên Quan hệ KDTM được xáclập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý chủ yếu là hợp đồng

Trong đời sống xã hội, nhu cầu giao lưu trao đổi buôn bán gọi chung là giaodịch dân sự là một nhu cầu tất yếu khách quan và để điều chỉnh cũng như đảm bảotính hiệu lực của các giao dịch đó, pháp luật về hợp đồng ra đời và ngày càng chứng

tỏ được vai trò đặc biệt quan trọng của mình Có thể nói pháp luật về hợp đồng làmột trong những chế định lâu đời nhất liên quan đến hoạt động KDTM, dân sự Đểhiểu như thế nào là hợp đồng KDTM thì cần tìm hiểu rõ các khái niệm về Hợp đồng

là gì? KDTM là gì? từ đó ta có thể hiểu rõ hơn về Hợp đồng trong lĩnh vực KDTM

Khái niệm Hợp đồng

Theo Vũ Văn Mẫu, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặcnhiều bên kết ước Hai điều kiện cần để tạo ra hợp đồng là người kết ước và chủđích của sự ưng thuận1 Trước tiên, về mặt chủ thể, người kết ước, hay chủ thể giaokết hợp đồng là các bên tham gia vào một quan hệ hợp đồng, có thể là cá nhân hoặcpháp nhân Trong một quan hệ hợp đồng, xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng làngười có quyền (trái chủ) và người có nghĩa vụ (thụ trái) Một trái chủ có thể cónhiều thụ trái và ngược lại, một thụ trái có thể có nhiều trái chủ

Về mặt ý chí, chủ đích của sự ưng thuận hay mục đích của thỏa thuận có

bản, Sài Gòn, 1963, tr 56–57

Trang 14

nghĩa là các bên phải thỏa thuận với nhau về một việc xác định nào đó, ý chí củamỗi bên phải cùng hướng về một mục đích, hay còn gọi là sự thống nhất ý chí,nhưng không nhất thiết phải thỏa thuận về tất cả những vấn đề xoay quanh hay phátsinh từ mối quan hệ của họ Những vấn đề mà các bên chưa thỏa thuận, vì nhiều lý

do mà chủ yếu là do họ không thể lường trước những trường hợp phát sinh bất đồnggặp phải trong tương lai, sẽ được dự liệu trong các quy định của pháp luật về chếđịnh hợp đồng Ý chí của các bên cần đủ rõ ràng (không có nghĩa là không chấpnhận sự ngầm định) và ăn nhập với nhau

Và cuối cùng, sự thỏa thuận phải tạo lập một hệ quả pháp lý mới có khả năngtạo thành hợp đồng Có các bên kết ước và có sự thỏa thuận giữa các bên về mộtviệc xác định nào đó chưa đủ để tạo ra một hợp đồng Hệ quả pháp lý được hiểu là

sự tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi (và nghĩa vụ dân sự tương ứng)hoặc một quan hệ pháp luật Một thỏa thuận để được coi là hợp đồng, cần là mộttrong những nguồn gốc phát sinh của nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ

ý chí của chủ thể) cả về mặt chủ quan và khách quan

Khái niệm Kinh doanh thương mại

Theo từ điển tiếng Việt, “kinh doanh” được hiểu là tổ chức sản xuất, buônbán sao cho sinh lợi2 Như vậy, ở nghĩa phổ thông, kinh doanh không chỉ là buônbán mà bao gồm cả sản xuất Hơn nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất,buôn bán đều là kinh doanh mà chỉ có những hoạt động sản xuất, buôn bán có sinhlợi mới được coi là kinh doanh Theo quy định của các văn bản pháp luật thì kinhdoanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trìnhđầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trườngnhằm mục đích sinh lợi Như vậy, khác với hành vi dân sự thuần thúy (cũng traođổi, cung ứng dịch vụ), mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận Đối vớicác doanh nghiệp, lợi nhuận được tạo ra khi số tiền thu được trong kinh doanh(doanh thu) lớn hơn số tiền phải chi phí (chi phí kinh doanh), tiền bán ra trừ tiền chiphí bằng lợi nhuận Bất cứ hoạt động nào, cho dù về mặt hình thức giống kinh

Trang 15

doanh nhưng mục tiêu của hoạt động đó không phải là tạo ra lợi nhuận đều khôngphải là kinh doanh.

Còn thương mại được hiểu theo nghĩa thông thường là hoạt động trao đổi haygiao lưu hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở thuận mua vừa bán Sự ra đời và phát triển củathương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Khi có sự phân công lao động lần thứ

ba trong xã hội, thương nghiệp ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm

để kiếm lời- các thương nhân, lúc đó thương mại được hình thành

Như vậy có thể hiểu thương mại là khâu nối liền sản xuất với tiêu dùng thôngqua việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và người mua bao gồmnhững hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,…giữa hai hay nhiều đối tác, và có thểnhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụkhác như trong hình thức thương mại trao đổi hàng hóa Trong quá trình này, ngườibán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại ngườimua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó

Khái niệm Hợp đồng kinh doanh thương mại

Mặc dù khái niệm hợp đồng KDTM (trước đây được gọi là hợp đồng kinh tế)không được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiên hành nhưng điều đó không

có nghĩa hợp đồng trong lĩnh vực KDTM không tồn tại Bởi lẽ, khi còn các hoạtđộng trong lĩnh vực KDTM được coi là một hành vi dân sự đặc thù thì vẫn cónhững quy định riêng điều chỉnh các hợp đồng với tư cách là hình thức pháp lý củacác hoạt động thương mại (các hợp đồng này được gọi chung là hợp đồng thươngmại hay hợp đồng trong lĩnh vực thương mại)

Là một loại hợp đồng dân sự, hợp đồng trong lĩnh vực KDTM có nhữngđiểm giống hợp đồng dân sự về bản chất Hợp đồng KDTM đều là những giao dịch

có bản chất dân sự, thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của cácbên; đều hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợpđồng; đều có những vấn đề cơ bản như: giao kết hợp đồng, nguyên tắc và các biệnpháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu…Tuy nhiên, do xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của hoạt động KDTM nên hợp đồng

Trang 16

KDTM có những vấn đề được quy định có tính chất là sự phát triển tiếp tục nhữngquy định của dân luật truyền thống như: chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ củacác bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng…

Như vậy, có thể hiểu khái niệm hợp đồng KDTM là hình thức pháp lý củahành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên trong đó ít nhất mộttrong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân nhằmxác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạtđộng thương mại

