Kể từ khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, BCH Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ sáu (111939), Hội nghị lần thứ bảy (111940) và Hội nghị lần thứ tám (51941). Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ 2 và căn cứ vào tình hình cụ thể trong nước, BCHTW đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, trong đó đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.Chính sách của Pháp và Nhật đã làm mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt hơnbao giờ hết. Chúng đã thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy chính trị, thẳng tay đàn áp phong trào CM của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào ĐCS Đông Dương. Ngày 22091940, Nhật tiến vào nước ta, ngay hôm sau Pháp đã đầu hàng, nhân dân ta chịu cảnh 1 cổ 2 tròng áp bức, bóc lột của Pháp – Nhật.BCHTW nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp – Nhật. Bởi “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”
Trang 1HỌC PHẦN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT Chương I
1 So sánh Cương lĩnh tháng 2/1930 với Luận cương tháng 10/1930
Giống nhau
- Về phương hướng chiến lược của cách mạng: đều xác định được tính chất của cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản
- Nhiệm vụ cách mạng: đều là chống đề quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất cho dân cày và giành độc lập dân tộc
- Lực lượng cách mạng: chủ yếu là công nhân và nông dân
- Phương pháp cách mạng: Kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang
- Vị trí quốc tế: cách mạng Việt Nam là bộ phận khăng khít với cách mạng thế giới, giai cấp
vô sản VN phải đoàn kết với vô sản thế giới nhất là vô sản Pháp
- Lãnh đao cách mạng: giai cấp vô sản thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không nhượng bộ quyền lãnh đạo cho giai cấp khác
Khác nhau
Cương lĩnh (2/1930) Luận cương (10/1930)
Mục tiêu
cách mạng
Tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
Lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa
Nhiệm vụ Đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc Xác định cách mạng thổ địa là cốt lõi
Lực lượng Công nhân, nông dân, tiểu tư sản và
các tầng lớp khác
Giai cấp công nhân và nông dân, không tập hợp được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
Quan hệ với
cách mạng
Thế giới
Mối quan hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới
Mối quan hệ cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới
Trang 2Nhận xét Cương lĩnh vận dụng đúng đắn,
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin…
Độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh
Hạn chế:
+ Chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của
xã hội, không đưa ngọc cờ dân tộc lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp
+ Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, tư sản dân tộc
Luận cương vận dụng máy móc, giáo điều chủ nghĩa Mác – Lênin,… Tư tưởng nóng vội, tả khuynh…Chưa đoàn kết dân tộc rộng rãi…
Chương II
1 Tại sao coi việc cứu nước thời kì chống chủ nghĩa phát xít đặt lên hàng đầu? (Vì sao hội nghị TW 8 Đảng đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc?)
Kể từ khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, BCH Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ sáu (11/1939), Hội nghị lần thứ bảy (11/1940) và Hội nghị lần thứ tám (5/1941) Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới thứ 2 và căn cứ vào tình hình cụ thể trong nước, BCHTW đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, trong đó đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Chính sách của Pháp và Nhật đã làm mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Chúng đã thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn Chúng phát xít hóa bộ máy chính trị, thẳng tay đàn áp phong trào CM của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào ĐCS Đông Dương Ngày 22/09/1940, Nhật tiến vào nước ta, ngay hôm sau Pháp đã đầu hàng, nhân dân ta chịu cảnh 1 cổ 2 tròng áp bức, bóc lột của Pháp – Nhật
