THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN DÙNG ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH .... Vì vậy, trong thực tiễn công tác quản lý giáo dục và chỉ đ
Trang 1LÊ VĂN HOÀNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG
HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MÔN TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH
Đà Nẵng, Năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liêu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học của đề tài 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Phạm vi nghiên cứu 6
8 Đóng góp luận văn 6
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN Ở CÁC TRƯỜNG THCS 8
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 8
1.1.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 9
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CỦA ĐỀ TÀI 11
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 11
1.2.2 Khái niệm về hệ thống câu hỏi kiểm tra, quản lý quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 19
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI 24
1.3.1 Khái niệm về ngân hàng câu hỏi 24
1.3.2 Vai trò và chức năng của ngân hàng câu hỏi 26
1.3.3 Các yêu cầu đối với ngân hàng câu hỏi 26
Trang 4KẾT QUẢ HỌC TẬP 27
1.4.1 Khái niệm về quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 27
1.4.2 Vai trò của kiểm tra đánh giá kết quả học tập 28
1.4.3 Chức năng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập 29
1.4.4 Các yêu cầu sư phạm đối với kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 31
1.4.5 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá 32
1.4.6 Các hình thức kiểm tra đánh giá cơ bản 33
1.4.8 Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý giáo dục 34
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MÔN TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37
2.1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC THCS HUYỆN HÒA VANG 37
2.1.1 Vài nét về huyện Hòa Vang 37
2.1.2 Thực trạng giáo dục THCS huyện Hòa Vang 38
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN DÙNG ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 41
2.2.1 Mô tả quá trình khảo sát 41
2.2.2 Thực trạng về xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán 42
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÒA VANG 46
Trang 52.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng kỹ năng xây dựng hệ thống câu
hỏi TNKQ cho giáo viên 48
2.3.3 Thực trạng quản lý những câu hỏi, đề trắc nghiệm khách quan trong thời gian qua 50
2.3.4 Thực trạng việc xây dựng quy trình biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan, quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi 52
2.3.5 Thực trạng việc quản lý các phương pháp tổ chức thi, kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ môn Toán 54
2.3.6 Thực trạng quản lý, xử lý kết quả kiểm tra và chất lượng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá môn Toán 54
2.4 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC THỰC TRẠNG TRÊN 58
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 58
2.4.2 Nguyên nhân khách quan 58
Tiểu kết chương 2 ……… ……… 58
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MÔN TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 61
3.1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ 61
3.1.1 Đảm bảo tính pháp lý và khoa học 61
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 61
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 62
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 62
3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ 62 3.2.1 Biện pháp nâng cao nhận thức về quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán cho cán bộ quản lý và giáo viên 62
Trang 63.2.3 Lập quy trình quản lý công tác xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán theo định hướng xây dựng ngân hàng
câu hỏi 67
3.2.4 Các biện pháp quản lý của Phòng GD&ĐT trong việc thực hiện quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán 71
3.2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 77
3.2.6 Công tác kiểm tra, đánh giá việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 78
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82
3.3 KHẢO NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP 84
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 84
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 84
3.3.3 Nội dung khảo nghiệm 84
3.3.4 Tiến trình khảo nghiệm 85
3.3.5 Kết quả khảo nghiệm 85
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 7TNKQ Trắc nghiệm khách quan GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo THCS Trung học cơ sở CBQL Cán bộ quản lý
SGK Sách giáo khoa SGV Sách giáo viên
KHQL Khoa học quản lý QTDH Quá trình dạy học XHCN Xã hội chủ nghĩa KT- XH Kinh tế - Xã hội UBND Ủy ban nhân dân TNTP Thiếu niên Tiền phong TDTT Thể dục thể thao
Trang 8Bảng 2.1 Thống kê qui mô trường lớp bậc THCS huyện Hòa
Bảng 2.2 Thống kê qui mô cơ sở vật chất bậc THCS 39 Bảng 2.3 Thống kê tình hình cán bộ quản lý bậc THCS 39 Bảng 2.4 Thống kê tình hình đội ngũ giáo viên 40 Bảng 2.5 Phân bổ Phiếu điều tra đối với giáo viên các trường 41
Bảng 2.6 Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của Phòng
Bảng 2.7 Đánh giá sự quan tâm của Phòng GD&ĐT đối với công
tác quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ 43
Bảng 2.8 Ý thức của CBQL và GV trong việc xây dựng hệ thống
Bảng 2.9
Nhận thức của CBQL và GV về tính hiệu quả trong
kiểm tra đánh giá khi có một hệ thống câu hỏi TNKQ
dùng chung toàn huyện
44
Bảng 2.10 Thực trạng năng lực xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ
Bảng 2.11 Thực trạng việc tuyên truyền mục đích, yêu cầu nâng
cao nhận thức về xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ 46
Bảng 2.12 Thực trạng kỹ năng xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ
Bảng 2.13 Thực trạng kỹ năng xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ
Trang 9nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Bảng 2.15 Thực trạng việc biên soạn câu hỏi và xây dựng câu hỏi
Bảng 2.16 Thực trạng quản lý các hình thức kiểm tra đánh giá 54 Bảng 2.17 Thực trạng xử lý điểm kiểm tra của CBQL và GV 55 Bảng 2.18 Thực trạng việc đánh giá chất lượng câu hỏi TNKQ 56
Bảng 3.1 Kiểm chứng kết quả khảo sát CBQL về tính khả thi,
tính thuận lợi, tính hiệu quả của các biện pháp quản lý 85 Bảng 3.2 Kiểm chứng kết quả khảo sát GV về tính khả thi, tính
thuận lợi, và mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý 87
Trang 10Sơ đồ 1.1Chức năng quản lý 13
Sơ đồ 1.2Vị trí của trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang đòi hỏi phải có những đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Mục tiêu giáo dục của nước ta đã được đặt ra trong Luật giáo dục năm 2005: "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển tơoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (chương 1, điều 2) [15] Để đạt mục tiêu giáo dục như trên, cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi mới căn bản về phương pháp giáo dục: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" (chương 1, điều 5) [15]
Về chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020, ban hành kèm theo Quyết định
số 711/QĐ- TTg ngày 13 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, trong các nội dung được đề cập trong chiến lược này thì có một nội dung rất quan trọng là : “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” [7, tr.20] Theo chủ trương đổi mới giáo dục thì cần đổi mới cả về chương trình, nội dung, sách giáo khoa, phương pháp dạy học đồng thời đổi mới cả về kiểm tra, đánh giá Trong đó phương hướng đổi mới kiểm tra đánh giá đó là kết hợp phương thức kiểm tra truyền thống tự luận với kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm
Ngày 5 tháng 5 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kí Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông [3] Chương trình này là căn cứ cho việc quản lí hoạt động dạy học, quản
lý hoạt động kiểm tra đánh giá ở tất cả các trường học trên phạm vi cả nước Lần
Trang 12đầu tiên ở nước ta, các định hướng về đánh giá kết quả giáo dục được nêu một cách cụ thể trong bộ chương trình
Đánh giá là thành tố quan trọng của một thể thống nhất trong quá trình giáo dục Đánh giá có mối quan hệ chặt chẽ với các thành phần của quá trình dạy học; đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp… Đánh giá nói chung và đánh giá kết quả học tập của học sinh nói riêng không chỉ nhằm tới mục đích xác nhận kết quả giáo dục, dạy học mà còn góp phần cải tiến chất lượng giáo dục thông qua
sự phản hồi từ kết quả đánh giá
Trên thế giới cũng như ở nước ta có nhiều phương tiện để tiến hành đánh giá, trong đó kiểm tra được xem là phương tiện và hình thức phổ biến nhất của đánh giá, kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá Thông thường kiểm tra được tiến hành thường xuyên hay định kì bằng các hình thức phổ biến như: KT miệng, KT viết, KT thực hành Các bài kiểm tra viết là những công cụ được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện nay trong đánh giá Để có một bài kiểm tra tốt cần có câu hỏi kiểm tra tốt Câu hỏi kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng trong dạy học nói chung
và dạy học môn Toán nói riêng Trong dạy học, câu hỏi được sử dụng như là một công cụ dùng để tổ chức quá trình nhận thức Câu hỏi góp phần cụ thể hóa mục tiêu và cũng là phương tiện để xác nhận mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, giúp lượng hóa mức độ này ở mỗi cá nhân học sinh và điều chỉnh quá trình đạt mục tiêu dạy học
Trong dạy học, các câu hỏi kiểm tra có quan hệ chặt chẽ do tính chỉnh thể của hệ thống kiến thức Vì vậy, trong thực tiễn công tác quản lý giáo dục và chỉ đạo công tác dạy học, việc quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra đảm bảo tương ứng với chuẩn kiến thức, kĩ năng, được sắp xếp theo một trình tự lôgic lần lượt theo từng chủ đề kiến thức để đánh giá kết quả học tập là rất cần thiết Nói cách khác, các câu hỏi kiểm tra được xây dựng không phải là những thành
Trang 13phần riêng rẽ, hoặc một tập hợp rời rạc mà kết nối được thành một hệ thống thì hiệu quả sử dụng trong kiểm tra kết quả học tập của HS càng cao Việc quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi phục vụ cho kiểm tra kết quả học tập của HS thực
sự là một đòi hỏi của thực tiễn giáo dục hiện nay
Việc ra đề kiểm tra hiện nay đối với môn Toán tuy đã được cải tiến nhiều, song về cơ bản vẫn dựa vào kinh nghiệm của từng giáo viên, thiếu một cơ sở khoa học cần thiết cho việc thiết kế và chọn lựa câu hỏi, đáp ứng yêu cầu của từng loại hình kiểm tra Hiện nay, GV đã có căn cứ là chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán, nhưng vẫn thiếu những tập hợp câu hỏi có tính chất hệ thống, được xây dựng một cách khoa học để giáo viên có thể chọn lựa, có thể điều chỉnh câu hỏi một cách chính xác, đảm bảo tính khoa học trong kiểm tra Những vấn đề trên sẽ được khắc phục nếu có những biện pháp quản lý xây dựng
hệ thống câu hỏi kiểm tra tốt
Ngày nay, việc quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra theo môn học, khối lớp, chuẩn chương trình, nội dung chương trình,…để phục vụ cho việc xây dựng các đề kiểm tra được nhiều quốc gia có nền giáo dục tiên tiến chú trọng Một hệ thống câu hỏi kiểm tra được quản lý xây dựng tốt sẽ hỗ trợ cho giáo viên trong việc xây dựng các bài tập hay các đề kiểm tra để nâng cao hiệu quả dạy học của mình
Việc quản lý xây dựng một hệ thống câu hỏi dùng để kiểm tra đánh giá tốt cần phải được thực hiện một cách rất công phu và tuân theo một quy trình khoa học chặt chẽ
Hiện nay, ở nước ta tuy đã có một số cá nhân, đơn vị trường học tổ chức việc quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra, tuy nhiên chỉ dừng ở việc dựa trên những kinh nghiệm và gọi đó là hệ thống câu hỏi nhưng chưa có cơ
sở lý luận và chưa áp dụng một số bước của quy trình kỹ thuật thiết kế; do đó chất lượng hệ thống câu hỏi thấp
Trang 14Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Biện pháp quản lý xây dựng hệ
thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán tại các trường THCS huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, quản lý nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phục vụ cho kiểm tra môn Toán tại các trường THCS huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiêm cứu
Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán
4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu áp dụng được các biện pháp quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan một cách đồng bộ theo qui trình đề xuất phù hợp với giáo dục Việt Nam hiện nay thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động kiểm tra kết quả học tập môn Toán của học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Xác định cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra nói chung và kiểm tra môn Toán nói riêng
- Khảo sát thực trạng việc quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá môn Toán tại các trường THCS huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Trang 15- Xây dựng các biện pháp quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán tại các trường THCS huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Khảo nghiệm sư phạm về tính khả thi, tính cần thiết, tính hiệu quả, tính thuận lợi của các biện pháp
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu trong nước và nước ngoài về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, quản lý nguyên tắc và quy trình quản lý việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra, đánh giá trong các trường phổ thông
- Nghiên cứu chương trình, SGK, SGV, sách bài tập Toán ở trường THCS
6.2 Phương pháp điều tra thực tiễn
- Khảo sát thực trạng quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan từ Phòng GD&ĐT đến các trường THCS nhằm phục vụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán tại các trường THCS hiện nay (khảo sát CBQL và giáo viên)
6.3 Phương pháp chuyên gia
- Tham khảo ý kiến một số lãnh đạo Phòng GD&ĐT , các Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng có kinh nghiệm về quản lý xây dựng xây thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra môn Toán tại các trường THCS hiện nay
6.4 Phương pháp thống kê toán học
- Dùng phương pháp này để thống kê số liệu nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý và chỉ đạo xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan của Phòng GD&ĐT huyện Hòa Vang đối với các trường THCS
6.4 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm
- Tiến hành khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý tại 11
Trang 16trường THCS trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý cho Phòng GD&ĐT huyện Hòa Vang trong công tác chỉ đạo xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chương trình môn Toán tại các trường THCS huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Các bảng thống kê, số liệu ở Phòng GD&ĐT và các trường THCS lấy từ năm học 2011-2012 đến nay
8 Đóng góp luận văn
- Hệ thống hóa và làm giàu thêm cơ sở lý luận về quản lý, quản lý kiểm tra đánh giá, quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng
để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán THCS
- Đề xuất quy trình quản lý từ cấp Phòng GD&ĐT đến các trường THCS trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán dùng
để kiểm tra, đánh giá
- Xác định các biện pháp quản lý và chỉ đạo của Phòng GD&ĐT đến các trường THCS trong công tác xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá kết quả môn Toán
- Khảo nghiệm sư phạm về tính khả thi của quy trình và các biện pháp quản lý xây hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã nghiên cứu
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, kết luận, khuyến nghị thì cấu trúc luận văn gồm những phần chính sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán ở các trường THCS
Trang 17Chương 2 Thực trạng quản lý và công tác chỉ đạo xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán từ Phòng GD&ĐT đến các trường THCS huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Chương 3 Các biện pháp quản lý và công tác chỉ đạo xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Toán từ Phòng GD&ĐT đến các trường THCS huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
+ Khảo nghiệm sư phạm về tính khả thi của các biện pháp quản lý đã
đề xuất
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Ở CÁC TRƯỜNG THCS
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề CH trong DH đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, trong luận văn này chỉ xin nêu vắn tắt một số hoạt động thực tế có liên quan đến quản lý hệ thống CHKT và NHCH ở một vài nước
- Ở Australia, Trung tâm chương trình và ĐG Victorian (Victorian curriculum and assessment authority - VCAA) là một trung tâm lớn, có nhiệm vụ xây dựng chương trình và khung ĐG từ mầm non đến đại học, tổ chức các kỳ thi vào đại học, cung cấp các đề KT chuẩn hoá phục vụ cho ĐG Trung tâm này cũng là nơi tổ chức ĐG quốc gia NAPLAN (National Assessment Program – Literacy and Numeracy) của Australia, BKT được xây dựng trên một hệ thống CHKT đã soạn trước, được đóng thành từng quyển và chấm bằng máy GV được đưa BKT về nhà chấm, sau đó quét và gửi file ảnh cho trung tâm Tất cả các CH trong BKT đều đã được thử nghiệm trước khi KT chính thức, mỗi CH được thử nghiệm ít nhất trên 300 HS Các chuyên gia và GV là người xem xét các CH, nhưng ý kiến và thành tích của
HS có ý nghĩa rất quan trọng Sau khi thử nghiệm các CH được phân tích về
độ khó, độ phân biệt, …
Kết quả BKT của HS được đưa lên một thang đo và gửi cho phụ huynh Theo ông Andrew Smith - Giám đốc Trung tâm, “Trung tâm không xây dựng NHCH, mà chỉ dự trữ các CH tốt để dùng cho các năm tiếp theo” Như vậy,
Trang 19có thể xem là đã có hệ thống CHKT được xây dựng và sử dụng theo định hướng NHCH
- Theo [8, tr.32], Hoa Kỳ là quốc gia có phong trào xây dựng NHCH rất sôi động và bắt đầu vào những năm 80 của thế kỷ 20 Rất nhiều NHCH được xây dựng để lưu trữ trên máy tính và đã được biên soạn thành sách như của Hsu và Nitko (1987), Naccarato (1988), Roid (1989) Nhiều NHCH được xây dựng cho các hạt (ví dụ: Hathaway, 1985; Mengel & Schorr, 1992); hầu hết những NHCH này dựa trên Lý thuyết ứng đáp câu hỏi Sau đó, do thiếu sự hỗ trợ về tài chính, NHCH không được cập nhật thường xuyên cả về mặt nội dung và công nghệ máy tính nên một số NHCH đã không được duy trì
Theo [8, tr.32-33], một ví dụ điển hình của việc xây dựng NHCH ở Hoa
Kỳ là hoạt động của tổ chức giáo dục Pearson NHCH của họ được xây dựng với mục đích ĐG toàn bộ việc giảng dạy và học tập Tổ chức giáo dục Pearson khẳng định rằng NHCH của họ được các chuyên gia đối chiếu với chuẩn của các kỳ thi bang và các kỳ thi quốc gia NHCH của tổ chức Pearson được đưa lên các trang web HS có thể làm các BKT trên mạng và kết quả bài làm sẽ được ghi lại HS có thể xem kết quả làm bài và trình độ của mình nếu
có nhu cầu Quy trình xây dựng NHCH của tổ chức Pearson là một ví dụ tham khảo bổ ích cho việc quản lý xây dựng hệ thống CHKT
1.1.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về CH và hệ thống
CH Tác giả Dương Thiệu Tống nghiên cứu về câu hỏi TNKQ cùng với các tham số độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy của CH theo Lý thuyết trắc nghiệm
cổ điển Ông đã giới thiệu khái quát mô hình Rasch và một số khái niệm căn bản của lý thuyết trắc nghiệm hiện đại [27, tr.56] Trần Đình Châu đã xây dựng hệ thống bài tập số học nhằm bồi dưỡng một số yếu tố năng lực toán học cho HS khá, giỏi đầu cấp THCS [6, tr.78] Đặng Huỳnh Mai xây dựng
Trang 20được mẫu đề KT môn Toán trên qui mô quốc gia cho từng học kỳ ở hai lớp đầu cấp tiểu học và cho toàn năm học lớp 2 theo các nguyên tắc và qui trình
đã đề xuất, đồng thời hướng dẫn được cách sử dụng mẫu đề ở cơ sở [16, tr.103] Lê Thị Xuân Liên xây dựng hệ thống CH góp phần phát huy tính tích cực học tập của HS trong DH môn Toán ở trường THCS [14, tr.73] Tôn Thất Thân xây dựng hệ thống CH và bài tập nhằm bồi dưỡng một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho HS khá và giỏi toán ở trường THCS Việt Nam [21, tr.79] Nguyễn Bảo Hoàng Thanh đã nghiên cứu xây dựng và sử dụng phối hợp câu hỏi TNKQ và trắc nghiệm tự luận nhằm cải tiến hoạt động ĐG kết quả học tập vật lý ở bậc đại học [22, tr.68]…
Ngoài ra, Dự án phát triển giáo dục THCS II đã tổ chức xây dựng thư viện CH cho 4 môn học ở THCS: Toán, Ngữ Văn, Vật lý, Tiếng Anh Theo
đó, thư viện CH được quan niệm là một tập hợp các CHKT thỏa mãn một số tiêu chí, được tập hợp thành một quyển cho mỗi môn học và khối lớp để cho
GV và HS sử dụng
Những kết quả của các công trình nói trên đã làm sáng tỏ thêm một số khái niệm trong lý thuyết ĐG nói chung và CH, hệ thống CH nói riêng Song vấn đề quản lý việc xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ theo định hướng xây dựng NHCH cho môn Toán THCS cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và cụ thể, đặc biệt là trong điều kiện của Việt Nam Vấn đề xây dựng
hệ thống câu hỏi TNKQ theo hướng tiếp cận về giáo dục học đã có nhiều tác giả nghiên cứu, tuy nhiên việc đề ra các biện pháp quản lý vấn đề này, tiếp cận theo hướng QLGD thì chưa có tác giả nào nghiên cứu
Trang 211.2 CÁC KHÁI NIỆM CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
a Khái niệm quản lý
Trong quá trình lao động, cải tạo thiên nhiên con người đã biết kết hợp lại với nhau thành từng nhóm người để sinh tồn và phát triển Vì thế phải có người đứng đầu (thủ lĩnh) đứng ra phối hợp hoạt động của các cá nhân, điều hành, phân công lao động cho từng thành viên Quản lý là một dạng lao động
xã hội, gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của con người Quản lý là lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao nhưng đồng thời cũng là sản phẩm mang tính lịch sử, tính đặc thù Khi đề cập cơ sở khoa học của quản lý C.Mác viết: “Bất cứ lao động nào
có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở một chừng mực nhất định Sự quản lý giống như người chơi vĩ cầm một mình thì
tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [5, tr.157] Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra các khái niệm về quản lý khác nhau, tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận khác nhau, có thể nêu lên một số khái niệm
về quản lý như sau:
- Theo Aphanaxeps: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể để những cái đó có lợi cho tập thể, cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội lẫn cá nhân” [1, tr.78]
- Các nhà lý luận quản lý quốc tế: Fredevinh Wiliam Duylor 1915) của Mĩ; Henri Fayol (1841-1925) của Pháp; Max Weber (1864-1920) của Đức đều đã khẳng định: Quản lý là một khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Trang 22(1986-Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1994: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [28, tr.45]
“Quản lý” là là một từ Hán -Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”
“Quản”là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định “lý” là
tự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy “quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang, làm cho nó ổn định và phát triển
- Theo Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [13, tr.45]
- Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [9, tr.37]
Quản lý được xem xét dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau, nhưng có thể nhận thấy một điểm thống nhất của các tác giả trong và ngoài nước là:
Quản lý là một quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và các
cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi trường biến động
b Các chức năng của quản lý
Quản lý có 4 chức năng chủ yếu, cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa: có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành
tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Kế hoạch hóa có ba nội dung chủ yếu: xác định hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định đảm bảo các nguồn lực của tổ chức
để đạt được mục tiêu đề ra và quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó
Trang 23- Tổ chức: Khi đã lập xong kế hoạch, người quản lý cần chuyển hóa
những ý tưởng trừu tượng ấy thành hiện thực, chức năng tổ chức của quản lý
có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa đó Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ tổ chức, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực (nhân lực, vật lực) Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả
- Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được xác lập, cơ cấu bộ máy đã hình
thành nhân lực đã được tuyển dụng thì cần có người đứng ra chỉ đạo, dẫn dắt
tổ chức Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên, hướng dẫn họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu tổ chức Chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất
mà nó còn tác động trở lại, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng đó
- Kiểm tra: kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý,
thông qua một cá nhân, một nhóm, một tổ chức mà người quản lý theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Đó là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có chu kỳ như sau:
Sơ đồ 1.1 Chức năng quản lý
Kiểm tra
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 24c Khái niệm quản lý giáo dục
Trên nền tảng của KHQL đại cương nói chung, ngày nay đã xuất hiện nhiều chuyên ngành khoa học quản lý khác nhau trong đó có khoa học về quản lý giáo dục Các ngành khoa học này có quan hệ mật thiết với nhau, đảm bảo thực hiện mục tiêu chung đó là phát triển nền kinh tế-xã hội Do đó có những cách nhìn nhận về quản lý giáo dục ở những góc độ khác nhau Từ các góc độ khác nhau đó đã hình thành nhiều khái niệm có nội hàm khác nhau Ở đây chỉ đề cập đến khái niệm QLGD như là một hệ thống mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở GD&ĐT (chủ yếu là hệ thống các trường học)
* Các khái niệm của các tác giả nước ngoài:
- Theo P.V Khuđôminxki: “Quản lý GD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD&ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của QTDH và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ của em ” [18, tr.50]
- Theo M.M Mechiti Zade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng
* Các nhà khoa học Việt Nam đã định nghĩa về quản lý giáo dục như sau:
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu
Trang 25giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [10, tr.45]
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đạt mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [19, tr.16]
- Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr.63]
Từ các ý kiến của các nhà khoa học trên đây có thể quan niệm quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu giáo dục đã định
* Đặc điểm của quản lý giáo dục:
Thứ nhất: Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng
bị quản lý
Thứ hai: Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và
đều có mối liên hệ ngược
Thứ ba: Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi) Thứ tư: Quản lý vừa là khoa học vừa là một nghệ thuật
Thứ năm: Quản lý gắn liền với quyền lực, lợi ích và danh tiếng Người
lãnh đạo có ưu thế quan trọng trong việc tổ chức, họ có khả năng điều khiển người khác và chi phối các nguồn lực và tài sản của tổ chức Người lãnh đạo còn là người có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện các mong muốn của mình thông qua việc sử dụng người khác trong qúa trình dẫn dắt, thu hút, lôi
Trang 26kéo họ nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Người lãnh đạo đồng thời
dễ để lại danh tiếng cho người khác và cộng đồng nếu sự lãnh đạo tổ chức của mình phát triển và đạt được mục tiêu của tổ chức
d Quản lý trường THCS
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường THCS là cấp học nối liền bậc tiểu học với THPT Học sinh ở cấp học này có nét đặc thù riêng đó là các em không còn là trẻ con nữa nhưng cũng chưa phải là người lớn Vì thế, các nhà giáo dục phải nắm bắt được đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi này, để có những biện pháp giáo dục phù hợp, để phát huy nội lực của thế hệ trẻ, giúp các em học sinh hình thành nhân cách và phát triển trí lực một cách toàn diện Trường THCS đóng trên địa bàn xã, thị trấn là trung tâm văn hoá của địa phương, chịu sự quản lý trực tiếp của phòng GD&ĐT, sự lãnh đạo, quản lý của Đảng ủy, UBND xã, thị trấn
Sơ đồ 1.2 Vị trí của trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
Chịu trách nhiệm quản lý trường THCS là hiệu trưởng nhà trường Giúp việc cho hiệu trưởng là các phó hiệu trưởng do UBND Huyện bổ nhiệm Hiệu trưởng là người đứng đầu (thủ trưởng) cơ quan, có thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong nhà trường Người chịu trách nhiệm trước cấp trên về hoạt động của nhà trường, trước Đảng, chính quyền về phát triển
THCN Dạy nghề
Mầm non
Trang 27giáo dục ở địa phương Thay mặt nhà trường giao tiếp với các tổ chức và lực lượng xã hội, phối hợp xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh ở địa phương, thực hiện mục tiêu giáo dục
Tổ chức Đảng trong nhà trường, đảm bảo thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật của nhà nước Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội TNTP Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị của giáo viên, học sinh, hoạt động trong khuôn khổ nhà trường, nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục chung của nhà trường, đảm bảo dân chủ trong quản lý nhà trường Trong trường có các tổ chức tư vấn giúp hiệu trưởng trên một số lĩnh vực như hội đồng trường, tổ chuyên môn,
Có thể biểu diễn mối quan hệ đó như sau:
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường THCS
Trang 28- Phương pháp giáo dục ở trường THCS là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, phù hợp từng môn học, từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Quản lý nhà trường, hiệu trưởng thực hiện các chức năng quản lý sau:
* Kế hoạch hoá: Là nêu lên mục tiêu phát triển nhà trường, xây dựng kế
hoạch chi tiết nhằm đạt mục tiêu đó
* Tổ chức: Là dựa vào quy định của ngành GD&ĐT, của lãnh đạo cấp
trên, hiệu trưởng xây dựng cơ cấu bộ máy, quy định mối quan hệ, sắp xếp giáo viên nhằm phát huy tối đa năng lực của họ và ưu thế của bộ máy Xây dựng các mối quan hệ bên ngoài trường để phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị trong nhà trường, xây dựng các quy định nội bộ, các quan điểm thực hiện, nhằm tạo được sự đồng bộ, đồng thuận
* Chỉ đạo: Là điều khiển thực hiện theo kế hoạch, điều chỉnh tốc độ,
biên độ hướng tới đích, xác định ưu tiên và tập trung nguồn lực cho thực hiện
kế hoạch, lôi cuốn tập thể sư phạm và các lực lượng giáo dục, phối hợp các nỗ
Trang 29lực của cả hệ thống, quá trình sử dụng hợp lý các biện pháp hành chính, kinh
tế và giáo dục
* Kiểm tra: Là xem xét việc thực hiện kế hoạch đến đâu Tính phù hợp
của các quyết định quản lý giúp cho việc điều chỉnh trong quản lý, ngăn chặn sai sót đồng thời khuyến khích, động viên mọi thành viên trong hội đồng sư phạm hăng hái tích cực học tập, trau dồi kiến thức và nghiệp vụ sư phạm, chủ động đổi mới phương pháp dạy học Dựa trên cơ sở đánh giá thực hiện và điều chỉnh các tiêu chuẩn đo lường kết quả thực hiện
Quản lý trường học là quản lý đơn vị trực tiếp tổ chức quá trình dạy và học Mọi chủ trương của Bộ GD&ĐT có trở thành hiện thực được hay không
là ở cấp thực hiện Quản lý trường THCS khác với quản lý của phòng GD&ĐT bởi tính chất tác nghiệp của quản lý trường học cao hơn, còn tính chất hành chính thì giảm nhẹ hơn so với quản lý của phòng GD&ĐT Phòng GD&ĐT thực hiện chức năng quản lý nhà nước của UBND huyện giao cho, còn trường học là đơn vị sự nghiệp, hoạt động mang tính chuyên môn
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [10, tr.30] Vậy quản lý trường trung học cơ sở là hoạt động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) nhằm tổ chức các hoạt động của giáo viên và học sinh, các lực lượng hỗ trợ khác, đồng thời phát huy hết khả năng của các nguồn lực giáo dục để đạt được chất lượng cao trong đào tạo của nhà trường
1.2.2 Khái niệm về hệ thống câu hỏi kiểm tra, quản lý quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
a Khái niệm về hệ thống câu hỏi kiểm tra
Trang 30Theo Từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học [28, tr.434], hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất
Theo Tôn Thất Thân [21, tr.30], hệ thống CH và bài tập là một tập hợp các CH và bài tập gắn bó với nhau bởi những quan hệ xác định, thường là quan hệ về mục tiêu đào tạo, quan hệ về nội dung toán học, quan hệ về trình
độ phát triển tư duy toán học
Theo Lê Thị Xuân Liên [14, tr.25-26], nhóm CH mang tính hệ thống (gọi tắt là hệ thống CH) là bộ CH có liên hệ chặt chẽ với nhau theo một trình
tự lôgic nhất định, dùng để giúp HS tìm hiểu, làm sáng tỏ một số nội dung của một vấn đề nào đó Hệ thống CH này phải gắn liền với một chủ đề nào, khía cạnh nào của sự vật, tuân theo những nguyên tắc xác định và phục vụ cho một mục đích xác định Nếu là hệ thống CHKT thì phải bao gồm một số câu với những chức năng khác nhau Hệ thống CH trong DH là bộ CH mà GV dùng
để dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá hoặc khám phá lại tri thức, nội dung của bài học
Theo chúng tôi, hệ thống CHKT (ứng với một nội dung DH) là một tập hợp các CH, mỗi CH tương ứng với một chuẩn kiến thức, kĩ năng nào đó trong chương trình môn học, được sắp xếp theo một trình tự lôgíc mà trước hết là lôgic nội dung, thay đổi theo mức độ nhận thức Các CH được phân tích, định cỡ về độ khó, độ phân biệt, độ phỏng đoán…được sử dụng trong các loại hình KT, nhằm ĐG kết quả học tập của HS so với mục tiêu đã xác định
b Các yêu cầu đối với hệ thống câu hỏi kiểm tra
Hệ thống CHKT phải đảm bảo ĐG được toàn diện các mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ của HS Do đó, tất cả các chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình đều có các CH tương ứng trong hệ thống CH;
Trang 31Hệ thống CHKT phải phục vụ trực tiếp cho các dạng KT: KT thường xuyên, KT định kỳ qua các hình thức như: KT miệng, KT viết, KT thực hành, vấn đáp;
Hệ thống CHKT phải bao gồm các CH được biên soạn căn cứ theo mức
độ nhận thức của Bloom đối với từng đơn vị kiến thức, đây là các mức độ được dùng để xác định chuẩn trong Bộ chương trình giáo dục phổ thông nước
ta, đảm bảo tính phổ thông đại trà và phân hoá HS trong ĐG Theo [4, tr.11], kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa ĐG được theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hóa cao;
Hệ thống CHKT phải thường xuyên được sữa đổi, bổ sung đáp ứng yêu cầu đổi mới ĐG kết quả học tập của HS;
Hệ thống CHKT phải góp phần phát huy tính tích cực trong học tập của
HS, phát triển năng lực phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, năng lực ứng dụng tri thức đã học vào thực tiễn, … cũng như các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo trong tư duy HS Đây chính là thể hiện sự gắn kết giữa ĐG và đổi mới PPDH ở trường phổ thông hiện nay
c Cấu trúc hệ thống CHKT
Trong chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của
chương trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập [3, tr.6]
Theo tài liệu [3, tr.15], trong chương trình Toán THCS, một chương có nhiều chủ đề, hệ thống CHKT của chương bao gồm tất cả các CH đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ứng với các chủ đề đó
Đối với một học kì bao gồm nhiều chương, hệ thống CHKT của học kì là
hệ thống CHKT của các chương có trong học kì đó
Trang 32Tương tự đối với năm học, hệ thống CHKT của năm học bao gồm hệ thống CHKT của các học kì trong năm học đó, tức là bao gồm hệ thống CHKT của tất cả các chương có trong năm học đó
Bởi vậy, hệ thống CHKT trong từng chủ đề, trong từng chương, học kỳ, năm học có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau và tạo thành một thể thống nhất Hệ thống CHKT đối với một chủ đề nào đó là một bộ phận của hệ thống CHKT của chương, của học kỳ, năm học
d Ý nghĩa và tác dụng của hệ thống CHKT
Hệ thống CHKT đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS Từ hệ thống CHKT, các tổ chức, cá nhân có thể ra các đề KT phù hợp ĐG trình độ đầu vào của HS để xếp lớp đầu năm học; ĐG tiến bộ học tập của HS so với chuẩn; tổ chức kỳ thi cuối học kỳ, cuối năm học… Hệ thống CHKT có thể giúp giảm bớt khó khăn khi thực hiện quy trình xây dựng đề KT Căn cứ vào hệ thống CHKT, GV có thể ra các đề KT phù hợp với mục đích và đối tượng HS Hệ thống CHKT có thể giúp HS khai thác
CH để củng cố, khắc sâu những kiến thức, kĩ năng đã học, tự KT được kết quả học tập của bản thân Ngoài ra phụ huynh HS cũng có thể sử dụng hệ thống CHKT để giúp con em mình trong học tập
Hệ thống CHKT của một chủ đề có thể dùng cho việc KT thường xuyên qua các khâu ôn tập củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Hệ thống đó cũng có thể hỗ trợ GV một cách thuận lợi đối với hình thức KT miệng, phỏng vấn trong giờ học, KT viết 15 phút Thông qua đó, GV kịp thời điều chỉnh PPDH và HS điều chỉnh cách học nhằm nâng cao hiệu quả
DH
Hệ thống CHKT của một chương, một học kỳ có thể tạo thuận lợi cho việc KT định kì và được thực hiện bằng hình thức KT viết từ 45 phút trở lên Thông qua đó giúp cho GV và HS nhìn lại kết quả dạy và học sau một thời
Trang 33gian nhất định, ĐG mức độ đạt được chuẩn kiến thức và kĩ năng, củng cố mở rộng những điều đã học, đặt cơ sở cho việc tiếp tục học sang chương mới, học
kỳ mới
Hệ thống CHKT của một năm học có thể dùng cho việc KT định kì hay
KT tổng kết, thực hiện vào cuối năm học nhằm ĐG kết quả học tập cả năm, chuẩn bị cho việc tiếp tục học chương trình của năm học tiếp theo
e Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Để xây dựng được một NHCH tốt cần phải tuân theo một quy trình chặt chẽ Theo Harry Hsu [11, tr.34], NHCH được xây dựng theo các bước chủ yếu sau đây:
Bước 1: Nghiên cứu mục tiêu, nội dung và chuẩn kiến thức, kĩ năng đối với từng môn học
Bước 2: Xây dựng kế hoạch viết CH
Quyết định các nội dung và nhóm các chủ đề viết CHKT;
Xây dựng tiêu chí kỹ thuật của NHCH như số lượng CH đầy đủ bao phủ tất cả các nội dung của NHCH, độ khó, dễ tốt nhất là phân bổ trải rộng, độ phỏng đoán càng nhỏ càng tốt;
Xác định số lượng và hình thức của các CH đối với mỗi nội dung chuẩn kiến thức, kĩ năng (tối thiểu 2 CH cho mỗi chuẩn);
Xây dựng một hệ thống mã hoá phù hợp với cơ cấu nội dung đã được xây dựng trong bước 1
Bước 3: Viết CH
Căn cứ vào nội dung chuẩn, mục tiêu chương trình, tiêu chí kỹ thuật và hình thức CH ở bước 1 và bước 2 để viết CH Đội ngũ viết CH là các chuyên gia môn học và các GV dạy môn học có kinh nghiệm
Bước 4: Tổ chức rà soát và đánh giá CH
Xác định lỗi trong các CH;
Trang 34Xác định sự phù hợp của CH đối với chuẩn kiến thức, kĩ năng;
Xác định sự chính xác của các CH; bổ sung, điều chỉnh CH
Bước 5: Tiến hành thử nghiệm CH
Đề thử nghiệm sẽ được thiết kế theo phương pháp cân bằng không hoàn chỉnh
Xác định số lượng HS thử nghiệm là bao nhiêu để đảm bảo tối thiểu là
500 HS tham gia trả lời một CH theo mô hình Rasch
Bước 6: Tiến hành xử lí, đưa câu hỏi về mặt bằng chung, định cỡ, phân tích và đánh giá câu hỏi
Xử lí số liệu thu được từ các BKT;
Đưa CH về mặt bằng chung và định cỡ CH;
Xác định những thông số thống kê cần được nhập và lưu trữ trên máy tính;
Chỉnh sửa các CH nếu cần thiết; - Lựa chọn CH đưa vào NHCH
Bước 7: Lưu trữ CH vào phần mềm, hệ thống NHCH
Thiết kế phần mềm lưu trữ hoặc sử dụng phần mềm đã thiết kế sẵn để lưu trữ NHCH hoặc tạo các thư mục để lưu trữ hệ thống câu hỏi và hướng dẫn
1.3.1 Khái niệm về ngân hàng câu hỏi
Năm 1981, Choppin đã đưa ra định nghĩa khá chặt chẽ về NHCH: Đó là tập hợp các CH được tổ chức và phân loại theo nội dung và được xác định các
Trang 35đặc tính độ khó, độ tin cậy, tính giá trị… Theo GS.Harry Hsu và Anthony J.Nitko, “ NHCH là tập hợp các CH có thể dễ dàng sử dụng để phục vụ việc xây dựng các đề KT, thông thường được xây dựng trên máy vi tính để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ và sử dụng Mỗi CH đều được mã hoá theo lĩnh vực chuyên môn và mục tiêu hướng dẫn cũng như các dữ liệu về độ khó, độ phân biệt, … ngày viết CH hoặc lần sử dụng CH gần nhất, xếp loại chất lượng CH” [11, tr.57]
Quan niệm về NHCH có thể khác nhau tuỳ theo mục đích sử dụng và mức độ làm chủ khoa học đo lường trong giáo dục Nhưng, hầu như tất cả đều thừa nhận rằng các CH được lưu giữ trong NHCH phải là những CH tốt
Ở mức thứ nhất, NHCH sẽ lưu giữ các CH được viết một cách cẩn thận
và được xem xét, cân nhắc kỹ Loại NHCH này có thể sẽ hữu ích cho việc sử dụng ĐG thường xuyên trên lớp học
Ở mức thứ hai, NHCH sẽ lưu giữ các CH đạt yêu cầu ở mức trên và đã được điều chỉnh qua thử nghiệm theo các công thức của Lý thuyết cổ điển NHCH ở mức này nên sử dụng cho các kì khảo sát chất lượng, KT ở cấp sở, cấp huyện và cấp trường Nhưng nó chưa cho phép so sánh kết quả giữa các
kỳ khảo sát và KT khác nhau
Ở mức thứ ba, NHCH sẽ chứa các CH đã được định cỡ Các CH đáp ứng yêu cầu ở mức thứ hai và xác định mức độ phù hợp với Lý thuyết ứng đáp câu hỏi Các CH phù hợp với mô hình này sẽ được định cỡ bằng chính thang đo
do mô hình Lý thuyết ứng đáp xác định Với loại NHCH này, GV có thể chủ động tổ hợp thành những đề thi một cách tối ưu tuỳ theo từng đối tượng dự thi Với những CH đã được định cỡ, có thể xây dựng các đề KT, qua đó để so sánh kết quả giữa các kỳ thi
Như vậy, NHCH là một tập hợp các CH; trong đó, các CH được phân tích, định cỡ về độ khó, độ phân biệt, … được sắp xếp và đánh số theo môn
Trang 36học, khối lớp, chuẩn chương trình, nội dung chương trình,…để phục vụ cho việc xây dựng các đề KT
1.3.2 Vai trò và chức năng của ngân hàng câu hỏi
NHCH hỗ trợ việc ĐG mức độ đạt chuẩn chương trình một cách hiệu quả; vì các CH trong NHCH đã được thiết kế để phục vụ mục đích này và GV chỉ cần lựa chọn CH dựa trên nội dung cần ĐG;
HS có thể sử dụng NHCH để tự KT trình độ của mình;
NHCH có thể giúp GV dễ dàng hơn trong việc xây dựng đề KT GV cũng có thể xây dựng nhiều đề KT bằng cách hoán vị thứ tự câu, thứ tự các phương án trả lời trong từng câu làm phong phú thêm tập hợp đề KT và hạn chế hiện tượng nhìn bài của nhau;
NHCH đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS Từ NHCH, có thể xây dựng thành các đề KT với các CH đã được chọn lọc có chất lượng tốt để ĐG chất lượng đầu vào của HS theo các mức độ khác nhau để xếp lớp đầu năm học; ĐG mức độ đạt được so với chuẩn kiến thức, kĩ năng qua từng giai đoạn, thi hết học kỳ, KT cuối năm học …;
Ngoài ra, NHCH có thể hỗ trợ KT trực tuyến để cấp bằng chứng nhận hoặc chứng chỉ;
Việc xây dựng một NHCH cũng giúp GV lựa chọn các đề KT tương đương trong trường hợp không thể tổ chức KT trong cùng một ngày và có thể
so sánh về thành tích của HS một cách công bằng, mặc dầu làm các đề KT khác nhau Bởi vậy, thành tích qua các năm học hoàn toàn có thể được ĐG khách quan và chính xác hơn
1.3.3 Các yêu cầu đối với ngân hàng câu hỏi
Các CH phải được thử nghiệm, định cỡ (phân tích và ước lượng tham số CH), chỉnh sửa (nếu cần thiết) trước khi đưa vào NHCH Nói cách khác, tất cả
Trang 37các CH trước khi được lựa chọn để đưa vào NHCH phải được tiến hành KT thử;
Các CH trong NHCH cần được xây dựng trên cùng một thang đo nhờ lý thuyết ứng đáp câu hỏi;
Các CH trong NHCH cần được lưu trữ trên máy tính để cho hiệu quả sử dụng tốt hơn và phát huy hết các ưu thế của một NHCH;
Đồng thời với việc loại bỏ các CH khi cần thiết, NHCH phải được bảo quản và cập nhật thường xuyên Công việc này đòi hỏi phải có một tổ chức chịu trách nhiệm quản lý
1.3.4 Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi
Để xây dựng được một NHCH tốt cần phải tuân theo một quy trình chặt chẽ Theo Harry Hsu [11, tr.65], quy trình xây dựng NHCH phải được thực
hiện theo các bước cụ thể
1.3.5 Khái niệm quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ
Quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ là việc xây dựng kế hoạch, tổ chức đội ngũ thực hiện, chỉ đạo thực hiện và công tác kiểm tra đánh giá việc xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ
1.4 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
1.4.1 Khái niệm về quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trên cơ sở lý luận về quản lý kết hợp với lý luận về KTĐG kết quả học tập, luận văn đưa ra khái niệm về quản lý KTĐG kết quả học tập như sau: Quản lý KTĐG kết quả học tập là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra quá trình KTĐG kết quả học tập nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu KTĐG đã đề ra
Nói cách khác, quản lý KTĐG kết quả học tập là tổng thể các công việc của CBQL, GV và người học, bao gồm việc đề ra cơ chế, chính sách, đề ra
Trang 38các giải pháp thực hiện, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra để thực hiện một cách tốt nhất tất cả các khâu trong quá trình KTĐG nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập của người học và giúp cải thiện việc dạy
và học
Các yếu tố của quản lý KTĐG bao gồm: Quá trình KTĐG; chủ thể quản
lý là người lãnh đạo (đề ra cơ chế, chính sách, quy chế, quy định về KTĐG)
và CBQL chuyên trách (vừa quản lý nhưng cũng vừa thực hiện trực tiếp); đối tượng bị quản lý (CBQL chuyên trách, GV, người học, ); Môi trường và điều kiện của quản lý KTĐG: XH, trường học, trang thiết bị, thời gian, không gian, kinh phí, Đồng thời, quản lý KTĐG có mối quan hệ ràng buộc với các chức năng quản lý khác như: quản lý chương trình đào tạo, quản lý hoạt động dạy - học, quản lý nhân sự, quản lý tài chính,
1.4.2 Vai trò của kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Tùy từng trường hợp việc kiểm tra đánh giá có thể có các mục đích khác nhau
Cụ thể trong dạy học kiểm tra đánh giá gồm 3 mục đích chính:
+ Kiểm tra kiến thức, kĩ năng để đánh giá trình độ xuất phát của người học có liên quan đến việc xác định nội dung, phương pháp dạy học một môn học, một học phần sắp bắt đầu
+ Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản chất việc kiểm tra đánh giá nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy
+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích, kết quả học tập hoặc nhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu, phương pháp dạy học
Mục đích kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức kỹ năng chính là:
- Cung cấp những thông tin tương đối chính xác về: nội dung học tập và mức độ nhận biết, hiểu vận dụng của HS theo yêu cầu của mục tiêu, của
Trang 39chuẩn kiến thức- kỹ năng đề ra, nguyên nhân ở đâu, từ đó đề xuất các biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học
- Góp phần điều chỉnh phương pháp dạy và phương pháp học
- Đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân học sinh so với mục tiêu, chuẩn kiến thức- kỹ năng đã định trong chương trình bộ môn
- Đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân học sinh so với mặt bằng chất lượng chung của học sinh cùng lớp trong học tập môn Toán, cung cấp thông tin ngược cho HS về quá trình học để tự điều chỉnh, kích thích hoạt động học, khuyến khích tự đánh giá
1.4.3 Chức năng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập
GS Trần Bá Hoành đề cập đến ba chức năng của kiểm tra đánh giá trong dạy học:
- Chức năng sư phạm: Kiểm tra đánh giá thể hiện ở tác dụng có ích cho bản thân HS được kiểm tra cũng như chất lượng dạy của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy
- Chức năng xã hội: Công khai hóa kết quả học tập của mỗi HS trong tập thể lớp, trường, thông báo nội dung kết quả học tập cho HS, gia đình và xã hội
- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực tế dạy và học, về hiệu quả dạy học một sáng kiến, cải tiến nào đó trong dạy học Tùy theo mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào đó sẽ được đưa lên hàng đầu
Theo GS TS Phạm Hữu Tòng trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông chúng ta chủ yếu quan tâm đến các chức năng sư phạm của kiểm tra đánh giá bao gồm 3 chức năng chính :
+ Chức năng chuẩn đoán:
Trang 40Các bài kiểm tra trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượm thông tin cần thiết cho việc xác định hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học
Dựa trên kết quả kiểm tra đánh giá kiến thức ta biết rõ trình độ xuất phát của người học để điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp, cho phép đề xuất định hướng bổ sung những sai sót, phát huy những kết quả trong cải tiến hoạt động dạy học đối với những phần kiến thức đã giảng dạy Dùng các bài kiểm tra đánh giá khi bắt đầu dạy học một phần để thực hiện chức năng chuẩn đoán
+ Chức năng định hướng hoạt động học:
Các bài kiểm tra trắc nghiệm, kiểm tra trong quá trình dạy học có thể được sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học; đó là các câu hỏi kiểm tra từng phần, kiểm tra thường xuyên được sử dụng để chỉ đạo hoạt động học Các bài kiểm tra trắc nghiệm được soạn thảo công phu, nó là cách diễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể đối với các kiến thức kĩ năng nhất định, nó có tác dụng định hướng hoạt động tích cực của học sinh, sinh viên Việc xem xét thảo luận các câu hỏi trắc nghiệm nếu được tổ chức một cách khoa học, đúng lúc có thể xem như một phương pháp dạy học tích cực giúp cho người học chiếm lĩnh được kiến thức một cách tích cực, sâu sắc và vững chắc, đồng thời
có thể giúp cho người dạy kịp thời bổ sung, điều chỉnh hoạt động dạy cho có hiệu quả
+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng của người học:
Với chức năng này đòi hỏi nội dung các bài kiểm tra trắc nghiệm và các tiêu chí đánh giá, căn cứ theo các mục tiêu dạy học cụ thể đã xác định cụ thể cho từng kiến thức kĩ năng Các bài kiểm tra trắc nghiệm như vậy có thể được