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh thương mại

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng KDTM là thương nhân với thương nhân

hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu giao dịch, mua bán hànghóa và đều vì mục đích lợi nhuận Điều 6 Luật Thương mại 2019 quy định thươngnhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thươngmại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Thương nhân có thể

là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài Có những quan hệ trongquan hệ hợp đồng trong KDTM đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân (Hợp đồngđại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáothương mại) Bên cạnh đó có những hợp đồng KDTM chỉ cần ít nhất một bên làthương nhân (hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hoá,hợp đồng môi giới thương mại)

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng KDTM Hợp đồng KDTM có đối tượng

là hàng hóa (động sản hoặc bất động sản) và công việc - dịch vụ Đối tượng của hợpđồng KDTM không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình

vô hình như dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác Đối tượng của hợp đồngKDTM phải không thuộc trường hợp danh mục hàng hóa bị cấm

Thứ ba, về hình thức hợp đồng KDTM Hợp đồng KDTM có thể xác lập

bằng văn bản, bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên đối với những trườnghợp bắt buộc bằng văn bản thì hợp đồng KDTM phải được xác lập bằng văn bản.Thông thường các hợp đồng KDTM được xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an

Trang 17

toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp, nhưng đối với những hợp đồng đơngiản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì các bên có thể xác lập hợp đồngbằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể Luật Thương mại năm 2019 cho phépcác bên hợp đồng có thể thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giátrị pháp lý tương đương Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồmđiện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu Thư điện tử và các hình thức thông tin điện

tử khác cũng được coi là hình thức văn bản Tuy nhiên đối với một số hợp đồng màpháp luật quy định phải bằng hình thức văn bản thì các bên phải xác lập hợp đồngbằng văn bản, chẳng hạn như hợp đồng cung ứng dịch vụ (theo Điều 74 LuậtThương mại năm 2019), hợp đồng nhượng quyền thương mại (theo Điều 285 LuậtThương mại năm 2019)

Thứ tư, mục đích phổ biến của các bên trong hợp đồng KDTM là lợi nhuận.

Trường hợp có chủ thể hợp đồng không nhằm mục đích lợi nhuận, thì hợp đồngđược áp dụng Luật Thương mại khi bên không nhằm mục đích lợi nhuận lựa chọn

áp dụng Luật Thương mại

Thứ năm, lĩnh vực phát sinh quan hệ hợp đồng KDTM là các hoạt động

thương mại được quy định tại Điều 2 Luật Thương mại năm 2019, bao gồm muabán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động có liên quanđến thương mại khác

Thứ sáu, nội dung của hợp đồng KDTM là tổng hợp các điều khoản mà các

bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định nhữngquyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng Mỗi loại hợp đồng

có những quy định nhất định về các điều khoản cơ bản Ví dụ như đối với hợp đồngmua bán thì điều khoản cơ bản bao gồm đối tượng và giá cả Pháp luật đề cao sựthỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên nội dung của hợp đồng phải tuân theonhững quy định của pháp luật hợp đồng nói chung, được quy định tại Bộ luật Dân

sự năm 2015 Loại trừ những điều khoản của pháp luật có nội dung mang tính bắtbuộc, các bên có thể thỏa thuận với nhau những nội dung khác với nội dung quyđịnh trong pháp luật Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, có sự bổ sung bởiphụ lục hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của

Trang 18

phụ lục không được trái với hợp đồng Trường hợp phụ lục có điều khoản trái vớinội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừtrường hợp có thỏa thuận khác Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điềukhoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng

đã được sửa đổi

Thứ bảy, nguồn luật điều chỉnh hợp đồng KDTM.

Ở các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa thì có sự phân biệt giữaLuật Dân sự và Luật Thương mại thì hợp đồng KDTM được điều chỉnh chủ yếu bởiLuật Thương mại Nhưng ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ thì loại hợpđồng này được điều chỉnh bới Bộ luật Dân sự Ở Việt Nam, trước năm 2005, khicòn tồn tại hai hệ thống pháp luật về hợp đồng (hợp đồng kinh tế và hợp đồng dânsự) độc lập tương đối với nhau thì những nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồngthương mại được ghi nhận trọng các văn bản về hợp đồng kinh tế mà điển hình làPháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 Khi Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực, nộidung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại được quy định trong một hệthống văn bản pháp luật thống nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự gồm LuậtThương mại năm 2019, Bộ luật Dân sự năm 2015, các luật chuyên ngành có liênquan và các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam có tham gia Trong đó LuậtThương mại là nguồn luật chính về mặt nội dung điều chỉnh hợp đồng KDTM.Những vấn đề nào Luật Thương mại năm 2019 và các luật chuyên ngành không quyđịnh thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015

Các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam có tham gia, có liên quan như:Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định đối tác,…Luật chuyên ngành khác baogồm các luật áp dụng cho từng lĩnh vực cụ thể ví dụ như Luật Đầu tư năm 2014,Luật Dầu khí sửa đổi bổ sung năm 2008, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000,Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Chứng khoán năm 2019, và các văn bản pháp luậtkhác như các Nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao Trong một

số trường hợp khi không có quy định cụ thể trong Luật thì có thể áp dụng tập quánthương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trênmột

Trang 19

vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận

để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

1.1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại.

Tranh chấp KDTM là một trong những hệ quả của hoạt động KDTM, là mộthiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong nền kinh tế thị trường Tranhchấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc trong đời sốngkinh tế-xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Khái niệm này được sử dụngrộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây và ngày càng chiếm giữ vị

trí “thống lĩnh” thay thế khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc

của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về

quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan Tại Việt Nam, khái niệmtranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định tại Điều 238 Luật Thương mại

(1997): "Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại” Theo đó, nội

hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại (1997) rất hẹp sovới quan niệm về thương mại trên thế giới

Luật Thương mại (2019) định nghĩa “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Điều 3, khoản 1,

Luật Thương mại 2019) nhưng không đưa ra khái niệm về tranh chấp KDTM Tuynhiên, đạo luật này lại đưa ra các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

Theo Điều 4, Khoản 16, Luật Doanh nghiệp (2014) thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” BLTTDS (2004, sửa đổi bổ sung năm 2011) đã liệt kê các tranh chấp về KDTM

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án BLTTDS (2015) thì không liệt kê mà chỉ đưa

ra khái niệm BLTTDS (2004) không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” độc

Trang 20

lập mà sử dụng chung thuật ngữ “tranh chấp KDTM” nhưng nội dung của các tranh

chấp về KDTM được quy định tại Điều 29 BLTTDS (2004) thực chất là các tranhchấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại (2019) Điều này chothấy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìnchung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiệnqua các quy định trong các văn bản pháp luật tương đối nhất quán

Từ việc tiếp cận trên, có thể hiểu tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bấtđồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đếnlĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại

Theo quan điểm của tác giả, có thể định nghĩa một cách ngắn gọn tranh chấp

KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột

về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM”.

Hợp đồng trong KDTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh vớinhau hoặc với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền vànghĩa vụ các bên trong lĩnh vực thương mại Trong thực tế bắt đầu từ khi kí kết chođến khi kết thúc hợp đồng thường trải qua rất nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn trong

đó là một mắt xích rất quan trọng nên khi một mắt xích nào đó có vấn đề sẽ ảnhhưởng đến hợp đồng được kí kết giữa các bên và trực tiếp đến lợi ích của các chủthể Nếu vấn đề đó không được giải quyết sẽ làm phát sinh tranh chấp về hợp đồng

Theo quan điểm của tác giả, có thể đưa ra một khái niệm về tranh chấp hợp

đồng KDTM như sau: “Tranh chấp hợp đồng KDTM là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ theo hợp đồng giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng”.

1.1.2.2 Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại.

- Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn

(bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụthể Quan hệ kinh doanh thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thươngmại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh Trong hoạt động thương mại,các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề

Trang 21

ra Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiệnquyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu Các quan hệ kinh doanh thương mại

có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trựctiếp tới lợi ích kinh tế của các bên Thông thường, những mâu thuẫn bất đồng vềquyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm: (i)Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; kí gửi; thuê, chothuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kĩ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằngđường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằngđường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giákhác; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; (ii) Tranh chấp vềquyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều

có mục đích lợi nhuận; (iii) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty,giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;(vi)Tranh chấp khác về KDTM mà pháp luật có quy định

- Thứ hai, về phạm vi tranh chấp: Những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ

giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động KDTM Căn cứ phát sinh tranh chấp hợpđồng KDTM là hành vi vi phạm hợp đồng Tranh chấp KDTM phải là những mâuthuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt độngnhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúctiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

- Thứ ba, về chủ thể tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng KDTM chủ yếu là

những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, pháp nhân)với nhau Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp KDTM, trongnhững trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân)cũng có thể là chủ thể của tranh chấp KDTM khi trong các giao dịch bên không cómục đích sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại Về bản chất, hoạt động khôngnhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải làhoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn

áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và

Trang 22

tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấpKDTM Tranh chấp KDTM đã trở thành một hiện tượng tất yếu khách quan của nềnkinh tế thị trường Khi tranh chấp KDTM phát sinh đòi hỏi cần phải được giải quyếtmột cách minh bạch và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể,góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động KDTM, bảo đảm trật tựpháp luật, kỷ cương xã hội.

- Thứ tư, về tính chất của tranh chấp: Tranh chấp KDTM có tính chất đa

dạng, phức tạp, từ tranh chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác Đó là tính phứctạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trongnền kinh tế thị trường Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt động diễn ra thườngxuyên, liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tếkhiến cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan đếnnhau khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến tranhchấp trong mối quan hệ khác

1.1.2.3 Phân loại các tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

- Theo phạm vi lãnh thổ, có thể phân chia làm tranh chấp hợp đồng KDTMtrong nước và tranh chấp hợp đồng KDTM có yếu tố nước ngoài

- Theo chủ thể, có thể phân chia làm tranh chấp hợp đồng KDTM giữa haibên và giữa nhiều bên

-Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các bên:

+ Tranh chấp do người mua không thực hiện hay thực hiện không đúng theoquy định của hợp đồng

+ Tranh chấp do người bán không thực hiện hay thực hiện không đúng theoquy định hợp đồng

- Tranh chấp hiện tại và tranh chấp tương lai Tranh chấp hiện tại là tranh chấp

đã xảy ra đang cần được giải quyết Tranh chấp tương lai được hiểu là tranh chấp cóthể xảy ra và việc giải quyết được dự liệu trong một điều khoản của hợp đồng

-Tranh chấp theo nghiệp vụ giao dịch:

+ Tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá

+ Tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá

Trang 23

+ Tranh chấp liên quan đến điều khoản thanh toán

- Tranh chấp dựa trên tính chất pháp lý của hợp đồng (gồm có giá trị pháp lý

và hiệu lực của hợp đồng)

+ Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng sai chế độ ký kết hợp đồng (viphạm nguyên tắc ký kết; căn cứ ký kết không hợp pháp; chủ thể ký kết hợp đồngkhông hợp pháp, hợp lệ)

+ Tranh chấp liên quan đến nội dung của hợp đồng

+ Tranh chấp liên quan đến cách thức ký kết hợp đồng

-Tranh chấp trong tiến trình thực hiện hợp đồng

+ Tranh chấp trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng

+ Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng (do người bán không thựchiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình như đã thoả thuận trong hợpđồng; do người mua không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mìnhtrong hợp đồng)

1.2 Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án.

1.2.1.Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

Mối quan hệ trong hoạt động kinh tế tương đối đa dạng và phức tạp vừamang tính xung đột, vừa mang tính hợp tác Tuy nhiên, khi các chủ thể kinh tế thamgia trong quan hệ hợp đồng đều biết rằng việc có thể xảy ra tranh chấp và việc lựachọn phương thức giải quyết tranh chấp đó cũng là vấn đề đặt lên hàng đầu, có thểngay trong thỏa thuận tại Hợp đồng cũng có thể tại thời điểm có tranh chấp Phươngthức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước được tiếnhành theo trình tự, thủ tục luật định, nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết địnhcủa Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảothi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước

Giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa án là việc Tòa án có thẩmquyền tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết các mâu thuẫn phátsinh từ các hợp đồng KDTM mà các bên không tự giải quyết bằng các thươnglượng, không có thỏa thuận hòa giải thương mại hay trọng tài mà một trong các bêntranh chấp có khởi kiện vụ án ra Tòa án có thẩm quyền

Trang 24

Như vậy, khi các tranh chấp hợp đồng phát sinh do bất đồng giữa các chủthể trong quá trình thực hiện hợp đồng mà các bên không thể tự thỏa thuận, tự liên

hệ với nhau để hòa giải, đồng thời đã sử dụng các phương thức khác trong tranhchấp hợp đồng thương mại để giải quyết nhưng mang không lại kết quả thì có thểnộp đơn đến Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp về hợp đồng

1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án.

