1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện kon plông tỉnh kon tum

158 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thích ứng được với môi trường xã hội, tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống như vấn đề sức khỏe và sinh tồn; đạo đức và ứng xử;

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN MINH CƯỜNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS HUYỆN KON PLÔNG

TỈNH KON TUM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN MINH CƯỜNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THCS HUYỆN KON PLÔNG

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2 Các khái niệm chính của đề tài 9

1.2.1 Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 9

1.2.2 Giáo dục, Kỹ năng sống, Giáo dục kỹ năng sống, Tăng cường giáo dục kỹ năng sống 11

1.2.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS 13

1.2.4 Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống 14

1.3 Lý luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS tại trường phổ thông dân tộc bán trú THCS 14

1.3.1 Đặc điểm của trường Phổ thông dân tộc Bán trú THCS và học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú THCS 14

1.3.2 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở 17

1.3.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở 18

Trang 7

1.3.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân

tộc Bán trú Trung học cơ sở 19

1.3.5 Hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở 21

1.3.6 Điều kiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở 23

1.3.7 Kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở 25

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú Thcs 26

1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS 26

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú trung học cơ sở 27

1.4.3 Quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS 27

1.4.4 Quản lý phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú trung học cơ sở 28

1.4.5 Quản lí các điều kiện, phương tiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS 30

1.4.6 Quản lí công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM 36

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum 36

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 36

2.1.2 Nội dung khảo sát 36

2.1.3 Tình hình về giáo dục và đào tạo 37

2.1.4 Đánh giá chung 42

2.2 Khái quát quy trình khảo sát 42

2.2.1 Mục đích khảo sát 42

Trang 8

2.2.2 Nội dung khảo sát 42

2.2.3 Đối tượng khảo sát 42

2.2.4 Thời gian, địa điểm khảo sát 43

2.2.5 Phương pháp khảo sát 43

2.2.6 Quy trình khảo sát 44

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 44

2.3.1 Thực trạng hoạt động GDKNS tại các trường PTDTBT THCS 44

2.3.2 Thực trạng công tác quản lý tăng cường giáo dục kỹ năng sống tại các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS 58

2.3.3 Đánh giá chung về thực trạng 70

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM 73

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý 73

3.1.1 Thực hiện mục tiêu giáo dục và mục tiêu giáo dục kỹ năng sống đối với học sinh 73

3.1.2 Đảm bảo tính tích cực, chủ động của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh 73

3.1.3 Đảm bảo tác động vào các nhân tố của hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng sống 73

3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ 74

3.1.5 Đảm bảo tính khả thi, thiết thực 74

3.2 Biện pháp quản lý gd kns cho học sinh các đơn vị Trường phổ thong dân tộc bán trú THCS trên địa bàn huyện kon plông 74

3.2.1 Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh 74

3.2.2 Kế hoạch hóa công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 76

3.2.3 Chỉ đạo tăng cường lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống vào trong nhà trường 79

3.2.4 Chỉ đạo giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp trong công tác tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 81

3.2.5 Xây dựng, bồi dưỡng, và phát triển đội ngũ giáo viên thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống 83

Trang 9

3.2.6 Đẩy mạnh tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho

học sinh 85

3.2.7 Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng GD: gia đình – nhà trường - xã hội trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 88

3.2.8 Đẩy mạnh thực hiện việc sưu tầm và xây dựng hệ thống tài liệu, phương tiện dạy học hỗ trợ hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 90

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92

3.4 Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của những biện pháp đề xuất 92

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 92

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 92

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 92

3.4.4 Địa bàn và khách thể khảo nghiệm 92

3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 93

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Về trường, lớp, học sinh THCS (2015-2016 đến 2017-2018) 382.2 Về tình hình đội ngũ CBQL THCS năm học 2017-2018 392.3 Về tình hình đội ngũ GV THCS năm học 2017-2018 412.4 Về khảo sát các đối tượng trưng cầu ý kiến 42

2.13

Trong thời gian qua, nhà trường đã tổ chức các hoạt động giáo

dục KNS cho HS bằng những nội dung, phương pháp, hình

thức nào dưới đây

52

2.14a Mức độ hoàn thành các hoạt động GDKNS cho HS 54

2.14b

Mức độ việc phối hợp giữa nhà trường-gia đình-xã hội trong

công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS người

DTTS

55

2.15a Nguyên nhân một số nội dung KNS chưa thực hiện tốt 56

2.15b

Nguyên nhân nào dẫn đến hạn chế trong công tác quản lý hoạt

động GDKNS cho học sinh THCS người DTTS hiện nay

(CBQL đánh giá)

56

2.16

Đánh giá của PH về việc phối hợp giữa các lực lượng trong và

ngoài nhà trường đối với công tác giáo dục kỹ năng sống cho

học sinh THCS người DTTS ở các đơn vị trường hiện nay

58

2.17 Khảo sát về quản lý kế hoạch thực hiện GDKNS 592.18 Khảo sát về quản lý nội dung thực hiện GDKNS 622.19 Khảo sát về quản lý phương pháp, hình thức GDKNS 63

Trang 12

Số hiệu

2.20 Khảo sát về quản lý đội ngũ thực hiện GDKNS 642.21 Sự phối hợp các lực lượng thực hiện QL GDKNS 662.22 Khảo sát về việc việc KTĐG kết quả tăng cường GDKNS 672.23 QL điều kiện và phương tiện thực hiện GDKNS 682.24 Đánh giá của GV về hiệu quả công tác QLGDKNS cho HS ở

3.1

Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện

pháp Quản lý hoạt động GD KNS cho HS các trường PTDTBT

THCS Kon Plông:

93

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống, những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội trong thực tại

Giáo dục Trung học cơ sở là bậc học giáo dục học sinh trở thành công dân tương lai của đất nước, chính vì vậy vai trò của nhà trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh càng trở nên có ý nghĩa

Giáo dục kỹ năng sống có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của

cá nhân trong xã hội, đang thực sự là một trong những trụ cột quan trọng của công dân toàn cầu thế kỷ XXI, đặc biệt là trong thời k hội nhập như ngày nay, đó là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống Điều này càng đặc biệt đúng hơn với HS DTTS, bởi đây là đối tượng mà KNS còn yếu và thiếu

do bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân: đặc điểm tâm sinh lý, vị trí địa lí, điều kiện kinh

tế, văn hóa, xã hội, chất lượng, điều kiện giáo dục Do đó, việc nghiên cứu về giáo dục KNS cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Trung học cơ sở là việc làm rất cần thiết

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới với những cách tiếp cận khác nhau xong đã đưa KNS đến với học sinh Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2010-2011 Bộ GD-

ĐT chủ trương đưa nội dung giáo dục KNS vào chương trình học chính khóa trong các nhà trường phổ thông, từ bậc tiểu học đến THPT Việc giáo dục KNS cho thế hệ HS là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và tổ quốc, giúp các em có khả năng ứng phó trực tiếp trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người Bậc học Trung học cơ sở là bậc học mà thể chất, tâm sinh lý của học sinh phát triển nhanh chóng Vì vậy, bên cạnh việc trang bị cho học sinh những vốn kiến thức kỹ năng cơ bản trong học tập, lao động thì việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, dạy học sinh cách “làm người” là một việc làm rất cần thiết Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thích ứng được với môi trường xã hội, tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống như vấn đề sức khỏe và sinh tồn; đạo đức và ứng xử; tự phục vụ bản thân; trách nhiệm công dân, phòng tránh tệ nạn xã hội… để các em có thể tự tin, chủ động, không quá bị phụ thuộc vào người lớn, hình thành cho các em những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp các em có khả năng làm chủ

