1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí về động học chất điểm theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh lớp 10 THPT

111 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học nội khóa đã được trang bị một số thiết bị thí nghiệm tối thiểu về động học chất điểm, nhưng qua điều tra chúngtôi nhận thấy các giáo viên chưa khai thác, tận dụng được hết

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tiến trình hội nhập quốc tế của đấtnước đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, năng động, sáng tạo và phẩm chất đạođức tốt Để đáp ứng nhu cầu đó ngành giáo dục cần đổi mới toàn diện Do vậy, với vănkiện đại hội Đảng lần thứ X của ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã khẳngđịnh “…ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chươngtrình, nội dung, phương pháp dạy và học …Phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suynghĩ của học sinh…”

Điều 28 Luật Giáo dục quy định ''Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng mônhọc, lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứngthú học cho HS"

Thực hiện yêu cầu trên, ngành giáo dục nước ta có chủ trương đổi mới nội dung,chương trình sách giáo khoa Với nội dung chương trình sách giáo khoa mới thì việc đổimới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh làthật sự cần thiết

Vật lí là một môn học bắt buộc trong hệ thống các môn học của trường phổ thông ởnước ta hiện nay Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường phổ thôngtrong đó yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học đối với môn vật lí là tất yếu Do đặcthù của vật lí là môn khoa học thực nghiệm nên một trong những khâu quan trọng củaquá trình đổi mới phương pháp dạy học vật lí là tăng cường các hoạt động thực nghiệmcủa học sinh trong quá trình học tập Thông qua thí nghiệm vật lí, học sinh sẽ rèn luyện

kĩ năng, kĩ xảo, giáo dục tổng hợp, hình thành tư duy sáng tạo và tinh thần làm việc tậpthể Thông qua việc tiến hành thí nghiệm, học sinh được làm quen với phương phápnghiên cứu khoa học, có một số kĩ năng sử dụng các máy móc thiết bị cơ bản làm cơ sởcho việc sử dụng những công cụ trong công việc cũng như trong cuộc sống

Qua điều tra thực tế, chúng tôi thấy: Việc dạy và học theo chương trình mới có nhiều

ưu điểm.Tuy nhiên, dạy học nội khóa vẫn còn rất nặng nề, chưa kích thích được sự hứngthú học sinh và chưa phát triển được năng lực sáng tạo của học sinh Do vậy, để đạtđược mục tiêu đã đề ra của nền giáo dục, cần phải đa dạng hóa các hình thức tổ chức cáchoạt động học tập của học sinh và cần phải khẳng định vai trò quan trọng của hoạt độngngoài giờ lên lớp (hay hoạt động ngoại khóa) Đây là một hình thức dạy học mang lạihiệu quả cao nhưng hiện nay chưa được chú trọng ở các trường phổ thông nước ta Nội

Trang 14

dung hoạt động ngoại khóa phảibổ sung kiến thức cho nội khóa, củng cố, đào sâu, mởrộng hợp lí các kiến thức trong chương trình vật lí, bổ sung những kiến thức mà họcsinh còn thiếu hụt hay mắc sai lầm khi học nội khóa giúp phát huy tính tích cực, sángtạo của học sinh Đây là những điều nội khóa làm chưa tốt do điều kiện thời gian,phương tiện dạy học hay do sức ép thi cử.

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy kiến thức về động học chất điểm cónhiều ứng dụng trong đời sống và trong kĩ thuật Trong dạy học nội khóa đã được trang

bị một số thiết bị thí nghiệm tối thiểu về động học chất điểm, nhưng qua điều tra chúngtôi nhận thấy các giáo viên chưa khai thác, tận dụng được hết khả năng của các thiết bịthí nghiệm này trong dạy học Có giáo viên sử dụng các thiết bị này trong dạy họcnhưng chưa nghiên cứu để đưa thí nghiệm vào giảng dạy theo hướng tổ chức hoạt độngnhận thức cho học sinh Ngoài ra, phần này cũng có những thí nghiệm đơn giản, có thể

tự chế tạo được hoặc khai thác từ những thiết bị đã có sẵn trong thực tế nhưng giáo viên

đã không tổ chức cho học sinh thiết kế và làm thí nghiệm Do vậy, trong học nội khóa,học sinh không có cơ hội được rèn luyện các kĩ năng, các thao tác làm thí nghiệm, cũngnhư không được hình thành kiến thức một cách đúng đắn dễ dẫn đến sai lầm, hay không

có sự hứng thú, tích cực trong học tập và không được rèn luyện tư duy sáng tạo

Thực tiễn những năm gần đây ở các nhà trường phổ thông hiện nay, hoạt động ngoạikhóa nói chung và hoạt động ngoại khóa vật lí nói riêng ít được tổ chức, lãnh đạo nhàtrường và giáo viên bộ môn chưa có sự đầu tư cho hoạt động này.Về mặt lí luận, việcnghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí trong nhà trường phổthông cũng chưa được quan tâm nghiên cứu thích đáng của các nhà lí luận dạy học bộmôn

Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạyhọc vật lí và học vật lí ở trường trung học phổ thông (THPT), chúng tôi chọn đề tài: “Tổchức hoạt động ngoại khóa vật lí về động học chất điểm theo hướng phát huy tính tíchcực và phát triển năng lực sáng tạo của HS lớp 10 - THPT”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khóa về động học chất điểm theo hướngphát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS lớp 10 - THPT

3 Giả thuyết khoa học của đề tài

Nếu tổ chức được hoạt động ngoại khóa động học chất điểm một cách khoa học,kiến thức phù hợp với đối tượng học sinh, phương pháp và hình thức phong phú, sinhđộng thì sẽ kích thích được hứng thú học tập, phát huy được tính tích cực và phát triểnđược năng lực sáng tạo của học sinh

Trang 15

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Hoạt động dạy học ngoại khóa về động học chất điểm ở lớp 10 trung học phổthông

- Các dụng cụ thí nghiệm đơn giản về động học chất điểm phục vụ cho hoạt độngngoại khóa

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạtđộng ngoại khóa vật lí nói riêng

- Nghiên cứu thực trạng dạy học ngoại khóa vật lí ở một số trường trung học phổthông hiện nay

- Nghiên cứu chương “Động học chất điểm” trong chương trình Vật lí 10 trung họcphổ thông, xác định những thí nghiệm cần tiến hành trong dạy học ngoại khóa

- Nghiên cứu thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm đơn giản và tiến hành các thínghiệm về chương “Động học chất điểm”, là cơ sở để hướng dẫn học sinh chế tạo và

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin

- Phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Lịch sử nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vựcnghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã rấtquan tâm đến việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, trong đó hình thức tổchức dạy học ngoại khóa trong trường phổ thông như:

“Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí”, Thái Nguyên 2006, tác giảNguyễn Quang Đông

“Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khóa phần nhiệt học ở lớp 10 theo hướng

phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh”, Luận văn Thạc sĩkhoa học giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Hà Nội

Trang 16

“Dạy học ngoại khóa phần điện từ ở trường THPT”, Vinh năm 2004, luận văn Thạc sĩgiáo dục học, tác giả Nguyễn Lâm Đức

“Nghiên cứu tổ chức dạy học ngoại khóa phần quang hình học Vật lí 11 THPT”, Huếnăm 2011, tác giả Kiều Quang Trung

“Tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí về chuyển động tiến động của vật rắn theohướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS lớp 10”, Hà Nội năm

2015, tác giả Bùi Văn Lâm

Như vậy, hiện nay chưa có tài liệu và công trình nghiên cứu “Tổ chức hoạt độngngoại khóa Vật lí về động học chất điểm theo hướng phát huy tính tích cực và pháttriển năng lực sáng tạo của HS lớp 10 - THPT”

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tàigồm 03 chương:

Chương 1 Lí luận về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí ở trường trung họcphổ thông

Chương 2 Tổ chức hoạt động ngoại khóa về động học chất điểm cho học sinhtrung học phổ thông

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở

TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống hình thức dạy học ở nhà trường phổ thông [2], [3], [12]

1.1.1 Hoạt động ngoại khóa trong nhà trường phổ thông

Hoạt động ngoại khóa hay các hoạt động trải nghiệm và sáng tạo là những hoạtđộng được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa, có tổ chức, có kế hoạch Hoạt độngtrên nguyên tắc tự nguyện, dưới sự hướng dẫn của giáo viên với số lượng HS khônghạn chế Hoạt động ngoại khóa nhằm mục tiêu:

- Nâng cao hiểu biết của HS trong các lĩnh vực văn hóa xã hội và khoa học tựnhiên

- Củng cố và hoàn thiện hơn các kĩ năng cơ bản, phát triển các năng lực chủ yếunhư: năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực thích ứng, năng lực tổ chức quản lí, năng lựchợp tác và cạnh tranh lành mạnh

- Bồi dưỡng nhân sinh quan, thế giới quan khoa học để HS có nhận thức đúng đắntrước các vấn đề của cuộc sống, biết cảm thụ và đánh giá cái đẹp

1.1.2 Vai trò của hoạt động ngoại khóa trong nhà trường phổ thông

Hoạt động ngoại khóa là một trong các hình thức tổ chức đào tạo trong nhàtrường hiện nay Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo và giáo dục HS

Hoạt động ngoại khóa là sự tiếp nối hoạt động dạy trên lớp, là con đường gắn líthuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động Hoạt độngngoại khóa là điều kiện thuận lợi để HS phát huy vai trò chủ thể của mình trong hoạtđộng, nâng cao tính tích cực của hoạt động, qua đó rèn luyện những nét nhân cách củacon người phát triển toàn diện

1.2 Hoạt động ngoại khóa vật lí trong nhà trường phổ thông

1.2.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổchức dạy học vật lí ở trường phổ thông [2]

Hoạt động ngoại khóa là một trong ba hình thức dạy học trong nhà trường phổthông hiện nay, ngoại khóa Vật lí nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung có vaitrò vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt, cụthể là:

Trang 18

- Về giáo dục nhận thức: hoạt động ngoại khóa giúp HS củng cố, đào sâu, mởrộng những tri thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp HS vận dụng tri thức đã học vào giảiquyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, líthuyết đi đôi với thực tiễn.

- Về rèn luyện kĩ năng: hoạt động ngoại khóa hay còn gọi là hoạt động trảinghiệm và sáng tạo giúp rèn luyện cho HS kĩ năng tự quản, kĩ năng tổ chức, kĩ năngđiều khiển, kĩ năng làm việc theo nhóm, ngoài ra còn góp phần phát triển kĩ năng giaotiếp, kĩ năng chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề…

- Về giáo dục tinh thần thái độ: hoạt động ngoại khóa tạo hứng thú học tập, khơidậy lòng ham hiểu biết, muốn hoạt động của HS, lôi cuốn HS tự giác tham gia nhiệttình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực của HS

- Hoạt động ngoại khóa góp phần rèn luyện năng lực tư duy cho HS như tư duylôgic, tư duy trừu tượng và cao nhất là tư duy sáng tạo

- Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còn góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, tưtưởng, tình cảm cho HS

1.2.2 Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa vật lí [2]

Hoạt động ngoại khóa nói chung và hoạt động ngoại khóa vật lí nói riêng cónhững đặc điểm cơ bản sau:

- Việc tổ chức hoạt động ngoại khóa dựa trên tính tự nguyện tham gia của HS,

có sự hướng dẫn của giáo viên

- Số lượng HS tham gia không hạn chế, có thể là theo nhóm, nhưng cũng có thể

- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, mềm dẻo,hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều HS tham gia

1.2.3 Nội dung ngoại khóa vật lí [2]

Nội dung ngoại khóa phải bổ sung kiến thức cho nội khóa, củng cố, đào sâu, mởrộng hợp lý các kiến thức trong chương trình vật lí, bổ sung những kiến thức mà HS cònthiếu hụt hay mắc sai lầm khi học nội khóa Nội dung ngoại khóa vật lí ở trường phổ thông

có thể gồm một số công việc chính như sau:

Trang 19

- HS đào sâu nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về vật lí và kĩ thuật.

- HS nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của vật lí học ứng dụng như kĩ thuậtđiện, kĩ thuật vô tuyến, kĩ thuật chụp ảnh, tìm hiểu, khám phá các ứng dụng của vật líhọc trong khoa học hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, các thiết bị di động

- HS nghiên cứu thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm và làm thí nghiệm vật lí,nghiên cứu những ứng dụng kĩ thuật của vật lí

Để lựa chọn nội dung cho hoạt động ngoại khóa vật lí, giáo viên phải dựa vào cácyếu tố: vai trò của hoạt động ngoại khóa vật lí, đặc điểm nội dung kiến thức vật lí, tínhtrừu tượng và tính ứng dụng trong thực tiễn của kiến thức mà học nội khóa chưa đápứng được do điều kiện thời gian, phương tiện dạy học Nội dung ngoại khóa phải hấpdẫn để thu hút được đông đảo HS tự nguyện tham gia Nếu kết hợp các nội dung để tổchức hoạt động ngoại khóa sẽ làm các hoạt động phong phú hơn và thu hút được nhiều

HS tham gia hơn

1.2.4 Các hình thức hoạt động ngoại khóa vật lí [2], [18]

Việc phân chia các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lí chỉ mang tính chấttương đối, có thể dựa trên các cơ sở khác nhau Chẳng hạn:

- Dựa vào số lượng học sinh tham gia ngoại khóa, có: hoạt động ngoại khóa theo cácnhóm và hoạt động ngoại khóa có tính quần chúng rộng rãi Cụ thể:

+ Hoạt động ngoại khóa theo nhóm Khi tổ chức nhóm ngoại khóa trước hết

phải dựa trên tinh thần tự nguyện, hứng thú của học sinh, các em phải được lựa chọnlĩnh vực kiến thức yêu thích và xây dựng được hạt nhân của nhóm Yếu tố mới và tínhvừa sức của đề tài đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sự hứng thú

và tích cực của nhóm Giáo viên cần phải dự kiến được những khó khăn mà học sinh cóthể gặp phải, lên phương án giúp đỡ và tạo điều kiện về thời gian, tài liệu, nguyên vậtliệu…cho nhóm học sinh Nhóm ngoại khóa cần có lịch làm việc cụ thể về thời giancũng như tiến độ công việc, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”; kiên quyết không

để kế hoạch bị phá sản giữa chừng tùy theo nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa

có thể phân loại thành: Nhóm “Vật lí lý thuyết”, nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệmvật lí”, nhóm “Vật lí kĩ thuật”

+ Hoạt động ngoại khóa có tính chất quần chúng rộng rãi Hoạt động ngoại khóa

này thường là kết quả của quá trình hoạt động của nhóm vật lí Các hoạt động ngoại khóavật lí có các hình thức tổ chức như: Hội vui vật lí; Triển lãm vật lí; Báo tường về vật lí…

Trang 20

Hội vui vật lí là một hình thức ngoại khóa dễ phổ biến, lôi cuốn được đông đảo

học sinh tham gia, tạo ra được khí thế trong học tập và nghiên cứu Hội vui có thể tổchức theo từng chuyên đề hoặc theo khối lớp Chẳng hạn: hội vui cơ học; hội vui vềnhiệt học; hội vui về điện học; hội vui về quang học… Hội vui có nội dung chính làcác trò chơi hoặc các câu hỏi rèn luyện trí tuệ, như: trò chơi hái hoa dân chủ; thi khéotay; thi giải đáp các câu hỏi trí tuệ, thi chế tạo thiết bị thí nghiệm Thời gian tổ chứchội vui không nên kéo dài để đảm bảo cho hội vui vừa truyền tải hết nội dung cần thiếtvừa không gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự đi lại của học sinh

Triển lãm về vật lí ở trường phổ thông có thể tổ chức nhân ngày lễ của trường

hoặc dịp tổng kết một kì học hoặc cuối năm học Mục đích của triển lãm về vật lí là đểnói lên thành tựu hoạt động học tập và nghiên cứu về vật lí của một khối lớp hoặc củatoàn trường Nội dung triển lãm có thể gồm: dụng cụ, mô hình vật lí mà học sinh chếtạo được; mẫu vật sưu tầm được; đồ dùng phục vụ cho việc dạy học; biểu diễn thínghiệm vật lí có liên quan đến kiến thức vật lí phổ thông mà học sinh đã được học.Triển lãm có thể tổ chức kết hợp với hội vui vật lí hoặc tiến hành cùng với các bộ mônkhác như toán, hóa, sinh, công nghệ…

Báo tường về vật lí là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn, dễ tổ

chức, lôi cuốn được đông đảo học sinh tham gia, không phân biệt trình độ học sinhnhiều Hình thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy họcsinh sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lí Báo tường về vật lícũng là một hoạt động để giáo viên hoặc các thành viên tích cực trong lớp công bố cácbài toán hay mà không có điều kiện hoặc không cần thiết phải trình bày trên lớp

- Dựa vào cách thức tổ chức cho học sinh tham gia ngoại khóa, có:

+ Tham quan các công trình kỹ thuật ứng dụng kiến thức vật lí đã học là một

hình thức tổ chức dạy học trong thực tế, quan sát trực tiếp của học sinh dưới sự hướngdẫn của giáo viên và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự vật, hiện tượng, qui

trình cần tìm hiểu trong nội dung dạy học Hình thức tham quan ngoại khóa có thểđược tổ chức trước, trong và sau khi học một kiến thức nào đó

+ Câu lạc bộ vật lí là nơi tập trung những cá nhân có cùng sở thích, nhu cầu,

nguyện vọng, cùng nhau hoạt động để đạt được mục đích nào đó Hoạt động câu lạc bộvật lí ở trường học là một loại hình hoạt động ngoài giờ lên lớp, là môi trường tốt nhất

Trang 21

để các cá nhân yêu thích vật lí có dịp học tập, sinh hoạt, rèn luyện, vui chơi giải trí với các kiến thức vật lí trên tinh thần tự nguyện, nhằm phát huy năng lực bản thân,trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để vận dụng vào thực tiễn đời sống xã hội

+ Hội thi vật lí là nơi để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình,

khẳng định thành tích, kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trong họctập Qui mô, đối tượng tham gia, cách thức tổ chức hội thi phụ thuộc vào mục đích,yêu cầu, ý nghĩa, tính chất và nội dung của hội thi Một số hình thức của hội thi vật lí :Thi trả lời nhanh; Thi giải thích hiện tượng; Thi giải bài tập; Thi giải ô chữ; Thi thựchành, làm thí nghiệm, chế tạo dụng cụ thí nghiệm; Thi chơi một số trò chơi có sử dụngkiến thức vật lí ;

- Dựa vào cách thức tham gia hoạt động ngoại khóa của học sinh, có:

+ Học sinh đọc sách báo về vật lí và kĩ thuật, hình thức này có thể tổ chứctrong một lớp học Giáo viên tạo điều kiện cho các em trình bày những thông tin màcác em đã đọc về các lĩnh vực vật lí nhằm mục đích cung cấp thông tin, mở rộng hiểubiết cho các học sinh còn lại trong lớp học

+ Học sinh tổ chức các buổi báo cáo và dạ hội về các vấn đề vật lí có thể

nghiên cứu thêm về một số kiến thức còn khó hiểu, trừu tượng mà giờ học nội khóakhông có thời gian để tìm hiểu Bên cạnh đó, học sinh có thể tự tạo thí nghiệm để minhhọa; học sinh biểu diễn thí nghiệm hoặc giới thiệu sản phẩm vật lí chế tạo được…+ Học sinh tổ chức triển lãm, giới thiệu những kết quả tự học, tự nghiên cứu,chế tạo hoặc làm báo tường hoặc tập san về vật lí

+ Tham gia thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ vật lí, các mô hình kỹ thuật.+ Luyện tập giải các bài tập vật lí

Tùy vào nội dung kiến thức làm ngoại khóa, điều kiện cơ sở vật chất của từngtrường, thời gian tổ chức ngoại khóa mà giáo viên lựa chọn hình thức ngoại khóa chophù hợp

1.2.5 Các nguyên tắc tổ chức nhóm ngoại khóa [2], [18], [4]

- Nhóm ngoại khóa không nên quá đông, nên từ 3 đến 5 HS

- Đảm bảo nguyên tắc tôn trọng sở thích và tính tự nguyện của HS khi tham giangoại khóa HS phải được lựa chọn đề tài mà mình thích để nghiên cứu, tìm hiểu Điều

đó đảm bảo HS yêu thích công việc của mình và phát huy được tài năng của họ

Trang 22

- Cần thiết phải phát hiện và xây dựng được hạt nhân của nhóm Đó là HS phảithực sự thích thú và nhiệt tình với công việc của nhóm, đồng thời có khả năng tập hợp,đoàn kết các thành viên của nhóm, nắm được kiến thức lý thuyết về lĩnh vực tham gia.Điều đó sẽ giúp nhóm ngoại khóa tồn tại và hoạt động có hiệu quả nhất.

- Đảm bảo tính hấp dẫn và vừa sức của công việc giao cho các nhóm Nó đóng vaitrò quan trọng trong việc duy trì hứng thú của nhóm Nội dung phải mới so với học nộikhóa, phải khơi dậy trí tò mò, ham hiểu biết của HS

- Phải đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, nhưng không tuỳ tiện Nhóm ngoạikhóa cần có kế hoạch làm việc cụ thể, tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”, kiênquyết không để kế hoạch bị phá sản chừng nào không bị các yếu tố khách quan chiphối Giáo viên cần đưa ra mốc thời gian hoàn thành để các nhóm chủ động trong côngviệc

1.2.6 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa Vật lí [2]

Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa vật lí là mềm dẻo và nhẹ nhàng, nhưngkhông hề đơn giản, nó tuỳ thuộc vào nội dung ngoại khóa, trình độ của HS và giáoviên Tuy nhiên, phương pháp dạy học ngoại khóa phải dựa trên các định hướng củachiến lược dạy học nói chung, đó là:

- Định hướng tìm tòi: Đó là kiểu hướng dẫn mà giáo viên không chỉ ra một cáchtường minh các kiến thức, cách thức hoạt động mà chỉ gợi ý để HS có thể tự tìm tòi,huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để giảiquyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận

- Định hướng khái quát chương trình hoá: Đó là kiểu hướng dẫn mà giáo viêncũng gợi ý cho HS tự tìm tòi nhưng sự hướng dẫn được chương trình hóa theo cácbước dự định hợp lí Nếu HS không thể giải quyết nhiệm vụ với sự hướng dẫn ban đầugiáo viên sẽ gợi ý thêm, cụ thể hoá hơn, chi tiết hơn những vấn đề từng bước để thuhẹp hơn phạm vi, mức độ phải tìm tòi cho vừa sức của HS, sau đó HS tự thực hiệnnhiệm vụ được giao

- Định hướng tái tạo: tức là giáo viên chỉ ra một cách cụ thể các kiến thức cầnhuy động và cách thức hoạt động để sau đó HS tự chủ giải quyết nhiệm vụ Trong quitrình HS tự thực hiện nhiệm vụ, giáo viên theo dõi để kịp thời giúp đỡ nếu thấy các emthực sự gặp khó khăn mà không tự mình giải quyết được

Để đảm bảo tăng cường tính tích cực, tự lực của HS thì ta cần sử dụng địnhhướng tìm tòi trước, nếu HS không thực hiện được nhiệm vụ thì giáo viên chuyển sangđịnh hướng khái quát chương trình hóa Nếu HS vẫn gặp khó khăn thì phải chuyểnsang định hướng tái tạo Tuy nhiên do hoạt động ngoại khóa không bị bó hẹp về thờigian nên sau khi gợi ý giáo viên cần để cho HS có thời gian suy nghĩ dài một chút

Trang 23

- Phương pháp dạy học ngoại khóa thông qua tiến trình tổ chức hoạt động ngoại khóalà:

 Bước 1: Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh

 Bước 2: Giáo viên hướng dẫn từng nhóm thảo luận hai nội dung và định

hướng để HS tự chủ đề xuất các nhiệm vụ cần thực hiện

 Bước 3: Các nhóm học sinh tích cực, tự lực thực hiện nhiệm vụ GV,

theo dõi tiến trình làm việc của các nhóm, giúp đỡ các nhóm khi các emgặp khó khăn

 Bước 4: Các nhóm báo cáo kết quả và tham gia hội thi vật lí GV, tổ

chức hội thi

1.2.7 Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa [2], [12]

Hiện nay chưa có nhiều tài liệu nói rõ quy trình cụ thể quy trình tổ chức hoạtđộng ngoại khóa Qua tìm hiểu, nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu chúng tôi thấy, quytrình tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí có thể tuân theo các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khóa.

Dựa vào vai trò của hoạt động ngoại khóa, căn cứ nội dung chương trình vàtình hình thực tế dạy học nội khóa của bộ môn, xuất phát từ nhu cầu nhận thức của HS,đặc điểm của HS và điều kiện thực tế của nhà trường để lựa chọn và xác định chủ đềcủa hoạt động ngoại khóa cần tổ chức, việc lựa chọn này cần phải rõ ràng để có tácdụng định hướng tâm lý và kích thích sự tích cực, sự sẵn sàng của HS ngay từđầu

Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khóa.

Khi lập kế hoạch cho hoạt động ngoại khóa cần xây dựng những nội dung sau:

- Xác định mục tiêu hay yêu cầu giáo dục của hoạt động, gồm có: mục tiêu kiếnthức; mục tiêu kĩ năng và yêu cầu phát triển năng lực trí tuệ; mục tiêu thái độ, tìnhcảm

- Xây dựng nội dung ngoại khóa ở dạng những nhiệm vụ cụ thể giao cho HS

- Dự kiến hình thức tổ chức, phương pháp dạy học

- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và hướng giải quyết

- Dự kiến những công việc cần sự ủng hộ của các lực lượng giáo dục khác

Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khóa theo kế hoạch.

Khi tổ chức ngoại khóa theo kế hoạch, giáo viên lưu ý những nội dung sau:

Trang 24

-Theo dõi HS thực hiện các nhiệm vụ để giúp đỡ kịp thời, đặc biệt là những vấn

đề nảy sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn ra không theo kếhoạch

- Đối với các hoạt động có quy mô lớn, đông HS tham gia như ở khối, lớp thìgiáo viên tham gia là người tổ chức, điều khiển hoạt động Đặc biệt là giáo viên phảiđóng vai trò là trọng tài để tổ chức cho HS thảo luận, tranh luận rộng rãi những nội dungngoại khóa, làm sao để HS tự nhận thấy được những công việc mình cần làm, tự phâncông nhau thực hiện những công việc đó

- Đối với những hoạt động ở quy mô nhỏ như tổ, nhóm HS thì cần để cho HShoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ được giao, giáo viên chỉxuất hiện khi HS ở vào tình huống gặp khó khăn, lúng túng mà không tự xử lí được

- Sau mỗi lần tổ chức hoạt động ngoại khóa giáo viên phải đánh giá, rút kinhnghiệm, điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp hướng dẫn để những đợtngoại khóa sau đạt hiệu quả cao hơn

Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng.

Việc đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa phải dựa vào cả quá trình diễn

ra hoạt động, giáo viên đánh giá hiệu quả thông qua tính tích cực, sự húng thú, sự thuhút được nhiều HS tham gia và căn cứ những nội dung kiến thức, kĩ năng, tình cảmthái độ mà HS có được Ngoài ra, sản phẩm mà HS làm được cũng là căn cứ quantrọng để đánh giá hiệu quả hoạt động Vì vậy, cần tổ chức cho HS báo cáo, giới thiệusản phẩm đó làm được trong thời gian tham gia hoạt động ngoại khóa, ngoài ra đâycũng là việc làm nhằm khích lệ, động viên HS tích cực hơn trong những hoạt động saunày

Trên đây là quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa Tuy nhiên, tuỳ thuộc vàoyêu cầu giáo dục và điều kiện hoàn cảnh của từng trường, từng lớp mà có thể vận dụngmột cách mềm dẻo các bước để hoạt động đạt hiệu quả cao nhất

1.3 Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học

Trang 25

1.3.1 Các đặc điểm cơ bản của dụng cụ thí nghiệm đơn giản

Theo tác giả PGS TS Nguyễn Ngọc Hưng, các đặc điểm cơ bản của các dụng

cụ thí nghiệm đơn giản cũng chính là những yêu cầu đòi hỏi đối với việc thiết kế, chếtạo chúng, cụ thể đó là:

- Việc chế tạo dụng cụ thí nghiệm đòi hỏi ít vật liệu, vật liệu đơn giản, rẻ tiền,

dễ kiếm kể cả đối với các thí nghiệm định lượng

- Dụng cụ thí nghiệm phải dễ làm bằng các công cụ thông dụng như kìm, búa,cưa, giũa…

- Dễ lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ thí nghiệm Vì vậy, với cùngmột dụng cụ thí nghiệm đơn giản, trong nhiều trường hợp, ta chỉ cần thay thế các chitiết phụ trợ là có thể làm được thí nghiệm khác

- Dễ bảo quản, vận chuyển và an toàn trong quá trình chế tạo cũng như tiếnhành thí nghiệm

- Việc bố trí và tiến hành thí nghiệm với những dụng cụ thí nghiệm này cũngđơn giản không tốn nhiều thời gian

- Hiện tượng diễn ra trong thí nghiệm phải rõ ràng, dễ quan sát

1.3.2 Sự cần thiết của việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lí ở trường phổ thông

Theo tác giả PGS TS Nguyễn Ngọc Hưng, việc giao cho HS nhiệm vụ thiết kế,chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản có tác dụng trên nhiều mặt, gópphần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ -thực tiễn độc lập và sáng tạo của HS

- Do được tự tay chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm để tiến hành các thínghiệm, giải thích hoặc tiên đoán các kết quả thí nghiệm, đòi hỏi HS phải huy độngcác kiến thức vật lí đã học, vì vậy các em nắm kiến thức chính xác, sâu sắc và bềnvững hơn Kiến thức không chỉ được củng cố mà còn được mở rộng, đào sâu và hệthống hóa

- Mặc dù đã có các thiết bị thí nghiệm chế tạo sẵn được cung cấp cho phòng thínghiệm nhà trường, nhưng các thiết bị này đôi khi lại có một số nhược điểm như: sựhiện đại của nó che lấp mất bản chất vật lí của hiện tượng xảy ra, hoặc với sự hiện đạicủa nó, HS chỉ cần thực hiện những thao tác rất đơn giản, không đòi hỏi kĩ năng thựcnghiệm và sự sáng tạo để cải tiến dụng cụ, hơn nữa các thiết bị được cung cấp sẵntrong phòng thí nghiệm thường rất xa lạ đối với cuộc sống trong khi dụng cụ thínghiệm đơn giản tự thiết kế và chế tạo lại khắc phục được những nhược điểm đó

- Lịch sử phát triển của vật lí đã cho thấy: những phát minh cơ bản thường gắnvới các dụng cụ thí nghiệm rất đơn giản Việc chế tạo các dụng cụ thí nghiệm đơn giản

Trang 26

sẽ bồi dưỡng cho HS các phương pháp nhận thức vật lí, đặc biệt là phương pháp thựcnghiệm.

- Nhiệm vụ thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm đơn giản và tiến hành cácthí nghiệm với chúng làm tăng hứng thú học tập, kích thích tính tích cực và sự sángtạo của HS

1.3.3 Các khả năng sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản trong dạy học vật lí ở trường phổ thông

- Theo tác giả PGS TS Nguyễn Ngọc Hưng, các dụng cụ thí nghiệm đơn giản

có thể được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học: Đặt vấn đề (tạo tìnhhuống có vấn đề), hình thành kiến thức mới (kiểm tra các giả thuyết đã nêu ra), củng

cố và vận dụng các kiến thức đã học (trong đó có việc đề cập các ứng dụng kĩ thuậtcủa kiến thức trong sản suất và đời sống) và cũng có thể dùng để kiểm tra đánh giákiến thức, kĩ năng của HS

- Các dụng cụ thí nghiệm đơn giản được sử dụng trước hết cho thí nghiệm của

HS, tiến hành trên lớp hoặc ở nhà Chúng cũng có thể được giáo viên sử dụng tronggiờ học để tiến hành các thí nghiệm biểu diễn

- Việc chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản để tiến hành các thínghiệm có thể giao cho từng HS hoặc các nhóm HS làm ở nhà hay trong giờ ngoạikhóa, không những để củng cố các kiến thức đã học mà có khi còn để cung cấp các sốliệu thực nghiệm chuẩn bị cho nội dung kiến thức ở các bài học sau

- Cùng một mục đích về mặt nội dung kiến thức, giáo viên có thể tiến hành thínghiệm trên lớp với dụng cụ thí nghiệm có sẵn trong phòng thí nghiệm, còn HS đượcgiao nhiệm vụ tiến hành các thí nghiệm này nhưng với các dụng cụ thí nghiệm đơngiản do mình chế tạo

- Giáo viên cũng có thể làm thí nghiệm trên lớp với dụng cụ thí nghiệm đơngiản, yêu cầu HS về nhà chế tạo lại hoặc chế tạo dụng cụ thí nghiệm theo phương ánkhác (nếu có)

- Với dụng cụ thí nghiệm đơn giản do mình chế tạo, HS tiến hành lại thí nghiệm

mà giáo viên đã biểu diễn trên lớp nhưng nghiên cứu sâu hơn các mối liên hệ giữa cácđại lượng được đề cập trong nội dung thí nghiệm

1.3.4 Thí nghiệm vật lí ở nhà của HS

Theo tác giả PGS TS Nguyễn Ngọc Hưng, đối với bộ môn Vật lí, việc đổi mớiphương pháp dạy học được thể hiện trên nhiều mặt, trong đó có việc tăng cường cáchoạt động thực nghiệm của HS HS không những được làm quen và tiến hành các thínghiệm với các thiết bị có sẵn trong phòng thí nghiệm mà còn được giao nhiệm vụ

Trang 27

thiết kế, chế tạo các dụng cụ thí nghiệm đơn giản và tiến hành các thí nghiệm vớichúng HS tiến hành thí nghiệm không chỉ trong giờ học chính khóa mà còn ở các giờhọc tự chọn, không những trên lớp học mà còn ở ngoài lớp, ở nhà.

Khác với các loại thí nghiệm khác, thí nghiệm Vật lí ở nhà đòi hỏi cao độ tựgiác, tự lực của HS trong học tập và chỉ yêu cầu HS sử dụng các dụng cụ thông dụngtrong đời sống, những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền hoặc các dụng cụ đơn giản Chính đặcđiểm này tạo nhiều cơ hội để phát triển năng lực sáng tạo của HS trong việc thiết kế,chế tạo và sử dụng các dụng cụ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao

Thí nghiệm Vật lí ở nhà có tác dụng nhiều mặt đối với việc phát triển nhân cáchcủa HS: Quá trình tự lực thiết kế các phương án thí nghiệm, lập kế hoạch thí nghiệm,chế tạo hoặc lựa chọn các dụng cụ, bố trí và tiến hành thí nghiệm, xử lý kết quả thínghiệm thu thập được góp phần vào việc phát triển năng lực hoạt động trí tuệ - thựctiễn của HS Việc thực hiện và hoàn thành các công việc trên sẽ làm tăng rõ rệt hứngthú học tập, tạo niềm vui của sự thành công trong học tập của HS Việc thiết kếphương án thí nghiệm, tiên đoán hoặc giải thích các kết quả thí nghiệm đòi hỏi HSphải huy động các kiến thức đã học, phát triển sự sáng tạo

Nội dung của các thí nghiệm vật lí phải có nét mới so với thí nghiệm trên lớp và

có thể có nhiều dạng khác nhau: Mô tả một phương án thí nghiệm, yêu cầu HS tiếnhành thí nghiệm tiên đoán hoặc giải thích kết quả thí nghiệm; cho trước các dụng cụ,yêu cầu HS thiết kế phương án thí nghiệm để đạt được một mục đích nhất định (quansát thấy một hiện tượng, xác định được một đại lượng ); yêu cầu HS chế tạo một dụng

cụ thí nghiệm đơn giản từ các vật liệu cần thiết cho trước, rồi tiến hành các thí nghiệmvới những dụng cụ này nhằm đạt được một mục đích nào đó…

Khi sử dụng các loại thí nghiệm này trong dạy học, giáo viên cần bố trí thờigian để HS báo cáo trước toàn lớp các kết quả đã đạt được, giới thiệu những sản phẩmcủa mình, nhận được sự đánh giá của giáo viên và tập thể, cũng như sự động viên,khen thưởng kịp thời

Mặc dù có tác dụng rất to lớn như vậy nhưng loại thí nghiệm này vẫn còn rất ítđược sử dụng trong thực tiễn dạy học Trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy họcVật lí hiện nay, giáo viên cần chú ý tăng cường sử dụng loại thí nghiệm này

1.4 Tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS trong học tập

Để có cơ sở đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa trong việc phát huy tínhtích cực, phát triển năng lực sáng tạo của HS, cần nghiên cứu lí thuyết về tính tích cực

và năng lực sáng tạo của HS, nhất là những biểu hiện của chúng trong quá trình học tậpcủa HS

Trang 28

1.4.1 Tính tích cực trong học tập[7], [14]

1.4.1.1 Khái niệm tính tích cực của HS trong học tập

Tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao vềnhiều mặt trong học tập Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức “một sự nhậnthức được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên”(P.N.Erdoniev) Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất là nói tới tính tích cực trongnhận thức, mà nói tới nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS đặc trưngcho khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiếnthức

1.4.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập

Sự tích cực của HS trong học tập được biểu hiện qua những hành động cụ thể là:

- HS tự nguyện tham gia vào hoạt động học tập

- HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận nhiệm vụ mà giáo viên giao cho

- HS tự giác thực hiện các công việc mình đảm nhận mà không cần sự đôn đốc, nhắcnhở của giáo viên

- HS nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề mình chưa rõ

- HS mong muốn được đóng góp ý kiến với Thầy, với bạn những thông tin mới mẻ thuđược từ những nguồn khác nhau, vượt ngoài phạm vi bài học

- Tận dụng tất cả thời gian rảnh rỗi để thực hiện công việc của mình

- Thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương án giải quyết vấn đề,không nản chí khi gặp khó khăn

- Hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch

- Xin nhận thêm nhiệm vụ để thực hiện…

1.4.1.3 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập

Có thể phân biệt tính tích cực trong học tập ở ba cấp độ:

Cấp độ 1 - Bắt chước: HS tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên, của bạn bè.

Trong hoạt động bắt chước, HS có thể hiện sự cố gắng về tư duy và vận động

Cấp độ 2 - Tìm tòi: HS độc lập tìm cách giải quyết vấn đề, thử nghiệm cách

khác nhau để giải quyết vấn đề hợp lí hơn

Cấp độ 3 - Sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải quyết mới độc đáo hoặc cấu tạo lại

nhiệm vụ, bài tập thành nhiệm vụ hoặc bài tập mới

Những biểu hiện và các cấp độ của tính tích cực trong học tập của HS chính lànhững căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của quá trình hoạt động ngoại khóa vềđộng học chất điểm đối với việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạocủa HS

Trang 29

1.4.1.4 Công cụ đánh giá tính tích cực của học sinh

vắng mặt

Ít khi vắngmặt

Đi học đầy đủkhông vắng mặtbuổi nào

2 Giơ tay phát biểu Không giơ tay

phát biểu xâydựng bài hoặc nếu

có thì giáo chỉđiểm

Có giơ tay phátbiểu nhưngkhông mạnhdạn

Đưa tay phátbiểu sôi nổi, cóchọn lọc, suynghĩ trong trả lờicâu hỏi

Thực hiện đầy

đủ các nhiệm

vụ nhưngkhông trao đổisôi nổi

Thực hiện cácnhiệm vụ đầy

đủ, có thái độnhiệt tình, traođổi, bàn luận sôinổi vào hoạtđộng học tập

4 Sẵn sàng, hồ hới

đón nhận nhiệm vụ

giáo viên giao cho

Không muốnnhận nhiệm vụhoặc nhận nhiệm

vụ khi giáo viênphân công

Sẵn sàng nhậnnhiệm vụ củagiáo viênnhưng khôngtrao đổi sôinổi

Sẵn sàng, hồ hớinhận nhiệm vụ,

đề xuất nhiệm

vụ cho tổ, nhómthực hiện

Tự giác thựchiện, khôngcần đôn đốc,nhắc nhở củagiáo viên

Tự giác thựchiện công việccủa mình, nếukhông hiểu thìtrao đổi với giáoviên, trao đổivới bạn

Thắc mắc, hỏigiáo viên giảithích một vấn

đề chưa hiểu

Thắc mắc, hỏicặn kẽ nhữngvấn đề khônghiểu và có thể

Trang 30

mắc vấn đề liênquan.

đưa ra nhữnggiải thích mới

7 Học sinh đóng góp

ý kiến với những

thông tin mới mẻ

Không đóng gópnhững thông tinmới mẻ

Đóng gópnhững thongtin mới nhưngchưa hoànchỉnh

Đóng góp nhữngthông tin mới,trọn ven và thuhút người nghe

8 Học sinh trao đổi

ủy lại vào bạn

Trao đổi vớibạn để tìmhướng giảiquyết, khôngnản chí khí gặpkhó khăn

Trao đổi sôi nổivới bạn để tìmphương án giảiquyết, luôn mài

mò tìm hiểuthông tin, khôngnản chí khi gặpkhó khăn mà tìmđến giáo viênxin ý kiến

Hoàn thành kếhoạch đượcgiao, nhưngchưa giải thíchcặn kẽ

Hoàn thànhtrước kế hoạch,giải thích rànhmạch từng chitiết trong nhiệmvụ

Bảng 1.1 Công cụ đánh giá tính tích cực.

1.4.2 Năng lực sáng tạo trong học tập

1.4.2.1 Khái niệm năng lực sáng tạo

“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả cuả nó là một sản phẩm tinh thần hayvật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” (Sáng tạo, bách khoa toàn thưLiên Xô, tập 42, trang 54)

Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần,tìm ra kiến thức mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểubiết đã có vào hoàn cảnh mới Sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đóbiết bằng cách suy luận lôgic hay bắt chước làm theo

Trang 31

1.4.2.2 Đặc điểm của sự sáng tạo [20], [4]

Sự sáng tạo xuất hiện trong quá trình tư duy trực giác Trong sáng tạo, tri thứcđược thu nhận nhảy vọt, một cách trực tiếp Các giai đoạn của nó không thể hiện mộtcách minh bạch và người suy nghĩ không thể chỉ ra ngay làm thế nào mà họ đi đếnđược quyết định đó, con đường đó vẫn chưa nhận thức được, phải sau này mới xác lậpđược logic của phỏng đoán trực giác đó Tư duy trực giác thể hiện như một quá trìnhngắn gọn, chớp nhoáng mà ta không thể nhận biết được diễn biến H.Poimcarê, đã nóirằng: “Lôgic là chứng minh, còn trực giác là sáng tạo”

Đặc trưng tâm lí quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt, chủquan và khách quan, chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trong đầu họđang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiên cứu.Cái quá trình sáng tạo đó xem như một quá trình diễn ra có quy luật, tác động qua lạigiữa ba thành tố là tự nhiên, ý thức con người và sự phản ánh tự nhiên vào ý thức conngười Đối với người sáng tạo thì tính mới mẻ, tính bất ngờ, tính ngẫu nhiên của phỏngđoán đều là chủ quan Đối với nhà khoa học thì chỉ những phát minh mà con ngườichưa từng biết đến mới được coi là sự sáng tạo Còn đối với HS thì sáng tạo là sự tạo

ra cái mới đối với bản thân mình, trong khi giáo viên và nhiều người khác có thể đãbiết rồi Bởi vậy hoạt động sáng tạo của HS mang ý nghĩa là một hoạt động tập dượtsáng tạo hay sáng tạo lại Điều quan trọng cần đạt được không phải là sản phẩm sángtạo mà là khả năng sáng tạo của họ, khả năng này sẽ luôn được HS sử dụng trong hoạtđộng thực tiễn sau này kể cả khi kiến thức mà họ thu nhận đã bị quên đi

1.4.2.3 Những biểu hiện của sự sáng tạo của HS trong học tập [20],

Trong học tập, sự sáng tạo của HS được biểu hiện qua các hành động cụ thểnhư sau:

- Từ những kinh nghiệm thực tế, từ thí nghiệm đã có, HS đưa ra các giả thuyết

về các mối liên hệ giữa các đại lượng vật lí Trong chế tạo dụng cụ thí nghiệm thì HSđưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ và cùng một mục đích thí nghiệmđưa ra được nhiều cách chế tạo khác nhau Có những sáng kiến kĩ thuật để chế tạodụng cụ thí nghiệm chính xác hơn, bền, đẹp hơn…

- Đề xuất được những phương án dùng những dụng cụ thí nghiệm đó chế tạo đểlàm thí nghiệm kiểm tra các dự đoán trên và kiểm nghiệm lại kiến thức lý thuyết đãhọc

- Vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế một cách linh hoạt như giải thíchmột số hiện tượng vật lí và một số ứng dụng kĩ thuật có liên quan

Trang 32

1.4.2.4 Công cụ đánh giá năng lực sáng tạo:

Phân tích đượctình huống cóvấn đề nhưngchưa phát hiệnđược vấn đề

Phân tích đượctình huống cóvấn đề, pháthiện được tìnhhuống có vấn

đề nhưng chưadiễn đạt đượcbằng ngôn ngữvật lí

Phân tích đượctình huống cóvấn đề, pháthiện được tìnhhuống có vấn

đề, diễn đạtđược bằngngôn ngữ vật lí

2.Đề xuất giải

pháp giải

quyết vấn đề

Không đề xuấtđược giải pháp

Đề xuất đượcphương án giảiquyết vấn đềdưới sự hướngdẫn của GV

Tự đề xuấtđược phương

án giải quyếtvấn đề, có giảithích phương

án đề xuấtnhưng chưađầy đủ

Đề xuất đượcphương án,giải thích đượcphương án đã

đề xuất hoặc

đề xuất đượcphương ánmới sáng tạo

3.Thực hiện

giải pháp đã đề

xuất

Không thựchiện được giảipháp

Thực hiệnđược giải pháp

đã đề xuấtnhưng chưaphù hợp

Thực hiệnđược giải phápnhưng chưagiải thích đượcbằng ngôn ngữvật lí

Thực hiệnđược giảipháp, giảithích đượcbằng ngôn ngữvật lí, thuyếtphục ngườinghe

Xử lí đượcnhưng có sựhướng dẫn củaGV

Xử lí được kếtquả, giải thích

vì sao phảichọn kết quả

đó còn chưalưu lát, chưađầy đủ ý

Xử lí được kếtquả, giải thíchđược vì saophải chọn kếtquả đó, nảysinh ý kiếnsáng tạo hơn

Bảng 1.2 Bảng công cụ đánh giá năng lực sáng tạo

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu lí luận về hoạt động ngoại khóa, chúng tôi nhận thấy hoạt độngngoại khóa hỗ trợ cho học nội khóa trong việc củng cố, mở rộng , đào sâu kiến thức,vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống và kĩ thuật, phát huy tính tíchcực, sáng tạo của HS Hoạt động ngoại khóa mang tính tự nguyện, có nội dung và hìnhthức tổ chức đa dạng, phương pháp hướng dẫn mềm dẻo, gây được sự hứng thú họctập cho HS Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa không cứng nhắc, tuỳ thuộc vàonội dung, hình thức tổ chức và tình hình cụ thể của nhà trường, của HS để điều chỉnhcho phù hợp Những kiến thức HS thu được khi tham gia các hoạt động ngoại khóathường sâu sắc và có tính bền vững, sản phẩm HS làm ra mang nhiều ý nghĩa Ngoàinhững thu nhận về kiến thức một cách sâu sắc thì hoạt động ngoại khóa còn giúp các

em mạnh dạn, tự tin hơn khi nói trước đám đông Rèn luyện khả năng làm việc theonhóm, biết cách đề xuất ý tưởng, dẫn dắt và bảo vệ ý tưởng của mình Bước đầu làmquen với phương pháp nghiên cứu khoa học, tạo ra tiền lệ tốt cho quá trình học tập vànghiên cứu của HS sau này

Để đạt được kết quả tốt trong hoạt động ngoại khóa thì người giáo viên cần phảinghiên cứu kĩ chương trình để lựa chọn được đề tài hay Xây dựng được kế hoạch hoạtđộng ngoại khóa chi tiết, cụ thể, phù hợp với đối tượng HS và điều kiện cơ sở vật chấtcủa từng trường để thu hút được HS tham gia vào hoạt động Biết kết hợp với tổ chứcĐoàn TNCS Hồ Chí Minh, tranh thủ sự ủng hộ của nhà trường và các tổ chuyên môn

để tổ chức hoạt động ngoại khóa linh hoạt, mềm dẻo trong kiến thức Tạo ra sự sôiđộng, nhiệt huyết của tuổi trẻ trong các buổi hoạt động tập thể Từ đó lôi cuốn đượcđông đảo HS tham gia và phát huy tối đa tác dụng của công tác ngoại khóa

Trang 34

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM CHO

HỌC SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Các mục tiêu dạy học mà học sinh cần đạt được khi học về động học chất

điểm trong chương trình Vật lí lớp 10 trung học phổ thông

2.1.1 Mục tiêu kiến thức

Sau khi học xong chương “động học chất điểm”, HS sẽ:

- Nêu được chuyển động, chất điểm, hệ quy chiếu, mốc thời gian, vận tốc là gì

- Nhận biết được đặc điểm về vận tốc của chuyển động thẳng đều

- Nêu được vận tốc tức thời là gì

- Nêu được ví dụ về chuyển động thẳng biến đổi đều (nhanh dần đều, chậm dần đều)

- Viết được công thức tính gia tốc của một chuyển động biến đổi đều

- Nêu được đặc điểm của vectơ gia tốc trong chuyển động thẳng nhanh dần đều, trongchuyển động thẳng chậm dần đều

- Viết được công thức tính vận tốc vt = v0 + at, phương trình chuyển động

x = x0+ v0t + 1

2at2 Từ đó suy ra công thức tính quãng đường đi được.

- Nêu được sự rơi tự do là gì và viết được công thức tính vận tốc và đường đi củachuyển động rơi tự do Nêu được đặc điểm về gia tốc rơi tự do

- Phát biểu được định nghĩa về chuyển động tròn đều Nêu được ví dụ thực tế vềchuyển động tròn đều

- Viết được công thức tính tốc độ dài và chỉ được hướng của vectơ vận tốc trongchuyển động tròn đều

- Viết được công thức và nêu được đơn vị đo tốc độ góc, chu kì, tần số của chuyểnđộng tròn đều

- Viết được hệ thức giữa tốc độ dài và tốc độ góc

- Nêu được hướng của gia tốc trong chuyển động tròn đều và viết được công thức tínhgia tốc hướng tâm

- Viết được công thức cộng vận tốc: V 1,3 V 1,2V2,3

- Nêu được sai số tuyệt đối của phép đo một đại lượng vật lí là gì và phân biệt được sai

số tuyệt đối với sai số tỉ đối

2.1.2 Mục tiêu kĩ năng

Sau khi học xong chương “Động học chất điểm”, HS sẽ:

- Xác định được vị trí của một vật chuyển động trong một hệ quy chiếu đã cho

Trang 35

- Lập được phương trình toạ độ x = x0+ vt.

- Vận dụng được phương trình x = x0 + vt đối với chuyển động thẳng đều của mộthoặc hai vật

- Vẽ được đồ thị toạ độ của hai chuyển động thẳng đều cùng chiều, ngược chiều Dựavào đồ thị toạ độ xác định thời điểm, vị trí đuổi kịp hay gặp nhau

- Vận dụng được phương trình chuyển động và công thức :

vt= v0+ at ; s = v0t + 1

2at2; v2t  v20 = 2as

- Vẽ được đồ thị vận tốc của chuyển động thẳng biến đổi đều và xác định được các đặcđiểm của chuyển động dựa vào đồ thị này

- Giải được các bài tập về chuyển động tròn đều

- Giải được bài tập về cộng hai vận tốc cùng phương và có phương vuông góc

- Xác định được các sai số tuyệt đối và sai số tỉ đối trong các phép đo trực tiếp và giántiếp

- Xác định được gia tốc của chuyển động nhanh dần đều bằng thí nghiệm

- Có thái độ làm việc khoa học, khách quan, trung thực, tỉ mỉ, cẩn thận, chínhxác

- Tích cực liên hệ, vận dụng những kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống

- HS nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc được giao và có tinh thần cố gắng,hợp tác khi làm việc nhóm, làm việc tập thể

- Tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, sự đoàn kết, giúp đỡ nhau trong tập thểlớp, nâng cao phong trào học tập của HS

2.1.4 Mục tiêu phát triển tư duy

- HS nêu ra được các vấn đề dưới dạng câu hỏi, đề xuất được các giả thuyết

- Biết quan sát hiện tượng và vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng trong cácthí nghiệm định tính

- Biết thiết kế phương án và tiến hành thí nghiệm với các dụng cụ đã làm về “Độnghọc chất điểm”

Trang 36

- Biết thu thập, xử lý số liệu và rút ra các kết luận cần thiết trong các thínghiệm.

2.1.5 Các thí nghiệm cần tiến hành trong quá trình dạy học về động học chất điểm

Để đạt được những mục tiêu dạy học như đã nêu thì trong quá trình dạy học vềđộng học chất điểm, tốt nhất là học sinh cần tiến hành các thí nghiệm sau:

- Thí nghiệm chuyển động thẳng đều của bọt khí trong ống hẹp, dài chứa nước

- Thí nghiệm chuyển động thẳng đều của giọt nước trong ống đựng dầu ăn

- Thí nghiệm chuyển động của ống nghiệm trong nước

- Thí nghiệm chuyển động thẳng đều của quả bóng bàn chứa chất lỏng nhớt trên mặtphẳng nghiêng

- Thí nghiệm chuyển động thẳng đều của vỏ lon chứa chất lỏng nhớt trên mặt phẳngnghiêng

- Thí nghiệm qũy đạo chuyển động của một vật đối với các hệ quy chiếu khác nhau

- Thí nghiệm kiểm nghiệm quy luật rơi tự do s tỉ lệ t2của các vật

- Thí nghiệm xác định gia tốc rơi tự do g

- Thí nghiệm đo thời gian phản xạ của người

2.2 Tìm hiểu tình hình dạy về động học chất điểm ở lớp 10 trung học phổ thông ở một số trường trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

2.2.1 Mục đích điều tra

Thông qua tìm hiểu thực tế dạy học nội khóa ở một số trường THPT trên địa bànthành phố Tam Kỳ, để phát hiện những hạn chế, tồn tại trong phương pháp dạy của

GV, phương tiện dạy học, những sai lầm phổ biến của HS khi học các kiến thức

“Động học chất điểm” trong chương trình Vật lí lớp 10:

- Phương pháp dạy mà giáo viên đang sử dụng và những thuận lợi, khó khăn mà giáoviên gặp trong quá trình dạy học các kiến thức của chương “Động học chất điểm”trong chương trình Vật lí lớp 10

- Mức độ kiến thức và kĩ năng mà HS đạt được khi học về các kiến thức của chương

“Động học chất điểm” Những sai lầm về kiến thức thường gặp ở HS và những kĩnăng HS còn yếu

- Mức độ phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS trong quá trìnhhọc tập về các kiến thức của chương “Động học chất điểm”

- Mức độ sử dụng và hiệu quả mang lại của các phương tiện dạy học, thiết bị thínghiệm trong quá trình dạy học các kiến thức của chương “Động học chất điểm”

- Tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí trong nhà trường phổ thông

Trang 37

Những kết quả tìm hiểu, nghiên cứu đó sẽ là một cơ sở để chúng tôi xây dựng nộidung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa về “Động học chấtđiểm” theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS.

2.2.2 Phương pháp điều tra

Để đạt được mục đích nêu trên, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp điềutra sau đây:

- Dự giờ một số tiết dạy

- Tham quan phòng thí ngiệm để tìm hiểu mức độ trang bị thiết bị thí nghiệm và tìnhhình sử dụng thiết bị thí nghiệm phục vụ dạy học chương “Động học chất điểm”

2.2.3 Đối tượng điều tra

- Giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí và HS tại trường THPT trên địa bàn thành phốTam Kỳ

- Phòng thí nghiệm Vật lí của trường THPT Phan Bội Châu thành phố Tam Kỳ TỉnhQuảng Nam

2.2.4 Kết quả điều tra

a) Phương pháp dạy của giáo viên

- Tình hình giáo viên: Tất cả giáo viên Vật lí của ba trường đều được đào tạo

chính quy tập trung tại các trường ĐH Sư phạm trong nước như ĐH Sư phạm TP HồChí Minh, ĐH Quy Nhơn, ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng, ĐH Quảng Nam… giảng dạy đúngchuyên môn, đa số giáo viên được đánh giá có chuyên môn khá, giỏi, nhiệt tình và tâmhuyết với công việc Một số giáo viên là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, bên cạnh một sốgiáo viên trẻ, nhiệt huyết, năng động nhưng còn yếu về kinh nghiệm giảng dạy

- Phương pháp dạy của giáo viên: Qua điều tra cho thấy: Mặc dù hầu hết giáo

viên đã được tập huấn, bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, có nhiều nỗ lực đểđổi mới phương pháp dạy học nhưng hiệu quả chưa cao, vẫn chưa thoát khỏi phươngpháp thuyết trình, thông báo Một bài dạy luôn được tiến hành từng nội dung theo trình

tự SGK Nhiều giờ dạy không có hoạch định rõ ràng các hoạt động nhận thức của HS.Hoạt động của giáo viên cơ bản là mô tả, giải thích, giảng giải và đi đến kết luận về

Trang 38

kiến thức mới Một số giáo viên đã nghiên cứu, áp dụng các phương pháp dạy học hiệnđại, bước đầu cho thấy hiệu quả, nhưng vẫn còn những vướng mắc và khó khăn sau:+ Khi áp dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo viên đặtcâu hỏi nhưng câu hỏi đó chưa thực sự là câu hỏi có vấn đề; không thực hiện đủ bagiai đoạn của phương pháp dạy học này (thường giáo viên dừng lại khi kết thúc giaiđoạn hai sau khi đã rút ra kết luận về cái cần tìm, thiếu giai đoạn ba là: kiểm tra và vậndụng kết quả).

+ Khi áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm, vẫn còn HS không tham gia hoạtđộng hoặc hoạt động chưa tích cực; nhiều khi do điều kiện thời gian tiết học hạn hẹp

và trình độ HS còn thấp, các nhóm làm việc nhưng không đạt được đến kết quả cuốicùng, giáo viên không tiếp tục hướng dẫn mà đành phải giải quyết nhiệm vụ đó choHS

+ Hầu hết các giáo viên có tiến hành thí nghiệm về các kiến thức trong chương này,nhưng không thường xuyên Nguyên nhân là các bộ dụng cụ được cấp chất lượng kém,xuống cấp, hư hỏng dẫn đến thí nghiệm khó thành công, đôi khi ảnh hưởng tiêu cực đếngiờ dạy

+ Giáo viên đã từng tự làm hay hướng dẫn HS chế tạo dụng cụ thí nghiệm để dạyhọc phần này, nhưng chỉ tập trung vào một số bài vào dịp hội giảng

+ Giáo viên đã từng tổ chức hoạt động ngoại khóa, nhưng không thường xuyên,hình thức chủ yếu là giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu sau đó nộp báo cáo

b) Tình hình học tập của học sinh

Qua kết quả bài kiểm tra, tuy chưa hoàn toàn đánh giá đúng thực tế nhưng cũng sơ

bộ cho biết mức độ nắm kiến thức của HS là khác nhau Nhưng nhìn chung:

- Đa số các em đều nắm được các kiến thức cơ bản và vận dụng được các côngthức để giải các bài tập đơn giản trong chương “Động học chất điểm”

- Có rất nhiều em không vận dụng được kiến thức đã học để giải thích các hiệntượng Vật lí liên quan đến động học chất điểm

Những khó khăn mà HS gặp khi học các kiến thức chương “Động học chất điểm”:

- Những kiến thức đã tiếp thu được trong chương “Động học chất điểm”thường rất nhanh quên khi HS chuyển sang học phần khác, vì sau khi kết thúcchương, những kiến thức này hầu như không được nhắc lại, ứng dụng cho cácphần học tiếp theo

- Không vận dụng được kiến thức để giải thích các hiện tượng liên quan xảy ratrong thực tế

Trang 39

- Hiện nay, việc học của HS còn nặng về học để thi, tình trạng học thêm kháphổ biến Vì vậy thời gian để vui chơi, tham gia các hoạt động ngoại khóa bị hạn chế,thậm chí là bị xem nhẹ.

- Đa số HS nói rằng rất thích thú và hào hứng nếu được tham gia vào hoạt độngngoại khóa, được thiết kế, chế tạo dụng cụ và làm các thí nghiệm vật lí Tuy nhiên, bêncạnh đó, vẫn còn nhiều HS cho rằng môn vật lí là một môn học khó và khô khan Các

em chưa cảm thấy hứng thú trong học tập, chưa yêu thích môn vật lí Vì vậy, tính tíchcực trong học tập của các em chưa cao Các em học một cách thụ động, lười hoạtđộng, lười suy nghĩ và chưa phát huy sự sáng tạo của bản thân

- Hầu hết trong các giờ dạy, giáo viên rất ít sử dụng thí nghiệm vì những khókhăn về khung thời gian của tiết học, về điều kiện chuẩn bị thí nghiệm, về điều kiện môitrường

- Giáo viên rất ít sử dụng thêm các thí nghiệm với dụng cụ do mình tự tìmkiếm, chế tạo và cũng rất ít khi yêu cầu HS tìm kiếm, thiết kế, chế tạo dụng cụ và sửdụng chúng để thực hiện những thí nghiệm đơn giản trong chương “Động học chất điểm”

Trang 40

d) Về tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa

- Ban giám hiệu nhà trường nắm rất vững chủ trương đổi mới giáo dục phổthông hiện nay và luôn có những biện pháp quản lí, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạyhọc trong nhà trường một cách hiệu quả Vì vậy Ban giám hiệu rất khuyến khích, ủng

hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo viên đổi mới phương pháp dạy học nói chung

và tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói riêng Những giáo viên tích cực đổi mớiphương pháp và đa dạng hóa hình thức dạy học luôn được nhà trường động viên, khenthưởng kịp thời và lấy làm điển hình để các giáo viên khác học tập kinh nghiệm

- Tại các trường THPT trong những năm học gần đây, hoạt động ngoại khóacũng thường xuyên được tổ chức nhưng với các nội dung và hình thức chủ yếu là:ngoại khóa theo các chủ đề về đạo đức, lối sống, định hướng nghề nghiệp (được tổchức cho mỗi khối lớp mỗi tháng một lần); ngoại khóa với nội dung văn hóa, vănnghệ, thể dục thể thao, làm báo tường, hội thi kiến thức, tọa đàm cho toàn trường vàocác dịp kỉ niệm đặc biệt trong năm học như vào dịp 20/11, 26/3 Các hoạt động ngoạikhóa với nội dung chuyên sâu về một môn học nào đó thì rất ít được tổ chức, hoặc cóđược tổ chức nhưng không có tính hệ thống

- Tất cả giáo viên vật lí đều đồng tình rằng để dạy học tốt phần kiến thức này vàphát huy hơn nữa tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của HS thì ngoài chươngtrình học chính khóa, cần phải tổ chức thêm các hoạt động ngoại khóa

2.2.5 Nguyên nhân sai lầm của học sinh và biện pháp khắc phục

Những nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế trong việc dạy và học:

- Nội dung phần kiến thức này có liên hệ chặt chẽ với thực tế, đòi hỏi phải có thínghiệm biểu diễn

- Hầu hết các giáo viên đều đã được tập huấn thay sách giáo khoa và các phương phápdạy học tích cực Tuy nhiên, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ và toàn diện về đổi mớiphương pháp dạy học Hơn nữa, do tâm lí ngại thay đổi của một số giáo viên khichuyển sang các phương pháp dạy học mới nên việc đổi mới phương pháp dạy họcchưa được giáo viên thực hiện tốt

- HS còn học tập một cách thụ động, kiến thức xuất phát hạn chế

- Khi dạy và học các kiến thức trong chương “Động học chất điểm”, giáo viên và HS chỉchú trọng dạy và học lí thuyết suông, luyện giải bài tập tính toán cơ bản, chưa quantâm đúng mức đến việc rèn luyện các kĩ năng vận dụng kiến thức để giải thích các hiệntượng liên quan và kĩ năng thực nghiệm, kĩ năng ứng dụng kiến thức vào thực tế

- Cơ sở vật chất của trường, phương tiện và thiết bị dạy học cần thiết chưa đảm bảocho việc dạy và học Toàn trường chỉ có một phòng thí nghiệm với số lượng hạn chế,

Ngày đăng: 27/06/2021, 12:01

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm