1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luật Kinh tế Luật thương mai Những ưu điểm và hạn chế của các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

12 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 333,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Kinh tế Luật thương mai Những ưu điểm và hạn chế của các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại . 3, Hòa giải Ưu: Cơ hội thành công cao hơn vì có người thứ 3 làm trung gian hòa giải cho các bên Nhược: Uy tín bí mật kinh doanh vẫn bị ảnh hưởng, ngoài ra các bên còn tốn kém chi phí dịch vụ cho người thứ ba đứng ra hòa giải cho các bên

Trang 1

NHÓM 3

HỌC PHẦN: LUẬT KINH TẾ

Gv hướng dẫn:

Lớp: 2053PLAW0322

Trang 2

LÝ THUYẾT

Những ưu điểm và hạn chế của các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

1, Tòa án

- Có tính cưỡng chế cao Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ; và đảm bảo hiệu lực thi hành của phán quyết tại Tòa

- Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe

- Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia

- Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán

- Thủ tục tố tụng tại tòa án thiếu linh hoạt

- Mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ

- Phán quyết của tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế

2, Trọng tài

- Chỉ có một cấp xét xử Do

đó, quyết định của trọng tài là chung thẩm

- Hội đồng trọng tài xét xử vụ việc là do các bên thỏa thuận lựa chọn; hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện

=> trọng tài có thể theo dõi cuộc tranh chấp từ đầu đến cuối

- Xét xử theo phương thức trọng tài cũng là hình thức xét xử kín

- Các bên có quyền tự do thỏa thuận lựa chọn trọng tài

- Hoạt động trọng tài xét xử liên tục do đó tiết kiệm thời gian; chi phí, tiền bạc

- Vì đẩy cao tính hợp tác và tự hòa giải của các bên nên kết quả của cuộc giải quyết phụ thuộc vào thái độ; thiện chí của các bên tranh chấp

- Đa phần doanh nghiệp hiện nay chưa thực sự quan tâm đến việc

sẽ giải quyết các tranh chấp phát sinh bằng hình thức trọng tài

- việc thực thi quyết định lại phụ thuộc vào thiện chí và sự hợp tác của các bên vì tính cưỡng chế kém

- Trọng tài có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp

- Phán quyết của trọng tài có thể

bị yêu cầu tòa án xem xét lại

3, Hòa giải

Ưu: Cơ hội thành công cao hơn vì có người thứ 3 làm trung gian hòa giải cho các bên

Nhược: Uy tín bí mật kinh doanh vẫn bị ảnh hưởng, ngoài ra các bên còn tốn kém chi phí dịch vụ cho người thứ ba đứng ra hòa giải cho các bên

4, Thương lượng

Ưu: Đơn giản, hiệu quả, nhanh chóng, thuận tiện, ít tốn kém chi phí của các bên.Các bên có tranh chấp xảy ra cũng có thể bảo vệ uy tín cho chính họ, bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp

Nhược: Không được đảm bảo thi hành bởi cơ chế bắt buộc

Trang 3

BÀI TẬP

TÌNH

HUỐNG

Công ty TNHH Sơn Trà, trụ sở tại Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội, có chức năng sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng Công ty Cổ phần Thái Dương, trụ sở tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An, chức năng kinh doanh dịch vụ xây dựng

Ngày 03/01/2018, công ty Sơn Trà do bà Nguyễn Vân Trà, phó GĐ làm đại diện ký hợp đồng bằng văn bản số 01/HĐ với cty Thái Dương do ông Thái, Phó Giám đốc cty làm đại diện, có ủy quyền của ông Dương, Giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT Theo hợp đồng, cty Sơn Trà bán cho công ty Thái Dương gạch bê tông lát đường Hợp đồng có một số nội dung sau:

Tên hàng: Gạch bê tông lát đường

Số lượng: 300.000 viên Thời gian giao hàng: Từ đầu tháng 2 đến hết tháng 3/2018 Thanh toán: thanh toán bằng tiền mặt sau khi bên mua kiểm tra hàng hóa và trước khi bốc hàng lên phương tiện vận chuyển của bên mua