Theo những phân tích trên, khi một trong các bên khởi kiện ra Tòa án yêucầu giải quyết những vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của họ hay quyền lợi của họ bịxâm phạm trong khi giao kết hợp đồng thì thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồngKDTM tại Tòa án được bắt đầu

Thứ nhất, về trình tự thủ tục khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng KDTM tại

Tòa án Các trình tự, thủ tục giải quyết đối với những vụ án này thường cũng tuânthủ đúng theo BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành mà pháp luật Việt Namquy định Thể hiện qua các cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) đến các thủ tục xem xétlại bản án, quyết định (Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm)

Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa án luôn tôn

trọng quyền sự định đoạt của các đương sự

Trong quan hệ kinh doanh, các chủ thể luôn muốn đảm bảo được quyền tự

do kinh doanh, tự do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh, không muốn ai canthiệp vào hoạt động kinh doanh đúng pháp luật của hộ, kể cả Nhà nước Các bêntranh chấp có quyền lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp sao cho có lợicho bản thân Tòa án giải quyết chỉ khi các đương sự yêu cầu hoặc trường hợp thỏathuận bằng Trọng tài vô hiệu Khi có tranh chấp xảy ra, đương sự có quyền tự quyếtđịnh việc có khởi kiện hay không, đưa ra các yêu cầu nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp cho mình, tùy thuộc vào phạm vi và mức độ khác nhau Kể cả khi đưa vụ án ragiải quyết thì các đương sự vẫn có quyền thay đổi, bổ sung hoặc thậm chí có thể rútyêu cầu khởi kiện

Ngoài ra, trước khi khởi kiện, đương sự có quyền mời Luật sư hay người nào

đó chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, phương án khởi kiện và có thể thay mặt đương sự thamgia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa án mà không cần trực

Trang 25

tiếp phải có mặt tại Tòa khi khởi kiện.

Thứ ba, tính cưỡng chế khi giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa án.

Sau khi được Tòa án ra Bản án hoặc Quyết định thì buộc các bên phải thựchiện đúng theo Bản án hoặc Quyết định đó Đồng thời, việc thi hành này sẽ có biệnpháp cưỡng chế nếu các bên không tự nguyện thi hành án Đây là điểm là một ưuđiểm so các phương thức giải quyết khác trong tranh chấp KDTM, lợi ích của bên

bị xâm phạm được đảm bảo Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa ánthì cũng có một số điểm hạn chế nhất định Các thủ tục giải quyết tranh chấp thôngqua Tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Đồng thời,trong hoạt động KDTM thì việc xét xử công khai tại Tòa án không phù hợp (có thểlàm sút giảm uy tín của các bên trên thương trường; lộ các bí mật kinh doanh…).Ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền khángcáo khiếu nại nên thời gian kéo dài

1.2.3 Bản chất của giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại thông qua Tòa án

Về bản chất, phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án là một phươngthức mang ý chí quyền lực nhà nước, Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giảiquyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật Khi vụ án tranh chấp cóQuyết định hoặc bản án của tòa án có hiệu lực thì bắt buộc đương sự phải thực thi

và có thể kèm theo các biện pháp cưỡng chế thi hành Bởi vậy, các đương sự thườnglựa chọn Tòa án là nơi giải quyết cuối cùng để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp,chính đáng khi không thành công trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hòa giảiNhư vậy, bản chất của giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM thông qua Tòa ánđược thể hiện như sau:

Thứ nhất, cơ quan tài phán nhân danh nhà nước để giải quyết tranh chấp Tòa

án được nhà nước giao quyền lực để mang lại sự công bằng khi xã hội ngày càngphát triển, việc phát sinh nhiều tranh chấp trong hoạt động KDTM là không thểtránh khỏi Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều phương thức để lựa chọn giải quyếttranh chấp nhanh chóng, ngắn gọn, tốn ít chi phí nhưng không đảm bảo được quyềnlợi cuối cùng của họ có thể lấy lại được Do đó, phán quyết của tòa án được đảm

Trang 26

bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế.

Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp của tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các

quy định mang tính hình thức cũng như các quy định về thẩm quyền, thủ tục, cácnguyên tắc giải quyết tranh chấp KDTM của pháp luật tố tụng nhất là các quy địnhcủa BLTTDS năm 2015 Bởi, Tòa án là cơ quan nhân danh quyền lực của nhà nước,tất cả các văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp bằng con đườngTòa án thì Tòa án phải căn cứ thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục nhằm tạo sựcông bằng, nghiêm minh, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Thứ ba, Tòa án giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử công khai Việc

xét xử công khai này một mặt thể hiện tính dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dânkiểm tra, giám sát được các hoạt động của Tòa án, của các chủ thể tiến hành tố tụng,qua đó phát hiện những thiếu sót hoặc sai lầm trong tiến trình giải quyết vụ án, bảo

vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân theo quy định của pháp luật, mặtkhác qua xét xử công khai còn có tác dụng tuyên truyền pháp luật cho quần chúngnhân dân trong nhận thức về pháp luật

Như vậy, có thể thấy xét xử công khai nhằm đảm bảo cơ chế kiểm tra vàgiám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử và tuyên truyền, giáo dục ý thứcpháp luật cho người dân

Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét

xử: sơ thẩm và phúc thẩm Khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật còn có thểđược xét lại theo thủ tục: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Vì khi bản án hoặc quyếtđịnh giải quyết vụ án tranh chấp của Tòa án sơ thẩm khi ban hành sẽ chưa có hiệulực pháp luật ngay mà được dự liệu một thời gian nhất định cho các đương sự suynghĩ về quyền lợi của mình có đã đảm bảo hay chưa và các đương sự có thể khángcáo; đồng thời Viện kiểm sát có thể kháng nghị khi cho rằng nhận định của Tòa ánchưa chính xác Chính vì vậy, bản án hoặc quyết định của Tòa án có thể sẽ phảiđược xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm và có thể xem xét theo thủ tục giám đốcthẩm hoặc tái thẩm nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự; đồng thời đảm bảoTòa án giải quyết đúng vấn đề cần giải quyết và đưa ra phán quyết cuối cùng chính

Trang 27

Hội đồng xét xử giải quyết vụ án tranh chấp Hợp đồng KDTM cũng như các

vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật gồm: một Thẩm phán và hai Hộithẩm nhân dân Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm haiThẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Khi xét xử, Tòa án quyết định theo đa số,theo đó Hội đồng xét xử dựa vào cách biểu quyết theo đa số để giải quyết các vấn

đề Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng Sau khi biểu quyết, người chiếm thiểu

số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ

Vì vậy, trong thời gian gần đây, hầu hết các doanh nghiệp khi xảy ra tranh chấpthường chọn con đường giải quyết thông qua Tòa án để đảm bảo tính minh bạch cũngnhư lợi ích của các bên Tuy nhiên, không thể chắc chắn một điều là tất cả các doanhnghiệp khi tranh chấp đều biết các thủ tục cũng như quá trình giải quyết một vụ ántranh chấp KDTM như thế nào là đúng theo pháp luật nước ta quy định

1.2.4.Vai trò của giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

Thứ nhất, Tòa án đưa ra phán quyết có tính chính xác và tính khả thi cao.