BCHTW nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp – Nhật Bởi “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”
Trang 3Giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc để khẳng định đứng về phía phe Đồng minh chống phát xít để nhận sự giúp đỡ của họ Và thực tế là năm 1941, Tổng thống Mỹ đã gửi nhiều sỹ quan cấp cao của Mỹ sang huấn luyện cho những người ở mặt trận Việt Minh tại núi rừng Việt Bắc
Ở trong nước đã xuất hiện các nhân tố mới báo hiệu thời đại giải phóng đã đến Đó là sự xuất hiện của 3 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (1940), Nam Kì (1940) và Đô Lương (1941) Mặc dù cả 3 cuộc khởi nghĩa đều thất bại nhưng nó như những tiếng súng báo hiệu cho thời
kì mới – thời kì giải phóng dân tộc
Chương III
1 Phương hướng và nhiệm vụ cách mạng trong chủ trương Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945)
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc, vạch con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới
Về phương hướng, nhiệm vụ, Đảng nêu lên bốn nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cần khẩn trương thực hiện là: "củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân" Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu "Hoa - Việt thân thiện" đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và "Độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế" đối với Pháp
2 Phân tích cơ sở của chủ trương hòa với Tưởng
- Cơ sở lý luận :
Áp dụng chủ trương của Lenin về hòa hoãn sau CMT10 khi nước Nga có thù trong giặc ngoài thì Nga đã kí hoàn hoãn với 14 nước đế quốc bên ngoài để tập trung lực lượng chống phản động trong nước Năm 1920, Nga đã thành công chống thù trong giặc ngoại -> Lenin kết luận : Trong tình thế đối đầu với nhiều kẻ thù thì phải thực hiện hòa hoãn và chọn hòa với kẻ thù ít nguy hiểm trước Để có lợi cho cách mạng thì dù có phải hòa với kẻ cướp ta cũng phải hòa
- Cơ sở thực tiễn :
+ So sánh lực lượng lúc này ko cho phép ta đối phó với cả Tưởng và Pháp Hơn nữa, Tưởng trong phe Đồng minh đến tước vũ khí Nhật nên ta không được phép đánh Tưởng Hòa để quân tưởng bớt khiêu khích
+ Pháp lăm le muốn Tưởng nhanh chóng về nước để Pháp ra miền Bắc nhưng ta lại hòa với Tưởng để đẩy mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp trở nên gay gắt
+ Tưởng là kẻ thù ít nguy hiểm hơn Pháp, bởi vì… (phần trước) => Hòa với Tưởng trước
Trang 4+ Trong lúc này, Tưởng cũng muốn hòa với ta vì Tưởng muốn ở lại lâu để củng cố địa vị tay sai và để tiếp tục mặc cả với Pháp Lúc này nếu ta muốn hòa với Pháp cũng ko được vì Pháp đang muốn đánh nhanh thắng nhanh từ miền Nam ra miền Bắc
+ Hòa với Tưởng để ta có thể tập trung lực lượng đánh Pháp ở miền Nam
3 Biện pháp nhân nhượng với quân Tưởng của Đảng vào tháng 9/1945 đến tháng 2/1946
- Nội dung:
+ Chính trị:
ĐCS Đông Dương tuyên bố tự giải tán nhưng thực chất là rút vào hoạt động bí mật Chỉ để lại công khai là "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương" và đây chính là nơi những người Cộng sản ra vào hoạt động
Chấp nhận nhường 70 ghế trong quốc hội và một số ghế trong chính phủ cho Việt quốc Việt cách tay sai của Tưởng
Thực chất thời kì này ta thực hiện đa nguyên chính trị, chính phủ lúc này là chính phủ liên hiệp 3 bên, bao gồm: người của mặt trận Việt Minh, người yêu nước ko đảng phái
và người của Việt quốc, Việt cách Tuy nhiên thì các ghế trong chính phủ, ghế nào quan trọng, chủ chốt thì là của ta và người yêu nước ko đảng phái còn ghế nào rắc rối, khó khăn thì là người của Việt quốc Việt cách như: Bộ trưởng bộ ngoại giao, bộ trưởng bộ canh nông,
bộ trưởng bộ văn hóa
+ Kinh tế:
Chấp nhận cung cấp thực phẩm nuôi 20 vạn quân Tưởng Tiêu 2 loại tiền: Quan kim, Quốc tệ (2 loại tiền mất giá ở Trung Quốc) + Quân sự: Các đơn vị vũ trang tỉnh táo, tránh khiêu khích của quân Tưởng và tay sai
- Kết quả:
+ Hạn chế thấp nhất hoạt động khiêu khích lật đổ chính quyền của quân
Tưởng và tay sai của chúng
+ Tập trung được lực lượng đánh Pháp ở miền Nam
4 Cơ sở và chủ trương hòa hoãn với Pháp của Đảng ta (3-12/1946)?
- Việc Pháp và Tưởng kí hiệp ước Hoa-Pháp ngày 28/2/1946 Tưởng đã đồng ý cho Pháp ra miền Bắc VN thay thế quân Tưởng để tước khí giới của quân đội phát xít Việc làm này nhằm hợp pháp hóa việc Pháp quay trở lại Đông Dương lần thứ 2
- Xuất phát từ việc Đảng ta cân nhắc kĩ 2 khả năng đánh hay hòa với Pháp
Trang 5+ Nếu đánh Pháp thì :
TL : Được sự ủng hộ của nhân dân vì nhân dân qua hơn 80 năm nô lệ đã quá chán ghét rồi, khí thế CM năm 1945
KK :
So sánh lực lượng ko cân sức, đằng sau Pháp có cả phe đồng minh và nhất
là quân Mỹ
Kinh tế còn kém phát triển Chính trị : Sau năm 1945 ta vẫn trong vòng vây phong tỏa của các nước đế quốc, chưa nước nào đặt quan hệ ngoại giao với ta
Nếu đánh Pháp thì ta phải đối mặt với cả Tưởng bởi vì Tưởng kí hiệp ước với Pháp như vậy thì Tưởng ko chịu về để củng cố chính quyền tay sai và vòi vĩnh Pháp Khi Pháp ra thì Tưởng với Pháp lại cấu kết với nhau Như vậy ta
sẽ lại phải đối phó với nhiều kẻ thù Nếu đánh Pháp, ta sẽ ko có thời gian xây dựng lực lượng + Nếu hòa Pháp thì :
KK : Nhân dân ko đồng tình ủng hộ
TL :
Đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước Khi có hiệp định pháp lý cho Pháp ra thì Tưởng ko còn lý do gì ở lại Và đồng thời lực lượng việt quốc việt cách cũng phải về theo
Ta vừa loại bỏ được ngoại xâm, nội phản
Ta sẽ có thời gian xây dựng lực lượng vì chắc chắn ta sẽ phải bước vào cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp
Trong lúc này, Pháp cũng muốn hòa với ta Bởi vì thứ nhất, Pháp cũng muốn đuổi Tưởng về, thứ hai, vào thời điểm này, phong trào phản chiến của nhân dân Pháp lên cao nên
để xoa dịu tình hình nd trong nước, Pháp cũng muốn kí hòa ước với ta, thứ ba, đây cũng là
cơ hội thuận lợi để Pháp xin thêm viện binh từ trong nước
* Nội dung:
- Ngày 6/3/1946, ta kí với Pháp "Hiệp định Sơ bộ"
+ 15000 quân Pháp ra Bắc thay thế quân Tưởng và rút dần trong 5 năm
Trang 6+ Pháp công nhận VN độc lập, có chính phủ nhưng nằm trong khối liên hiệp Đông Dương thuộc Pháp
+ Vấn đề Nam Bộ cho nhân dân miền Nam tự quyết định
+ Trong quá trình kí hiệp định, 2 bên ngừng chiến sự
- Tháng 4 năm 1946, đại diện ta gặp đại diện chính phủ Pháp tại hội nghị trù bị ở Đà Lạt, đề ra yêu cầu nhanh chóng có 1 cuộc đàm phán chiến sự
- T5/1946, HCM sang Pháp với tư cách thượng khách nhưng thực chất Bác muốn tìm 1 giải pháp để hòa hoãn lâu dài với Pháp
- T7/1946, đoàn đại biểu ta sang Pháp dự hội nghị chính thức tại Phongtennobro nhưng ko đạt được thỏa thuận nào
- T9/1946, đoàn đại biểu ta trở về nước
- 14/9/1946, HCM kí bản Tạm ước với Pháp và trao cho Pháp nhiều đặc quyền hơn
nữa
5 Ý nghĩa sách lược hòa hoãn với Pháp?