Phạt vi phạm hợp đồng:

- Hàng giao không đúng chất lượng: phạt 8% tổng giá trị hợp đồng

- Giao hoặc nhận hàng chậm: phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận chậm cho mỗi đợt 5 ngày giao hoặc nhận hàng chậm

Giải quyết tranh chấp: nếu xảy ra tranh chấp thì hai bên sẽ giải quyết tại Trung tâm trọng tài X

Trang 4

Trả lời: Hợp đồng số 01/HĐ là một hợp đồng mua bán hàng hóa

Tên hàng hóa: Gạch bê tông lát đường

Hai công ty chủ thể hợp đồng đều là thương nhân

Hình thức của hợp đồng là hợp đồng thương mại nên nó sẽ chịu sự

điều chỉnh trực tiếp của Luật Thương mại 2005 và xác định tính

pháp lý của hợp đồng trên cần phải dựa trên cơ sở của bộ Luật

dân sự 2015

=>Hợp đồng số 01/HĐ thì bộ Luật dân sự đóng vai trò là luật áp

dụng chung còn luật Thương Mại 2005 đóng vai trò là luật áp dụng

riêng

Câu hỏi 1: Nêu những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp

đồng số 01/HĐ

Câu hỏi 2: Yêu cầu của cty Thái Dương có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận không? Tại sao

Bổ sung: Ngày 07/01/2018, ông Dương nhân danh công ty Thái Dương gửi công

văn yêu cầu hủy bỏ hợp đồng số 01/HĐ, với lý do: hợp đồng số 01/HĐ không có

giá trị vì thiếu điều khoản chất lượng, giá cả và địa điểm giao nhận hàng Công

ty Sơn Trà phản đối yêu cầu của cty Thái Dương và yêu cầu cty Thái Dương

phải thực thiện hợp đồng theo thỏa thuận

Trả lời: Yêu cầu hủy hợp đồng của công ty Thái Dương không có

căn cứ hợp pháp để chấp nhận

Thứ nhất, công ty Thái Dương cho rằng hợp đồng 01 không có giá trị vì thiếu

điều khoản chất lượng, giá cả, địa điểm giao hàng là sai vì theo Điều 398 “Nội

dung của hợp đồng thương mại” luật Dân sự 2015:

1 Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng

2 Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:

a) Đối tượng của hợp đồng;

b) Số lượng, chất lượng;

c) Giá, phương thức thanh toán;

d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên;

e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

g) Phương thức giải quyết tranh chấp

Thứ hai, lý do công ty Thái Dương đưa ra không phải căn cứ để hủy hợp

đồng

Do công ty Thái Dương và công ty Sơn Trà đều là thương nhân nên áp dụng

luật thương mại 2005 quy định về hủy bỏ hợp đồng Cụ thể là theo khoản 4

Điều 312 Luật thương mại năm 2005, quy định chế tài hủy bỏ hợp đồng được

áp dụng trong các trường hợp sau:

– Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ

hợp đồng;

 – Một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của Hợp đồng;

Lý do hợp đồng thiếu điều khoản chất lượng, giá, địa điểm giao hàng không

thuộc trường hợp nào trên, do đó không phải là căn cứ để hủy hợp đồng

Trang 5

Câu hỏi 3: Hợp đồng số 01/HĐ có vô hiệu do người ký không đúng thẩm quyền hay không? Tại sao?

Bổ sung: Ngày 10/01/2018, hai công ty, với thành phần đại diện như khi ký hợp đồng

ngày 03/01/2018, đã thỏa thuận bổ sung nội dung của hợp đồng số 01/HĐ với những điều

khoản sau:

- Chất lượng: theo mẫu hàng

- Đơn giá: 2.500 đ/viên

- Tổng giá trị hợp đồng: 750.000.000 đồng

- Địa điểm giao hàng: tại kho của công ty Sơn Trà, quận M, Tp HCM

Do giá gạch lát bê tông trên thị trường tăng cao, ngày 20/01/2018 ông Sơn, Giám đốc

kiêm chủ tịch HĐTV công ty Sơn Trà gửi công văn thông báo cho cty Thái Dương với nội

dung không chấp nhận hợp đồng và cho rằng hợp đồng số 01/HĐ bị vô hiệu, vì hợp đồng

này do phó Giám đốc công ty Sơn Trà ký không có giấy ủy quyền của Giám đốc Công ty

Thái Dương gửi công văn phản đối việc hợp đồng bị vô hiệu của cty Sơn Trà, vì trước khi

ký hợp đồng số 01/HĐ, ông Trần Sơn đã chấp thuận (qua điện thoại) để bà Trà ký hợp

đồng

TH1: Bà Nguyễn Vân Trà được

sự ủy quyền của hội đồng thành viên công ty TNHH Sơn

Trà

TH2: Bà Nguyễn Vân Trà không được sự ủy quyền của hội đồng thành viên công ty TNHH Sơn Trà

Theo Điểm a khoản 1 và khoản 3 điều 67 của bộ Luật doanh

nghiệp 2014 thì bà Nguyễn Vân Trà ký kết hợp đồng bằng văn bản với ông Thái ( phó giám đốc công ty Thái Dương có ủy quyền của ông Dương giám đốc kiêm chủ tịch) được hội đồng thành viên công ty Sơn Trà chấp nhận

ủy quyền Vậy hợp đồng số 01/HĐ có hiệu lực do người ký là

bà Nguyễn Vân Trà có thẩm quyền quyết định

Cũng theo Điểm a khoản 1 và khoản 3 điều 67 của bộ Luật doanh nghiệp 2014 thì bà Nguyễn Vân Trà ký kết hợp đồng bằng văn bản với ông Thái ( phó giám đốc công ty Thái Dương có

ủy quyền của ông Dương giám đốc kiêm chủ tịch) không được hội đồng thành viên công ty Sơn Trà chấp nhận ủy quyền Vậy hợp đồng số 01/HĐ vô hiệu do người

ký là bà Nguyễn Vân Trà không có thẩm quyền quyết định

Trang 6

Câu hỏi 4 Yêu cầu giao hàng vào ngày 07/02/2018 của cty Sơn Trà

có căn cứ hợp pháp hay không? Tại sao?

Bổ sung:

Tại Điều 5 của hợp đồng các bên thỏa thuận: Hàng giao theo lịch biểu giao hàng như sau:

- Đợt 1: từ ngày 05/02/2018 đến ngày 15/02/2018, giao một lần 100.000 viên

- Đợt 2: từ 05/03/2018 đến 15/03/2018, giao một lần 200.000 viên

Ngày 03/02/2018, công ty Sơn Trà thông báo cho Cty Thái Dương là sẽ giao hàng đợt 1

(100.000 viên) vào ngày 07/02/2018, nhưng công ty Thái Dương trả lời từ chối nhận hàng vì

chưa chuẩn bị được phương tiện vận chuyển Công ty Thái Dương đề nghị được nhận hàng vào ngày 15/2/2018, nhưng vì có khó khăn về kho bãi nên công ty Sơn Trà không chấp nhận, đồng

thời yêu cầu công ty Thái Dương phải nhận hàng vào ngày 07/02/2018

Trả lời :

Yêu cầu giao hàng vào ngày 07/02/2018 của cty Sơn Trà là có căn cứ hợp pháp vì :

Theo khoản 2 điều 37 Bộ luật thương mại năm 2005: Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời

hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao

hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua

Trong trường hợp này công ty Sơn Trà đã thông báo cho bên công ty Thái Dương trước nên

việc công ty Sơn Trà yêu cầu giao hàng vào hôm 07/02/2018 là hoàn toàn có cơ sở pháp lý

Trang 7

Câu hỏi 5: Yêu cầu của các bên có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay không? Tại sao?

Bổ sung: Ngày 07/02/2018, công ty Thái Dương đến nhận hàng tại kho của công ty Sơn

Trà, sau khi kiểm tra hàng đã phát hiện 50% số hàng giao (50.000 viên) không đảm bảo

chất lượng theo đúng mẫu hàng Công ty Thái Dương từ chối nhận và ngừng thanh toán

số hàng không đúng chất lượng, đồng thời yêu cầu cty Sơn Trà nộp phạt vi phạm giao

hàng không đúng chất lượng theo Điều 5 của hợp đồng Cty Sơn Trà chấp nhận việc từ

chối nhận hàng của cty Thái Dương, nhưng không chấp nhận nộp tiền phạt, đồng thời yêu

cầu công ty Thái Dương đến nhận số hàng còn thiếu (của đợt 1) vào ngày 15/02/2018

Cty Thái Dương không chấp nhận yêu cầu giao hàng (vào ngày 15/10/2018) của cty Sơn

Trà, vì việc tổ chức vận chuyển làm hai lần đối với số hàng của đợt 1 sẽ làm phát sinh chi

phí cho công ty

Trả lời: Yêu cầu của các bên không đủ căn cứ hợp pháp để được chấp nhận

Đầu tiên ta xác định yêu cầu của các bên:

Công ty Thái Dương Công ty Sơn Trà

-Từ chối nhận hàng và ngừng thanh toán số hàng không đúng chất lượng

-Yêu cầu công ty Sơn trà nộp phạt

vi phạm giao hàng không đúng chất lượng theo Điều 5 của hợp đồng

-Không chấp nhận giao hàng vì việc tổ chức vận chuyển lần 2 đối với số hàng lần một sẽ làm phát sinh chi phí cho công ty

-Chấp nhận việc từ chối nhận hàng nhưng không chấp nhận nộp phạt

-Yêu cầu công ty Thái Dương đến nhận số hàng còn thiếu

Trang 8

Thứ nhất, việc từ chối nhận

hàng và ngừng thanh toán

tiền hàng không đúng chất

lượng của công ty Thái

Dương là hợp pháp

-Áp dụng điểm c khoản 1 và

khoản 2 Điều 39 luật thương

mại 2005 hàng hóa không

phù hợp với hợp đồng

- Khoản 3 Điều 51 của luật

Thương mại 2005

=> công ty ngừng thanh toán

hàng không đúng chất lượng

cũng là hợp pháp

Thứ hai của công ty Thái Dương là yêu cầu công ty Sơn Trà nộp phạt vi phạm, yêu cầu này có căn cứ hợp pháp

- Theo điều 300 và 301 Luật Thương mại 2005

=> Công ty Sơn Trà có nghĩa vụ nộp phạt

Thứ ba, yêu cầu công ty Thái Dương nhận số hàng còn lại vào 15/02/2018 của công ty Sơn Trà là hợp pháp

- Khoản 1 Điều 41 Luật Thương mại 2005

=> 05/02/2018 đến 15/02/2018, công ty Sơn Trà yêu cầu đến nhận số hàng còn thiếu vào ngày

15/02/2018 vẫn còn trong thời hạn giao hàng nên điều này hoàn toàn hợp pháp

Xác định căn cứ hợp pháp của yêu cầu

Như vậy đồng nghĩa với việc công ty Thái Dương từ chối nhận hàng là sai Mặt khác, công ty Thái Dương sẽ không phải chịu chi phí phát sinh do vận chuyển lần hai vì khoản 2 Điều 41 LTM 2005

quy định

=> Do đó, công ty Thái Dương có quyền yêu cầu công ty Sơn Trà thanh toán cho chi phí phát sinh

đó

Trang 9

Câu hỏi 6: Yêu cầu đòi tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại của cty Sơn Trà có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay không? Tại sao

Bổ sung :

Ngày 03/03/2018, công ty Sơn Trà thông báo cho cty Thái Dương đến nhận hàng đợt

2 vào ngày 10/03/2018 Ngày 20/3/2018 Cty Thái Dương mới đến nhận hàng Trước

đó, ngày 18/03/2018 xảy ra sự kiện bất khả kháng làm sập kho hàng và hư hỏng

50% số hàng (100.000 viên) mà cty Sơn Trà đã chuẩn bị sẵn để giao cho Cty Thái

Dương Cty Sơn Trà đã phải bỏ ra 10.000.000 đồng chi phí bảo quản và ngăn chặn,

hạn chế thiệt hại Vì không nhận được đủ hàng hóa (50% của đợt 2), cty Thái Dương

đã không thanh toán số hàng này cho cty Sơn Trà Cty Sơn Trà yêu cầu cty Thái

Dương:

- Thanh toán tiền cho số hàng hóa hư hỏng do rủi ro (hỏa hoạn) gây ra là:

100.000x2500 đồng = 250.000.000 đồng

- Nộp phạt vi phạm nghĩa vụ nhận hàng (nhận hàng chậm 10 ngày), với số tiền là:

5%x200.000x2500x2 đồng = 50.000.000 đồng

- Bồi thường 10.000.000 đồng tiền chi phí bảo quản hàng hóa, ngăn chặn và hạnj

chế thiệt hại (do cty Thái Dương nhận hàng chậm và do xảy ra hỏa hoạn)

Trang 10

Trả lời:

- Theo Điều 300 Luật thương mại 2005

Công ty Sơn Trà có quyền yêu cầu công ty Thái Dương nộp phạt vi phạm nghĩa vụ nhận hàng ( chậm 10 ngày ) theo như thỏa thuận trong hợp đồng Vì vậy yêu cầu công ty Thái Dương nộp số tiền phạt :

5%x200.000x2500x2 đồng = 50.000.000 (đồng ) của công ty Sơn Trà

là có đủ căn cứ hợp pháp để được chấp nhận

- Theo khoản 2 Điều 37, Điều 56 và Điều 303 Luật thương mại 2005

Việc công ty Thái Dương nhận hàng chậm 10 ngày dù đã được công ty Sơn Trà đã thông báo trước thời điểm nhận hàng đã vi phạm hợp đồng

và trên thực tế 50% số hàng ( 100.000 viên ) mà công ty Sơn Trà đã

chuẩn bị sẵn để giao cho công ty Thái Dương đã bị hư hỏng do hỏa

hoạn Tuy nhiên hành vi nhận chậm hàng của công ty Thái Dương lại

không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại do đó công ty Thái Dương không phải bồi thường thiệt hại

Vì vậy yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng tiên chi phí bảo quản hàng hóa, ngăn chặn, hạn chế thiệt hại và yêu cầu của công ty Sơn Trà về

việc công ty Thái Dương phải thanh toán tiền cho số hàng hóa hư hỏng

do rủi ro ( hỏa hoạn ) gây ra là :

100.000x2500 đồng = 250.000.000 ( đồng) là không có đủ căn cứ hợp pháp để được chấp thuận

Trang 11

Câu hỏi 7: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội có quyền giải

quyết tranh chấp giữa 2 công ty hay không? Giải thích tại sao? (Biết rằng ngày 14/02/2018, Trung tâm trọng tài X đã tuyên bố giải thể)

Bổ sung :Do không thống nhất mức bồi thường thỏa đáng, nên ngày 28/03/2018 công ty

Sơn Trà đã gửi đơn kiện lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu giải quyết tranh

chấp giữa hai công ty

Trả lời

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội KHÔNG có quyền giải quyết tranh chấp giữa 2

công ty

Theo quy định tại các Điều 29, 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì thẩm quyền giải

quyết vụ tranh chấp của bên công ty Thái Dương thuộc tòa án nhân dân cấp huyện

Điều 35, bộ luật tố tụng dân sự 2004 cũng quy định 

Vậy trong trường hợp này,nếu xảy ra tranh chấp giữa 2 công ty thì những tòa

án sau có thẩm quyền giải quyết: 

-Tòa án cấp huyện nơi công ty Sơn Trà đặt trụ sở chính

-Tòa án cấp huyện nơi công ty Thái Dương đặt trụ sở chính nếu công ty Thái

Dương có thỏa thuận với công ty Sơn Trà và được công ty Sơn Trà chấp thuận

Trang 12

THANKS FOR

WATCHING!

Ngày đăng: 27/06/2021, 12:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w