Đặc điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng tố tụng tư pháp là tínhquyền lực nhà nước Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lựccủa Nhà nước khi xét xử các vụ tranh chấp Các bản án và quyết định của Tòa ánnhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng và chấphành Trong trường hợp bản án không được tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế

bởi quyền lực nhà nước.

Trang 28

Thứ hai, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh

chấp hợp đồng KDTM là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, sự tôn trọngpháp luật của một bộ phận tổ chức, cá nhân còn rất hạn chế Khi giải quyết tranhchấp KDTM, Toà án có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ đóng vai trò là bên thứ ba,

là cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp đã được yêu cầu Trong quá trình giảiquyết tranh chấp trên cơ sở áp dụng pháp luật hiện hành, Toà án sẽ nhân danhquyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra bản án hoặc quyết định

có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp và tổ chức, cá nhân có liên quan phải thựchiện Bản án, quyết định của toà án được cơ quan thi hành án của Nhà nước bảođảm thi hành Điều này nhằm nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấphành pháp luật của các tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời đảm bảo sự nghiêmminh của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liênquan trong từng vụ án cụ thể

1.3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

1.3.1 Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

Ban đầu, quan hệ giữa con người với con người được điều chỉnh bởi tậpquán, thông lệ thói quen và nhiều quy tắc xử sự khác,… Pháp luật - công cụ pháp lý

xã hội ra đời khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội trở nên phứctạp, đặc biệt một trình đọ nhất định, xã hội trở nên phức tạp, đặc biệt là khi trong xãhội có sự phân hóa thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau, các công cụ pháp lý

xã hội khác như tập quán, đạo đức, tính điều tôn giáo … không còn đủ khả năngduy trì được trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Trong những điềukiện như vậy, nhà nước đã ban hành ra pháp luật (thừa nhận những quy định đã cótrong xã hội là pháp luật và bảo đảm cho chúng được thực hiện, nhà nước còn tiếnhành đặt ra những quy định pháp luật mới) để tổ chức và quản lý xã hội vừa để bảo

vệ lợi ích của xã hội vừa để bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền Pháp luật đượchiểu là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm

Trang 29

thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước3.

Tranh chấp Hợp đồng KDTM là việc phát sinh mâu thuẫn, bất đồng từ hoạtđộng sản xuất, cung ứng dịch vụ,…Việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng KDTM tạiTòa án là các bên tranh chấp thông qua phương thức này thực hiện các thủ tục thíchhợp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm đảmbảo quyền và lợi ích chính đáng của mình Pháp luật giải quyết tranh chấp Hợpđồng KDTM tại Tòa án là các quy định điều chỉnh quy trình tiến hành giải quyếttranh chấp đó

Như vậy, pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa án làtổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mâuthuẫn phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa

án nhằm phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên viphạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm

1.3.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

Những nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồngKDTM theo thủ tục tố tụng bao gồm những nhóm quy phạm sau: Nhóm quy phạmquy định nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Toà án; Nhóm quyphạm quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐKDTM; Nhóm quy phạm quyđịnh về trình tự, thủ tục trong giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM

Thứ nhất, về nguyên tắc trong giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM.

Các nguyên tắc cơ bản là những tư tưởng chỉ đạo, hướng dẫn việc giải quyết cáctranh chấp hợp đồng KDTM và được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật về thủtục giải quyết các vụ án KDTM Cụ thể, đó là các nguyên tắc như: Khi xét xử,Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc xét

xử công khai, Xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Tòa án đảm bảo cho nhândân được dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa Là một Tòa

3 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2019, tr 22.

Trang 30

chuyên trách độc lập thuộc Tòa án cấp tỉnh, trong hoạt động xét xử các vụ ánKDTM, Tòa Kinh tế cũng phải tuân thủ những nguyên tắc riêng: nguyên tắc tôntrọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự; Nguyên tắc bình đẳngtrước pháp luật; Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thuthập chứng cứ; Nguyên tắc hòa giải; Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịpthời; Nguyên tắc xét xử công khai.

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM Khi xảy

ra tranh chấp, không phải lúc nào Toà án cũng có thẩm quyền giải quyết Toà án chỉgiải quyết khi có yêu cầu của đương sự (nguyên tắc quyền quyết định và tự địnhđoạt của đương sự) và tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

Ở nước ta, hệ thống Toà án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ Đểtránh chồng chéo thì việc phân định thẩm quyền giữa các Toà án là rất quan trọng,tránh tình trạng một vụ án có thể được rất nhiều Toà thụ lý hoặc không có Toà ánnào thụ lý Điều này cũng góp phần làm cho Toà án giải quyết nhanh chóng và đúngđắn các vụ việc Bên cạnh đó, việc xác định thẩm quyền giữa các Toà án một cáchhợp lý còn tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình, giảm bớt phiền phức cho đương sự

Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của các Toà án một cách hợp lý và khoahọc còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn,nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ công chức Toà án và các điều kiện khác, trên cơ sở

đó có kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho toà án thực hiện được chức năng, nhiệm vụ.Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM là quyền xem xét giải quyếtcác tranh chấp hợp đồng KDTM, quyền ra quyết định khi giải quyết các tranh chấp

đó theo quy định của pháp luật Thẩm quyền của Toà án gồm: thẩm quyền theo vụviệc; thẩm quyền theo cấp; thẩm quyền theo lãnh thổ; thẩm quyền theo sự lựa chọncủa nguyên đơn, người yêu cầu

Thứ ba, về trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM.