Mặc dù thực dân Pháp bội ước nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 là một chủ trương sách lược đúng đắn của Đảng, Chính phủ và chủ tịch HCM
Đó là một mẫu mực tuyệt vời về việc lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù và sự nhân nhượng
có nguyên tắc Nhờ đó chúng ta đã loại trừ được một kẻ thù nguy hiểm là quân đội Tưởng Tranh thủ thời gian hòa hoãn Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tích cực đẩy mạnh sản xuất ổn định đời sống, tích trữ lương thực phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng các chiến khu, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân pháp, đồng thời làm cho dư luận quốc tế chú ý ủng hộ nguyện vọng hòa bình, tự
do của dân tộc VN
Thực tiễn lịch sử của thời kỳ này đã đem lại cho Đảng ta nhiều kinh nghiệm quý báu:
¢ Thứ nhất, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Mặc dù Đảng rút vào hoạt động bí mật, nhưng vẫn không ngừng củng cố và phát triển Trong điều kiện có nhiều đảng phái tham gia chính quyền, Đảng vẫn giữ vai trò lãnh đạo nhà nước một cách khéo léo Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm việc giữ vững bản chất cách mạng của chính quyền nhân dân
¢ Thứ hai, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, dựa vào dân Phát huy độ sức mạnh của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chính quyền Chính quyền được xây dựng sau Cách mạng Tháng Tám thực sự của dân, do dân và vì dân Chính phủ đã thực hiện những chính sách thiết
Trang 7thực như: bầu cử dân chủ, chính sách ruộng đất, xoá nạn mù chữ để nhân dân có thể hưởng những quyền lợi do chế độ mới đem lại, từ đó ủng hộ, tin tưởng tuyệt đối vào chính quyền, vào Đảng
¢ Thứ ba, lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, nguy hiểm nhất Giai đoạn này, chúng ta đã lợi dụng mâu thuẫn (Anh - Pháp, Mỹ -Tưởng, mâu thuẫn giữa các nhóm trong chính quyền và quân đội Tưởng, mâu thuẫn trong nội bộ thực dân Pháp) để phân hoá, làm suy yếu các kẻ thù, tranh thủ xây dựng lực lượng và bảo vệ được chính quyền nhân dân
6 Đại hội III có những tư tưởng chiến lược gì đối với miền Bắc lúc bấy giờ?
Nhiệm vụ chiến lược đối với miền Bắc giai đoạn 1954-1964 được xác định trong Đại hội III là tiến hành đẩy mạnh CMXHCN CMXHCN ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa cách mạng của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên CNXH về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng VN và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc vừa nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của miền Bắc trong hoàn cảnh nước nhà bị chia cắt, lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc
Câu 7: Cơ sở hình thành đường lối kháng chiến chống Mỹ trên phạm vi cả nước năm 1965 a) Bối cảnh lịch sử
Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của chiến lược
"Chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ ào ạt đưa quân Mỹ và quân các nước chư hầu vào miền Nam, tiến hành cuộc "Chiến tranh cục bộ" với quy mô lớn; đồng thời dùng không quân, hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc Trước tình hình đó, Đảng ta đã quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc
- Thuận lợi: khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng thế giới đang ở thế
tiến công Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã đạt và vượt các mục tiêu về kinh tế, văn hoá
Sự chi viện sức người, sức của của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy mạnh cả theo đường bộ và đường biển
Ở miền Nam, vượt qua những khó khăn trong những năm 1961 - 1962, từ năm 1963, cuộc đấu tranh của quân dân ta đã có bước phát triển mới Ba công cụ của "Chiến tranh đặc biệt" (ngụy quân, ngụy quyền, ấp chiến lược và đô thị) đều bị quân dân ta tấn công liên tục Đến đầu năm 1965, chiến lược
"Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ được triển khai đến mức cao nhất đã cơ bản bị phá sản
- Khó khăn: Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc càng trở nên gay gắt và không có lợi cho
cách mạng Việt Nam Việc đế quốc Mỹ mở cuộc "Chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân đội viễn chinh
Mỹ và các nước chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta
Trang 8Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới cho Đảng ta trong việc xác định quyết tâm và đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
b) Quá trình hình thành
+ Trung ương Đảng cho rằng cuộc “Chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành miền Nam vẫn là 1 cuộc xâm lược thực dân mới, buộc phải thực thi trong thế thua, thế thất bại và bi động, cho nên no
+ Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chông Mỹ cưú nước ,coi chông Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiên liêng của toàn dân tộc Bắc Nam
- Quyêt tâm và mục tiêu chiến lược: “ Nêu cao khẩu hiệu quyết tâm đánh giặcách mạngỹ xâm lược”, “kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ bất kể tình huống nào, để bảo vệ MIỀN BẮC, giải phóng MIỀN NAM, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nc, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nc nhà’
- Phương châm và chỉ đạo chiến lược: Tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh cục bộ của Mỹ ở MIỀN NAM,đồng thời phát động chiến tranh tranh nhân dân chống Mỹ chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền bắc; thực hiện kháng chiến lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng mạnh và cố gắn đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả 2 miền để mở nhũng cuộc tấn lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến
- Tư tưởng chỉ đạo và phương châm chiến đấu ở miền Nam: Giữ vững và phát triển thế tiến công kiên quyết tấn công và lien tục tấn công “tiếp tục kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vân dụng 3 mũi giáp công”, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược trong giai đoạn này,đấu tranh quân sự có tác dụng trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng
- Tư tưởng chỉ đạo đối với miền bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế,bảo đảm tiếp tục xây dựng miền bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều kiện có chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc mỹ để bảo vệ vững chắc miền bắc xã hội chủ nghĩa, động viên sức người, sức của ở mức cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền nam, đòng thời tích cực chuẩn bị đè phòng để đánh bại địch trong trường hợp chúng
- Nhiệm vụ và mối quan hệ giũa cuộc chiến đấu ở hai miền: Trong cuộc đấu tranh chống mỹ của nhân dân cả nước, miền nam là tiền tuyến lớn, miền bắc là hậu phương lớn bảo vệ miền bắc là nhiệm vụ của cả nước, vì miền bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc trong cuộc chiến tranh chống mỹ.phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc mỹ ở miền bắc và ra sức tăng cường lực lượng miền bắc về mọi mặt nhằm đảm bảo chi viện đắc lực cho miền nam càng đánh
Trang 9càng mạnh Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau, mà mật thiết gắn bó Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc đó là “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”
( Phần này thật ra giống với nội dung của nghị quyết 11 nên mọi người chỉ cần học câu 8 kĩ và một phần bối cảnh lịch sử là ok)
c)Ý nghĩa của đường lối ( giống câu 8)
Câu 8: mối quan hệ giữa miền Nam và miền Bắc trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, nghị quyết
11
(làm gộp trình bày luôn nhé)
A Về nghị quyết 11:
a) Bối cảnh lịch sử:
Trước hành động gây “ Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc của đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (t3/1965) và lần thứ 12 đã tập trung đánh giá tình hình và đề ra Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên cả nước
b) Về nhận định tình hình, chủ trương chiến lược:
+ TW Đảng cho rằng, cuộc “Chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, buộc phải thực thi trong thế thua, thế thất bại và bị động
+ Do đó, TW Đảng phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ trong toàn quốc, coi đây là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc
c) Quyết tâm và mục tiêu chiến lược:
Nêu cao khẩu hiệu :
1.“ Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”
2 “ Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược cuẩ đế quốc Mỹ trong bất kì tình huống nào,
để bảo vệ miền BẮc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.”
d) Phương châm chỉ đạo chiến lược
+ Đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam
+ Phát động chiến tranh nhân dân chống chiến tranh pha hoại của mỸ ở miền Bắc
+ Thực hiện kháng chiến lâu dài, càng đánh càng mạnh, tập trung cao độ, tập trung lực lượng hai miền, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi trong thời gian ngắn trên chiến trường miền Nam
Tư tưởng chỉ đạo đấu tranh ở miền Nam
+ Giữ vững, phát triển, kiên quyết và liên tục tiến công
Trang 10+ Kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc:
+ Bảo đảm xây dựng vững mạnh về kinh tế và quốc phòng
+ Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
+ Động viên sức người sức của ở mức cao nhất
+ Tích cực chuẩn bị đề phòng để đánh bại đich trong trường hợp chúng liều lĩnh mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước
Ý nghĩa của đường lối
Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng đề ra tại hội nghị lần thứ 11, 12 có ý nghĩa hết sức quan trọng:
+ Thể hiện quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ, tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần độc lập, tự chủ,
sự kiên trì mục tiêu giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc, phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta
+ Thể hiện tư tưởng nắm vững, giương cao ngọn cờ độc lộc dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh ở mức độ khác nhau, phù hợp với thực tế đất nước và bối cảnh kinh tế
+ Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính để phát triển trong hoàn cảnh mới, tạo nên sức mạnh để dân tộc ta đủ sức đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu của hai miền:
+Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta, miền Nam là tiền tuyến lơn, miền Bắc là hậu phương lớn
+Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ cả nước, vì miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ
+Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc và ra sức tăng lực lượng miền Bắc về mọi mặt nhằm bảo đảm chi viện đắc lực cho miên Nam càng đánh càng mạnh Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này là “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”
1 Một trong những quan điểm tiến hành CNH-HĐH của Đảng là "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững" Phân tích nhận định trên Theo em cần có giải pháp gì để phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao ở