MAI THÁI PHIÊN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 1MAI THÁI PHIÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC
CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 2MAI THÁI PHIÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC
CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN MINH TIẾN
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Mai Thái Phiên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi giới hạn của đề tài 5
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS 7
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1.1 Ở nước ngoài 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 9
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 9
1.2.2 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 16
1.3 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH 18
1.3.1 Vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 18
1.3.2 Mục đích của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 18
1.3.3 Chức năng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 19
1.3.4 Ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 22
Trang 51.3.5 Mối quan hệ giữa kiểm tra, đánh giá 22 1.3.6 Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh 23 1.3.7 Cơ sở để đánh giá kết quả học tập của học sinh 24 1.3.8 Xu thế đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục hiện nay 25 1.3.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh THCS 25 1.4 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC Ở TRƯỜNG THCS 25 1.4.1 Mục tiêu hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS 25 1.4.2 Nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS 26 1.4.3 Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS 27 1.4.4 Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS 28 1.4.5 Chủ thể hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS 29 1.5 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS 29 1.5.1 Quản lý mục tiêu hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 29 1.5.2 Quản lý nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 30 1.5.3 Quản lý phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 31
Trang 61.5.4 Quản lý quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh 33
1.5.5 Quản lý kết quả kiểm tra, đánh giá quả học tập của học sinh 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 36
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI, GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 36
2.1.1 Vài nét về Quận Liên Chiểu 36
2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục Quận Liên Chiểu 42
2.1.3 Những hạn chế và bất cập 52
2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 52
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 52
2.2.2 Nội dung khảo sát 53
2.2.3 Phương pháp khảo sát 53
2.2.4 Kế hoạch tổ chức khảo sát 53
2.2.5 Đối tượng khảo sát 54
2.2.6 Thời gian khảo sát: Từ tháng 8/2015 đến tháng 9/2015 54
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 54
2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV, HS về hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục 54
2.3.2 Thực trạng về năng lực xây dựng nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của giáo viên 56
Trang 72.3.3 Thực trạng về các phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập môn Thể dục của học sinh 58
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 60
2.4.1 Thực trạng về công tác bồi dưỡng năng lực kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh 61
2.4.2 Thực trạng về quản lý kế hoạch kiểm tra, đánh giá 62
2.4.3 Thực trạng quản lý nội dung kiểm tra, đánh giá 64
2.4.4 Thực trạng quản lý phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá 65 2.4.5 Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kỳ 66
2.4.6 Thực trạng quản lý kết quả kiểm tra, đánh giá 68
2.4.7 Thực trạng xử lý thông tin phản hồi và phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá của học sinh để đánh giá giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh và những chỉ đạo của Hiệu trưởng để điều chỉnh hoạt động dạy học 69
2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG 70
2.5.1 Đánh giá chung 70
2.5.2 Nguyên nhân của thực trạng 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 75
3.1 CƠ SỞ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 75
3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 75
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 77
Trang 83.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH 79
3.2.1 Nâng cao nhận thức về hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh 79
3.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh 81
3.2.3 Quản lý chỉ đạo xây dựng ma trận đề, ngân hàng hệ thống câu hỏi kiểm tra, đánh giá môn Thể dục 88
3.2.4 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh 89
3.2.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục 90
3.2.6 Quản lý đồng bộ các khâu trong việc tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh 91
3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 92
3.4 KHẢO NGHIỆM NHẬN THỨC VỀ TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT 93
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 93
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 93
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 94
3.4.4 Tiến trình khảo nghiệm 94
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 94
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
3 CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Trình độ đội ngũ giáo viên các trường THCS Quận Liên
Chiểu, Thành phố Đà Nẵng (Số liệu năm 2015) 44
2.2
Trình độ chuyên môn của đội ngũ GV bộ môn Thể dục
ở các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà
Nẵng (Số liệu năm 2015)
45
2.3 Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý các trường THCS Quận
Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng (Số liệu năm 2015) 46
2.4
Kết quả khảo sát về nắm bắt nội dung chương trình theo
chuẩn kiến thức, kỹ năng, định hướng năng lực vận
dụng trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá học sinh
56
2.5 Kết quả khảo sát về sử dụng sách giáo khoa, chuẩn kiến
thức, kỹ năng trong kiểm tra, đánh giá môn Thể dục 57
2.6 Mức độ sử dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập môn Thể dục của học sinh 59
2.7 Nguyên nhân giáo viên thích sử dụng phương pháp thực
2.8 Phương pháp kiểm tra gây hứng thú nhất cho học sinh
2.9
Về công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực về kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập môn Thể dục theo chuẩn kiến
thức, kỹ năng, định hướng phát triển năng lực
61
2.10 Kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể
Trang 11Thống kê mức độ thực hiện về triển khai yêu cầu kiểm
tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, định hướng
phát triển năng lực
65
2.13 Mục đích của việc thống kê, phân tích kết quả bài kiểm
2.14 Đánh giá mức độ quan trọng của thống kê và phân tích
điểm kiểm tra môn Thể dục của GV và CBQL 68 2.15 Sử dụng kết quả kiểm tra để đánh giá năng lực học sinh 69
3.1 Mẫu Kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
3.2 Các nhóm đối tượng được khảo nghiệm 93 3.3 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết của các biện pháp 94 3.4 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 96
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Kết quả về hạnh kiểm của học sinh THCS năm học
2.2 Kết quả về học lực của học sinh THCS năm 2014 -
2.3 Nhận thức về mức độ cần thiết của hoạt động kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập môn Thể dục 54
2.4 Mức độ sử dụng các phương pháp để đánh giá kết quả
3.1 Kết quả đánh giá về tính cấp thiết và khả thi của các
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
1.1 Mối quan hệ của quá trình đánh giá chất lượng dạy và
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, có những đóng góp to lớn vào việc phát triển kinh tế - chính trị - xã hội, tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cho đất nước, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, từ lâu nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam luôn coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” [2]
Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa đảm bảo chất lượng đầu ra, là khâu cuối cùng của một quá trình giáo dục, đồng thời, kiểm soát được chất lượng giáo dục Kiểm tra và đánh giá phải phản ánh đúng đắn kết quả học tập, tu dưỡng của học sinh, phản ánh đầy đủ những tiến bộ và những thiếu sót cơ bản, những nguyên nhân của chúng, xác định đúng hướng tiến bộ của người học và thúc đẩy quá trình học tập Kiểm tra, đánh giá giúp cho giáo viên thu thập thông tin có liên quan đến người học nhằm giúp họ điều chỉnh hoạt động dạy học của mình tốt hơn
“Kiểm tra, đánh giá học sinh là những khâu rất quan trọng trong quá
trình dạy và học Khoa học kiểm tra, đánh giá của thế giới đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về lý luận lẫn thực tiễn, trong khi ở Việt Nam, Ngành Giáo dục chỉ mới quan tâm đến vấn đề này trong những năm gần đây Kiểm tra, đánh giá không chỉ là công cụ cho quản lý chất lượng giáo dục của các cấp quản lý và của giáo viên mà còn là quyền lợi, niềm vui và cơ hội cho người
Trang 14học.” [1]
Tuy nhiên, việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THCS, trong đó, có môn Thể dục chưa được quan tâm mà lâu nay chúng ta vẫn làm theo ý chủ quan của cá nhân giáo viên, hệ thống câu hỏi chưa được đánh giá theo các cấp độ nhận thức của học sinh Kết quả kiểm tra, đánh giá cũng chỉ dừng lại ở đánh giá kết quả học tập của học sinh mà chưa được phân tích, định hướng đổi mới phương pháp dạy học, trong đó, có đổi mới kiểm tra, đánh giá
Ngày nay, với sự trợ giúp của các thiết bị, kỹ thuật dạy học đang dần được phổ biến trong nhà trường, nhà quản lý không những phải nắm được các phương pháp kiểm tra, đánh giá truyền thống mà phải biết vận dụng một số phương pháp quản lý để xây dựng quy trình kiểm tra, đánh giá phù hợp Qua tìm hiểu, nhiều năm qua tại Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng, công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá môn Thể dục ở trường THCS còn nhiều bất cập và chưa có sự quan tâm đúng mức Vì vậy, để làm tốt công tác quản lý chất lượng giáo dục thì việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá
là việc làm cần thiết, mang tính chiến lược, trong đó, có môn Thể dục ở cấp THCS Trên cơ sở đó, rút ra những mặt mạnh, mặt tồn tại của công tác quản
lý hoạt động kiểm tra, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý, đồng thời, đề xuất những biện pháp cần thiết và khả thi để giúp Hiệu trưởng các trường THCS quản lý tốt hơn việc nâng cao chất lượng có hiệu quả hoạt động kiểm tra, đánh giá tại trường học, mặt khác, góp phần đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bộ môn Thể dục của học sinh
ở cấp THCS
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt
động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh THCS, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Thể
dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở trường
THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà
Nẵng
4 Giả thuyết khoa học
Nếu Hiệu trưởng thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh một cách khoa học, phù hợp với đặc trưng môn học và thực tiễn nhà trường thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Thể dục ở các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh THCS
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh ở các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
Trang 165.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh ở các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
6 Phương pháp nghiên cứu
hướng phát triển năng lực,
Phân tích, tổng hợp và hệ thống các tài liệu có liên quan đến quản lý giáo dục, quản lý kiểm tra, đánh giá chất lượng bộ môn Thể dục của học sinh THCS, nhằm hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề, nghiên cứu sắp xếp chúng thành hệ thống để hình thành giả thuyết khoa học, định hướng cho quá
trình nghiên cứu đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra
Bằng phiếu hỏi đối với Ban Giám hiệu, giáo viên, học sinh trường
THCS
Trao đổi qua giao tiếp trực tiếp: Ban Giám hiệu, học sinh, giáo viên
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ
Các đề kiểm tra, kết quả kiểm tra môn Thể dục và kế hoạch tổ chức kiểm
tra của các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
6.2.3 Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát công tác quản lý của các trường THCS về
Trang 17biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Thể
dục của học sinh
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý và phân tích kết quả điều tra
7 Phạm vi giới hạn của đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh và các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015
Phạm vi nghiên cứu thuộc 07 trường THCS thuộc Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
8 Đóng góp của luận văn
Làm phong phú và hoàn thiện lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá
Hệ thống hoá các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh THCS theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, định hướng phát triển năng lực người học
Xác lập một số biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả trong công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở nhà trường trong giai đoạn hiện nay
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học
Trang 18tập môn Thể dục của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố
Đà Nẵng
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập môn Thể dục của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng
Trang 19“kiểm tra” có thể chọn cho mình các phối ngẫu ưng ý Những kiểu thử như vậy, mà phương Tây gọi là test (trắc nghiệm) có thể xuất hiện sớm hơn phương Đông so với các dạng kiểm tra khác
Từ thế kỷ XVIII, việc nghiên cứu lý thuyết phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được bắt đầu và đến đầu thế kỷ XIX đã được triển khai rộng rãi ở các nước kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ,… Nhiều công trình nghiên cứu đo lường, đánh giá kết quả học tập đã được công bố: Erwin T.D., Hopkins K.D., Stanley K.D., Mehrens W.A., Lehmann I.J, các tác giả này đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt
rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm S.J Osterlind nghiên cứu về xây dựng câu trắc nghiệm Về kĩ thuật xây dựng và sử dụng MCQ (Multiple Choice Questions: câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn) trong KTĐG và tự KTĐG Các bài KTĐG của họ được sử dụng rộng rãi trên thế giới Đã có nhiều công trình nghiên cứu quy trình xây dựng và lựa chọn cách xây dựng ngân hàng đề và sử dụng nó để đảm bảo hiệu quả cao cho việc đo lường và đánh giá tuỳ theo yêu cầu của từng môn học và từng mục đích đánh giá
Trang 201.1.2 Ở Việt Nam
Thời nhà Lý, thế kỷ XI - XIII thông qua các kỳ thi Hương để chọn tú tài, cử nhân; thi Hội để chọn Thái học sinh, phó bảng, thi Đình để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa với 3 hình thức cơ bản là thi văn, thi
võ, thi Lại viên Trong các kỳ thi này được quy định rất chặt chẽ nhiệm vụ của các lực lượng, sự thưởng phạt nghiêm minh Tuy nhiên, có nhiều phiền toái, gò bó, không phát huy hết khả năng sáng tạo của thí sinh Bên cạnh đó, kết quả của các kỳ thi thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo
Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là
mù chữ (chính sách ngu dân để dễ cai trị) Song, ở thời kỳ này các kỳ thi
tuyển được tổ chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến
Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay, hoạt động kiểm tra, đánh giá đã
có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ Nền Giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, với mỗi lần đổi mới mục tiêu giáo dục - đào tạo được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nước Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục - đào tạo, hoạt động nghiên cứu kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá và đổi mới kiểm tra, đánh giá có những bước phát triển mới Nhiều nhà nghiên cứu
đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng dạy - học
Thời gian qua, một số luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu vấn đề này nhưng còn rất ít
Trang 211.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
a Quản lý
Quản lý chính là một nghề, nó xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người Nhưng thuật ngữ “quản lý” được nhắc đến nhiều từ khi mà nhà lý luận quản lý kinh tế người pháp H.Fayon đưa ra Ông cho rằng “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp kiểm tra”
Theo Mác “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”
Theo O.V.Kollova “Quản lý là sự tính toán sử dụng các nguồn lực hợp
lý (nhân lực, vật lực) nhằm thực hiện các nhiệm vụ và đạt được kết quả tối ưu
về kinh tế xã hội”
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc hán) đã lột tả được bản chất hoạt động quản lý trong hoạt động thực tiễn Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau “quản” bao hàm coi sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái ổn định, “lý” bao hàm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ thống phát triển Như vậy, để hoạt động quản lý có hiệu quả thì nên có sự cân bằng hoạt động giữa hai quá trình trên
Theo Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” đã nêu “Quản lý là một quá trình được định hướng, quá trình
có mục tiêu Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [11]
Trong tập những bài giảng về quản lý trường học, tác giả Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là hoạt động có tiến tính định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các hoạt động có thể có, dựa trên thông tin về tình trạng của
Trang 22đối tượng, môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
và làm cho nó phát triển tới mục đích ổn định” [12]
Qua các khái niệm trên về quản lý có thể rút ra kết luận: Quản lý là một hoạt động mang tính hướng đích, có tổ chức, dưới tác động của nhà quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt đến mục tiêu định sẵn
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Quản lý giáo dục (cũng là khái niệm quản lý trường học): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động
đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN,… mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân” [9]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công
Trang 23tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [3]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (Bộ Giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [18]
Quản lý giáo dục được hiểu theo hai nghĩa cụ thể:
Theo nghĩa rộng: Quản lý giáo dục là quản lý mọi mặt hoạt động giáo
dục trong xã hội Quá trình đó bao gồm các hoạt động giáo dục và có tính giáo dục của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân
Theo nghĩa hẹp: Quản lý giáo dục bao gồm “Quản lý hệ thống giáo dục”
là hoạt động giáo dục và đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh và toàn quốc) và “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động giáo dục và đào tạo diễn ra trong các cơ sở giáo dục”
Quản lý giáo dục (Quản lý nhà trường) trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp theo quy luật của chủ thể quản lý (Hệ thống giáo dục) làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước mà tiêu điểm hội tụ của nó là quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ đạt yêu cầu mong muốn của
xã hội Quản lý giáo dục là yếu tố rất quan trọng tác động đến chất lượng đào tạo, là nhân tố quan trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, từ đó, đưa đất nước phát triển bền vững
Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt để cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân, trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương và cũng là hệ thống tự quản độc lập của xã hội
Trang 24* Chức năng của quản lý giáo dục
Khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và sự tiến bộ của phân công hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động Quá trình tạo ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn người lao động phải thực hiện một nhiệm vụ hay một chức năng nhất định Từ chức năng đó của khách thể quản lý (người lao động) làm xuất hiện một cách khách quan dạng hoạt động quản lý chuyên biệt nhất định tương ứng của chủ thể quản lý gọi là chức năng quản lý
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [18]
Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau Chúng phản ánh lôgic bên trong sự phát triển của hệ quản lý Sự phân chia chức năng quản lý bắt nguồn từ sự phân công và sự chuyên môn hóa lao động quản lý Khi phân tích cụ thể, ta thấy quản lý gồm bốn chức năng sau:
Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản Căn cứ vào quá trình phát triển của
tổ chức, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ có dự báo trạng thái kết thúc của tổ chức (và những trạng thái trung gian) vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và hệ thống các giải pháp, biện pháp, xác định có tính chắc chắn và đảm bảo sự cam kết về các nguồn lực, nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu
đã đề ra
Tổ chức chính là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn, là mối liên kết các bộ
phận tạo thành một hệ thống Để thực hiện chức năng này, nhà quản lý phải hình thành, sắp xếp cơ cấu bộ máy phù hợp với yêu cầu của công việc Phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị và hàng loạt các mục tiêu đã đề ra
Chỉ đạo là điều hành, huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch
Trang 25nhằm đảm bảo cho tổ chức vận hành thuận lợi Chỉ đạo là một chức năng mang tính tác nghiệp Trên thực tế nhà quản lý đã sử dụng quyền lực quản lý
để tác động đến các đối tượng bị quản lý, duy trì các mối quan hệ trong tổ chức, khiến cho hệ thống hoạt động đạt được mục tiêu Hiển nhiên, việc chỉ đạo được bắt đầu từ khi lập kế hoạch, thiết kế bộ máy hoàn chỉnh và xuyên suốt trong quá trình của hoạt động quản lý
Kiểm tra là một chức năng của mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết
quả hoạt động của hệ thống Thông qua đó, một cá nhân, một nhóm hoặc một
tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết, từ đó, có những quyết định điều chỉnh cho phù hợp với những chi phí bỏ ra Thực chất, công việc kiểm tra là gắn với
sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm và điều chỉnh mục tiêu
Tổng hợp tất cả các chức năng quản lý chính là cơ sở để phân công lao động quản lý giữa những cán bộ quản lý và cũng là nền tảng để hình thành cấu trúc của sự quản lý Điều đáng chú ý trong quá trình quản lý là nhà quản
lý phải thực hiện một dãy các chức năng kế tiếp nhau một cách lôgic, bắt đầu
từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cho đến khi kiểm tra kết quả đạt được và tổng kết quá trình quản lý Mỗi quá trình quản lý xảy ra trong thời gian cụ thể, nhất định Trong một chu trình quản lý, các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ là tương đối, bởi vì một số chức năng diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện chức năng khác
Ngoài 4 chức năng trên trong một chu trình quản lý chủ thể quản lý phải
sử dụng thông tin như là một công cụ để thực hiện các chức năng
Trang 26nhận xét; kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá Một số nhà khoa học giáo dục cho rằng: Kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá
và nhận xét
Kiểm tra trong giáo dục là nhằm theo dõi thu thập số liệu thông tin về một lĩnh vực nào đó làm chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, nhằm củng cố,
mở rộng, tăng cường việc học tập và phát triển của học sinh
- Kiểm tra thường xuyên
Việc kiểm tra thường xuyên môn Thể dục (kiểm tra miệng, kiểm tra kỹ năng thực hành, 15 phút và có thể kiểm tra viết) được thực hiện qua quan sát một cách có hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi học sinh nói riêng, qua các khâu ôn tập củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Kiểm tra thường xuyên giúp cho thầy kịp thời điều chỉnh cách dạy, trò kịp thời điều chỉnh cách học, tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sang những bước mới
phần mới
d Đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Theo
Trang 27Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị [28]
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập
và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo Có thể nói rằng, đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức
độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính [27]
Quy định tại Khoản 1, Điều 6 Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học
ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo” [15]
e Kết quả học tập của học sinh
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2005): “Kết quả học tập là mức độ kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực (môn học) nào đó” Kết quả học tập thể hiện chất lượng của quá trình dạy học Kết quả học tập đích thực chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhận thức Hành vi của người học Kết quả học tập được hiểu theo 2 nghĩa:
Mức độ người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (theo tiêu chí), hoặc là mức độ người học đạt được so với các người cùng học khác (theo tiêu chuẩn) [3]
f Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Từ hai khái niệm về kiểm tra và đánh giá trên, ta có thể hiểu KTĐG KQHT là sự so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ thực tế đạt được của HS để tìm hiểu và chẩn đoán trước và trong quá trình dạy học hoặc sau
Trang 28một quá trình học tập với kết quả mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạy học
Mối quan hệ giữa hai khâu này: kiểm tra là thu thập thông tin dùng làm căn cứ để đánh giá Việc thu thập thông tin càng chính xác thì việc đánh giá càng công bằng, khách quan và mới có sức thuyết phục, mới phát huy hiệu quả cuối cùng nhằm giúp người dạy, người học và người quản lý có căn cứ để
đề ra giải pháp điều chỉnh phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập và phương pháp quản lý để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học
1.2.2 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là tổng thể các công việc của cán bộ quản lý, giáo viên và người học, bao gồm việc đề ra cơ chế, chính sách, đề ra các giải pháp thực hiện, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra để thực hiện một cách tốt nhất tất cả các khâu trong quá trình kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập của người học và giúp cải thiện việc dạy và học
Cấp THCS, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2006 đến nay như
sau: Quyết định 40/2006/QĐ-BGD&ĐT (Quyết định 40) ngày 05/10/2006
ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS, THPT; Quyết định số 51/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/9/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định 40; Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT (Thông tư 58) ngày 12/12/2011 ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh THCS, THPT; Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH ngày 30/12/2010 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn soạn đề kiểm tra và một số quyết định, thông tư liên quan đến tuyển sinh THCS, THPT, thi tốt nghiệp THPT,…
Theo Quyết định 40 thì đánh giá, xếp loại học sinh có 2 lĩnh vực: Đánh giá hạnh kiểm của học sinh phải căn cứ vào biểu hiện cụ thể về thái độ và
Trang 29hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo, với bạn bè
và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quả tham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp, của trường và hoạt động xã hội; rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường; và đánh giá, xếp loại học lực căn cứ đánh giá học lực của học sinh là hoàn thành chương trình các môn học trong kế hoạch giáo dục của cấp THCS, THPT, kết quả đạt được ở các bài kiểm tra Học lực được xếp thành 5 loại: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu và Kém Hình thức kiểm tra, bao gồm KT thường xuyên (miệng, 15 phút), KT định kỳ (1 tiết, học kỳ) Việc đánh giá học tập được thực hiện bằng cách kiểm tra và cho điểm các bài kiểm tra, tính điểm trung bình môn học, điểm trung bình các môn học cuối học kỳ và cuối năm học
Thông tư 58 kế thừa Quyết định 40 và Quyết định 51, theo đó, các môn Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật thực hiện nhận xét với 2 bậc: Đạt và Chưa đạt, đồng thời xóa bỏ hệ số khi tính điểm trung bình các môn cuối học kỳ, cuối năm Quan điểm của Bộ GD&ĐT cho rằng vai trò các môn học ảnh hưởng đến sự trưởng thành của học sinh sau này là như nhau, do đó, không phân biệt môn chính, môn phụ Một số môn học quan trọng như Toán, Văn, Ngoại ngữ thì học sinh được học với thời lượng nhiều hơn và thường xuyên là môn thi tốt nghiệp THPT [25]
Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn soạn đề kiểm tra, một số yêu cầu được đặt ra như: Kiểm tra, đánh giá dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình THCS, THPT đã được Bộ ban hành; tăng cường câu hỏi mức độ thông hiểu, sáng tạo; ra đề bằng ma trận kiến thức, kỹ năng; khuyến khích đánh giá bằng nhiều phương pháp và một số kỹ thuật mới như kỹ thuật Rubric, đánh giá môn Giáo dục công dân vừa cho điểm vừa nhận xét,… Gần đây, đã xuất hiện một xu hướng ra các đề kiểm tra
“mở” để tạo cơ hội cho học sinh thể hiện những suy nghĩ, những ý tưởng sáng
Trang 30tạo của mình [6]
1.3 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC CỦA HỌC SINH
1.3.1 Vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập có một tầm quan trọng đặc biệt, nó là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Đây là khởi đầu cho một chu trình giáo dục, đồng thời cũng là kết thúc của chu trình giáo dục này để mở ra một chu trình giáo dục khác cao hơn Làm tốt khâu kiểm tra, đánh giá sẽ là một biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, nó “có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển việc học tập của học sinh, đẩy mạnh sự phát triển và công tác giáo dục trẻ em” Kiểm tra, đánh giá không chỉ
là công việc của giáo viên mà còn là công việc của HS GV kiểm tra, đánh giá
HS còn HS tự kiểm tra, đánh giá mình và kiểm tra, đánh giá lẫn nhau
1.3.2 Mục đích của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
a Mục đích dạy học của kiểm tra, đánh giá
KTĐG để thông báo cho HS biết được trình độ tiếp thu kiến thức và những kỹ năng đạt được so với yêu cầu của chương trình cũng như tiến bộ của HS trong học tập
KTĐG để phát hiện những sai sót và nguyên nhân sai sót giúp HS điều chỉnh hoạt động học; KTĐG giúp GV nắm được năng lực, trình độ, chẩn đoán nguyên nhân sai sót để quyết định điểm bắt đầu hay điểm tiếp theo trong quá trình giảng dạy; KTĐG nhằm mục đích định hướng và thúc đẩy quá trình học tập
b Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá
KTĐG giúp GV đối chiếu thành tích học tập của các HS trong lớp Qua đối chiếu, GV phân loại HS, định ra các chương trình học tập, rèn luyện phù hợp với cá nhân
Trang 31KTĐG nhằm phân loại xác nhận năng lực HS, chứng nhận trình độ của
HS khi ra trường; giúp HS có năng lực phù hợp với các yêu cầu của xã hội
c Mục đích giáo dục của kiểm tra, đánh giá
KTĐG giúp HS luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, tu dưỡng, nhằm khắc phục những khó khăn để vươn lên trong học tập
KTĐG chính xác kiến thức của HS giúp các em phát triển tinh thần tập thể, tạo ra được dư luận tập thể lành mạnh, đấu tranh với những biểu hiện sai trái; ủng hộ và động viên cái tốt, cái đúng, tạo điều kiện cho HS giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, tu dưỡng, đồng thời, giáo dục HS lòng tự trọng, tính chân thật, trung thực
1.3.3 Chức năng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Theo tác giả Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, kiểm tra, đánh giá có 3 chức năng cơ bản sau đây: [21]
- Chức năng sư phạm: kiểm tra, đánh giá thể hiện ở tác dụng có ích cho bản thân học sinh được kiểm tra cũng như chất lượng dạy của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy Qua đó, làm sáng tỏ thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh
- Chức năng xã hội: công khai hoá kết quả học tập của mỗi học sinh trong tập thể lớp, trường, thông báo nội dung kết quả học tập cho học sinh, gia đình và cho xã hội
- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực trạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến, cải tiến nào đó trong dạy học Tuỳ theo mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào
đó sẽ được đưa lên hàng đầu
Trong chức năng sư phạm của kiểm tra, đánh giá, bao gồm các chức năng sau đây:
+ Kiểm tra, đánh giá nhằm chẩn đoán
Trang 32Các bài kiểm tra có thể được sử dụng như một phương tiện để thu thập thông tin cần thiết, xác định các loại giáo trình, chương trình học sắp tới, hoặc cải tiến nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học
Nhờ việc xem xét kết quả kiểm tra, đánh giá sự nắm vững kiến thức, giáo viên biết rõ trình độ năng lực xuất phát của học sinh, từ đó, xem xét xác định nội dung và phương pháp dạy học cho các học sinh trong khoá học thích hợp Kết quả của các đợt kiểm tra, đánh giá cũng được dùng như một nhân tố quan trọng để chẩn đoán những năng lực đặc biệt của học sinh, hoặc cho học lên các lớp cao hơn, hoặc học những ngành có yêu cầu chất lượng đặc biệt Đồng thời, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tạo cơ hội cho giáo viên đề xuất, bổ sung những thiếu sót, tự điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích hỗ trợ những cải tiến, sáng kiến hoạt động dạy, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu dạy học
+ Kiểm tra, đánh giá để định hướng hoạt động dạy và học
Các bài kiểm tra có thể được sử dụng như một phương tiện, phương pháp dạy học: Đó là các bài kiểm tra từng phần, từng chương, kiểm tra thường xuyên được sử dụng như một biện pháp tích cực, hữu hiệu để chỉ đạo, định hướng hoạt động học, thông qua các bài kiểm tra để đánh giá, phát hiện những sai sót, những vấn đề học sinh chưa hiểu để kịp thời giúp đỡ Trong quá trình dạy học, nếu giáo viên thường xuyên kiểm tra việc học của học sinh bằng các bài kiểm tra được soạn thảo một cách cẩn thận, đáp ứng được yêu cầu dạy học, có thể xem như cách diễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể đối với các kiến thức, kỹ năng nhất định Nó có tác dụng định hướng học tập tích cực
và học sinh có thể liên tục tự kiểm tra mình, tự điều chỉnh được việc học của mình, hoặc tự so sánh hoặc noi theo tấm gương học tập với các bạn học sinh cùng lớp, cùng khoá
Qua một bài kiểm tra thấy có một nội dung dạy học nào đó mà đa số học
Trang 33sinh không hiểu bài, chưa nắm vững kiến thức, giáo viên tự phân tích và xử lý theo nhiều cách như so sánh các học sinh với nhau, kiểm tra lại cách đặt câu hỏi, thảo luận câu hỏi, xem lại phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy phù hợp với mục đích không, Như vậy, việc kiểm tra, đánh giá cẩn thận, thường xuyên trong quá trình giảng dạy có thể xem như một phương tiện dạy học, một phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh nắm vững được kiến thức một cách tích cực, sâu sắc Đồng thời, nó giúp cho giáo viên tự điều chỉnh quá trình giảng dạy cho có hiệu quả Để góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường THCS, chúng ta phải chú ý đến chức năng "Định hướng cho hoạt động dạy và học"
+ Kiểm tra, đánh giá để xác nhận kết quả học tập, để phân loại và so sánh
Kiểm tra, đánh giá nhằm xác nhận trình độ kiến thức, kỹ năng, phân loại học sinh và so sánh chúng với nhau Các chức năng này liên hệ mật thiết với nhau Hiện nay, việc kiểm tra, đánh giá được tiến hành trong giáo dục để cấp giấy chứng nhận vẫn còn là mục đích chính
Các chức năng sư phạm của kiểm tra, đánh giá nói trên đã được thực hiện tương ứng với quy trình kiểm tra, đánh giá sự nắm vững kiến thức, kỹ năng của học sinh theo những thời điểm khác nhau của quá trình dạy học môn Thể dục ở trường THCS Cụ thể:
+ Kiểm tra chất lượng khi bắt đầu học bộ môn
+ Kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong học kỳ
+ Kiểm tra, đánh giá cuối học kỳ
Các chức năng này luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau
Tuy nhiên, có thể có những kết hợp khác nhau tuỳ theo mục đích đối tượng, hình thức, phương pháp đánh giá Do đó, có thể trong từng trường hợp cụ thể,
một chức năng nào đó sẽ đóng vai trò quan trọng hơn các chức năng khác
Trang 341.3.4 Ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
KTĐG là một hoạt động thường xuyên, có vai trò đặc biệt quan trọng và quyết định đối với chất lượng đào tạo
Có thể thấy KTĐG có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt:
a Đối với học sinh
Hoạt động KTĐG thường xuyên và có hệ thống giúp cho người học thu được những thông tin “liên hệ ngược trong” về KQHT và giúp người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động học của mình
b Đối với giáo viên
Hoạt động KTĐG giúp cho GV thu được những thông tin “liên hệ ngược ngoài” về hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học nhằm điều chỉnh hoạt động dạy
c Đối với cán bộ quản lý
KTĐG kết quả học tập của HS cung cấp cho cán bộ quản lý những thông tin cần thiết về thực trạng dạy và học trong nhà trường để đánh giá hệ thống
tổ chức, quản lý nhà trường và các bộ phận phục vụ giảng dạy để có hướng chỉ đạo kịp thời, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
1.3.5 Mối quan hệ giữa kiểm tra, đánh giá
Từ các khái niệm về KTĐG kết quả học tập của HS, ta nhận thấy rằng, đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ HS Muốn đánh giá KQHT của HS thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của HS, sau đó, tiến hành đo lường để thu thập thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định Do vậy, kiểm tra, đánh giá KQHT của HS là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là KTĐG
KTĐG trong quá trình dạy học là hết sức phức tạp, luôn chứa đựng
Trang 35những nguy cơ sai lầm, không chính xác Do đó, người ta thường nói “kiểm tra, đánh giá” hoặc “đánh giá thông qua kiểm tra” để chứng tỏ mối quan hệ tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau giữa hai công việc này
1.3.6 Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đảm bảo tính khách quan, chính xác, công bằng, công khai, toàn diện, hệ thống, giáo dục và phát triển:
Đánh giá là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu đề ra
Khi đánh giá phải chọn mục tiêu rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được
GV cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng chúng có hiệu quả
Khi đánh giá, GV phải biết rằng đánh giá là một phương tiện để đi đến mục đích đánh giá Mục đích đánh giá là để có những quyết định đúng đắn, tối ưu nhất cho quá trình dạy học
Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của HS, nghĩa là trước tiên phải chú ý đến việc học tập của HS, sau đó, mới kích thích sự nổ lực học tập của HS, cuối cùng mới đánh giá năng lực học tập của HS
Đánh giá bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để HS nhận biết những sai sót của mình về kiến thức, kỹ năng, phương pháp để HS nghiên cứu, trao đổi thêm kiến thức
Qua những lỗi mắc phải của HS, GV cần rút kinh nghiệm để phát hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách dạy sao cho phù hợp với HS
Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng độ tin cậy và chính xác
Lôi cuốn và khuyến khích HS tham gia vào quá trình đánh giá
Trang 36GV phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để KTĐG giúp HS định hướng khi trả lời
Phải dựa trên những cơ sở của phương pháp dạy học mà xét kết quả của một câu trả lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết định về mặt sư phạm
1.3.7 Cơ sở để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để đánh giá KQHT của HS cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu môn học, mục đích học tập và đánh giá KQHT
- Mục tiêu của môn học là những gì HS cần phải đạt được sau khi học xong môn học, nó bao gồm các thành tố:
+ Hệ thống các kiến thức khoa học gồm cả các phương pháp nhận thức; + Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo;
+ Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế;
+ Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội
- Mục đích học tập là những gì HS cần có được sau khi đã học xong một đơn vị kiến thức, một kỹ thuật nào đó
Giữa mục tiêu môn học, mục đích học tập và đánh giá KQHT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập được xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được yêu cầu đề ra của công việc đánh giá KQHT của HS Mục tiêu của môn học và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung, chương trình, phương pháp, quy trình dạy học và học tập Đồng thời, nó cũng là cơ sở để chọn phương pháp và quy trình đánh giá KQHT của HS Đánh giá KQHT dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục
Trang 371.3.8 Xu thế đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục hiện nay
Đổi mới KTĐG từ điểm số sang đánh giá bằng nhận xét
Đánh giá vì sự tiến bộ của HS; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy tất cả những khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan
Đa dạng phương pháp, hình thức KTĐG; kết hợp đánh giá và tự đánh giá; kết hợp đánh giá của GV, HS và cha mẹ HS
Đánh giá sự tiến bộ của HS, không so sánh HS này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV và cha mẹ HS
1.3.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh THCS
Đặc điểm vị trí địa lý, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Nhận thức của các cấp về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT môn Thể dục của HS
Vai trò, trách nhiệm của các cấp đối với công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT của HS
Môi trường giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội tác động đến công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT của HS
Cơ sở vật chất, nguồn tài chính đầu tư cho công tác quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá KQHT của HS
1.4 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN THỂ DỤC Ở TRƯỜNG THCS
1.4.1 Mục tiêu hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS
a Kiểm tra, đánh giá định hướng và thúc đẩy quá trình học tập
Qua KTĐG, thông báo cho từng HS biết được trình độ tiếp thu kiến thức
Trang 38và những kỹ năng môn học của mình so với yêu cầu của chương trình cũng như sự tiến bộ của học trong quá trình học tập nhằm thúc đẩy tính tích cực,
hứng thú học tập
KTĐG giúp HS phát hiện những nguyên nhân sai sót cần phải bổ sung, điều chỉnh trong hoạt động học
b Kiểm tra, đánh giá để phân loại, xếp loại học sinh
Công khai hóa các nhận định về năng lực và KQHT của mỗi HS và mỗi tập thể lớp, tạo cơ hội để các em phát triển kỹ năng tự đánh giá để nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích, động viên các em học tập, có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời, đồng thời, qua đó giáo dục HS nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, có thêm niềm tin ở sức lực, khả năng của mình để từ đó có nhu cầu tự kiểm tra, đánh giá thường xuyên
c Kiểm tra, đánh giá thúc đẩy quá trình dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục
Kiểm tra, đánh giá giúp GV có cơ sở nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tích cực đổi mới phương pháp, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy học của mình đạt hiệu quả
Giúp các cấp quản lý, chỉ đạo, điều chỉnh quá trình dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học
1.4.2 Nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS
Kế hoạch kiểm tra của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, nhà trường, các tổ chuyên môn và của GV
Nội dung kiểm tra và đánh giá được căn cứ vào nội dung, chương trình của môn Thể dục cấp THCS
Nội dung kiểm tra và đánh giá căn cứ theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS
Trang 39Nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo độ tin cậy, tính giá trị, tính toàn diện về nội dung và các loại hình kiểm tra, đánh giá; đảm bảo sự kết hợp giữa sự đánh giá của GV với sự tự đánh giá của HS; kiểm tra và đánh giá kết quả đạt được và khả năng phát triển từng mặt của HS; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự tiến bộ của HS
1.4.3 Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử
lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, các giải pháp của các cấp quản lý giáo dục và cho bản thân học sinh, để học sinh học tập đạt kết quả tốt hơn Đánh giá kết quả học tập của học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp và hình thức khác nhau Đề kiểm tra là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của học sinh Đối với môn Thể dục, mục tiêu quan trọng nhất, xuyên suốt từ tiểu học đến THPT là góp phần giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, tuy nhiên, trong quá trình dạy học Thể dục, để có được các kỹ năng vận động (trình độ vận động) phải có kiến thức chuyên môn Thể dục bao gồm các khái niệm, các mối quan hệ, các thuật ngữ chuyên môn và diễn giải cách thức thực hiện động tác, trò chơi, bài tập; luật thi đấu; nguyên tắc tập luyện, phương pháp tập luyện,
HS cần phải biết, thậm chí phải hiểu để vận dụng vào trong quá trình tập luyện, thi đấu, tham gia hoạt động ngoại khóa, tự tập luyện, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau, Hơn thế nữa, đó là những kiến thức để HS có thể đọc các sách chuyên môn về Thể dục thể thao, góp phần nâng cao học vấn môn Thể dục Do đặc điểm của môn học là hình thành kiến thức kết hợp với tập luyện, bởi vì môn học Thể dục không có sách cho HS, nên việc cung cấp kiến thức
Trang 40môn học phải thông qua con đường nghe GV giảng giải, phân tích và giới thiệu của giáo viên về nội dung học, làm mẫu, nhận xét, HS nghe, quan sát, tập luyện, thảo luận, học kết hợp với thực hành nên kết quả học tập cần phải xác định được mức độ nắm được kiến thức được đánh giá theo các mức độ: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá
Hiện nay, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của HS có 2 loại là Đ (đạt) và CĐ (Chưa đạt) theo như quy định của Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
“Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông, thái độ tích cực và sự tiến bộ của học sinh để nhận xét kết quả các bài kiểm tra theo hai mức:
- Đạt yêu cầu (Đ): Nếu đảm bảo ít nhất một trong hai điều kiện sau:
+ Thực hiện được cơ bản các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra;
+ Có cố gắng, tích cực học tập và tiến bộ rõ rệt trong thực hiện các yêu cầuchuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra
- Chưa đạt yêu cầu (CĐ): Các trường hợp còn lại [25]
1.4.4 Quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS
Quy trình kiểm tra, đánh kết quả học tập của học sinh bao gồm các bước
sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá
Bước 2: Lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá
Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra, đánh giá
Bước 4: Soạn thảo công cụ: viết câu hỏi và thiết lập đề kiểm tra, đánh
giá
Bước 5: Phân tích, đánh giá đề kiểm tra, đánh giá