BLTTDS quy định cụ thể trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp được áp dụng để giảiquyết các tranh chấp KDTM từ giai đoạn khởi kiện đến giai đoạn thụ lý, giải quyết

Trang 31

vụ án tại hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) Bên cạnh đó còn có thủ tục đặcbiệt là giám đốc thẩm và tái thẩm… để đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp hợpđồng nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật.

Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay không có quy định riêng

về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM theo thủ tục sơ thẩm mà Tòa án cấp sơthẩm sẽ áp dụng các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án dân sựnói chung để giải quyết các tranh chấp KDTM Do đó, giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM theo thủ tục sơ thẩm cũng mang những đặc điểm chung của giải quyết

vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, cụ thể:

- Là thủ tục cơ bản của tố tụng dân sự được tiến hành theo một trình tự, thủtục nhất định quy định trong BLTTDS (2015) bao gồm các bước như khởi kiện, thụ

lý vụ án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phiên tòa sơ thẩm

- Là thủ tục tố tụng đầu tiên giải quyết tranh chấp của các bên đương sự nênphán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định không phải là phán quyết cuốicùng, đương sự vẫn có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân vẫn có quyềnkháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục phúc thẩm

Bên cạnh những đặc điểm chung của thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự, thủ tục sơthẩm vụ án KDTM cũng có một số đặc điểm riêng sau:

- Về chủ thể khởi kiện vụ án KDTM: Đối với vụ án KDTM chủ thể khởi kiệnchủ yếu là cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh (trừ một số trường hợp pháp luật cóquy định khác), đó là các cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng kíkinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật.Ngoài ra, còn một yêu cầu nữa đối với chủ thể khởi kiện vụ án KDTM đó là khi thamgia quan hệ KDTM đòi hỏi các bên chủ thể của quan hệ đó đều có mục đích lợinhuận

- Về các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện: Kèm theo đơn khởikiện người khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp phápcủa mình bị xâm phạm Tuy nhiên, đối với vụ án KDTM do chủ thể khởi kiện chủyếu là cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh nên khi nộp đơn khởi kiện, người nộpđơn khởi kiện thường nộp kèm theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, điều lệhoạt động của pháp nhận… để chứng minh tư cách chủ thể của mình

Trang 32

- Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp đượctiến hành quy định trong BLTTDS (2015) Tuy nhiên, giải quyết các tranh chấp hợpđồng KDTM căn cứ theo quy định của Luật Thương mại và các văn bản quy phạmpháp luật khác về thương mại, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 4, LuậtThương mại (2019) Giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự căn cứ theo quy địnhcủa BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến dân sự.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM: Do yêu cầu của phát triển sảnxuất, kinh doanh, thời hạn việc giải quyết vụ án KDTM được pháp luật quy định ngắnhơn thời hạn giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hôn nhân gia đình và vụ án lao động

- Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Trong quá trình giải quyết các vụ

án KDTM nếu đương sự có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT thì Tòa án mớixem xét có ra quyết định áp dụng BPKCTT hay không

- Về án phí: Việc giải quyết vụ án KDTM thường là vụ án có giá ngạch vàkhông có trường hợp nào được miễn án phí và mức án phí phải nộp trong các vụ ánKDTM thường có mức khởi điểm lớn hơn mức án phí của vụ án dân sự, vụ án hônnhân gia đình và vụ án lao động

Tiểu kết chương 1

Trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở ViệtNam hiện nay, các tranh chấp KDTM nói chung cũng như tranh chấp hợp đồngKDTM nói riêng diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực với nhữngnguyên nhân khác nhau mà chủ yếu là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụgiữa các chủ thể trong hoạt động KDTM

Do sự đa dạng của các tranh chấp hợp đồng KDTM mà cần phân biệt loại tranhchấp này với tranh chấp hợp đồng dân sự Đây là điều kiện cần và đủ để làm cơ sở choviệc xác định quan hệ tranh chấp khi giải quyết loại tranh chấp này trên thực tế

Tranh chấp hợp đồng thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền vànghĩa vụ do không thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng hợp đồng thương mại giữa cácchủ thể tham gia hoạt động thương mại hoặc có liên quan đến hoạt động thương mại

Có bốn hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM là: thương lượng,

Trang 33

hòa giải, tố tụng trọng tài và tố tụng tư pháp Mỗi hình thức đều có những đặc điểmcũng như những ưu, nhược điểm nhất định.

Ở Việt Nam, hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM bằng tố tụng

tư pháp được các bên tranh chấp ưu tiên lựa chọn vì đây là một hình thức mang ýchí quyền lực nhà nước Tòa án là cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước.Phán quyết của Tòa án mang tính bắt buộc đối với các bên, đảm bảo việc giải quyếttranh chấp được công bằng, chính xác, khách quan

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM và pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Chương 1,chúng ta có thể nhận diện những tranh chấp nào là tranh chấp hợp đồng KDTMcũng như hiểu rõ lịch sử hình thành, phát triển và những nội dung cơ bản của phápluật về giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM theo thủ tục tố tụng

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN

DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

2.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

2.1.1.1 Nguyên tắc Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật.

Nguyên tắc này thể hiện ở việc phán quyết của tòa án được đảm bảo thihành, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ củamình thì sẽ bị cưỡng chế Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại dựa trêncác quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định.Quá trình xét xử nhằm giải quyết tranh chấp diễn ra công khai, minh bạch, có sựtham gia của các bên có liên quan Đồng thời tòa án giải quyết tranh chấp trên cơ sở

Trang 34

xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

2.1.1.2 Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự

Việc tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự bắt nguồn từ nguyêntắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân Nguyên tắc này được ghi nhậntại Điều 5, BLTTDS (2015):

“ 1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩmquyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi cóđơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởikiện, đơn yêu cầu đó

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt,thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, khôngphạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”

Khi xảy ra các tranh chấp KDTM, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết vụ việc khiđương sự có yêu cầu Nhà nước không tự tiện đưa các tranh chấp của các bên ra Tòa

án để giải quyết Cá nhân, pháp nhân có quyền khởi kiện vụ án KDTM theo thủ tục

do pháp luật quy định để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chínhđáng của mình Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sựđược thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng: họ có thể khởi kiệnhoặc không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyềnchấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tựnguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này củađương sự không chỉ dừng lại ở việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúcthẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án,khi quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

2.1.1.3 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc pháp lý

cơ bản của luật pháp nước ta Điều 16 của Hiến pháp (2013) có ghi rõ mọi công dânđều bình đẳng trước pháp luật Điều 51 của Hiến pháp (2013) có quy định cụ thể vềcác cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Pháp luật công nhậnquyền bình đẳng của các chủ thể khi họ tham gia quan hệ sản xuất, kinh doanh

Trang 35

Điều 8, BLTTDS (2015) cũng có quy định về quyền bình đẳng trước pháp luật củacác đương sự:

“1 Trong tố tụng dân sự, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, khôngphân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ vănhóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội

Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền vànghĩa vụ tố tụng trước Tòa án

2 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”

Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng tư pháp có ýnghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh

tế, các thành viên của thương trường và các chủ thể của quan hệ pháp luật KDTM

2.1.1.4 Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ

Điều 6, Khoản 2, BLTTDS (2015) quy định:

“2 Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉtiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quyđịnh”

Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấphợp đồng KDTM Khác với thủ tục giải quyết các vụ án hình sự, khi giải quyết cáctranh chấp hợp đồng KDTM, Tòa án chủ yếu căn cứ vào chứng cứ mà các đương sựcung cấp Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ và chứng minh để bảo

vệ quyền lợi của mình Tòa án sẽ nghe các bên trình bày và xác minh các chứng cứ.Tòa án không tiến hành xét hỏi như trong tố tụng hình sự Các bên có quyền vànghĩa vụ trình bày những gì họ cho là cần thiết Tòa án không bắt buộc phải thuthập chứng cứ mà chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ khi cần thiết, để làm rõthêm yêu cầu của các bên, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác

Theo quy định của BLTTDS hiện hành, Tòa án chỉ tiến hành thu thập, xácminh chứng cứ trong một số trường hợp, như:

- Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản

Trang 36

khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng (Điều 98, Khoản 1, BLTTDS (2015);

- Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiếnhành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án(Điều 99, Khoản 1, BLTTDS (2015);

- Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khaicủa các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương

sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứngvới nhau (Điều 100, Khoản 1, BLTTDS (2015)

Trên thực tế, việc tự thu thập tài liệu, chứng cứ của đương sự gặp rất nhiềukhó khăn do nhiều trường hợp, các cơ quan tổ chức cá nhân không hợp tác trongviệc giao nộp tài liệu chứng cứ Pháp luật TTDS cũng chưa hướng dẫn cụ thểtrường hợp nào được coi là đã áp dụng biện pháp cần thiết nhưng không thể tự mìnhthu thập được chứng cứ Do đó, đương sự gặp nhiều trở ngại trong việc thu thập tàiliệu, chứng cứ cũng là cơ sở đề để nghị Tòa án thu thập chứng cứ

2.1.1.5 Nguyên tắc hòa giải

Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng tư pháp được quy định tại Điều 10,BLTTDS (2015): “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuậnlợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quyđịnh của Bộ luật này”

Bản chất của quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tựđịnh đoạt của đương sự Do đó, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan

hệ này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, trong đó hòa giải là mộtbiện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc trong tố tụng dân sự Hòa giải có ýnghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thốngđoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giảiquyết các tranh chấp hợp đồng KDTM Việc thực hiện tốt thủ tục hòa giải sẽ hạnchế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nước cũng như của công dân, hạnchế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp BLTTDS (2015) cũng quy định cụthể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khichuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa Đối với những vụ án đòi bồithường do

Trang 37

gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịchtrái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Tòa án không được hòa giải.

Việc hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt là

ở cấp sơ thẩm Việc hòa giải được thực hiện chủ yếu dựa vào kỹ năng, kinh nghiệmcủa các Thẩm phán Xu hướng chung của các Thẩm phán là hướng tới việc làm rõđúng - sai giữa các doanh nghiệp chưa hoặc chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn

đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay ít nhưng phải có lợi) Đó làđiều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân nhượng, hợp tác trong kinh doanh củacác đương sự Việc hòa giải không thành có thể dẫn đến căng thẳng giữa các đương

sự Khi việc hòa giải không thành thì mâu thuẫn giữa các đương sự sẽ tăng lên bộiphần và việc kiến tạo sự thương lượng, thỏa thuận giữa các đương sự trong các giaiđoạn tố tụng tiếp sau sẽ kém hiệu quả

2.1.1.6 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời

Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động KDTM, việc Tòa án giải quyết tranh chấphợp đồng KDTM không những cần bảo đảm đúng pháp luật mà còn phải nhanhchóng, kịp thời, dứt điểm, tránh tình trạng kéo dài, đảm bảo bồi thường kịp thời chobên bị vi phạm BLTTDS hiện hành có quy định cụ thể về thời hạn ở các giai đoạn

tố tụng, như: thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử,thời hạn ban hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyếttheo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Phần lớn Toà án các cấp đều giải quyết vụviệc trong thời hạn luật định Tuy nhiên, có một số Tòa án vẫn còn tình trạng để ánKDTM tồn đọng quá thời hạn xét xử Điều 203, BLTTDS (2015) quy định:

“ 1 Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theothủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thờihạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thờihạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngạikhách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử

Trang 38

nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm akhoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm bkhoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạnchuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa

án có hiệu lực pháp luật ”

Tuy nhiên, thực tế giải quyết các vụ án KDTM cho thấy quy định này củapháp luật TTDS là bất hợp lý do một số vụ án có tính chất phức tạp như đương sựkhông hợp tác, không có mặt để tham gia tố tụng khi được triệu tập hay đương sựkhông còn ở địa phương hoặc đương sự cố tình lẩn tránh không hợp tác; có trườnghợp đương sự ở nước ngoài (Trung Quốc) thì cần phải làm thủ tục ủy thác tư pháp,thu thập thêm chứng cứ Vì lẽ đó, BLTTDS năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bịxét xử các vụ án KDTM ngắn hơn thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án dân sự, vụ ánhôn nhân gia đình là hoàn toàn bất hợp lý, gây áp lực cho các Thẩm phán trong giảiquyết các vụ án KDTM sơ thẩm

2.1.1.7 Nguyên tắc xét xử công khai

Xét xử công khai là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của Tòa án vàđược cụ thể hóa tại BLTTDS (2015) Điều 15, Khoản 2, BLTTDS (2015) quy định:

“2 Tòa án xét xử công khai Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước,giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bímật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sựtheo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín.”

Theo quy định này, về nguyên tắc, Tòa án phải xét xử công khai trong hoạtđộng xét xử của mình Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, như cần giữ bímật kinh doanh cho đương sự, Tòa án có thể xét xử kín theo yêu cầu chính đáng củađương sự

Bí mật của đương sự trong tranh chấp KDTM thường là bí quyết kinh doanhnhư phát minh, sáng chế… có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngườikinh doanh Nếu các bí mật đó bị tiết lộ có thể làm doanh nghiệp gặp khó khăntrong kinh doanh, thậm chí là giải thể, phá sản Chính vì vậy, đương sự có thể yêu

Trang 39

cầu Tòa án xét xử kín vụ án KDTM Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định vềviệc đưa vụ án đó ra xét xử công khai hay xét xử kín.

Việc thực hiện nguyên tắc này đã tạo điều kiện cho các bên đương sự đượcđảm bảo bí mật KDTM của mình Mặc dù kết quả của việc giải quyết tranh chấpnhư thế nào thì việc xét xử kín cũng góp phần làm cho uy tín, bí mật kinh doanh củadoanh nghiệp không bị ảnh hưởng nhiều Do vậy, đây là quy định hoàn toàn phùhợp với thực tiễn

Khoản 3 Điều 13 BLTTDS năm 2015 quy định cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định củapháp luật; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên,giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình củađương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Tuy nhiên hiện nay ngoại trừ trường hợp

bí mật kinh doanh được quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Sở hữutrí tuệ năm 2005 Trong khi đó khái niệm bí mật nghề nghiệp, bí mật cá nhân, bímật gia đình hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn và lý giải cụ thể Thực tếxét xử cho thấy, nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng KDTM nhưng có liên quan đếnmột người có danh tiếng trong xã hội như ca sĩ, nghệ sĩ thì việc xét xử không đảmbảo yếu tố giữ bí mật cá nhân của những người này, làm cho danh tiếng của họ bịảnh hưởng dù không liên quan trực tiếp đến tranh chấp đó

2.1.2 Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án

Để xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giải quyết các vụ ánKDTM, Tòa án phải xác định được yêu cầu của đương sự thuộc nhóm quan hệ tranhchấp KDTM trong quan hệ tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng) để từ đó có sự phânđịnh thẩm quyền giữa Tòa án với cơ quan tài phán khác (trọng tài), hay giữa cácTòa án với nhau Do đó, để giải quyết tranh chấp hợp đồng KDTM tại Tòa án, thìyêu cầu đặt ra là Tòa án phải xác định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợpđồng KDTM của mình, cụ thể

2.1.2.1 Thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc

Điều 30 BLTTDS (2015) quy định những tranh chấp KDTM thuộc thẩm

Trang 40

quyền giải quyết của Tòa án gồm:

“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cánhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,

tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch

về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công

ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quảntrị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty vớinhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

5 Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩmquyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”

Căn cứ theo quy định trên, tranh chấp hợp đồng KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong từng trường hợp được xác định như sau:

Một là, tranh chấp hợp đồng KDTM thuộc Điều 30, Khoản 1, BLTTDS (2015) nếu có đủ ba yếu tố:

-Phát sinh giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau

-Các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận

-Phát sinh trong hoạt động KDTM

Hai là, tranh chấp hợp đồng KDTM thuộc Điều 30, Khoản 2, 3, 4, BLTTDS (2015) nếu phát sinh trong các lĩnh vực:

-Tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ

- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch

về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

- Tranh chấp liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợpnhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công

ty.Loại tranh chấp hợp đồng KDTM thứ hai này không bắt buộc một hoặc cácbên phải có đăng ký kinh doanh Đối với tranh chấp hợp đồng KDTM thuộc Điều

Ngày đăng: 27/06/2021, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
7. Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ”.B. Sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng minh và chứng cứ
10. PSG.TS Nguyễn Viết Tý, TS Nguyễn Thị Dung (chủ biên, 2018), “Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập 1”, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập 1
Nhà XB: NXB Tư pháp
12. Bùi Thành Trung (2014), “Xác định thẩm quyền giữa toà án và trọng tài trong quá trình thụ lí vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về KDTM tại Toà án và một số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thẩm quyền giữa toà án và trọng tài trongquá trình thụ lí vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về KDTM tại Toà án và một sốkiến nghị hoàn thiện”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Thành Trung
Năm: 2014
13. Nguyễn Như Phát (2001), “Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế”,"Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Như Phát
Năm: 2001
14. Nguyễn Thị Thu Thủy (2014), “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về thủ tục áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiệnnay”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy
Năm: 2014
16. Vũ Thị Lan Anh (2016), “Tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch”, Tạp chí Nghề Luật, (03), tr. 11 - 16.D. Luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạtđộng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch”, "Tạp chí Nghề Luật
Tác giả: Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2016
17. Cung Mỹ Anh (2008), Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của BLTTDS - Những vướng mắc và giải pháp khắc phục, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo quyđịnh của BLTTDS - Những vướng mắc và giải pháp khắc phục
Tác giả: Cung Mỹ Anh
Năm: 2008
18. Đào Văn Hội (2003), Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thịtrường ở Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Hội
Năm: 2003
19. Lê Thanh Khánh (2018), Thẩm quyền của tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Đại học Huế, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của tòa án trong quá trình giải quyếttranh chấp kinh doanh, thương mại
Tác giả: Lê Thanh Khánh
Năm: 2018
20. Lê Thị Oanh (2017), Thẩm quyền của Tòa án về tranh chấp KDTM và thực tiễn thực hiện tại Tòa án, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Tòa án về tranh chấp KDTM và thực tiễnthực hiện tại Tòa án
Tác giả: Lê Thị Oanh
Năm: 2017
21. Phạm Thị Ban (2012), Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa ánnhân dân - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
Tác giả: Phạm Thị Ban
Năm: 2012
22. Trần Thị Mơ (2016), Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo phápluật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Trần Thị Mơ
Năm: 2016
23. Trần Văn Hùng (2016), Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội, Hà Nội.E. Bản án, Quyết định của Tòa án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theopháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Tác giả: Trần Văn Hùng
Năm: 2016
24. Bản án số: 09/2018/TLST-KDTM ngày 05 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng sản xuất và thi công công việc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranhchấp hợp đồng sản xuất và thi công công việc
25. Bản án số: 21/2019/KDTM-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
26. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 01/2014/KDTM-ST ngày 03 tháng 11 năm 2014 về “V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng
27. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 14/2015/KDTM-ST ngày 24 tháng 8 năm 2015 về “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang.F. Báo cáo của Tòa án Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
33. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTDS
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2015
5. Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình xét xử các vụ án sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang giai đoạn - Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại từ thực tế xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 2.1 Tình hình xét xử các vụ án sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang giai đoạn (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w