Trang 14

bản thân, khả năng ứng xử phù hợp, tích cực trước tình huống cuộc sống

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến phương diện

lý luận và thực tiễn của việc rèn KNS thông qua các hoạt động giáo dục, hoạt động ngoài giờ lên lớp và các con đường khác Tuy vậy, số công trình nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, nhất là thực tiễn giáo dục KNS ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú (PT DTBT) THCS chưa nhiều và ít được đề cập tới đối tượng học sinh dân tộc thiểu

số

Các công trình nghiên cứu trước đây, bước đầu đã đề cập tới tầm quan trọng của giáo dục KNS cho học sinh nhưng chưa làm rõ những vấn đề liên quan đến công tác giáo dục KNS cho HS dân tộc thiểu số (DTTS) mà nhất là HS Trung học cơ sở Một

số vấn đề như: Vai trò của trường Trung học cơ sở trong việc hình thành KNS của HS; các con đường hình thành KNS của HS Trung học cơ sở; sự khác biệt trong quá trình hình thành KNS giữa HS Trung học cơ sở vùng đặc biệt khó khăn với học sinh Trung học cơ sở vùng đồng bằng; Cần quản lý các hoạt động giáo dục và hoạt động ngoài giờ lên lớp như thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho các em; Các điều kiện để thực hiện việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh DTTS ở trường PT DTBT Trung học cơ sở…thì chưa được nghiên cứu sâu, do đó về mặt thực tiễn đòi hỏi cần làm rõ hơn

Để giúp giáo viên, cán bộ quản lý các trường PTDTBT Trung học cơ sở huyện Kon Plông có nhận thức đầy đủ và khả năng thực hiện việc giáo dục KNS, góp phần giáo dục toàn diện, giúp HS phát triển hài hòa cả về đức, trí, thể, mĩ, thực hiện mục tiêu của giáo dục Trung học cơ sở, cần phải quan tâm hơn nữa hoạt động quản lý của nhà trường, đề ra được cách tổ chức, biện pháp quản lý công tác giáo dục KNS phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số

Với những lí do trên, vấn đề được lựa chọn nghiên cứu là: “Quản lí hoạt động

giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Trung học cơ sở người DTTS, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh người DTTS ở các trường PT DTBT Trung học cơ sở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Trung học cơ sở

Trang 15

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh Trung học cơ sở tại các trường

PT DTBT Trung học cơ sở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

4 Giả thuyết khoa học

Vấn đề GD KNS cho học sinh tại các trường PTDTBT THCS huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập đối với tính đặc thù học sinh người đồng bào DTTS Nếu đề tài đánh giá được đúng thực trạng quản lý hoạt động GD KNS cho học sinh tại các trường PTDTBT THCS huyện Kon Plông, sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý có tính cấp thiết và khả thi cao sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả cho công tác quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tại các trường PTDTBT THCS huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum, đồng thời tạo nên chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu của xã hội

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục KNS cho HS trường Trung học

- Về thực trạng quản lý của BGH đối với hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trường PT DTBT Trung học cơ sở 9/11 Trung học cơ sở ở trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum từ 2013 đến năm 2019

- Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường PTDTBT Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum từ 2019 đến năm 2023

- Khách thể khảo sát: BGH, GV, PHỤ HUYNH, HS

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác giáo dục KNS

Trang 16

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động GDKNS và thực trạng quản lý hoạt động GDKNS cho HS trung học cơ sở người DTTS

- Phương pháp phỏng vấn, kết hợp trò chuyện, trao đổi với đội ngũ CBQL, GV

và HS để xác định kết quả của hoạt động GD KNS

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm nhằm rút ra những thuận lợi và khó khăn trong quản lý hoạt động GDKNS ở trường PTDTBT Trung học cơ sở

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: nghiên cứu sản phẩm của CBQL và GV như: kế hoạch quản lý, kế hoạch dạy học và trang thiết bị giáo dục, giáo án,

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và khuyến nghị, và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học

sinh các trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

các trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Trung học cơ sở ở các trường Phổ thông dân tộc Bán trú trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ KNS đã được xuất hiện trong các chương trình hành động giáo dục của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEP) Trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ HS Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra một bản danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ HS cần có Phần lớn các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này quan niệm

về KNS theo nghĩa hẹp và đồng thời đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội

Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục KNS trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ HS và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các KNS và tác dụng của KNS đối với xã hội

và cá nhân”

Giáo dục KNS lồng ghép trong các chương trình hành động của Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc, Tổ chức Y tế thế giới (WHO)… cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức của các nước trên thế giới Cũng theo WHO, KNS được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề,

kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết

Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS được một số nhà Tâm lý học thực hành đưa ra và coi đó như một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân Đến năm 1979, Gillbert Botvin đã công bố một chương trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9, chương trình được triển khai trong nhiều trường học khác nhau và đã thu được kết quả ấn tượng; Tại Mỹ Latinh

Trang 18

(Costa- Rica- 1996), hội thảo giáo dục sức khỏe thông qua giáo dục KNS trong các trường học được tổ chức; Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp Trong giáo dục hiện đại, kỹ năng sống của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục Do đó khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học Như vậy, GDKNS

đã được đưa vào chương trình tiểu học và trung học ở các nước phát triển từ khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở HS, tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bước vào tuổi trưởng thành

Trong khu vực Đông Nam Á, các chương trình giáo dục liên quan đến KNS xuất hiện chủ yếu vào những năm cuối của thế kỷ XX KNS được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển khả năng lựa chon lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lý cho thanh thiếu niên Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội thảo về giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên

đã được xác định mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống

Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội

Vì vậy, quan niệm nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang đặc thù của các quốc gia, nhưng với các đối tượng, hình thức giáo dục khác nhau thì nội dung giáo dục KNS cũng khác nhau, đặc biệt là đối tượng học sinh người Kinh và người đồng bào Dân tộc thiểu số, ở một số nước các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết được coi là những kỹ năng cơ bản Trong khi đó ở lĩnh vực giáo dục chính quy các kỹ năng cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ cá nhân Do đó phần lớn các chương trình, các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu là để xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các

kỹ năng cụ thể, các điều kiện hình thành và phát triển các kỹ năng đó

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF(1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho

Trang 19

thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS đã được phát triển sâu sắc hơn

Đã có nhiều tổ chức Quốc tế và tổ chức Phi chính phủ nước ngoài (UNICEF, Plan, Tầm nhìn thế giới ) đã hỗ trợ tiến hành giáo dục KNS đối với một số chủ đề nhạy cảm cho các nhóm đối tượng thuộc cả giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Tuy nhiên những hoạt động về giáo dục KNS chưa được rộng rãi, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục KNS cho thế hệ

HS Chính vì vậy, vấn đề giáo dục KNS được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học Việt Nam trong những năm gần đây với những công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau

Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn Giáo dục KNS cho học sinh phổ thông” cho rằng: “Cách thức giáo dục KNS được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNS cần quan tâm đến vai trò của người học” [28]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động, đầy

đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục KNS cho học sinh do Ngành giáo dục thực hiện [3] Ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS Theo đó, các nội dung giáo KNS

cụ thể đã được triển khai ở các cấp bậc học như sau:

- Ở bậc học mầm non chú ý đến giáo dục cho HS hành vi, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử Đồng thời chú trọng đến các nội dung như: Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm, nghệ thuật và thẩm mỹ của HS Trong tất cả nội dung đều chứa đựng nội dung KNS

- Giáo dục KNS ở bậc học Tiểu học tập trung vào các kỹ năng chính như kỹ năng đọc, viết, tính toán, nghe, nói, coi trọng khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, hình thành các kỹ năng tư duy sáng tạo, phê phán, kỹ năng

ra quyết định và giải quyết vấn đề, phát triển trí tưởng tượng, phát triển kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử

Trang 20

- Giáo dục KNS cho học sinh Trung học cơ sở chú trọng giáo dục các kỹ năng

cơ bản cho học sinh như: năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực học suốt đời Định hướng để học sinh biết, học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định

- Giáo dục KNS cho học sinh Trung học phổ thông, xây dựng được khung lý luận về giáo dục KNS từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp, giáo dục cho đến đánh giá kết quả và tác động của giáo dục KNS Bắt đầu từ năm 2010 - 2011 Bộ GD&ĐT chủ trương đưa nội dung giáo dục KNS vào chương trình học chính khóa trong các nhà trường, từ bậc tiểu học đến THPT [7]

Trên thực tế, công tác quản lý nói chung và quản lý giáo dục KNS nói riêng còn nhiều bất cập Đó là công tác chỉ đạo, phối hợp các lực lượng GD chưa có hiệu quả, chưa thích ứng kịp thời với những biến đổi của đời sống xã hội Một mặt, chế độ chính sách còn thấp và bất hợp lý, chưa khuyến khích nỗ lực sư phạm của GV Mặt khác, việc tổ chức thực hiện các biện pháp giáo dục KNS chưa được nghiêm túc, thiếu thống nhất, còn biểu hiện tùy tiện Có nơi, các lực lượng GD ngoài nhà trường còn đứng ngoài cuộc, khoán trắng công việc giáo dục KNS cho nhà trường mà đặc biệt là công tác giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS

Đất nước ta đang trên đà đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, mức sống của người dân được nâng lên Theo chuyên viên tâm lý

Hu nh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "Hiện nay, thuật

ngữ KNS được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính những

người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì về nó" Vì vậy, việc nghiên cứu giáo dục KNS cho HS đang được đặt ra trong những điều kiện mới và đặc biệt công tác tổ chức giáo dục KNS trong các trường học phải được quan tâm [30] Những phân tích trên cho thấy: về mặt lý luận chỉ đạo cũng như thực tế nghiên cứu việc quản lý công tác giáo dục KNS cho học sinh ở các trường học đã được quan tâm Tuy nhiên, nội dung giáo dục trong các nhà trường PTDTBT THCS hiện nay còn xem trọng việc dạy chữ, chưa chú trọng đúng mức dạy làm người, nhất là việc giáo dục KNS cho học sinh Do đó, với góc độ chuyên ngành QLGD, vai trò của hiệu trưởng đối với việc tổ chức quản lý công tác giáo dục KNS là hết sức quan trọng và cần thiết Công tác giáo dục KNS phải luôn đặt trong bối cảnh một khu vực, đối tượng

cụ thể nên sẽ là cấp thiết nếu tiến hành nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể Đồng thời, ít

có công trình nghiên cứu nào chú ý tập trung nghiên cứu tổ chức công tác giáo dục KNS cho riêng đối tượng học sinh người DTTS Vì vậy, trong tình hình hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu đề tài đặt ra là hợp lý và cần thiết

Trang 21

1.2 Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1 Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường

a Quản lý

QL là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm và là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người Khi nhận thức về QL, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm QL

Theo Harold Koonts: “QL là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích

của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”

Tác giả Đặng Quốc Bảo “QL là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xếp (lý)

để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển.[2]

Còn Nguyễn Dục Quang quan niệm:"QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (khách thể QL) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến [28]

Với những tiếp cận và quan niệm trên đây, tuy mỗi cách tiếp cận với mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có một nội hàm chung thống nhất xác định QL là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định Hay

nói một cách khái quát nhất: “QL là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra” [7]

Để đạt được những mục tiêu đã định, QL phải thông qua các chức năng QL, bao gồm:

Kế hoạch hoá: là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào

nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kì, từng giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt được mục tiêu đó

Tổ chức: là những nội dung phương thức hoạt động cơ bản trong việc thành lập

cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó chủ thể QL tác động lên các đối tượng QL một cách có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch

Chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể QL nhằm điều hành tổ chức,

nhân lực đã có của tổ chức (đơn vị) vận hành theo đúng KH để thực hiện mục tiêu QL

Kiểm tra: là những hoạt động của công tác QL tác động đến khách thể QL

nhằm đánh giá và xử lí các kết quả vận hành của tổ chức

Như vậy, chức năng QL là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận QL, nó

Trang 22

giữ vai trò to lớn trong thực tiễn QL, thể hiện đầy đủ nội dung HĐ của chủ thể QL đối với khách thể QL, là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn bộ hệ thống được QL

b Quản lý giáo dục

GD là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, là một động lực thúc đầy sự phát triển xã hội Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, GD phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống thống nhất Điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong GD, đó là hoạt động QLGD Về khái niệm QLGD cũng có

nhiều quan niệm khác nhau:

Theo D.V Khuđominxki thì: QLGD là những tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý nghĩa và có mục đích của chủ thể, quản lý ở các cấp khác nhau đến tất

cả các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến các nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ HS, bảo đảm sự phát triển toàn diện và

hài hòa của họ

Theo tác giả Trần Kiểm, QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách cho HS trên cơ sở quy luật của quá trình GD về sự phát triển thể lực, trí lực, tâm lực HS [20]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích,

có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, điều hành các cơ sở GD nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội [2]

Từ những khái niệm trên có thể hiểu: QLGD là tác động có ý thức, có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể QL đến khách thể QL trong hệ thống GD nhằm làm cho hoạt động GD đạt được mục tiêu đã định

c Quản lý nhà trường

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác GD&ĐT thế hệ HS Nó nằm trong môi trường xã hội và có tác

động qua lại với môi trường đó

QLNT là một bộ phận của QLGD Tác giả Trần Kiểm cho rằng: QLNT được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, CNV, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài NT nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục của NT [20]

Công tác QLNT bao gồm: QL giáo viên, QL học sinh; QL quá trình dạy học và

Trang 23

giáo dục; QL cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học; QL tài chính trường học; QL mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng… Như vậy, QLNT bao gồm QL các hoạt động bên trong NT và phối hợp QL giữa NT với các lực lượng giáo dục xã hội, trong

đó cốt lõi là QL quá trình dạy học và giáo dục QLNT vừa mang tính Nhà nước vừa mang tính xã hội Cho nên QLNT phải biết phối hợp với các lực lượng xã hội để cùng thực hiện mục tiêu GD-ĐT

Tóm lại, QLNT là những tác động QL của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập giáo dục của nhà trường đạt kết quả tốt nhất

1.2.2 Giáo dục, Kỹ năng sống, Giáo dục kỹ năng sống, Tăng cường giáo dục kỹ năng sống

a Giáo dục

Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nêu: “GD là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội”[1]

Theo PGS.TS Hu nh Văn Sơn, GD (theo nghĩa hẹp) là một quá trình tác động

có mục đích, có tổ chức lên nhân cách của người học nhằm phát triển ở chúng thế giới quan, đạo đức, hệ động cơ và tính cách, hình thành các đặc điểm nhân cách, các hành

vi mang tính người GD được thực hiện chủ yếu thông qua giao tiếp giữa nhân cách với nhân cách

Dạy học là một nội dung cơ bản của hoạt động sư phạm (giáo dục theo nghĩa rộng) Dạy học là sự tác động qua lại giữa người dạy và người học với mục đích là người dạy truyền thụ cho người học kinh nghiệm xã hội Quá trình dạy học bao gồm hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh, trong đó mối quan hệ “giáo viên -

Trang 24

Khái quát hơn, tác giả Hu nh Văn Sơn cho rằng “KN là khả năng vận dụng những dữ kiện, tri thức, khái niệm để làm sáng tỏ những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng, giải quyết thành công những nhiệm vụ lý thuyết và thực tiễn xác định KN được tạo ra trên cơ sở kiến thức, kiến thức cơ sở của KN phải phản ánh đầy đủ các

thuộc tính chính yếu để đạt mục đích đặt ra trước hành động (Kỹ năng) [30]

Như vậy, ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: KN là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đ ng đắn để đạt được mục đích đề ra

Tùy thuộc vào cách tiếp cận, lý thuyết ứng dụng mà có những quan niệm khác nhau về KNS:

- Theo WHO (1993): KNS là những KN mang tính tâm lý xã hội và KN giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày

- Theo UNICEF (UNICEF Thái Lan, 1995): KNS là những hành vi cụ thể thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống KNS phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu

cầu liên hoàn và có hướng đích

- UNESCO (2003) quan niệm: KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

