1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và vận dụng một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác

137 54 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÕ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

ĐOÀN THỊ TƯỜNG UYÊN

THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÕ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Đà Nẵng – Năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

ĐOÀN THỊ TƯỜNG UYÊN

THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÕ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2019

Tác giả

Đoàn Thị Tường Uyên

Trang 4

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Đậu

Thị Hòa đã hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành

luận văn này

Tác giả cảm ơn tập thể lớp K35.GDH đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2019

Tác giả

Đoàn Thị Tường Uyên

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Đối tượng nghiên cứu 3

5.2 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

6.2.1 Phương pháp quan sát 4

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket 4

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn 4

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm 4

6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục 4

6.2.6 Phương pháp thống kê toán học 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5

7.1 Về lí luận 5

7.2 Về thực tiễn 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÕ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Một số vấn đề cơ bản liên quan đến nội dung đề tài 8

Trang 8

1.2.1 Hoạt động ngoại khóa 8

1.2.1.1.Khái niệm hoạt động ngoại khóa 8

1.2.1.2.Đặc điểm hoạt động ngoại khóa 9

1.2.1.3.Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khóa 9

1.2.1.4.Nguyên tắc hoạt động của hoạt động ngoại khóa [15] 10

1.2.1.5.Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa chủ yếu [20], [32] 10

1.2.2 Trò chơi 12

1.2.2.1.Chơi và hoạt động chơi 12

1.2.2.2.Trò chơi 13

1.2.2.3.Trò chơi học tập 14

1.2.2.4.Cấu trúc chung của trò chơi 15

1.2.2.5.Phân loại trò chơi 16

1.2.2.6.Chức năng học tập của trò chơi 20

1.2.2.7.Quy tắc sử dụng trò chơi 21

1.2.3 Năng lực và dạy học phát triển năng lực 23

1.2.3.1.Khái niệm năng lực 23

1.2.3.2.Phân loại năng lực 23

1.2.3.3.Năng lực hợp tác và cấu trúc năng lực hợp tác 25

1.2.3.4 Dạy học phát triển năng lực 27

1.3 Đặc điểm chương trình môn Khoa học lớp 4 29

1.3.1 Quan điểm xây dựng chương trình tổng thể môn Khoa học 29

1.3.1.1.Quan điểm 29

1.3.1.2.Mục tiêu chương trình 29

1.3.1.3.Yêu cầu cần đạt 30

1.3.2 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa môn Khoa học lớp 4 31

1.3.2.1.Mục tiêu chương trình 31

1.3.2.2.Yêu cầu cần đạt 31

1.3.2.3.Nội dung khái quát 31

1.3.1.4 Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt 33

1.3.3 Phương pháp dạy học môn Khoa học 37

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa của học sinh lớp 4 38

1.4.1 Đặc điểm về nhận thức của học sinh lớp 4 38

1.4.1.1 Nhận thức cảm tính 38

1.4.1.2 Nhận thức lý tính 38

1.4.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4 39 1.5 Thực trạng tổ chức trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học

Trang 9

ở trường tiểu học 40

1.5.1 Mục đích điều tra 40

1.5.2 Đối tượng, địa bàn và quy trình điều tra 40

1.5.3 Phương pháp điều tra 40

1.5.4 Tổ chức điều tra 41

1.5.5 Kết quả điều tra 41

1.5.1.1 Thái độ của HS khi tham gia trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học 41

1.5.1.2 Nhận thức của GV về vai trò, tác dụng của trò chơi trong dạy học môn Khoa học 42

1.5.1.3 Thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn khoa học 43

1.5.1.4 Hình thức tổ chức trò chơi trong quá trình học Khoa học 44

1.5.5.5 Hiệu quả của xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong dạy học môn Khoa học 45

1.5.6 Nhận xét, đánh giá thực trạng 46

Tiểu kết chương 1 46

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG TỔ CHỨC TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC NGOẠI KHÓA MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH 48

2.1 Thiết kế trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 48

2.1.1 Nguyên tắc và yêu cầu thiết kế trò chơi trong dạy học ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 48

2.1.1.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học 48

2.1.1.2 Yêu cầu thiết kế và vận dụng trò chơi 49

2.1.1.3 Quy trình thiết kế trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 50

2.2 Tổ chức một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 52

2.2.1 Trò chơi “Vườn địa đàng” 52

2.2.1.1 Giới thiệu trò chơi 52

2.2.1.2 Cách thực hiện 52

2.2.1.3 Tổ chức cho HS chơi 53

2.2.2 Trò chơi “Cứu hộ” 56

2.2.2.1 Giới thiệu trò chơi 56

Trang 10

2.2.2.2 Cách thực hiện 56

2.2.2.3 Tổ chức cho HS chơi 57

2.2.3 Trò chơi “Phá đảo kho báu” 60

2.2.3.1 Giới thiệu trò chơi 60

2.2.3.2 Cách thực hiện 61

2.2.3.3 Tổ chức cho HS chơi 61

2.2.4 Trò chơi “Giải cứu vườn rau” 63

2.2.4.1 Giới thiệu trò chơi 63

2.2.4.2 Cách thực hiện 64

2.2.4.3 Tổ chức cho HS chơi 64

2.2.5 Trò chơi “Xây dựng kim tự tháp” 67

2.2.5.1 Giới thiệu trò chơi 67

2.2.5.2 Cách thực hiện 67

2.2.5.3 Tổ chức cho HS chơi 68

2.3 Đánh giá năng lực hợp tác qua hoạt động trò chơi 70

2.3.1 Tiêu chí đánh giá 70

2.3.2 Phương pháp đánh giá 74

Tiểu kết chương 2 81

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82

3.1 Mục đích thực nghiệm 82

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 82

3.2.1 Đối tượng 82

3.2.2 Nội dung thực nghiệm 82

3.3 Phương pháp và kỹ thuật tiến hành 82

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 82

3.3.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 82

3.3.3 Tiêu chí đo đạc và đánh giá 82

3.3.4 Kỹ thuật đo và đánh giá 83

3.4 Thực nghiệm sư phạm 84

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 84

3.5.1 Kết quả khảo sát ban đầu bằng bài kiểm tra 84

3.5.2 Kết quả thực nghiệm 86

3.5.2.1 Biểu hiện các hành động tham gia trò chơi trong hoạt động ngoại khóa 86

3.5.2.2 Kết quả học tập 87

3.5.2.3 Kết quả phát triển năng lực hợp tác 88

Trang 11

3.6 Đánh giá chung thực nghiệm 90

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

1 Kết luận 92

2 Khuyến nghị 93

2.1 Đối với học sinh 93

2.2 Đối với giáo viên 93

2.3 Đối với nhà trường 93 PHỤ LỤC 1 PL 1 PHỤ LỤC 2 PL 5 PHỤ LỤC 3 PL 9 PHỤ LỤC 4 PL 11 PHỤ LỤC 5 PL 14 PHỤ LỤC 6 PL 16

Trang 13

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Nhóm kĩ năng tổ chức và quản lí của năng lực hợp

1.2 Nhóm kĩ năng hoạt động của năng lực hợp tác 26 1.3 Nhóm kĩ năng đánh giá của năng lực hợp tác 26

1.5 GV nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơi 42 1.6 Cách xử lý của HS khi tiếp nhận trò chơi theo đánh

1.7 Hiệu quả sử dụng các loại trò chơi trong dạy học

2.1 Hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác 70 2.2 Bảng hỏi kiểm tra nhóm kĩ năng tổ chức và quản lí 74 2.3 Bảng hỏi kiểm tra nhóm kĩ năng tổ chức và quản lí 75 2.4 Bảng hỏi kiểm tra nhóm kĩ năng hoạt động 75

3.1 Phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm 84 3.2 Kết quả kiểm tra nhận thức của hai nhóm đối chứng

và thực nghiệm khi chưa có tác động sư phạm 85 3.3 Mức độ biểu hiện tính tích cực khi tham gia trò chơi 86 3.4 Kết quả kiểm tra (khi có tác động sư phạm) 88 3.5 Kết quả đánh giá định lượng các tiêu chí của năng

Trang 14

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1.1 Hứng thú của HS đối với phương pháp và hình thức

3.1 Biểu diễn tần suất kết quả kiểm tra trước khi có tác

3.4 Kết quả đánh giá định lượng các tiêu chí của kĩ

Trang 15

MỞ ĐẦU

những đổi mới phù hợp với sự nghiệp phát triển của nền kinh tế - xã hội, Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ IV đã chỉ rõ “ Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước…” Trong sự đổi mới này giáo dục tiểu học đang tạo ra những chuyển dịch

có giá trị, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn

hệ thống giáo dục quốc dân Bước vào cấp Tiểu học, học sinh đến với nền văn minh nhà trường, đến với dạng hoạt động mới: hoạt động học tập Nhờ đó, mà học sinh tiểu học hình thành được cách học với hệ thống kĩ năng cơ bản tạo thành năng lực học tập của các em Chính vì vậy, mà ngay từ cấp Tiểu học này, chúng ta phải dạy cho học sinh biết cách suy nghĩ, cách tư duy sáng tạo, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của mình Để làm được điều đó, thì ngay từng bài học, phân môn, môn học, người giáo viên phải biết tổ chức quy trình dạy học theo hướng tích cực, biết thiết kế những hoạt động cụ thể của học sinh theo phương châm “Thầy thiết kế - Trò thi công” Học sinh được đặt trước những tình huống thực tế cụ thể của cuộc sống vô cùng phong phú để tự giải quyết những mâu thuẫn khó khăn trong nhận thức từ đó tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, có như vậy mới nâng cao được hiệu quả dạy học, chất lượng đào tạo mới đạt được những mục tiêu giáo dục đề ra trong chiến lược phát triển con người

sự đổi mới, nó tích hợp nhiều kiến thức từ sức khỏe, giới tính con người, vật chất, năng lượng ta sử dụng hằng ngày tới sự tự nhiên của động vật, thực vật Mục tiêu cơ bản của phân môn Khoa học là giúp học sinh lĩnh hội một số tri thức cơ bản, ban đầu thiết thực về các hiện tượng tự nhiên và thí nghiệm khoa học, một số nhận biết về thế giới động vật, thực vật, các nhà khoa học tiêu biểu điển hình từ buổi đầu lịch sử cho đến thời đại công nghệ 4.0 ngày nay Học sinh có những hiểu biết đúng đắn, có những biểu tượng sinh động và tương đối toàn diện về khoa học Việt Nam qua các mặt thí nghiệm và trải nghiệm Đồng thời, giáo dục cho học sinh lòng tự hào về truyền thống hiếu học của dân tộc, ngưỡng mộ và noi theo các tấm gương tận tụy can đảm, mưu trí của các danh nhân, các nhà khoa học trong việc xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy bên cạnh những phương pháp dạy học đặc trưng như phương pháp kể chuyện, các phương pháp trực quan và các phương pháp dùng lời khác như thuyết trình, tường thuật,… thì phương pháp trò chơi là một phương pháp cần được sử dụng Phương pháp

Trang 16

này rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học, phù hợp với yêu cầu

sử dụng phương pháp truyền thống theo hướng đổi mới hiện nay

thấy: Giáo viên lên lớp chủ yếu thuyết trình giảng giải, thời gian vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học Khoa học còn hạn chế, vì thế mà giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực để dạy học phân môn này Khi tiến hành giờ dạy lên lớp cũng như hoạt động ngoại khóa, giáo viên thường cho học sinh trả lời một số câu hỏi để củng cố khắc sâu mà việc tổ chức hoạt động khám phá khoa học nói chung và việc tổ chức trò chơi nói riêng chưa có sự kết hợp chặt chẽ cùnG nhau tạo cho trẻ hứng thú, khả năng tiếp thu và củng cố kiến thức cho trẻ một cách tổng thể, nhẹ nhàng và logic Vì vậy, học sinh tiếp thu kiến thức do giáo viên truyền đạt một cách thụ động, ít hứng thú trong việc học Khoa học nên giờ học và các hoạt động ngoại khóa chưa phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh Các kiến thức mà học sinh có được sau mỗi hoạt động, mỗi bài học chỉ dừng ở mức độ ghi nhớ và tái hiện đơn thuần, thiếu tính sáng tạo, thiếu tính bền vững

đến người lớn Bất kì ai trong cuộc đời cũng đã từng tham gia vào những trò chơi Cũng như lao động, học tập, trò chơi là một loại hình hoạt động sống của con người Trò chơi có chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định mà người tham gia phải tuân thủ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí đồng thời cũng lại có ý nghĩa giáo dưỡng

và giáo dục lớn lao đối với con người Theo Go-rơ-ki đã nhận xét: “Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi.” Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được ở học sinh tiểu học Lý luận và thực tiễn chứng tỏ rằng nếu biết tổ chức cho các em vui chơi hợp lý, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Qua trò chơi, các em không những phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà trò chơi còn phát huy tính tích cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho học sinh, qua trò chơi học sinh tiếp thu kiến thức bài học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi phát triển tính tự giác, ý thức cộng đồng, tính mạnh dạn, óc sáng kiến của học sinh và tạo được nhiều cơ hội để học sinh tự bộc lộ, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

Mặt khác, trò chơi là phương pháp dạy học tích cực đã được giáo viên tiểu học

sử dụng vào hoạt động dạy và học nhưng chỉ sử dụng như là một phương pháp phụ, thay đổi không khí trạng thái của buổi học ngoại khóa, chứ chưa sử dụng phương pháp này với tư cách là phương pháp chính, chủ yếu để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức cơ bản mà mục tiêu hoạt động đề ra Mặc dù đây là cách dạy học tích cực nhằm đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhưng việc sử dụng phương pháp này trong dạy học

Trang 17

phân môn Khoa học chỉ tương đối, quá trình tổ chức trò chơi còn đơn điệu, chưa tổ chức được trò chơi tập thể để có thể huy động được nhiều học sinh tham gia một lúc vì

sự hạn chế về thời gian, không gian cũng như một số yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài Vì vậy việc tìm hiểu sử dụng phương pháp này vào quá trình hoạt động ngoại khóa phân môn Khoa học không những có ý nghĩa về mặt thực tiễn: Giúp cho giáo viên tiểu học có thể vận dụng phương pháp này vào quá trình hoạt động ngoại khóa phân môn Khoa học, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học phân môn này ở tiểu học

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thiết kế và

vận dụng một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác” cho luận văn thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và vận dụng tổ chức một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học

3 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học phát triển năng lực, nếu thiết kế và vận dụng tổ chức một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 hợp

lí, sáng tạo thì sẽ phát triển được năng lực hợp tác cho học sinh, đồng thời sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học Khoa học ở trường Tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế và vận dụng một

số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học ở các trường tiểu học

- Xác định nguyên tắc và yêu cầu đối với việc thiết kế và vận dụng tổ chức một

số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác

- Xây dựng quy trình thiết kế và vận dụng tổ chức một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm, phân tích kết quả và rút ra kết luận để khẳng định tính hiệu quả và khả thi đối với việc thiết kế và vận dụng tổ chức một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng các trò chơi học tập trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học lớp 4

Trang 18

+ Thiết kế 10 trò chơi theo quy trình

+ Tổ chức thực hiện 5 trò chơi

+ Thực nghiệm 3 trò chơi

- Địa điểm tổ chức thực nghiệm: trường Tiểu học Hồng Quang, quận Liên Chiểu và trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm, quận Thanh Khê

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa nguồn tài liệu có liên quan đến

vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động dạy học môn Khoa học thông qua dự giờ, thăm lớp để thu thập thông tin liên quan đến việc sử dụng trò chơi dạy học

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket

Xây dựng hai loại bảng điều tra (phiếu Anket) dùng cho giáo viên và học sinh để thu thập thông tin về thực trạng vấn đề nghiên cứu

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Thông qua phỏng vấn giáo viên và học sinh về việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong hoạt động ngoại khóa và nhận xét của giáo viên và học sinh về các trò chơi đề tài đưa ra

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm kết quả nghiên cứu, so sánh, đối chiếu với thực trạng, đồng thời quan sát, điều tra và phỏng vấn giáo viên và học sinh về hiệu quả của việc ứng dụng các trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn Khoa học

6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Căn cứ vào các sản phẩm nghiên cứu của tác giả khác, các trò chơi trong giáo trình và các tài liệu khác để thiết kế và vận dụng các trò chơi phù hợp nhằm phát triển năng lực hợp tác

6.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương phá này để xử lý kết quả thu thập được Phục vụ cho việc phân

Trang 19

tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận, thực tiễn của việc thiết

kế và vận dụng một số trò chơi trong hoạt động ngoại khóa môn khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác

Chương 2: Thiết kế và vận dụng tổ chức trò chơi trong dạy học ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 20

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TRÕ CHƠI TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO

Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người tiệp khắc I.A.Komenxki (1592-1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ

em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Komenxki

đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi

Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel(1782-1852) Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ [11 tr22]

Trang 21

I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng [11 tr 25- 26]

Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên

“tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, VR.Bexpalova, E.I.Udalsova R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi Bà chỉ

ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới

từ những ý tưởng đó, Bà đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng [11 tr 30]

Bên cạnh đó, tính tích cực cũng được các nhà khoa học như B.P.Exipov, A.M.Machiuskin(Liênxô);OKon(Balan),Skinner,Bruner(Mỹ),Xavier,Roegiers(Pháp) nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau

Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của người học trong mối quan hệ giữa nhận thức và tình cảm, ý chí (A.I.Serbacov, I.F.Kharlamov, R.A.Nhidamov, V.Okon .) hướng nghiên cứu này đã bổ trợ rất nhiều cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những con đường và điều kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học

Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức của người lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lưu ý tới vai trò chủ động và chủ thể trong quá trình nhận thức (B.P.Êxipop, LP.Anstova, Xavier Roegiers, Jean-Marc Denomme, Madedine Roy ) các tác giả này coi tính tích cực nhận thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức thông qua việc huy động các chức năng tâm lý

ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức

Trang 22

ngữ cho trẻ

Các tác giả đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa phát triển của trò chơi học tập, không chỉ phát triển ở các giác quan mà phát triển các chức năng tâm lý chung của người học Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này cũng chưa đi sâu nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học dành cho quá trình nhận thức của người học

Gần đây trong tác phẩm “trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã đề cập đến trò chơi trí tuệ Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em [39]

Còn tác giả Trần Thị Ngọc Trâm đã thiết kế một hệ thống trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo lớn [34]

Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộ môn khác nhau, chẳng hạn: Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế

và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) Tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ ở độ tuổi mầm non

Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trước đến nay tuy đã

có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học Song chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học ngoại khóa môn Khoa học Những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và vận dụng trò chơi trong dạy học ngoại khóa môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát triển năng lực hợp tác”

1.2 Một số vấn đề cơ bản liên quan đến nội dung đề tài

1.2.1 Hoạt động ngoại khóa

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động ngoại khóa

Ngoại khóa, extra-scolaire (tiếng Pháp), extra-curricular (tiếng Anh) là khái niệm chỉ hoạt động giáo dục ngoài giờ học chính thức dựa trên tính chất tự nguyện của người tham gia Ở đây, có thể là một buổi thảo luận (theo chủ đề), là sinh hoạt các loại hình câu lạc bộ thể thao, ngoại ngữ, thơ, văn, là các cuộc đố thi vui, là các buổi tham quan hay các tổ chức (từ thiện, trại hè xanh…)

Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Cương thì “Hoạt động ngoại khóa là những hoạt động học tập, giáo dục học sinh được tổ chức ngoài chương trình bắt buộc và tự chọn

Trang 23

do giáo viên điều khiển, có sự hỗ trợ của các đoàn thể, xã hội” [13 tr 422]

Hoạt động ngoại khóa có lồng ghép lý thuyết liên quan đến khoa học nhằm củng

cố, mở rộng kiến thức khoa học gọi là ngoại khóa khoa học

1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động ngoại khóa

Hoạt động ngoại khóa là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở trường phổ thông được tổ chức ngoài chương trình bắt buộc và tự chọn nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập Do sự hạn chế của thời gian lên lớp trong chương trình chính khóa, đồng thời với sự gia tang không ngừng của tri thức đã làm xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức của học sinh với tính kế hoạch của chương trình Các giờ học với số lượng thời gian hạn chế không thể thỏa mãn nhu cầu của học sinh và yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa mới Để giải quyết mâu thuẫn này, đào sâu kiến thức, phát triển những hứng thú, năng lực cá nhân và kích thích thiên hướng của các em về một mặt hoạt động nào đó

Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học có đặc điểm:

- Hoạt động ngoại khóa được thực hiện ngoài giờ học, nó không mang tính bắt buộc mà tùy thuộc vào hứng thú, sở thích, nguyện vọng của mỗi học sinh trong khuôn khổ khả năng và điều kiện tổ chức có được của nhà trường

- Hoạt động ngoại khóa có thể được tổ chức theo những hình thức như: tổ ngoại khóa; câu lạc bộ khoa học; dạ hội khoa học; dạ hội nghệ thuật,…

- Nội dung ngoại khóa rất đa dạng, bao gồm cả mặt văn hóa, khoa học công nghệ, thể dục thể thao, kĩ thuật… nhằm giúp học sinh mở rộng, đào sâu, làm phong phú them những điều đã được học trong các giờ nội khóa của môn học tương ứng

- Ngoại khoác do giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh… với học sinh của một lớp hay một số lớp thực hiện

1.2.1.3 Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khóa

- Hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu đào tạo nhà trường

- Phát triển hứng thú học tập hóa học, nâng cao, mở rộng kiến thức, kĩ năng thực nghiệm hóa học

- Phát triển tính sang tạo, trí thông minh của học sinh trong việc giải quyết các vấn đề khoa học

- Chuẩn bị hướng nghiệp, phát hiện bồi dưỡng thiên hướng, tài năng hóa học

- Huy động học sinh tham gia các hoạt động công ích có nội dung hóa học: xây dựng phòng thí nghiệm, đồ dùng dạy học, bảo vệ môi trường,…

- Tổ chức vui chơi, giải trí một cách bổ ích, trí tuệ

Như vậy, hoạt động ngoại khóa hóa học có tác dụng trí dục, giáo dục rất lớn đối với học sinh

Trang 24

1.2.1.4 Nguyên tắc hoạt động của hoạt động ngoại khóa [15]

- Đảm bảo tính mục đích và tính kế hoạch: các hoạt động ngoại khóa phải được lên kế hoạch, chỉ rõ mục đích, nội dung, hình thức và thời gian thực hiện

- Đảm bảo tính thích hợp và hiệu quả: kế hoạch hoạt động phải vừa sức và đủ điều kiện để thực hiện

- Đảm bảo sự thống nhất giữa nội dung ngoại khóa với chương trình nội khóa

- Đảm bảo sự thống nhất giữa yêu cầu của giáo viên với sự tự nguyện, chủ động

và hứng thú, nhu cầu học hỏi của học sinh Tự nó, sẽ là nguồn lực để động viên học sinh tích cực tham gia

- Nội dung hoạt động ngoại khóa phải linh hoạt, phong phú, cân đối giữa các loại hình hoạt động: tập thể, cá nhân

- Huy động được sự giúp đỡ của nhà trường, đoàn thể, đại phương và hội cha

mẹ học sinh, những tổ chức đỡ đầu, kết nghĩa… Có sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của Ban giám hiệu và thầy cô giáo, có sự trợ giúp thiết thực về kinh phí tổ chức

1.2.1.5 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa chủ yếu [20], [32]

a Tham quan

 Khái niệm:

Đây là hình thức tổ chức cho học sinh thâm nhập thực tế bằng cách tham quan viện bảo tang, nhà máy, cơ sở sản xuất có liên quan đến các nội dung khoa học Hình thức này có tác dụng gắn kiến thức lý thuyết với thực tiễn, giúp học sinh mở rộng sự hiểu biết của mình, nâng cao hứng thú học tập môn khoa học, phát triển óc quan sát,

óc tò mò Ngoài ra, học sinh còn tìm ra mối liên hệ giữa kiến thức được học ở trường

và thực tiễn, rút ra những bài học bổ ích nhằm hoàn thiện thêm tri thức của mình cũng như định hướng nghề nghiệp cho bản thân

 Phân loại:

- Tham quan chuẩn bị: giúp học sinh tích lũy hiểu biết cần thiết phục vụ cho việc lĩnh hội tri thức mới Nó được tiến hành trước khi học bài mới

- Tham quan bổ sung: minh họa những vấn đề riêng rẽ, cung cấp những tài liệu

để làm chỗ dựa cho đàm thoại Nó được tiến hành trong quá trình học tập

- Tham quan tổng kết: giúp học sinh củng cố, đào sâu những tri thức đã học

Nó được tiến hành khi học xong một phần nào đó của chương trình

Trang 25

- Nâng cao hứng thú học tập, phát triển óc quan sát, tính tò mò khoa học

- Góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đảm bảo dạy học gắn liền với lao động sản xuất, đời sống

- Góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh: qua tham quan ngoại khóa các em có nhận thức đúng đắn về lao động của con người, bồi dưỡng lòng yêu lao động của con người, bồi dưỡng lòng yêu lao động, yêu tổ quốc

b Hội vui khoa học

 Khái niệm

Hội vui khoa học là một trong những hình thức ngoại khóa hóa học sôi nổi, hấp dẫn, thu hút sự quan tâm và tham gia của nhiều học sinh yêu thích khoa học Dưới hình thức là các cuộc thi về khoa học ở nhiều nội dung đa dạng như đố vui, triển lãm (kết quả các dự án), trò chơi, kịch vui, thí nghiệm vui, ảo thuật khoa học Nội dung các hoạt động mang tính tìm tòi, chứa đựng các yếu tố bất ngờ, vui nhộn, học sinh được kiểm tra, đánh giá, củng cố và tổng kết những kiến thức đã học Không những thế, hội vui khoa học còn là nơi các em học sinh được thể hiện chính mình, giao lưu, học hỏi những kỹ năng xã hội cũng như những kỹ năng cần thiết trong khoa học

 Phân loại

- Hội vui chuyên đề: khi cần đi sâu giới thiệu cho học sinh một đề tài gì đó và mọi hoạt động của thầy và trò đều xoay quanh chủ đề đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm giúp học sinh hiểu rộng, sâu hơn một số kiến thức, nắm thêm một số kĩ năng, hiểu thêm một vài ứng dụng của đề tài nghiên cứu

- Hội vui tổng hợp: tổng hợp các phần, tổ chức phối hợp với các môn khác, tổ chức cho từng lớp, khối lớp hoặc toàn trường

Thời gian tổ chức hội vui có thể sau khi học từng phần của chương trình hoặc một dịp nào đó ( 20/11, 26/03, 30/4, ) hoặc có thể thực hiện vào hoạt động ngoài giờ lên lớp,

 Vai trò

- Ôn tập củng cố theo từng chuyên đề kiến thức khoa học

- Nói chuyện về lịch sử các nhà khoa học, các giai đoạn phát triển của khoa học

- Vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống: khoa học và thực phẩm, khoa học và môi trường,

- Tổ chức cho học sinh tham gia một số trò chơi có dùng kiến thức khoa học

- Biểu diễn các thí nghiệm vui khoa học

c Hội thi khoa học

Hội thi là một trong những cách thức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, đạt

Trang 26

hiệu quả tốt trong vấn đề giáo dục, rèn luyện và định hướng cho người tham gia Hội thi là dịp để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình, khẳng định thành tích, kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trong học tập và trong các hoạt động tập thể

Qui mô của hội thi, đối tượng tham gia, cách thức tổ chức hội thi như thế nào phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, tính chất và nội dung của hội thi Qui mô của hội thi có thể tổ chức trong phạm vi một lớp, một khối hoặc toàn trường Có thể tổ chức vào các thời gian khác nhau của năm học Đối tượng tham gia hội thi là các cá

nhân hoặc nhóm học sinh

- Chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đời sống con người ở mọi lứa tuổi, mặc dù hình thức chơi thay đổi khi một người lớn lên già đi Khi chơi, cả người lớn lẫn trẻ em đều say mê, vui vẻ, thoải mái Đối với người lớn, hoạt động chơi chiếm một vị trí nhất định trong cuộc sống của họ Còn đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động chơi là nội dung chính của cuộc sống là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này

- Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chơi”, có thể điểm qua một vài định nghĩa về “chơi” như:

+ “Chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích gì khác”[39] + “Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi” [29]

+ “Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết

Trang 27

thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu” [39]

+ “Chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy

là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu và lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó Bản thân quá trình chơi có sức cuốn hút tự thân và các yếu tố tâm lý của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vui đùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thư giản, có khuynh hướng thể nghiệm những tâm trạng hoặc tạo ra sự khuây khỏa cho mình”[19, tr384] Rõ ràng khó có thể đưa ra một khái niệm chung cho một hiện tượng “chơi” trong toàn bộ phạm

vi hoạt động rộng lớn của con người vì hình thức thể hiện của hoạt động chơi vô cùng

đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức

- Hoạt động chơi là hình thái đặc biệt của sự chơi và chỉ có ở con người Quá trình chơi diễn ra ở 2 cấp độ: cấp độ hành vi và cấp độ hoạt động Với tư cách là hoạt động, sự chơi diễn ra theo nhu cầu của chủ thể, được điều khiển bởi động cơ bên trong quá trình chơi Yếu tố động cơ là căn cứ phân biệt rõ hoạt động chơi với những dạng hoạt động khác Hoạt động chơi là dạng chơi có ý thức, cả nội dung văn hóa xã hội, dựa trên các chức năng tâm lý cấp cao và chỉ có ở người, không có ở động vật [19 tr387] “Loại hoạt động nào có cấu trúc động cơ nằm trong chính quá trình hoạt động,

đó chính là hoạt động chơi” [23]

Tóm lại, hoạt động chơi cả trẻ em và người lớn đều có cùng bản chất tự nhiên, ngây thơ, vô tư vì nó là một trường hợp của chơi nhưng đây là dạng chơi ở người có ý thức, có động cơ xã hội và văn hóa, có nội dung nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm

mỹ Hoạt động chơi đương nhiên là chơi nhưng không phải mọi hiện tượng chơi nào cũng là hoạt động chơi – có nhiều hiện tượng chơi chỉ là hành vi hay động thái biểu hiện những khả năng và nhu cầu bản năng của cá thể sinh vật hoặc người

Một số nhà tâm lý – giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross, S.Hall, V.Stern cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa

Còn G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ

Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi

có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục[11]

Còn tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác

Trang 28

nhau tương đối xa

+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia

+ Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi

Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết

kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó

Tóm lại, trò chơi chính là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất giác

không gọi là trò chơi [19]

Có những quan niệm khác nhau về trò chơi học tập Trong lý luận dạy học, tất

cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi dạy học

Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng (gọi tắt là trò chơi có luật), trò chơi học tập còn được hiểu là loại trò chơi có luật có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học

Trò chơi học tập có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùng hình thức đó để dạy con, những trò chơi đó có chứa đựng các yếu tố dạy học [31]

Mỗi dạng trò chơi ở trẻ có sắc thái nhất định và có tác dụng nhất định đối với sự hình thành và phát triển tâm lý – nhân cách Sự phân biệt ý nghĩa, tác dụng của mỗi loại trò chơi đối với sự phát triển tâm lý – nhân cách của trẻ chỉ mang tính tương đối Nhìn chung, mọi trò chơi đều hướng đến sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, mỗi trò chơi

có một thế mạnh riêng Theo Nguyễn Ánh Tuyết: “Trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người” [15] Đúng vậy, mọi trò chơi ở trẻ đều diễn ra sự học Song mỗi trò chơi giúp trẻ học một kiểu

Tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về trò chơi học tập của các nhà nghiên cứu Xô Viết, tác giả Trương Thị Xuân Huệ trong công trình nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ em học toán lớp 1”, khẳng định

Trang 29

rằng trò chơi học tập được hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục, trò chơi học tập là trò chơi có nội dung và luật chơi cho trước do người lớn sáng tác và đưa vào cuộc sống của trẻ [16] Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì những trò chơi giáo dục được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kỹ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi gọi là trò chơi học tập

Trò chơi học tập thực chất là một trò chơi có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Theo E.I.Chikhieva “Trò chơi đó được gọi là trò chơi học tập hay trò chơi dạy học là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi cần phải có tài liệu dạy học phù hợp kèm theo” Còn P.G.Xamarucova cho rằng, loại trò chơi được xem là trò chơi học tập “đó là những trò chơi có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ em”

Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi học tập được tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập

Trò chơi học tập được sáng tạo ra và được sử dụng bởi các nhà giáo và người lớn dựa trên những khuyến nghị của lý luận dạy học, đặc biệt là của lý luận dạy học các môn học cụ thể Chúng phản ánh lý thuyết, ý tưởng, mục tiêu của nhà giáo, là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài bản cứng nhắc như những giờ học

1.2.2.4 Cấu trúc chung của trò chơi

Trò chơi học tập có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc

nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động và quan

hệ hiện thực Đó là cấu trúc phức tạp, gồm những thành tố sau:

a Mục đích hay chủ định chơi - nó cũng là những nhiệm vụ học tập của học sinh trong khi tham gia chơi Mục đích này chi phối tất cả những yếu tố của trò chơi Khi trò chơi kết thúc, mức độ đạt được của mục đích chơi được phản ánh ở kết quả hiện thực mà học sinh thu được và kết quả đó cũng là kết quả giải quyết các nhiệm vụ học tập - học sinh học được những gì cụ thể thì chính những cái đó phải thể hiện trong kết quả chơi

b Các hành động hay hành động chơi- là những hoạt động thực sự mà người tham gia trò chơi tiến hành để thực hiện vai, nhiệm vụ và vai trò của mình trong trò chơi

Trang 30

c Luật chơi hay quy tắc chơi là những quy định nhằm bảo đảm sự định hướng các hoạt động và hành động chơi vào mục đích chơi hay nhiệm vụ học tập, chỉ ra các mục tiêu và kết quả của các hành động , các phương thức và tính chất của hoạt động và hành động, xác định trình tự và tiến độ của các hành động, tạo ra các tiêu chí điều chỉnh các quan hệ và hành vi của người tham gia và tiêu chí đánh giá hoạt động, hành động chơi có đáp ứng các nhiệm vụ học tập hay không L.X.Vưgốtxki cũng đã nhận xét “Luật chơi càng chính xác bao nhiêu thì trò chơi càng căng thẳng và quyết liệt bấy nhiêu”

d Đối tượng hoạt động và giao tiếp là những thành tố chính của các hoạt động, tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi

đ Các quá trình, tình huống và quan hệ - là những tiến trình, biến số và khuynh hướng của các hoạt động, hành động chơi, biểu thị tác động của luật chơi Dưới ảnh hưởng của luật chơi, chúng diễn ra như là động thái của trò chơi, nhưng hướng vào mục đích của dạy học [19 tr 396 - 398]

1.2.2.5 Phân loại trò chơi

a Nguyên tắc chung phân loại trò chơi

 Vấn đề phân loại trò chơi trong khoa học giáo dục

Lâu nay chưa có sự nhất quan trong phân loại trò chơi, cũng không rõ nguyên tắc phân loại Quan điểm phổ biến hiện nay, thể hiện trong chương trình, tài liệu giáo khoa, giáo trình, luận văn khoa học, là phân chia trò chơi thành các loại

- Trò chơi học tập, là trò chơi có luật

 Nguyên tắc phân loại trò chơi

Đó là vấn đề quan trọng trong lý thuyết và thực tiễn sử dụng trò chơi Những nguyên tắc này không cố định, mà phụ thuộc vào cách tiếp cận khoa học cụ thể, nghĩa

là không có một nguyên tắc duy nhất nào cả

Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng về trò chơi nói chung, có thể phân loại theo một số cách tiếp cận sau:

- Cách tiếp cận văn hoá

Trang 31

+ Những trò chơi nhại lại hay phóng tác (Simulations): Đó là sự trừu tượng hoá

và tái tạo một mảng hiện thực dưới hình thức chơi, với những đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống mô phỏng nhưng phản ánh nhu cầu giải quyết vấn đề, nhận thức, đánh giá, tạo dựng cái gì đó thiết thực trong cuộc sống của con người

+ Những trò chơi sáng tạo hay kiến tạo (games): Đó là tổ hợp những hoạt động được tiến hành theo những luật, quy tắc, phần thưởng hay phần thắng và mục đích chơi mới được đặt ra một cách chủ động, không phụ thuộc vào những tiền lệ một cách trực tiếp Kiểu trò chơi này có thể gồm một vài yếu tổ đơn lẻ mang tính chất phóng tác, nhưng chúng không giữ vai trò quan trọng trong mục đích, luật và quy tắc chơi + Những trò chơi nửa phóng tác nửa sáng tạo của (simualated Games): Đó là những hoạt động và mục đích và phần thưởng hay giải thưởng thường phỏng theo những tiền lệ đã có, tức là phóng tác những thói thường, những các lụật lệ, quy tắc của trò chơi lại là những yếu tổ mới được đặt ra, không dựa vào tiền lệ nào có sẵn Và trường hợp ngược lại, trò chơi này gồm các luật lệ, quy tắc phóng tác và những mục đích, cách đặt giải thưởng có tính rất sáng tạo

- Cách tiếp cận lịch sử

+ Những trò chơi dân gian, có tính truyền thống: Đó là những trò chơi thường đi kèm với lễ hội, liên hoan và sinh hoạt cộng đồng truyền thống - múa lân, chơi cầu mây, thi nấu cơm trên thuyền, chơi trốn tìm, thi vật v.v chúng thường có hình thức đặc trưng của văn hoá dân tộc và có nội dung nghiêng về giải trí, tiêu khiển, thư giãn, vui vẻ, bồi dưỡng đời sống tinh thần của con người

+ Những trò chơi hiện đại, có tính chất công nghiệp và văn minh phổ biến: Đó là những trò chơi được thiết kế và tổ chức theo phong cách hiện đại, có sự tham gia của các yếu tổ quan lý, công nghệ, nghệ thuật, sư phạm, tâm lý và các khoa học khác, với nội dung phản ánh các hoạt động, quan hệ, quá trình và tình huống xã hội hiện đại Ví dụ: Trò chơi xây dựng hay lắp ráp các cấu kiện, mô hình kỹ thuật, trò chơi điện tử như lái xe, bắn súng, các môn thi đấu thể thao mới xuất hiện Chúng thường phổ biến ở nhiều nền văn hoá khác nhau và có nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực đương đại

- Cách tiếp cận tâm lý

+ Những trò chơi thi đấu, có tính chất tranh đua để giành thành tích tốt nhất hoặc vượt qua thử thách một cách xuất sắc nhất: Đó là những trò chơi có tập hợp quy tắc, luật lệ chặt chẽ nhằm định rõ mục đích, kết quả, hoặc yêu cầu về thành tích phải vượt qua, buộc những người tham gia phải nỗ lực ganh đua với nhau để giành thành tích cao nhất

+ Những trò chơi không thi đấu, không có tính chất thi thố, tranh đua: Đó là những trò chơi chỉ có mục đích thắng đối thủ, loại đối thủ khỏi cuộc chơi hoặc thắng

Trang 32

chính trò chơi, có tính chất "không nhất thì bét", không thắng thì thua, mà không có quá trình đánh giá, xem xét và xếp hạng thành tích Chẳng hạn các trò đánh cờ vây đôi, đánh cờ với máy tính điện tử, chọi gà, chơi quyền anh, giải các bài toán vui hay lắp ghép các mô hình kỹ thuật là những trò chơi không thi đấu

- Cách tiếp cận chức năng

+ Những trò chơi giải trí, tiêu khiển: Đó là kiểu trò chơi có chức năng cứu rỗi, giải toả bớt những căng thẳng tâm lý do công việc, quan hệ, đời sống lao động và đấu tranh gây ra Chúng có thể có tính chất thi đấu hoặc không thi đấu, có giải thưởng hay không có giải thưởng Nói chung, các trò chơi giải trí không nhằm những mục đích hay lợi ích công việc Ví dụ: Đánh bài, thi hát đối, chơi cờ, chơi đố chữ cốt để vui vẻ trong những lúc rỗi rãi, đàn đúm bạn bè, họp mặt, hội hè

+ Những trò chơi công vụ: Gồm những trò chơi nhằm những mục đích công việc nghiêm túc, trong đó các hoạt động của người tham gia tuy có hình thức là chơi song nội dung và nhiệm vụ phải giải quyết lại là những công việc nhất định Trò chơi công

vụ, luật chơi chỉ là hình thức và chỉ dẫn công việc phải làm, người tham gia hầu như không thực sự tiến hành hoạt động chơi, mà tiến hành những hoạt động khác

+ Những trò chơi dùng sức lực thể chất: Chúng đồng thời có chức năng chủ yếu

là cải thiện và phát triển thể chất của người tham gia, về hình thể, sức vóc, sức mạnh

cơ thể, khả năng vận động cơ thể, độ khéo léo của chân tay hay tư thế của thân thể, vận động và chức năng của các giác quan

+ Những trò chơi trí tuệ: Có tác động chủ yếu đến các chức năng và quá trình tâm

lý của con người, cải thiện các yếu tổ tâm trí đồng thời cũng đòi hỏi người tham gia phải huy động và vận dụng các sức mạnh tâm trí của mình để thực hiện những hoạt

động cần thiết trong trò chơ

b Phân loại trò chơi

- Những hình thái cơ bản của chơi xét theo bản chất tâm sinh lý của nó (chơi đơn độc, chơi song song, chơi hội, chơi hợp tác, chơi chức năng, chơi kiến tạo, chơi tự do, chơi có nghi thức, chơi sao chép lại mẫu, chơi có liên hệ, chơi sáng tạo v.v ) gợi ra rằng cần phân loại trò chơi học tập theo các cấu trúc hay chức năng tâm sinh lý của người tham gia trò chơi, đồng thời cũng chính là đối tượng của dạy học

- Những chức năng tâm sinh lý chủ yếu của con người xét đến cùng, từ bé cho đến lớn và qua suốt cuộc đời, được thể hiện trong mọi hoạt động, quan hệ, công việc và những lĩnh vực sinh hoạt khác nhau của cá nhân, là nhận thức, biểu cảm hay thái độ, và vận động Ba chức năng này cũng là những lĩnh vực phát triển hay những mục tiêu giáo dục, rèn luyện của học sinh trong quá trình dạy học Như vậy, căn cứ vào chức năng, trò chơi dạy học có 3 nhóm sau:

Trang 33

 Nhóm 1: Trò chơi phát triển nhận thức

Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức,

nỗ lực hoạt động nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, hoàn thành các luật và quy tắc chơi, tuân thủ những yêu cầu

và mục đích chơi, nhờ vậy mà cải thiện và phát triển được khả năng nhận thức, quá trình và kết quả nhận thức của mình Trò chơi phát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ:

+ Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: Ví dụ các trò chơi thi xếp hình, ghép hình theo hình dạng, theo màu sắc; trò chơi nhận dạng các đồ vật, con vật và đối chiếu các sự vật với mẫu, với vật thật, với mô hình, trò chơi phân biệt các sắc thái của màu, phân biệt các bộ phận đồng nhất và khác nhau giữa các sự vật; trò chơi nghe và nhận dạng âm thanh

+ Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: Ví dụ trò chơi kể và tiếp nối các từ đồng nghĩa, các đồ vật, các con vật, các chữ cái: Trò chơi nhắc lại các âm, các nốt nhạc, trò chơi nhận lại các hình sau khi quan sát, nhớ lại dạy số, nhớ lại số lượng hay kích thức của vật

+ Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy: Ví dụ các môn cờ khác nhau, các trò chơi xây dựng, lắp ghép mô hình, các trò chơi có vai (phóng tác), phân vai (theo chủ đề) và đóng kịch ; các trò chơi thi giải đố, thi tính toán thi với các thực nghiệm khoa học; các trò chơi thực hiện những thuật toán như xếp đội hình, giải các bài tập theo chương trình; các trò chơi khoa học vui

 Nhóm 2: Trò chơi phát triển các giá trị

Đó là những trò chơi có nội dụng văn hoá, xã hội, trong đó các quan hệ chơi phóng tác hoạt lý tưởng hoá các quan hệ đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, gia đình, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự hiện thực và các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực, động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của người tham gia

Ví dụ: Các trò chơi phân vai theo các chủ đề, các trò chơi đóng kịch, các trò chơi dân gian có tính chất lễ hội, các trò chơi tập thể có tính chất liên hoan: Thi nấu cơm, thi kéo co, thi nhảy múa, thi đọc thơ, thi làm thơ; các trò chơi phóng tác những nghề nghiệp hay quan hệ xã hội Chúng là môi trường giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm sống, giúp trẻ học và rèn luyện những kỹ năng xã hội, kỹ năng cộng tác…

Một số trò chơi đòi hỏi khả năng đánh giá sự vật hay hành vi, hành động, tính cách con người, khả năng giải đáp những tình huống khác nhau

 Nhóm 3: Trò chơi phát triển vận động

+ Hầu hết các trò chơi thể thao như chơi bóng, đá cầu, mang vác, leo trèo, chạy

Trang 34

nhảy, nhảy dây, đuổi bắt, xếp hình bằng đội ngũ

+ Các trò chơi phóng tác có nội dung quân sự, lao động, dịch vụ đòi hỏi phải vận động thể chất và di chuyển cơ thể

Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi được chơi hơi khác những trò chơi vận động, nó có vi phạm rộng hơn Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi các vận động phải tuân theo luật hay quy tắc, và nội dung chơi chủ yếu là vận động Nó đương nhiên có chức năng phát triển vận động Còn trò chơi phát triển vận động vừa gồm các trò chơi vận động vừa gồm những trò chơi khác Chức năng của cá nhân ngày càng phát triển phân hoá theo sự tăng dần của lứa tuổi và thể hiện cụ thể trong các lĩnh vực hành vi, hoạt động quan hệ thực hiện của con người Dạy học chính là dạy người ta lĩnh hội các phương thức hành vi, hoạt động và quan hệ, hay như chúng ta quen gọi là các mặt giáo dục và phát triển của trẻ em Các lĩnh vực hay các mặt này là tầng phát triển cụ thể hơn tầng chức năng, có nội dung bộ môn hay chuyên biệt, có tính chất ngành Nếu như các hành vi và hoạt động có cơ cấu ngành (lĩnh vực) thì bản thân cơ cấu đó gợi ý cho ta phân loại và xác định các nhóm trò chơi dạy học theo nguyên tắc ngành Điều đó còn có nghĩa nếu cơ cấu ngành thay đổi theo lứa tuổi học sinh, thì hệ thống trò chơi phải thay đổi [19 tr 411 - 415]

1.2.2.6 Chức năng học tập của trò chơi

- Xây dựng đội chơi: Đó là những trò chơi được sử dụng để cải thiện mối quan

hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể Các thành viên sẽ họp lại thành nhóm và làm việc theo nhóm

- Cải thiện khả năng giao tiếp: Loại trò chơi này được thiết kế và sử dụng để

người chơi thấy được cái họ cần cải thiện trong khả năng giao tiếp Khi một chương trình về kỹ năng giao tiếp người chơi cần phải đảm bảo tất cả những gì mình đưa ra là đúng và những bản nhận xét là một phần quan trọng của trò chơi Lời nhận xét phải cụ thể và hướng tới những cách cư xử của từng cá nhân khi giải quyết vấn đề

- Phát triển kỹ năng thuyết trình: Bao gồm những trò chơi có mục đích giúp

người chơi phát triển khả năng đứng trước đám đông hay kỹ năng thuyết trình Trong khi sử dụng các trò chơi để tăng cường kỹ năng thuyết trình học sinh cần chớp thời cơ bằng việc thể hiện cá tính của mỗi cá nhân trong nhóm bất cứ khi nào có thể Điều này

sẽ phát triển các kỹ năng thuyết trình Điều quan trọng là người thuyết trình phải đảm bảo những cá nhân đó được để ý và được báo cáo lại bởi các thành viên khác còn lại trong nhóm Bằng cách quan sát đơn giản các thành viên trong đội sẽ nhận ra những điều mà họ cần Học sinh càng nhìn thấy nhiều phong cách thuyết trình càng tốt

- Rèn luyện trí nhớ: Các hoạt động đòi hỏi phải tái hiện trong thời gian ngắn

Trang 35

hoặc dài những kinh nghiệm tri giác, thị giác hoặc thính giác Trí nhớ được trắc định bằng các trò đố, trong đó phải huy động tri thức từ quá khứ để giải đáp những câu hỏi đánh đố Bởi vì trò chơi đố có thể được xây dựng cho tất cả những lĩnh vực học tập trong nhà trường, nên có thể sử dụng chúng như những biện pháp để giúp học sinh tập dượt tri thức đã học trước đây và bằng cách đó nâng cao hiệu suất trí nhớ của họ

- Rèn luyện tính sáng tạo: Hiểu theo nghĩa phát kiến ra một biến thể mới của

hoạt động Rõ ràng là các kiểu trò chơi khác biệt nhau ở mức độ độc đáo mà nó khuyến khích hoặc hạn chế Những phương án khác của trò chơi thích hợp nhất cho việc kích thích tính sáng tạo là giải trí bằng đồ hoạ, vẽ tranh, viết truyện, làm thơ, nghĩ

ra các trò đùa, câu đố, mô tả những phát kiến tưởng tượng

- Học những kỹ năng phán đoán: Chỉ một loại năng lực lường trước những dữ

liệu của các hành động có thể xảy ra trong tương lai ở trong một tình huống, và đánh giá những nhân tố nào quyết định xác suất lớn nhất xảy ra điều gì đó

- Học kỹ năng đánh lừa: Chỉ một loại năng lực đánh lạc hướng người khác

bằng cách tỏ ra dự định một hành động này nhưng thực tế lai thực hiện một hành động khác Năng lực này là sự mở rộng của năng lực dự đoán các sự kiện, nó đòi hỏi phải ước định được mình có thể dùng những cử chỉ biểu đạt nào để đánh loại được các đối thủ, khiến cho họ phán đoán những sai lầm về những hoạt động sau đó của mình

- Học và rèn luyện hành vi có luật: Có nghĩa là cá nhân hiểu các luật lệ, quy

tắc chi phối hoạt động, tuân theo luật, tôn trọng những thoả thuận đã nhất trí với nhau

để tránh vi phạm luật và làm theo những gì đã nhất trí Mọi trò chơi có thể kích thích những tiến bộ hướng tới những mục tiêu này nhất là trò chơi dạy học

- Học cách làm chủ thái độ đối với thành công và thất bại: Có nghĩa là cá

nhân tán thành những phản ứng được chấp nhận về mặt xã hội trước sự thắng và bại Bất cứ hoạt động nào hễ có mục đích vươn tới hoặc có đối thủ để chiến thắng, đều tạo

ra những cơ hội tốt để bồi dưỡng thái độ này

- Cải thiện kỹ năng tự quản: Thông qua các trò chơi cho phép người tham gia

biết được họ có thể cải thiện kỹ thuật tự đánh giá bản thân ở chỗ nào Ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến việc cải thiện khả năng tổ chức của người tham gia [19]

1.2.2.7 Quy tắc sử dụng trò chơi

- Xác định rõ mục tiêu giáo dục của mỗi trò chơi: cần làm rõ những gì là nhiệm

vụ, quan hệ, nội dung và tình huống chơi, và bên cạnh đó những gì là nhiệm vụ, quan

hệ, nội dung và tình huống dạy học-giáo dục

- Trò chơi phóng tác chủ yếu giúp người học nâng cao nhận thức, hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề và cách giải quyết vấn đề mà trong những tình huống chính thức người học khó hoặc không thể tiếp cận được

Trang 36

- Trò chơi sáng tạo chủ yếu dạy người học cách suy nghĩ, rèn luyện tính năng động của hành vi, động cơ xã hội trong học tập, tạo ra môi trường áp dụng những tri thức và tư tưởng

- Trò chơi cần được xem như môi trường hoạt động của người học, để học chính nội dung của đề tài, bài học thông qua ứng xử, xử lý, thực hiện, hành động với các đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống chơi

- Trò chơi phải có quan hệ chặt chẽ với nội dung học tập và nội dung cần phù hợp với thực tế tổ chức trò chơi

- Chỉ lựa chọn những yếu tố, vấn đề quan trọng, cần thết và thích hợp với phương thức chơi để đưa vào trò chơi với phán đoán rằng trò chơi sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với giờ học bài bản

- Trong trò chơi các vai chơi và các vai trò của người chơi cần được xác định rõ ràng Đặc biệt phải tránh làm cho người chơi lẫn lộn vai chơi trong các trò chơi phân vai đóng kịch và một số trò chơi phóng tác với vai trò hoạt động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, vai trò trách nhiệm đối với công việc trong quá trình chơi

- Khi đề ra các giải pháp hay kết luận về những vấn đề, tình huống phóng tác (chơi), cần tránh tuyệt đối hoá hoàn cảnh chơi mà phải tìm cách đưa ra những liên hệ, biến cố dữ liệu của đời sống thực tế vào, nhằm tạo ra sự gần gũi giữa tình hướng chơi

và tình huống thật

- Trong quá trình chơi, chỉ cho phép một số học sinh tham gia hành động, nhập vai chơi, còn số học sinh kia quan sát học tập, sau đó đảo lại tiến trình chơi Không thể đưa tất cả học sinh vào tình huống chơi và biến trò chơi thành trò giải trí đơn thuần

- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo để có khả năng giải đáp những thắc mắc của học sinh, hướng dẫn và điều chỉnh quá trình chơi, tổ chức tổng thể trò chơi theo đúng thể loại đặc thù của nó

- Các quy luật và quy tắc chơi cần tự nhiên đến mức cao nhất, tránh gò bó và được người học hiểu rõ, chấp nhận trước khi tiến hành trò chơi

- Cần có sự thảo luận và tổng kết sau trò chơi về 2 điều: nội dung và mục tiêu học tập đạt đến đâu, người học học được cái gì bổ ích theo yêu cầu dạy học và ngoài yêu cầu dạy học; xử lí tương tác nhóm và rút kinh nghiệm về tổ chức, trách nhiệm cá nhân của người học trong hoạt động

- Thảo luận sau trò chơi cần được kết hợp với giao nhiệm vụ và bước chuẩn bị cho việc học tập tiếp sau

- Trong lúc giao nhiệm vụ, giáo viên nên đặt ra những câu hỏi về hoạt động của học sinh, kết quả và nguyên nhân dẫn các em đến kết quả đó, những ý tưởng và sáng kiến của học sinh trong quá trình chơi

Trang 37

- Giáo viên cần sử dụng một số biện pháp và hình thức đánh giá kết quả và hành vi học tập của học sinh trong các điều kiện của trò chơi và những hoạt động khác nhau dưới hình thức chơi Điều đó giúp giáo viên thu được thông tin ngược cả cho việc dạy học nói chung lẫn cho việc tổ chức hướng dẫn các trò chơi sau này hiệu quả hơn [19 tr 429]

1.2.3 Năng lực và dạy học phát triển năng lực

1.2.3.1 Khái niệm năng lực

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó [1]

Theo tâm lí học, năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt

Theo Weitnert (2001) năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn

có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động

cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [8]

Các định nghĩa trên đây tuy có khác nhau nhưng nhìn chung khái niệm năng lực trong học tập được hiểu là khả năng hoàn thành nhiệm vụ học tập gắn với một loại hoạt động nào đó Về bản chất, năng lực được tạo nên từ các thành tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ và động cơ hành động thể hiện trong một bối cảnh cụ thể, các yếu tố này không tồn tại riêng lẻ mà chúng hòa quyện, đan xen vào nhau Do đó, năng lực ở mỗi người có được nhờ sự bền bỉ, kiên trì học tập, hoạt động, rèn luyện và trải nghiệm Năng lực luôn gắn với một hoạt động cụ thể, ở trường phổ thông, năng lực gắn với hoạt động hợp tác trong nhóm gọi là năng lực hợp tác Năng lực hợp tác là khả năng tổ chức và quản lí nhóm, thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách có hiệu quả [2]

1.2.3.2 Phân loại năng lực

Trang 38

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực hợp tác

- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ

- Năng lực tính toán

b Năng lực chuyên biệt/ chuyên môn trong môn Khoa học

Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ

sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Toán học, Âm nhạc,

Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…

Năng lực chuyên môn là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động

Những biểu hiện cụ thể của năng lực chuyên môn trong môn Khoa học

- Giải thích về mối quan hệ (ở mức độ đơn giản) giữa các sự vật

và hiện tượng (nhân quả, cấu tạo – chức năng, )

Trang 39

- Đưa ra dự đoán về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng (nhân quả, cấu tạo – chức năng, )

- Đề xuất được phương án kiểm tra dự đoán

- Thu thập được các thông tin về sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và sức khoẻ bằng nhiều cách khác nhau (quan sát các sự vật và hiện tượng xung quanh, đọc tài liệu, hỏi người lớn, tìm trên Internet, )

- Sử dụng được các thiết bị đơn giản để quan sát/thực hành/làm thí nghiệm tìm hiểu những sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong

tự nhiên và ghi lại các dữ liệu đơn giản từ quan sát, thí nghiệm, thực hành,

- Từ kết quả quan sát, thí nghiệm, thực hành, rút ra được nhận xét, kết luận về đặc điểm và mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng

- Giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản trong đó vận dụng kiến thức khoa học và kiến thức kỹ năng từ các môn học khác có liên quan

- Phân tích tình huống; đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một số tình huống có liên quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình, cộng đồng và môi trường tự nhiên xung quanh; trao đổi, chia sẻ vận động những người xung quanh cùng thực hiện

- Nhận xét, đánh giá được phương án giải quyết và cách ứng xử trong các tình huống gắn với đời sống

1.2.3.3 Năng lực hợp tác và cấu trúc năng lực hợp tác

a Năng lực hợp tác

Năng lực hợp tác là khả năng tổ chức và quản lí nhóm, thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách có hiệu quả Người có năng lực hợp tác được xác định bởi ba yếu tố cơ bản là: kiến thức, kĩ năng và thái độ hợp tác

b Cấu trúc năng lực hợp tác

Để hình thành và phát triển năng lực hợp tác cho học sinh, cần phải xác định

Trang 40

cấu trúc năng lực hợp tác Năng lực hợp tác gồm kiến thức hợp tác (nhận biết được thế nào là hợp tác, vai trò của hợp tác trong học tập ), kĩ năng hợp tác và thái độ hợp tác (thái độ tích cực, chủ động hợp tác) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chú trọng đến đánh giá các kĩ năng hợp tác Kĩ năng hợp tác gồm các kĩ năng sau [2]:

Kĩ năng tạo môi

trường hợp tác

Có thái độ hợp tác Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau Tranh luận ôn hòa

Kĩ năng giải quyết

Ngày đăng: 27/06/2021, 12:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w