Theo UNESCO, KNS gắn với 4 trụ cột giáo dục, đó là: Học để biết; Học để làm

người; Học để chung sống với người khác; Học để làm

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Kĩ năng sống của HS THCS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội Kĩ

năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân Kĩ năng sống mang tính

xã hội vì kỹ năng sống phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hoá của gia đình, cộng đồng, dân tộc

c Giáo dục kỹ năng sống

KNS không phải tự nhiên có được mà phải hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn ra thông qua các hoạt động, GD, tập thể và giao tiếp Trong đó, GD đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành KNS bởi GD định hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của con người

Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình, GDKNS là hình thành cách sống tích cực

Trang 25

trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành

vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các

kỹ năng thích hợp [3]

Tóm lại, GDKNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của các lực lượng giáo dục đến HS nhằm gi p HS có những kiến thức về cuộc sống, khả năng làm chủ bản thân và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống để có thể thích ứng tốt nhất với môi trường sống

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở sẽ đem lại những lợi ích thiết thực cho người học và cộng đồng, xã hội:

Giúp học sinh giải quyết được những nhu cầu của bản thân để phát triển theo hướng tích cực, góp phần vận dụng môi trường sống lành mạnh, đảm bảo cho HS phát triển tốt về thể chất, tinh thần và xã hội Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh hình thành hành vi sức khỏe đúng đắn, lành mạnh để phòng tránh các nguy cơ (như HIV/AIDS, lạm dụng ma túy, tình dục, bạo lực học đường ) tạo ra sự thay đổi hành vi

để làm giảm những nguy cơ, cung cấp các thông tin cơ bản và giúp thanh thiếu niên phát triển những kỹ năng sống cần thiết để ra quyết định và hành động theo những quyết định liên quan đến sửc khỏe Thông qua giáo dục kỹ năng sống, học sinh có được kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng sống cần thiết để xây dựng nền tảng vững chắc cho lòng tôn trọng quyền con người, các nguyên tắc dân chủ và chống lại bạo lực, tội ác; giúp các em có thể phát triển các kỹ năng phân tích, tư duy phê phán,

ra quyết định, tự trọng, thiện chí, sáng tạo, giao tiếp, giải quyết xung đột, hợp tác

1.2.3 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là tiến trình tổ chức thực hiện giáo dục KNS theo mục tiêu chương trình bao gồm nội dung, hình thức, phương pháp, các điều kiện

hỗ trợ và công tác kiểm tra- đánh giá để công tác giáo dục kỹ năng sống đạt được hiệu quả cao nhất

Giáo dục KNS có mục tiêu là phát triển năng lực tâm lí - xã hội của học sinh để vượt qua những thách thức của cuộc sống, đồng thời làm thay đổi hành vi, thói quen có thể gây rủi ro, mang lại hiệu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và quá trình phát triển bền vững cho xã hội Mục tiêu của giáo dục KNS là nhằm giúp học sinh thay đổi cách ứng xử của mình theo hướng tích cực, hiệu quả Chỉ có cách học dựa trên tự khám phá bản thân hoặc

tự lĩnh hội thì mới giúp con người thay đổi căn bản hành vi của mình Bản chất của nó chính là sự trải nghiệm GD dựa vào sự trải nghiệm hay học tập qua kinh nghiệm dựa trên các hoạt động có hướng dẫn Đây là hình thức học tập gắn liền với các hoạt động có sự

Trang 26

chuẩn bị ban đầu và có phản hồi, trong đó đề cao kinh nghiệm chủ quan của học sinh Trong hình thức học tập này, giáo viên chỉ đóng vai trò thúc đẩy việc trực tiếp trải nghiệm của học sinh, đảm bảo quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức của học sinh có ý nghĩa lâu dài

Giáo dục KNS cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách

toàn diện Tiếp cận KNS trong các nội dung giáo dục (xét theo cả phương diện các lĩnh vực văn hoá xã hội lẫn phương diện các loại hình hoạt động của con người) là cần thiết

để góp phần hình thành những hành vi tích cực, mang tính xây dựng và thay đổi những hành vi tiêu cực

Nói tóm lại, giáo dục KNS là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, thực chất đó là rèn năng lực tâm lí-xã hội cho con người và giúp họ có những hành vi tích cực, mang tính xây dựng, thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở trải nghiệm để có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp giúp người học giải quyết được vấn đề và thích ứng tốt nhất trong cuộc sống

1.2.4 Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống

Ở trường PTDTBT THCS, chủ thể gián tiếp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS là các cán bộ quản lý của Phòng, Sở và Bộ GD&ĐT phụ trách giáo dục KNS Chủ thể quản lý trực tiếp hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường PTDTBT THCS là các cán bộ quản lý bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng và các trưởng bộ phận trong trường PTDTBT THCS; trong đó hiệu trưởng là người đứng đầu và quản lý chung Đối tượng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS chính là hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS Mục đích quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục KNS, hình thành những KNS cần thiết, hình thành khả năng hành động để thích ứng và làm chủ các tình huống

Tóm lại; quản lý hoạt động giáo dục KNS là hệ thống những tác động có ý thức, chủ động (có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ, GV, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh của nhà trường

1.3 Lý luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS tại trường phổ thông dân tộc bán trú THCS

1.3.1 Đặc điểm của trường Phổ thông dân tộc Bán trú THCS và học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú THCS

Trường PTDTBT là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em

các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện

Trang 27

kinh tế- xã hội đặt biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này [8]

Theo tác giả Trần Trọng Thủy thì học sinh trường PTDTBT THCS có độ tuổi

từ 11-15 tuổi, giai đoạn phát triển này của HS được gọi là tuổi thiếu niên Lứa tuổi này

có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời k phát triển của HS, học sinh ở cuối cấp THCS ở vào thời k chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “trang giấy trắng”, “tuổi hay bắt chước”, “tuổi thích làm người lớn”, “tuổi muốn được chiều chuộng, nói ngọt”, [32] Học sinh trung học cơ sở đang ở trong độ tuổi thiếu niên, lứa tuổi đang phát triển mạnh về cả thể chất và tinh thần Nhu cầu hoạt động và giao tiếp của các em đang phát triển mạnh Do đó, ý thức về cuộc sống, về bản thân, về con người cũng phát triển; các năng lực cá nhân cũng dần hình thành Đời sống tình cảm của các em cũng rất phong phú, thể hiện rõ nhất trong quan hệ tình bạn (đồng giới hoặc khác giới) Nó chi phối tình cảm và xu hướng hoạt động của các em Giáo dục kỹ năng sống nếu biết khai thác những khía cạnh tích cực trong đặc điểm tâm lí của học sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp các em phát triển nhân cách Bên cạnh đó, môi trường xã hội cũng ảnh hường rất lớn đến nhân cách của học sinh trung học cơ sở Bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay với những tác động tích cực và tiêu cực đan xen khiến HS luôn luôn phải có sự lựa chọn, phải đương đầu với những áp lực, thử thách, nếu không được hướng dẫn, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực như nghiện game, bạo lực Giáo dục kỹ năng sống giúp các em ứng phó với những vấn đề của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở như phòng tránh lạm dụng game, phòng tránh rủi ro trong quan hệ giới tính, phòng tránh sử dụng chất gây nghiện, phòng tránh bạo lực học đường; từ đó tham mưu giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền HS, giúp học sinh xác định được nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình, xã hội Có thể nói, giáo dục kỹ năng sống có giá trị đặc biệt đối với thanh, thiếu niên đang lớn lên trong xã hội hiện đại với nền văn hoá đa dạng, nền kinh tế phát triển và bối cảnh thế giới được coi là một mái nhà chung

Học sinh THCS người Dân tộc thiểu số cũng có những nét đặc điểm tâm lý chung giống với học sinh người Kinh ở các vùng miền khác cùng trang lứa Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc điểm riêng, những đặc điểm mang tính tộc người và những đặc điểm đó do điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên như: Tính rụt rè, nhút nhát, e ngại hay xấu hổ, dễ tự ái; Có sự mặc cảm về nguồn gốc xuất thân nên các em ngại giao tiếp, giao lưu; Động cơ học tập ở bên trong của học sinh chưa tốt; Vốn kinh nghiệm trong cuộc sống ít; Nhiều kỹ năng trong cuộc sống và trong trường học thiếu hụt

Trang 28

Nhìn chung, những nét tâm lí như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên trì, tính kỉ luật, của học sinh dân tộc chưa được chuẩn bị chu đáo Bên cạnh đó, trạng

thái chú ý không bền khi giao tiếp, đặc biệt trong các giờ học chính khoá, sự chú ý

nhiều khi mang tính chất hình thức, tuân theo kỉ luật, nhưng thực chất học sinh không

tập trung tư tưởng Về tư duy, đặc điểm nổi bật trong tư duy của học sinh dân tộc là

thói quen ngại suy nghĩ, ngại động não Các em có thói quen suy nghĩ một chiều, dễ thừa nhận những gì người khác nói Tư duy của học sinh dân tộc còn kém nhanh nhạy

và linh hoạt: khả năng thay đổi giải pháp chậm, nhiều khi máy móc, dập khuôn; khả năng độc lập tư duy và óc phê phán còn hạn chế; khả năng tư duy trực quan tốt hơn khả năng tư duy trừu tượng- logic; khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát còn

chậm và thiếu toàn diện Về ghi nhớ, khả năng ghi nhớ có chủ định chậm hình thành, khả năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của học sinh còn yếu Về tưởng tượng, do kinh nghiệm sống nghèo nàn nên tưởng tượng của các em còn thiếu sinh động Cảm

x c, thái độ của học sinh dân tộc bộc lộ khá sâu sắc Trong quan hệ cộng đồng, quan

hệ xã hội, các em thường coi trọng tín nghĩa, thẳng thắn, yêu ghét rạch ròi Tình cảm của học sinh dân tộc thường thầm kín, ít biểu hiện ra bên ngoài một cách rõ ràng, mạnh mẽ, do đó giáo viên khó đoán biết được diễn biến tình cảm của học sinh, chỉ khi nào xuất hiện tình huống đặc biệt mới thấy rằng tình cảm của các em là rất chân thành Tình bạn của học sinh dân tộc rất bền vững, ít thay đổi, tình cảm với quê hương, làng bản rất gắn bó

Khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát phát triển chậm, khả năng tư duy (thao tác tư duy) nói chung và khả năng tiến hành các thao tác trí óc nói riêng hình thành khó khăn Quá trình tư duy của các em chỉ đạt mức trung bình Từ những đặc điểm tâm lí nói trên, có thể thấy: khả năng tư duy kinh nghiệm đạt mức cao so với trình độ chung của lứa tuổi; song khả năng tư duy lý luận còn thấp so với yêu cầu

(thiếu toàn diện, hệ thống) Tri thức thói quen được hình thành bằng con đường kinh

nghiệm ảnh hưởng đến quá trình tiến hành các thao tác trí tuệ của các em: khả năng ghi nhớ có ý thức, có chủ định còn yếu Đặc biệt, về ngôn ngữ dùng quen tiếng bản địa, trong khi đó quá trình nhận thức, tiếp thu tri thức ở trường lại diễn ra bằng ngôn ngữ Tiếng Việt Như vậy, xét về mặt giao tiếp các em diễn đạt vấn đề nào đó còn gặp khó khăn, thiếu linh hoạt

Thiếu sân chơi, môi trường hoạt động, các công trình phúc lợi xã hội, tạo cho các em tâm lí khó hoà đồng

Đồng thời học sinh dân tộc có tính tự ái cao, nếu các em gặp phải những lời phê bình hoặc khi kết quả học tập kém, quá thua kém bạn bè một vấn đề nào đó trong sinh hoạt, các em dễ xa lánh thầy giáo và bạn bè hoặc bỏ học Ngoài ra, học sinh THCS

Trang 29

người DTTS thường ít nói, e dè, dễ xấu hổ, thiếu những hoài bão, ước mơ cần thiết

Do vậy, công tác giáo dục KNS cho học sinh lứa tuổi cấp II mà đặc biệt là học sinh THCS người DTTS cần có sự hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần, sự phối hợp tích cực với các lực lượng GD, tạo nên sự thống nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội để hình thành và phát triển nhân cách cho HS phù hợp với yêu cầu hiện nay

1.3.2 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở

a Mục tiêu chung của giáo dục THCS

Mục tiêu của giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động (Luật Giáo dục 2005) [23]

b Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THCS người DTTS

Quan điểm tích hợp trong tổ chức các HĐGD được thể hiện ở hai hình thức: một là mục tiêu GD cần được thực hiện thông qua nhiều hoạt động giáo dục, thứ hai là một HĐGD đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu GD Vì vậy bản chất của nó là sự tích hợp sẽ có ý nghĩa quan trọng: Tạo ra một chỉnh thể các hoạt động giáo dục ở các đơn

vị trường vận hành trong sự thống nhất và hỗ trợ lẫn nhau trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi hoạt động giáo dục thành phần Do đó, theo Nghị quyết 29-NQ/TW,

ngày 4 tháng 11 năm 2013 "về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế", Chương trình số 67-CTr/TU, ngày 29-4-2014 của

Tỉnh ủy khóa XIV thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04-11-2013 của Ban

Chấp hành Trung ương Đảng “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [14] Nghị quyết 01-NQ/HU, ngày 19-4-

2016 của Huyện ủy, UBND huyện cũng đã xây dựng Đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trên địa bàn huyện Kon Plông giai đoạn 2016-2020,mục tiêu giáo dục đã chuyển từ cung cấp kiến thức là chủ yếu sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, hình thành và phát triển những năng lực cần thiết

ở người học trong đó các kỹ năng là một thành phần quan trọng để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước HS không chỉ cần có kiến thức, mà còn phải biết làm, biết hành động phù hợp trong những tình huống, hoàn cảnh

Cụ thể: Mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh THCS nói chung và học sinh THCS người DTTS nói riêng là trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp, trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành

Trang 30

mạnh tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày Chuyển dịch kiến thức, thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền và bổn phận của mình; phát triển hài hòa, toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức Giúp các em có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp; tích cực, tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt và trong cuộc sống hàng ngày

1.3.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở

Dựa vào đặc điểm học sinh THCS; căn cứ vào các KNS cần giáo dục cho học sinh của UNESCO, căn cứ vào chuẩn kiến thức kỹ năng học sinh THCS, căn cứ vào những kỹ năng được phân loại theo nhóm trong giáo dục chính quy ở nước ta và Thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT, ngày 08/8/2011 của Bộ GD&ĐT về Ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS, có thể đưa ra một số KNS cần giáo dục cho học sinh THCS người DTTS bao gồm: [8]

* Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình:

Kĩ năng tự nhận thức; Kĩ năng xác định giá trị; Kĩ năng kiểm soát cảm xúc; Kĩ năng ứng phó với căng thẳng; Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ; Kĩ năng thể hiện sự tự tin Nhóm các kĩ năng này được tích hợp trong các môn học gồm: Giáo dục công dân, ngữ văn, sinh học, lịch sử, địa lý, thể dục, âm nhạc và mĩ thuật; trong đó môn giáo dục công dân là môn có khả năng thực hiện việc hình thành các kĩ năng trên nhiều nhất Nhóm các kĩ năng này sẽ giúp HS ứng xử, hành động phù hợp với điều kiện, với hoàn cảnh của bản thân và môi trường xung quanh, từ đó có mối quan hệ tích cực với những người xung quanh

* Nhóm các kỹ năng phân biệt và sống với người khác:

Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng lắng nghe tích cực; Kĩ năng thể hiện sự cảm thông; Kĩ năng thương lượng; Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn; Kĩ năng hợp tác

Nhóm các kĩ năng này được tích hợp chủ yếu trong các môn học GDCD và ngữ văn Nhóm các kĩ năng này sẽ giúp HS có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm; HS

có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu

rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ; bên cạnh đó HS có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo

gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của mình; đồng thời là cơ hội để chúng ta chia

Trang 31

sẻ, giãi bày khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc

* Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả:

Kĩ năng tư duy phê phán; Kĩ năng tư duy sáng tạo; Kĩ năng ra quyết định; Kĩ năng giải quyết vấn đề; Kĩ năng kiên định; Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm; Kĩ năng đặt mục tiêu; Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin

Nhóm các kĩ năng này sẽ giúp HS có khả năng con người nhận thức được những

gì mình muốn và lý do dẫn đến sự mong muốn đó, từ đó có thể tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời

1.3.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở

Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục KNS phải phù hợp với trình độ, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của HS người DTTS, cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

+ Nguyên tắc cùng tham gia: Tạo sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau và vai trò tham gia của HS trong việc học và thực hành kỹ năng + Nguyên tắc hướng vào người học: Dựa vào kinh nghiệm sống và đáp ứng nhu cầu của HS

+ Nguyên tắc hoạt động: giáo dục KNS cuối cùng phải hướng đến xây dựng hành

vi hoặc thay đổi hành vi Để xây dựng thay đổi hành vi cần phải tổ chức cho người học hoạt động

Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục KNS rất đa dạng và phong phú, nhưng thường gồm một số phương pháp sau:

Phương pháp thảo luận nhóm: là phương pháp được tiến hành bao gồm từ 2 đến

nhiều học sinh tạo thành nhóm nhỏ nhằm giúp học sinh bàn bạc, trao đổi giải quyết được vấn đề đặt ra trên cơ sở huy động trí tuệ tập thể và tương tác nhóm Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến bài học

Đây là một dạng tương tác nhóm đặc biệt mà trong đó các thành viên cùng giải quyết một vấn đề cùng quan tâm nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung Thảo luận tạo ra môi trường an toàn cho HS kiểm chứng ý kiến của mình, có cơ hội làm quen với nhau,

để hiểu nhau hơn Khác với dạy học, thảo luận nhóm trong hoạt động giáo dục KNS là dựa vào trao đổi ý kiến giữa các em HS với nhau về một chủ đề nào đó nhằm tìm ra tiếng nói chung về một vấn đề cụ thể

Trang 32

Các nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm đã chứng minh rằng nhờ việc thảo luận trong nhóm nhỏ mà:

- Kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học

- Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm;

- Phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, giao tiếp, trình bày ý kiến, qua hoạt động tập thể giúp học sinh người DTTS tự tin và mạnh dạn hơn

Phương pháp động não: Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một

thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây

là một phương pháp có ích để kích hoạt não huy động tri thức một cách nhanh chóng

và có hệ thống

Động não không phải là một phương pháp hoàn chỉnh mà chỉ là sự khởi đầu Một khi danh sách các câu trả lời đã được hoàn thành, cần phải cho người học dùng danh sách này để xác định xem câu trả lời nào là sai, câu nào là đúng Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ

đó, giúp HS dễ hoà nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt

Phương pháp giao nhiệm vụ: Là phương pháp GV lôi cuốn người học vào những

hoạt động đa dạng, phong phú với những công việc nhất định Giao nhiệm vụ là tạo cơ hội để HS có thể bộc lộ thể hiện những khả năng ứng xử của mình, giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử phù hợp Đồng thời thông qua giao nhiệm vụ giúp HS hiểu về ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân của công việc được giao GV có thể giao nhiệm vụ trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể giao nhiệm vụ cho cá nhân hoặc tập thể

Phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành

“ Làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy Phương pháp đóng vai học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực

tiễn

Phương pháp giải quyết vấn đề: Thường được vận dụng khi HS phải phân tích,

xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động tập thể Phương pháp giải quyết vấn đề giúp HS phát triển năng lực tư

Trang 33

duy độc lập, sáng tạo, giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói, đồng thời giúp HS tự hoàn thiện nhân cách của mình Giải quyết vấn đề giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động trong cuộc sống hàng ngày

Phương pháp trò chơi: Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu

một vấn đề hay thực hiện những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua

một trò chơi nào đó Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu

cầu của học sinh Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: nếu biết tổ chức cho học sinh vui chơi một cách hợp lí, lành mạnh thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Qua trò chơi, học sinh không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực

Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khô khan, nhàm chán Học sinh được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách

tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa GV với học sinh

* Phương pháp thực hành, trải nghiệm: Phương pháp này giúp học sinh bắt

chước, tập thử và tích cực thực hành thường xuyên các KNS, bao gồm: Phương pháp

thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi; phương pháp dùng trò chơi; phương pháp nêu tình huống có vấn đề; phương pháp luyện tập

1.3.5 Hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở

Việc giáo dục KNS cho học sinh THCS ở các đơn vị trường chủ yếu được thực hiện theo các hình thức sau:

a Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS người dân tộc thiểu số thông qua tích hợp vào các môn học chính khóa

KNS được tích hợp vào một số môn học khoa học xã hội như Giáo dục công dân, ngữ văn, sinh học, lịch sử, địa lý, thể dục, âm nhạc và mĩ thuật; trong đó môn giáo dục công dân là môn có khả năng thực hiện việc hình thành các kĩ năng trên nhiều nhất Nhóm các kĩ năng này sẽ giúp HS ứng xử, hành động phù hợp với điều kiện, với hoàn cảnh của bản thân và môi trường xung quanh, từ đó có mối quan hệ tích cực với những người xung quanh

Bậc THCS giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được thực hiện qua nhiều hình

thức khác nhau như: Lồng ghép giáo dục kỹ năng sống vào từng môn học (tích hợp trong giáo án soạn giảng của từng môn học) cụ thể gắn với vai trò, trách nhiệm của

từng giáo viên giảng dạy; giáo dục thông qua các buổi hoạt động ngoại khóa, hoạt

Trang 34

động ngoài giờ lên lớp; các buổi chào cờ đầu tuần; ngày hội rửa tay bằng xà phòng và

vẽ tranh theo chủ đề môi trường do tổ chức phi chính phủ Plan tại huyện Kon Plông phối hợp tổ chức; các hội trại chào mừng ngày 26/3; tham gia cuộc thi nghiên cứu khoa học kĩ thuật; tổ chức viếng nghĩa trang liệt sĩ; tham gia các sự kiện văn hóa, chính trị tại địa phương, các hoạt động tuyên truyền quảng bá, hội chợ xúc tiến du lịch tại vùng du lịch sinh thái của huyện… Đó là cầu nối gắn lý thuyết với thực tiễn và đời sống xã hội, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở học sinh

Giáo dục KNS cho học sinh THCS người DTTS thông qua các môn học là một hình thức giáo dục để thực hiện mục tiêu các HĐGD nói chung và thực hiện mục tiêu của hoạt động giáo dục KNS nói riêng Do đó, các đơn vị trường cần phải rà soát lại thực trạng của trường mình, về hạn chế và hướng giải quyết để có thể tổ chức tốt việc giáo dục KNS cho học sinh, sau đó căn cứ vào chương trình khung của Bộ giáo dục xây dựng chương trình cụ thể cho đơn vị, đồng thời trang bị tài liệu về giáo dục KNS cho học sinh, tập huấn bồi dưỡng GV để xác định nội dung, phương pháp, hình thức

và địa chỉ cụ thể ở từng môn học, tổ chức hoạt động GD, theo dõi, dự giờ, hội thi… đối với các môn học, các hoạt động GD đã được tập huấn và đối với các môn học, các hoạt động chưa được tập huấn

b Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS người dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Nhà trường thông qua các hoạt động giáo dục KNS như các hoạt động lao động

xã hội, hoạt động lao động sản xuất, văn hoá văn nghệ, hoạt động đoàn đội, các câu lạc

bộ, giao lưu để phục vụ cuộc sống, xã hội, gắn nhà trường với địa phương

Phương pháp và cách thức tổ chức hoạt động giáo dục KNS thông qua các hoạt động GDNGLL phải phù hợp với trình độ, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của học sinh nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS như các hoạt động: dã ngoại, sinh hoạt dưới cờ, các hội thi, các hoạt động uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa Học sinh phải thực sự giữ vai trò chủ thể của hoạt động với sự giúp đỡ, định hướng của GV chủ nhiệm để thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục KNS Thông qua tự quản hoạt động GDNGLL giúp HS phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc tham gia và điều khiển các hoạt động tập thể, phát huy vai trò cố vấn, vai trò lãnh đạo, định hướng của GV chủ nhiệm và các cán bộ Đoàn, Đội đối với các hoạt động tập thể của HS

* Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS người dân tộc thiểu số thông qua

các hoạt động trải nghiệm

Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tình hình cụ thể của mỗi đơn

Trang 35

vị trường có thể tiến hành hoạt động giáo dục KNS cho HS thông qua các hoạt động trải nghiệm theo những hình thức chính sau:

Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động chính trị:

Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn (ngày Quốc khánh, ngày nhà giáo Việt Nam, thành lập Đảng, sinh nhật Bác, thành lập Đội, Đoàn, các ngày giải phóng quê hương, đất nước ); Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ giúp đỡ gia đình neo đơn, giúp đỡ các bạn học sinh nghèo vượt khó

Hoạt động văn hoá - nghệ thuật

Thực chất của hoạt động văn hóa nghệ thuật là bồi dưỡng, làm phong phú thêm đời sống tinh thần, bồi dưỡng lòng khao khát cái đẹp, đem cái đẹp vào cuộc sống Biết thưởng thức cái đẹp để có hành động đẹp Tham gia các hội thi như: tuyên truyền giới thiệu sách, kể truyện đạo đức Bác Hồ, nét đẹp đội viên, đoàn viên, thi vẽ tranh, làm báo tường

Hoạt động lao động công ích, xã hội

Hoạt động lao động công ích nhằm giáo dục ý thức góp phần xây dựng quê hương Lao động giúp đỡ gia đình để sản xuất ra của cải vật chất phục vụ gia đình và cho xã hội Tham gia chăm sóc cây xanh xung quanh trường, trồng cây kỷ niệm; Lao động quét dọn, chăm sóc "Di tích lịch sử địa phương"

Những hình thức trên giúp giáo viên mạnh dạn, tích cực trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy học phù hợp Tạo được sự thân thiện, hợp tác trong giao tiếp ứng xử trong giờ học giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh Động viên, tạo cơ hội cho mọi đối tượng học sinh cùng tham gia

1.3.6 Điều kiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở

a Về con người

a.1 Lực lượng tham gia giáo dục Kỹ năng sống: Giáo viên bộ môn, GVCN, tổng

phụ trách Đội, Đoàn thanh niên, các chuyên gia GD KNS, Phụ huynh

Đội ngũ giáo viên là nòng cốt quyết định chất lượng giáo dục học sinh Xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực giáo dục KNS cho học sinh là đặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục KNS cho học sinh Đội ngũ giáo viên có năng lực giáo dục KNS cho học sinh phải là những thầy cô giáo tâm huyết, thương yêu học sinh, có kinh nghiệm thực tế, có vốn kiến thức nhất định về KNS, có khả năng hợp tác, cuốn hút học sinh, biết lắng nghe và chia sẻ với các em, hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Do vậy rất cần sự chỉ đạo của Hiệu trưởng để khuyến khích, động viên, chọn lựa đội ngũ giáo viên phù hợp, chất lượng, nhiệt tình, tận tâm để giáo dục KNS cho

Trang 36

các em học sinh đạt hiệu quả

Từ năm 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Chỉ thị dạy tích hợp KNS vào các môn học và hoạt động trong các nhà trường phổ thông Để tích hợp được nội dung giáo dục KNS vào bài giảng, GV phải linh hoạt, khéo léo điều khiển giờ dạy Thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể chuyển tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa nắm được kiến thức của bài học vừa nhận thức được giá trị của cuộc sống Từ đó hình thành các KNS cho bản thân

Muốn thực hiện được nội dung trên các nhà quản lý một mặt phải lập KH chi tiết,

cụ thể cho hoạt động Mặt khác, cần phải tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, đồng thời phân cấp quản lý cho đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn để thống nhất việc tích hợp giáo dục KNS vào từng chương, từng bài cụ thể Theo dõi sát sao việc thực hiện tích hợp vào bài dạy của đội ngũ giáo viên, đánh giá giờ dạy và kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh Tổ chức triển khai thực hiện và đánh giá rút kinh nghiệm

a.2 Học sinh: Kiến thức GD KNS phải phù hợp với lứa tuổi, tâm lý, độ tuổi của

học sinh, sự sống động, hứng thú

GDKNS có tác dụng phát triển toàn diện nhân cách HS về thể chất, tính cảm - xã hội, giao tiếp, thích ứng và sẵn sàng hưởng ứng như:

- Về thể chất: giúp các em được an toàn, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo, bền

bỉ, tháo vát, thích ứng được với những điều kiện sống thay đổi

- Về nhận thức: giúp các em ham hiểu biết, sáng tạo

- Về ngôn ngữ, giao tiếp: giúp cho các em mạnh dạn, tự tin, tự trọng và tôn trọng người khác, biết lắng nghe, nói năng lịch sự, hòa nhã, cởi mở

- Về tình cảm xã hội: giúp các em biết kiểm soát cảm xúc, biết thể hiện tình thương yêu, sự chia sẻ, đồng cảm với những người xung quanh

b Cơ sở vật chất và môi trường Giáo dục Kỹ năng sống

Hoạt động giáo dục KNS rất cần có CSVC, phương tiện, tài liệu để hoạt động Ở nhiều đơn vị trường, giáo viên chưa được đào tạo một cách căn bản về giáo dục KNS; phương tiện, tài liệu dành cho hoạt động này còn khan hiếm; nguồn kinh phí chi cho hoạt động này còn quá eo hẹp Vì vậy, để tháo gỡ những vướng mắc trên, người Hiệu trưởng cần tham mưa cho phòng GD & ĐT có kế hoạch đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng các chuyên đề nâng cao nhận thức

và kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho giáo viên Đồng thời, động viên khích lệ tinh thần và có chế độ thỏa đáng, kịp thời cho đội ngũ những người làm công tác giáo dục KNS Từ đó, khơi dậy lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm của họ Có như vậy tính hiệu quả của hoạt động mới cao

Trang 37

Đầu tư phòng học, tạo không gian tổ chức GD KNS, cung cấp đầy đủ tài liệu, phương tiện dạy học cho giáo viên

Trong hoạt động GDKNS, bên cạnh cơ sở vật chất, kỹ thuật thì điều kiện tổ chức, phương tiện, thiết bị dạy học (máy chiếu projector, màn hình, đầu vi deo, hệ thống loa đài…) sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động Do đó, nhà trường ngoài việc quản lý tận dụng những CSVC hiện có để phát huy hiệu quả giáo dục của hoạt động, cần phải chú

ý cân đối nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm các trang thiết bị dạy học, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của CMHS, các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm, công tác xã hội hóa giáo dục

c Chính sách

Hiện nay giáo viên dạy các môn học được lồng ghép soạn giảng KNS chưa được

hỗ trợ kinh phí, các lực lượng ngoài nhà trường mang tính phối hợp cũng không được

hỗ trợ bồi dưỡng, vì vậy cần có sự hỗ trợ đối với giáo viên, các lực lượng tham gia để khuyến khích cho họ hoạt động được hiệu quả hơn

1.3.7 Kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú Trung học cơ sở

Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng, kiểm tra là đối chiếu với KH để xác định đúng mức độ đạt được so với KH, phát hiện những sai lệch xem xét những gì đã đạt, chưa đạt cùng nguyên nhân của chúng và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn

để điều chỉnh cho kịp thời, kiểm tra đánh giá, thúc đẩy quá trình GD phát triển Công tác kiểm tra đánh giá cần tập trung vào:

- Kiểm tra, đánh giá công tác GDKNS của giáo viên:

+ Xây dựng được bộ công cụ đánh giá GV trong việc thực hiện giáo dục KNS cho HS

+ Tiến hành đánh giá GV GV trong việc thực hiện giáo dục KNS cho HS một cách hiệu quả, chính xác

+ Xây dựng được bộ công cụ đánh giá HS trong việc thực hiện giáo dục KNS + Chỉ đạo GV thực hiện việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho HS một cách hiệu quả, chính xác

- Kiểm tra đánh giá sự phát triển về các KNS của học sinh:

+ Đánh giá kết quả KNS HS đạt được hằng ngày, cuối chủ đề của GV

+ Kiểm tra đối chiếu kết quả đánh giá của GV so với thực tế

- Để công tác kiểm tra đánh giá giáo dục KNS cho học sinh đạt hiệu quả, cần phải:

+ Có hệ thống tiêu chí đánh giá về kiến thức- kỹ năng đạt được của giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường

Trang 38

+ Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực,

có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc giáo dục KNS gồm: bảng kiểm, phiếu điều tra, kết quả rèn luyện, báo cáo tổng kết của các bộ phận được giao giáo dục KNS

+ Có sự phối hợp giữa đánh giá thường xuyên, đánh giá định k , đánh giá quá trình; giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng, từ đó phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của mỗi hình thức

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú Thcs

1.4.1 Quản lý mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS

Mục tiêu của QL GDKNS cho HS THCS là làm cho quá trình GDKNS vận hành một cách đồng bộ, hiệu quả nhằm có tác động mạnh mẽ và sâu rộng, bền vững để nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS Điều đó được thể hiện qua:

- Nhà trường nắm vững và thực hiện theo các văn bản quy định của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT về công tác GDKNS GV có nhận thức đúng đắn và tích cực tham gia công tác GDKNS cho HS

- Phổ biến mục tiêu giáo dục KNS đến cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh

- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục KNS với mục tiêu giáo dục chung của nhà trường

- Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo mục tiêu

- Tác động mạnh mẽ về tính tích cực của chương trình nội dung, hình thức, phương pháp GDKNS và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động GDKNS

- Tác động sâu rộng và bền vững của hoạt động GDKNS được thể hiện qua kết quả đạt được ở HS về sự phát triển toàn diện, qua sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các lực lượng GD khác

Quản lý về mục tiêu GDKNS cho HS THCS: Cũng như tất cả các hoạt động

giáo dục khác, để thực hiện đạt hiệu quả công tác GDKNS cho học sinh, người HT phải quản lý chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu GDKNS Để quản lý chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu GDKNS, thông qua các cuộc họp, sinh hoạt đầu năm hay định k , HT cần:

- Tuyên truyền, phổ biến tới toàn thể CBQL, GV, Phụ huynh về chủ trương, văn bản chỉ đạo của các cấp về việc GDKNS

- Giúp CBQL, GV, Phụ huynh hiểu rõ tầm quan trọng của công tác GDKNS cho HS và trách nhiệm của mỗi thành viên trong công tác này

Trang 39

- Phổ biến mục tiêu GDKNS đến toàn thể CBQL, GV, Phụ huynh

Việc QL mục tiêu GDKNS sẽ giúp cho CBQL-GV-Phụ huynh hiểu rõ tầm quan trọng của GDKNS cho học sinh; các KNS cơ bản; nội dung GDKNS trong chương trình GD THCS

1.4.2 Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú trung học cơ sở

Do đặc thù của các em lứa tuổi THCS thay đổi nhanh chóng về tâm, sinh lý và đang chủ động khám phá thế giới tự nhiên, cho nên nội dung GDKNS trong chương trình GD THCS khá phong phú và toàn diện để giúp các em thích ứng với cuộc sống GDKNS ở Trường PTDTBT THCS được tiến hành thông qua những nội dung hàm chứa KNS được lồng ghép tích hợp trong các môn học chính khóa Chính vì vậy, QL

về nội dung GDKNS cho HS THCS, HT cần:

- Tập huấn, phổ biến nội dung các KNS cơ bản cần GD cho HS

- Chỉ đạo GV tăng cường lồng ghép, tích hợp nội dung GDKNS vào các nội dung các môn học chính khóa

- Chỉ đạo GV lựa chọn những KNS gần gũi, thiết thực với cuộc sống, phù hợp với khả năng, kinh nghiệm lứa tuổi

- Thường xuyên kiểm tra, theo dõi việc thực hiện nội dung GDKNS của GV ở các lớp

- Đánh giá và góp ý điều chỉnh để thực hiện hiệu quả nội dung GDKNS của GV

1.4.3 Quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống ở trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS

HT tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, chỉ đạo lựa chọn hình thức GD KNS đảm bảo:

- Tích hợp trong các nội dung chương trình GD THCS

- Tạo cơ hội cho HS được tương tác với bạn, với thầy cô trong các hoạt động

- Tạo cơ hội cho HS được tham quan, tiếp xúc, quan sát môi trường XH gần gũi xung quanh và trải nghiệm các KNS

- Tạo cơ hội cho HS tập luyện KNS, thúc đẩy các em thay đổi các giá trị, thái độ

và hành vi của mình nhằm lựa chọn những giá trị, thái độ và hành vi mới phù hợp

- Giúp HS vận dụng kiến thức và kỹ năng mới vào các tình huống của cuộc sống thực tế

- Luôn chú ý lắng nghe để hiểu, tôn trọng, tin tưởng Kịp thời khen ngợi, động viên các em khi thể hiện những KNS phù hợp

Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của HS, mỗi GV sẽ lựa chọn, phối hợp và sử dụng những phương pháp, hình chức phù hợp Chính vì vậy, HT cần hiểu rõ đặc trưng riêng của các hình thức, phương pháp do GV sử dụng, đánh giá hiệu quả giáo dục mang lại

Trang 40

đồng thời giúp GV định hướng điều chỉnh trong quá trình tổ chức hoạt động để đạt được mục tiêu GDKNS đề ra

1.4.4 Quản lý phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Phổ thông dân tộc Bán trú trung học cơ sở

a Bồi dưỡng cho giáo viên về các phương pháp GD KNS hiệu quả

- Các nội dung bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên bậc THCS được thực hiện theo Thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 8/8/2011 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành chương trình BDTX; Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của

Bộ GD&ĐT ban hành quy chế bồi dưỡng thường xuyên

- Theo đó, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT có kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn cho CBQL, GV về các phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Đồng thời trong kế hoạch BDTX hằng năm, Phòng GD&ĐT có chỉ đạo các đơn vị trường xây dựng kế hoạch BDTX đối với CBQL, giáo viên theo hình thức tự học và rút kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy ở cơ sở

b Lựa chọn các phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm học sinh và nội dung giáo dục

+ Làm việc theo nhóm: Phân công trong nhóm; trao đổi ý kiến, thảo luận nhóm;

cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm; học sinh làm việc các nhân sau đó trao đổi ý kiến trong nhóm để rút ra vấn đề chung cuối cùng

+ Thảo luận tổng kết trước lớp: Các nhóm báo cáo kết quả; thảo luận chung; giáo viên nhận xét, bổ sung và chốt lại nội dung cần thảo luận

- Để thực hiện phương pháp hoạt động nhóm có hiệu quả thì trong quá trình dạy học giáo viên cần kết hợp phương pháp hoạt động nhóm với các phương pháp khác một cách linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của từng môn học nhằm phát huy tỉnh chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn cần thường xuyên thăm lớp dự giờ, tư vấn cho đồng nghiệp; đưa nội dung này vào chia sẻ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ, của trường định kì hàng tháng

- Trong quá trình hoạt động nhóm, GV cần lưu ý có rất nhiều cách để thành lập nhóm, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học; số lượng HS/1 nhóm nên từ 4 - 6 HS Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung

Ngày đăng: 27/06/2021, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm