BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN HOÀNG THANH UYÊN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY LU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HOÀNG THANH UYÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HOÀNG THANH UYÊN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Thanh Uyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA 6
1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 6
1.1.1 Tổng quan về đào tạo từ xa ở các nước trên thế giới 6
1.1.2 Tổng quan về đào tạo từ xa ở Việt Nam 9
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 19
1.2.1 Quản lý 19
1.2.2 Đào tạo, hoạt động đào tạo 21
1.2.3 Đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa 22
1.2.4 Quản lý giáo dục, quản lý đào tạo và quản lý đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa 24
1.3 NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA ĐÀO TẠO THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 26
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA 29
1.4.1 Quản lý mục tiêu đào tạo 29
Trang 51.4.2 Quản lý tuyển sinh nhằm đạt được mục tiêu của đào tạo đại học
theo hình thức đào tạo từ xa 30
1.4.3 Quản lý chương trình đào tạo và nội dung đào tạo của chương trình 31
1.4.4 Quản lý hoạt động dạy và hoạt động học theo hình thức đào tạo từ xa 32
1.4.5.Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên 33
1.4.6 Quản lý việc cung cấp học liệu, phương tiện phục vụ cho công tác đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa 35
1.4.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 39
2.1 VÀI NÉT VỀ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 39
2.1.1 Khái quát về quá trình phát triển của Đại học Đà Nẵng 39
2.1.2 Về các ngành đào tạo và chất lượng sinh viên 40
2.1.3 Khái quát đặc điểm, nhiệm vụ, và các vấn đề ưu tiên của Đại học Đà Nẵng 40
2.1.4 Mục tiêu đào tạo của Đại học Đà Nẵng 41
2.1.5 Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên 42
2.1.6 Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 42
2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT 43
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 43
2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 43
2.2.3 Nội dung khảo sát 43
Trang 62.2.4 Phương pháp khảo sát 44
2.2.5 Thời gian tiến hành khảo sát 44
2.2.6 Xử lý kết quả khảo sát 44
2.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT 44
2.3.1 Thực trạng hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng 44
2.3.2 Mục tiêu đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng 47
2.3.3 Quy mô đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa 48
2.3.4 Chương trình đào tạo và số giờ tập trung 49
2.3.5 Công tác tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học 49
2.3.6 Công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV 50
2.3.7 Công tác cung ứng cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho công tác đào tạo từ xa 51
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 52
2.4.1 Quản lý công tác kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch 52
2.4.2 Quản lý chương trình đào tạo và số giờ tập trung 56
2.4.3 Quản lý hoạt động dạy và hoạt động học 57
2.4.4 Quản lý quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV 64
2.4.5 Quản lý cơ sở vật chất, phương tiện, học liệu phục vụ cho công tác đào tạo từ xa 70
2.4.6 Quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên tham gia giảng dạy đào tạo từ xa và học viên tại Đại học Đà Nẵng và tại các đơn vị liên kết 73
2.5 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG 74
2.5.1 Những mặt mạnh 74
2.5.2 Những mặt hạn chế 75
Trang 72.5.3 Thuận lợi 76
2.5.4 Khó khăn 76
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 78
3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP 78
3.1.1 Nguyên tắc tính kế thừa 78
3.1.2 Nguyên tắc tính hệ thống, tính toàn diện 79
3.1.3 Nguyên tắc tính thực tiễn 79
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo chất lượng và hiệu quả 80
3.2 CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ 80
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên và học viên về vai trò và đặc thù quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa 80
3.2.2 Sử dụng có điều chỉnh chương trình đào tạo, và nội dung của từng chương trình của hệ chính quy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phù hợp với hình thức đào tạo từ xa 85
3.2.3 Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, thúc đẩy giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy 86
3.2.4 Tăng cường quản lý hoạt động học của học viên, kích thích học viên tăng cường khâu tự học, đổi mới phương pháp học 90
3.2.5 Đổi mới công tác quản lý quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên 93
3.2.6 Đẩy mạnh phát triển cơ sở vật chất, thiết bị, học liệu phục vụ cho hoạt động đào tạo 97
Trang 83.2.7 Xây dựng cơ chế phối hợp công tác quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng với các đơn vị
liên kết 100
3.3 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 103
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL Cán bộ quản lý ĐHĐN Đại học Đà Nẵng ĐTTX Đào tạo từ xa GDTX Giáo dục thường xuyên
Trang 102.8 Đánh giá hình thức tổ chức học tập 58 2.9 Thực trạng giảng dạy theo giáo trình chung 60 2.10 Kết quả đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên hiện
2.11 Kết quả đánh giá mức độ mong muốn của người học
khi tham gia học từ xa 62 2.12 Đánh giá thái độ học tập của HV 63 2.13 Những nguyên nhân gây trở ngại trong quá trình học
2.14 Hình thức ra đề thi kết thúc học phần 66
Trang 112.15 Kết quả đánh giá việc thực hiện kế hoạch kiểm tra,
Trang 122.6 Biểu đồ thực trạng giảng dạy theo giáo trình chung 60 2.7 Biểu đồ lựa chọn hình thức thi kết thúc học phần 66 2.8 Biểu đồ đánh giá việc thực hiện kế hoạch kiểm tra,
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển cũng cần có rất nhiều nguồn lực như: nhân lực, tài lực, tài nguyên Trong đó, nguồn lực nhân lực là quan trọng nhất Bởi vì, muốn xã hội phát triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ cao, có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết của người lao động mới Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội cần phải có giáo dục Giáo dục trực tiếp đào tạo ra đội ngũ lao động đủ về số lượng, có trình độ cao để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất V.I.Lê Nin đã dạy: “Học, học nữa, học mãi” Tiếp thu lời dạy đó cùng với truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam, từ bao lâu nay những tấm gương hiếu học luôn là động lực cho bao thế hệ trẻ Việt Nam học tập, noi theo Ngày nay, theo xu thế phát triển của thời đại, thì việc chuyển từ Đại học tinh hoa sang Đại học đại chúng là tất yếu khách quan, điều đó tạo điều kiện cho người dân được học tập suốt đời
Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao và đa dạng của người dân, đặc biệt là người dân ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, góp phần nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ…Chính vì đó mà hình thức đào tạo từ xa được ra đời Đó là bước tiếp nối của hình thức đào tạo vừa làm vừa học, phát huy hơn nữa sự bình đẳng trong giáo dục
Đào tạo từ xa có những thuận lợi mà những loại hình đào tạo khác không đáp ứng được, đó là điều kiện mở về lựa chọn ngành nghề học, thủ tục đăng ký học tập dễ dàng, người học có thể tự quản lý quĩ thời gian của mình, đồng thời cũng giúp tiết kiệm hơn nữa chi phí đào tạo, trong khi tài liệu học
Trang 14tập tinh gọn mà rất phong phú nhờ vào khả năng sử dụng sự tiến bộ của kỹ thuật, công nghệ cao
Đại học Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số 32/CP ngày 04/4/1994 của Chính phủ, là một trong những đơn vị đầu tiên trong cả nước thực hiện hoạt động đào tạo từ xa Đại học Đà Nẵng có các chi nhánh rộng khắp từ Hà Nội vào đến TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Miền Tây như Cần Thơ, Trà Vinh, Bến Tre, các tỉnh Tây Nguyên Từ năm 1995 đến nay, Đại học Đà Nẵng với các ngành học đa dạng, đã không ngừng phát triển và thu hút số lượng học viên ngày càng tăng, đến nay có hơn 10.000 học viên đang theo học
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa của Đại học Đà Nẵng vẫn còn một số hạn chế như: một số học viên không coi trọng việc học hình thức đào tạo này, họ theo học với mục đích để có một tấm bằng đại học; tỉ lệ học viên bỏ học cao, đặc biệt là các khối ngành Kỹ thuật; một số giảng viên chưa dạy đủ số tiết học theo quy định; hoạt động tổ chức đào tạo còn nhiều bất cập…
Đồng thời, ngày càng có nhiều trường đại học được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước Mức độ cạnh tranh ngày càng cao, nguồn học viên tuyển sinh được càng bị hạn chế
Một số nguyên nhân được đưa ra để lý giải cho thực trạng này là: một
số giáo viên giảng dạy chưa thực sự nhiệt tình; việc cung cấp giáo trình đôi khi chậm và thiếu; kế hoạch học tập và thi kết thúc học phần còn bị động, do phụ thuộc vào giáo viên; kết quả thi không như mong đợi của học viên; thông tin cung cấp cho các đơn vị liên kết và học viên đôi khi chưa kịp thời;
và quan trọng hơn hết là việc tổ chức đào tạo chỉ dựa vào kinh nghiệm quản
lý của một số đồng nghiệp ở các trường mà chưa ban hành được một quy trình chuẩn
Là một chuyên viên phụ trách đào tạo đại học từ xa của Đại học Đà
Trang 15Nẵng, được phân công trực tiếp công việc giáo vụ, tôi luôn trăn trở với sự tồn tại và phát triển của cơ quan nơi mình đang công tác Vì vậy, việc khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học từ xa trong bối cảnh hiện nay là một việc làm cấp thiết, góp phần duy trì ổn định và phát triển Đại học Đà Nẵng
Từ những lý do trên, đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại
học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay” được tôi chọn làm vấn đề nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo tại Đại học Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa sẽ được nâng cao nếu
đề xuất được các biện pháp có liên quan đến các vấn đề: nhận thức của CBQL, GV, HV; Cải tiến tất cả các khâu của quá trình tổ chức đào tạo; Đổi mới phương thức liên kết giữa Đại học Đà Nẵng với các đơn vị liên kết
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa
Trang 165.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng, đồng thời khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích, khái quát hóa các tài liệu lý luận và các văn bản có liên quan đến quản lý đào tạo từ xa nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: sử dụng các tài liệu, số liệu có liên quan đến hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: để tiến hành điều tra về thực trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa, cũng như tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Phương pháp phỏng vấn: ngoài việc tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi, chúng tôi tiến hành phỏng vấn, trao đổi ý kiến với một số CBQL, chuyên viên, giảng viên, học viên đang theo học đại học hình thức đào tạo từ xa cũng như những người có quan tâm đến hình thức đào tạo này
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: trao đổi trực tiếp với một số CBQL của Đại học Đà Nẵng để thu thập thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài
6.3 Phương pháp thống kê thuật toán nhằm xử lý các kết quả điều tra
7 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu phân tích quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức
Trang 17đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng từ năm 2009 đến nay
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng
Chương 3 Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo hình thức đào tạo từ xa tại Đại học Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA
1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Tổng quan về đào tạo từ xa ở các nước trên thế giới
Các nhà khoa học tiên tiến từ lâu đã nêu quan điểm về vấn đề học tập suốt đời thông qua những phát biểu mà đến ngày nay vẫn là kim chỉ nam của người học như: “Bác học không có nghĩa là ngừng học” - Đác Uyn, “Học, học nữa, học mãi” - Lênin, “Đường đời là chiếc thang không nấc chót, việc học là cuốn sách không trang cuối cùng” - Kalinin, … Với những quan niệm này thì giáo dục thường xuyên luôn luôn là nhu cầu của người học
Nguyễn Như Ất, trong bài “Xây dựng mô hình xã hội học tập ở nước ta
và suy nghĩ về bài học từ Đông Kinh nghĩa thục” có đề cập đến luận điểm
“Học để tồn tại: thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai” với khái niệm “Học suốt đời” của Chủ tịch Ủy ban quốc tế về phát triển giáo dục Edgar Farue trước UNESCO năm 1972 Theo đó khái niệm “Xã hội học tập được các nhà khoa học giáo dục đặc biệt quan tâm, nghiên cứu để đi đến kết quả tất yếu là quan niệm giáo dục được mở rộng hơn, bao gồm cả giáo dục cho người lớn tuổi, giáo dục thường xuyên, giáo dục phi chính quy Từ đây có thể khẳng định tầm quan trọng của các hình thức giáo dục trên phải là một bộ phận cơ hữu, có đóng góp quan trọng cùng với giáo dục chính quy, hoàn thiện hóa quá trình học tập của người học [1]
Tháng 4 năm 1996, với tên gọi “học tập, một kho báu tiềm ẩn”, UNESCO công bố công trình của Jacques Delors, nguyên chủ tịch Ủy ban Châu Âu (EC) nhiệm kỳ 1985 - 1995 [26] và được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục thế kỷ XXI Trong chương trình này, tác giả dành chương
Trang 19V để phân tích việc học suốt đời Theo đó có thể tóm tắt triết lý của nền giáo dục cần thiết của thế kỷ XXI: Học tập suốt đời và xã hội học tập Nó vượt qua cách hiểu thông thường về giáo dục chính quy và không chính quy Học tập suốt đời gắn với quan niệm mới về một xã hội học tập, ở đó tất cả mọi thứ đều
có thể tạo ra cơ hội học tập để phát huy tiềm năng của mỗi người
Và tại Nhật Bản, ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, Nhật Bản đã cải cách giáo dục theo xu thế mở ra các điều kiện để mọi người dân được học suốt đời Trong những năm 1984 - 1987, Nhật Bản đề ra chủ trương: Phải xây dựng một thể chế giáo dục suốt đời quá độ sang hệ thống giáo dục mới ổn định
Tại Hàn Quốc, ngày 31/5/1995, Hội đồng về cải cách giáo dục đã nghiên cứu và cho xuất bản cuốn sách “hệ thống giáo dục mới”, mà quan điểm cơ bản là xây dựng một xã hội giáo dục sống động và mở cửa Một trong những hướng ưu tiên của chương trình cải cách này là đa dạng hóa các hình thức giáo dục, tạo ra nhiều cơ hội giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân được lựa chọn [17]
Xuất phát từ những quan điểm mới về giáo dục, hình thức đào tạo từ xa
ra đời và phát triển ở nhiều nước khác nhau trên thế giới
Dương Thị Mai Phương, trong luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp quản lý đào tạo từ xa tại Đại học Mở bán công thành phố Hồ Chí Minh”
đã trình bày sự hình thành và phát triển của đào tạo từ xa trên thế giới chịu tác động mạnh mẽ của hai nhân tố: (1) tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin; (2) nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu được học tập suốt đời của người dân [31]
a Vai trò của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin trong việc hình thành và phát triển đào tạo từ xa
Ra đời từ những năm 90 của thế kỷ 19, ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ,
Trang 20đào tạo từ xa đã được áp dụng Lúc đó, học viên học tập và nhận thông tin, bài giảng chủ yếu thông qua tài liệu in ấn và hệ thống bưu điện Đến đầu thế
kỷ 20, với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ và thông tin, đào tạo từ xa cũng có những bước tiến đáng kể Giữa thế kỷ 20, chương trình đào tạo từ xa được phát sóng trên truyền hình Học viên chỉ cần ngồi trước màn hình là có thể xem được quang cảnh diễn ra trong lớp học Những thập niên cuối thế kỷ 20, với hệ thống máy vi tính nối mạng, kỹ thuật số, đào tạo từ xa
đã vận dụng những ưu điểm đó để chuyển tải thông tin, học liệu một cách nhanh chóng, chính xác
Các chương trình đào tạo từ xa được thiết kế và tiến hành bằng công nghệ thông tin hiện đại thậm chí đã làm thay đổi cách dạy - học trong hệ thống đào tạo truyền thống (mặt giáp mặt)
b Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu được học tập suốt đời của người dân
Chúng ta đã biết rằng hình thức đào tạo học từ xa đã có ở hầu hết các nước trên thế giới, nhiều nước tiên tiến đã áp dụng phương thức này cách đây hàng 100 năm Trong thực tế nhiều nhà khoa học; nhiều doanh nhân, nhiều tỷ phú nổi tiếng trên thế giới do không có điều kiện để theo học chính quy; để có được vốn kiến thức phục vụ nhân loại, để tiến thân lập nghiệp thì vốn kiến thức đó đều đã được tích lũy từ phương thức học tập từ xa
Để đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân và yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành và phát triển hình thức đào tạo từ xa song hành với hình thức giáo dục truyền thống Hình thức đào tạo từ xa tạo cơ hội cho tất cả những ai có nhu cầu học tập được học, nó biểu thị tính nhân văn sâu sắc trong nền giáo dục mà mọi người đều có quyền bình đẳng được hưởng thụ nền giáo dục để tự hoàn thiện mình
Trang 21Từ lúc hình thành và phát triển, đào tạo từ xa đã đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
và xã hội của đất nước
1.1.2 Tổng quan về đào tạo từ xa ở Việt Nam
Sự phát triển nhanh chóng của Khoa học và Công nghệ cùng với sự gia tăng dân số đã và đang tạo ra nhu cầu được học, được đào tạo ngày càng lớn nhằm tìm kiếm việc làm Nhu cầu này ngày càng tăng sức ép mạnh mẽ đến hệ thống giáo dục chính quy truyền thống Trong khi đó các nguồn lực của Nhà nước bao gồm cơ sở vật chất và khả năng tài chính còn hạn chế, không đủ sức
mở rộng hơn nữa hệ thống giáo dục chính quy Tìm kiếm các giải pháp khác nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đang ngày một gia tăng của người dân là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới Giáo dục thường xuyên là một giải pháp hiệu quả trong việc giải quyết nhiệm vụ nêu trên đã và đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới và ở nước ta: “Giáo dục thường xuyên là một triết lý, một tư tưởng giáo dục của thời đại mà nhiều hệ thống giáo dục của các nước trên thế giới đang theo đuổi nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người trong xã hội, đảm bảo cho người học có thể vừa làm việc vừa học tập, học liên tục, học suốt đời” [17, tr.3]
Điều 44 Luật Giáo dục (2005) tái khẳng định: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm cải thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp
vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống
xã hội Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập” [12, tr.37]
Năm 1997, theo tác giả Nguyễn Kim Truy trong đề tài “Nghiên cứu ứng dụng đào tạo từ xa ở Việt Nam”, đào tạo từ xa của Việt Nam còn rất mới
mẻ Hầu hết nhiều người dân còn chưa biết đến loại hình đào tạo từ xa, vì vậy
Trang 22khi áp dụng phương thức đào tạo từ xa vào hệ thống giáo dục Việt Nam, đề tài đã nghiên cứu và chỉ ra được: (i) Đối tượng nào có nhu cầu đào tạo từ xa, (ii) Định hướng nhu cầu này như thế nào ở Việt Nam, (iii) Công nghệ đào tạo
từ xa nào phù hợp với nước ta, (iv) Thiết lập hệ thống đào tạo như thế nào, (v) Chính sách nhà nước đối loại hình này như thế nào Để trả lời được các câu hỏi trên, đề tài hướng đến các công việc nghiên cứu chính là: (1) Khảo sát nhu cầu về đào tạo từ xa ở Việt Nam, (ii) Điều tra nhu cầu và phân tích nhu cầu, (iii) Dạy và học từ xa như thế nào, (iv) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ đào tạo từ xa, (v) Thiết kế giáo trình đào tạo từ xa, (vi) Mạng lưới đào tạo từ xa Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được đưa vào ứng dụng thực tế cho việc thiết kế giáo trình đào tạo từ xa, sản xuất băng tiếng hướng dẫn học tập các môn học phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, các băng hình dạy học và đề
ra phương pháp kiểm tra đánh giá học viên theo hình thức đào tạo từ xa Đây
là một trong những đề tài đầu tiên nghiên cứu về đào tạo từ xa ở nước ta, góp phần đưa đào tạo từ xa trở thành một trong các phương thức đào tạo trong hệ thống giáo dục Quốc dân tại Việt Nam [41]
Nghiên cứu vai trò của đào tạo Mở và Từ xa đối với hệ thống đào tạo đại học ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, năm 2009, tác giả Lâm Quang Thiệp [38] cho biết vai trò của giáo dục Mở và Từ xa trong thời đại công nghệ thông tin và truyền thông và kinh tế tri thức là giáo dục suốt đời và xã hội học tập Nghiên cứu đánh giá: ở nước ta đào tạo từ xa chưa được quan tâm đúng mức,
và có hai gây cấn lớn trong sự phát triển giáo dục đại học ở nước ta hiện nay: (i) Quy mô giáo dục đại học bùng nổ nhưng chất lượng không đảm bảo vì không thể tăng nhanh số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên, (ii) Hệ thống đào tạo không chính quy có chất lượng rất thấp, làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng đào tạo đại học, nhưng chưa tìm thấy phương án khả thi để khắc phục Nghiên cứu cho rằng: khi triển khai đào tạo Mở và Từ xa cần phải sử
Trang 23dụng đúng đắn các công nghệ đặc trưng cho nó, khi ấy có thể khai thác đào tạo Mở và Từ xa để giải quyết các gây cấn của phát triển giáo dục đại học nói trên Cụ thể là, nhà nước cần đầu tư ban đầu thích đáng để xây dựng cơ sở hạ tầng đào tạo Mở và Từ xa để triển khai đào tạo không chính quy trong đào tạo đại học Để đảm bảo chất lượng của hệ thống đào tạo không chính quy, cần tổ chức lại hệ thống đào tạo không chính quy một cách chuyên nghiệp hơn, áp dụng đào tạo cho số đông đặc trưng của hệ đào tạo giáo dục Mở và Từ xa
Trong Kỷ yếu đào tạo trực tuyến tại Việt Nam, tác giả Trương Quang Dũng với bài “Từ thực trạng mô hình giáo dục từ xa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đề xuất thêm một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo” đã phân tích mục tiêu của đào tạo từ xa là “đưa giáo dục đến với mọi người, thay
vì mỗi người tự tìm đến giáo dục; tạo cơ hội cho nhiều người được học, học suốt đời Học viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa đều có thể theo học đại học qua các phương tiện truyền tải thông tin Thế mạnh này có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện các chính sách dân tộc, công bằng xã hội về cơ hội học tập và tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền khác nhau của đất nước [45, tr.17]
Về quá trình hình thành và phát triển ĐTTX ở Việt Nam được Lê Nam Hải trình bày trong báo cáo nghiên cứu khoa học: “Đào tạo từ xa - nhìn một cách toàn cảnh (tổng thuật và nhận định)”, đào tạo từ xa xuất hiện ở Việt Nam
từ những năm đầu của thập kỷ 60 dưới hình thức dạy - học hàm thụ Đào tạo
từ xa được Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, lúc ấy nguyên là Thứ trưởng Bộ Giáo dục nghiên cứu triển khai tại Sở Giáo dục Hải Phòng những năm 1960 và kết quả đã được xã hội thừa nhận [20]
Với cách học này, tài liệu in ấn được phân phát tới học viên qua hệ thống bưu điện Trong những năm của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-
Trang 241965) phương thức dạy - học hàm thụ đã đóng góp đáng kể cho công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội
Tuy nhiên, trong những năm xảy ra chiến tranh và những năm sau đó,
do hậu quả của chiến tranh cũng như những khó khăn về kinh tế, đào tạo từ xa hầu như không được tiến hành và phát triển được
Đến năm 1993, để phát triển hình thức đào tạo từ xa, Chính phủ đã cho phép thành lập 2 trường đại học mở đầu tiên trong trong cả nước, là đại học
Mở Hà Nội và đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh với nhiệm vụ đào tạo cử nhân hình thức đào tạo từ xa cho cả nước
Trường Đại học Mở Bán công Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 389/QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/7/1993 trên cơ sở của Viện đào tạo Mở rộng với chức năng và nhiệm vụ “là cơ sở đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, đào tạo tại các điểm vệ tinh… nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng cường đội ngũ khoa học - kỹ thuật cho đất nước”
Được thành lập ngày 03/11/1993 theo Quyết định số 535/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Viện Đại học Mở Hà Nội là một trường đại học công lập hoạt động trong hệ thống các trường đại học quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý Viện Đại học Mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm lực cán bộ khoa học - kỹ thuật cho đất nước
Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN) ra đời theo Nghị định số 32/CP ngày 04/4/1994 của Chính phủ Đại học Đà Nẵng đến nay đã trãi qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển Ngoài các hệ đào tạo chính quy, vừa làm vừa học, từ năm 1999, Đại học Đà Nẵng còn triển khai đào tạo đại học từ xa các ngành kinh tế, kỹ thuật, sư phạm và ngoại ngữ Không những có uy tín đối với người
Trang 25học, Đại học Đà Nẵng còn là sự lựa chọn đáng tin cậy của các đơn vị liên kết đào tạo Học viên của Đại học Đà Nẵng thông qua các đơn vị liên kết đào tạo đang học tập tại 14 tỉnh, thành phố trong cả nước [46]
Với nhu cầu học tập ngày càng tăng, để phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục từ xa, ngày 04/7/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 164/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn
2005 - 2010” với mục tiêu “phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục từ xa”
và nhiệm vụ chủ yếu là “Phát triển phương thức giáo dục từ xa ở các trường đại học, cao đẳng Phấn đấu đến năm 2010 có ít nhất 20% sinh viên học tập theo phương thức giáo dục từ xa” Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ
đề ra, đề án cũng đã đề xuất các giải pháp như: hoàn thiện chức năng, nhiệm
vụ của các cơ sở giáo dục từ xa hiện có; chỉ đạo, tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các trường bằng nhiều hình thức khác nhau để nghiên cứu, thiết kế học liệu dùng chung cho các trường; áp dụng rộng rãi phương thức giáo dục từ xa
để thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên; tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về giáo dục từ xa; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục từ
xa [39]
Từ định hướng trên, trong xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020, ngành Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục thường xuyên tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình; bước đầu hình thành xã hội học tập Chất lượng giáo dục thường xuyên được nâng cao, giúp người học có kiến thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần [11]
Trong diễn văn bế mạc tại Diễn đàn quốc tế giáo dục Việt Nam về:
“Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” ngày 23 tháng 6 năm 2004,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã nhấn mạnh: Trước
Trang 26hết, cần giải bài toán quan hệ giữa quy mô và chất lượng giáo dục đại học theo hướng từng bước thực hiện đại chúng hóa giáo dục nhờ nhiều giải pháp
mà tinh thần cơ bản là đa dạng hóa trình độ, loại hình đào tạo; tăng cường các hình thức đào tạo truyền thống, chú trọng phương thức giáo dục từ xa…[23, tr.11]
Những năm gần đây, có nhiều đề tài nghiên cứu về phát triển đào tạo từ
xa, các luận văn thạc sĩ đã được công bố đã đề xuất các giải pháp về quản lý hoạt động đào tạo từ xa, cụ thể như:
Các tác giả Vũ Đình Ruyệt, Thái Xuân Đào, Nghiêm Xuân Lượng, tác giả Tô Bá Trượng đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục thường xuyên trong việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của giáo dục trong ấn phẩm “Giáo dục thường xuyên - Thực trạng và định hướng phát triển ở Việt Nam” đã khẳng định giáo dục thường xuyên là chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI
Khi bàn về chất lượng đào tạo không chính quy, tác giả Nguyễn Đình Phan với bài: “Một số ý kiến về đào tạo không chính quy tại trường Đại học Kinh tế quốc dân” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 3 năm 2004 đã đề ra một
số biện pháp đảm bảo chất lượng đào tạo không chính quy tại trường Đại học Kinh tế quốc dân
Tác giả Thái Xuân Đào trong bài: “Hội nhập kinh tế quốc tế; những cơ
hội và thách thức đối với phát triển giáo dục không chính quy” đăng trong kỷ
yếu Hội thảo Giáo dục Việt Nam, Viện chiến lược và chương trình giáo dục,
Hà Nội, 11/2005 đã chỉ ra một bức tranh toàn diện về sự phát triển tất yếu, những thách thức của giáo dục không chính quy [44, tr.14]
Tác giả Vũ Đức Thi với đề tài nghiên cứu: “Hệ thống hỗ trợ phát triển giáo dục điện tử và đào tạo từ xa” - năm 2006 Kết quả đạt được là xây dựng
hệ thống đào tạo qua mạng Internet cho đối tượng là sinh viên và các cán bộ
có nhu cầu trang bị kiến thức công nghệ thông tin, triển khai một hệ thống
Trang 27đào tạo qua mạng tại Phân viện Công nghệ thông tin thành phố Hồ Chí Minh…
Tác giả Đỗ Xuân Thảo với bài tham luận tại hội thảo “Đổi mới quản lý nâng cao chất lượng đào tạo từ xa” tổ chức tại Viện Đại học Mở Hà Nội phát biểu như sau: “Phát triển giáo dục từ xa được coi là một giải pháp có tính khả thi nhằm thực hiện các chiến lược về giáo dục và đào tạo nước nhà, tiến tới xây dựng một xã hội học tập Sự phát triển không ngừng của xã hội đòi hỏi ai cũng phải học - học suốt đời” [37]
Dương Thị Mai Phương với đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng và giải pháp quản lý đào tạo từ xa tại Đại học Mở bán công thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 - 2010” - năm 2006 Trong đề tài này, tác giả đã tiến hành tìm hiểu một số thực trạng hoạt động quản lý đào tạo từ xa tại trường Đại học Mở Bán công thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý đào tạo từ xa trong giai đoạn 2005 - 2010 như đổi mới chương trình đào tạo từ xa, đổi mới công nghệ đào tạo từ xa, trang thiết bị cơ sở vật chất - kỹ thuật phục
vụ cho đào tạo từ xa, tổ chức bộ máy quản lý phục vụ đào tạo từ xa, đội ngũ giảng viên,…đồng thời có một số đề xuất đối với Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo [31]
Đỗ Thị Thu Hương với đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo phương thức giáo dục từ xa tại Trung tâm Đào tạo thường xuyên
- Đại học Đà Nẵng” - năm 2009 Trong đề tài này, tác giả cũng đã tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo đại học theo phương thức giáo dục từ xa tại Trung tâm Đào tạo thường xuyên - Đại học Đà Nẵng, qua đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đào tạo [25]
Đoàn Thị Mỹ Hạnh với đề tài: “Biện pháp quản lý công tác đào tạo từ
xa của Trường Đại học Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay” - năm 2013 Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả đã xây dựng bộ công cụ khảo sát bằng bộ
Trang 28phiếu hỏi nhằm làm rõ thực trạng và một số biện pháp quản lý công tác đào tạo từ xa tại Trường Đại học Trà Vinh Trên cơ sở kết quả khảo sát thu được, tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý công tác đào tạo từ xa tại trường Đại học Trà Vinh như nâng cao nhận thức của GV, CBQL và HV về vai trò
và đặc thù quản lý theo hình thức ĐTTX, tăng cường công tác phối hợp trong quản lý ĐTTX, cải tiến nội dung, chương trình đào tạo theo hình thức ĐTTX, tăng cường quản lý thực hiện chương trình đào tạo, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả,…Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị đối với
Bộ Giáo dục và Đào tạo, cũng như đối với Trường Đại học Trà Vinh [21]
Để các cơ sở đào tạo thực hiện tốt hơn nữa các hoạt động đào tạo đào tạo từ xa, ngày 15/10/2013, Bộ Giáo dục Đào tạo đưa ra dự thảo lần 2 Thông
tư Ban hành Quy chế đào tạo từ xa trình độ cao đẳng, đại học với mục đích thay thế các quy định đối với chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trình
độ cao đẳng, đại học theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT, ngày 08 tháng 8 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên, đến nay Quy chế này vẫn chưa chính thức được ban hành [7]
Ngoài ra, để hoạt động đào tạo đại học từ xa được thực hiện một cách tối ưu nhất, các cơ sở giáo dục đào tạo cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo, hội nghị liên kết đào tạo Qua đó, để nhìn lại những chặng đường đã qua, những mặt đã và chưa làm được của loại hình đào tạo này Cụ thể như:
“Hội thảo khoa học quốc gia về giáo dục Mở và Từ xa 2009” diễn ra ngày 23/10/2009 tại Hà Nội Đây là hội thảo cấp quốc gia đầu tiên ở Việt Nam về giáo dục Mở và Từ xa, do Viện Đại học Mở Hà Nội đăng cai tổ chức, đồng thời nhằm chuẩn bị cho Hội nghị thường niên lần thứ 24 của Hiệp hội các trường đại học Mở châu Á (AAOU) năm 2010 tại Việt Nam Tại hội thảo, theo ông Phạm Minh Tiến, Vụ Giáo dục Đại học - Bộ Giáo dục và Đào tạo, phấn đấu đến năm 2010 có ít nhất 20% sinh viên học tập theo phương thức
Trang 29giáo dục từ xa tương ứng với 300.000 HV Dự báo đến năm 2020 có khoảng 30% số HV học từ xa, tương ứng với 500.000 người Ngoài ra, hàng triệu người có nhu cầu theo học từ xa các chương trình ngắn hạn khác [8]
Với chủ đề “Tăng cường cơ hội và xóa bỏ những rào cản đối với giáo dục suốt đời”, hội thảo nhằm đánh giá vai trò của giáo dục từ xa trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời rà soát chính sách, đầu tư và hệ thống văn bản, đối chiếu với nhu cầu thực tiễn và định hướng phát triển giáo dục từ xa Đây cũng là một diễn đàn cho nhà quản lý và các cơ sở GDTX trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục từ xa, tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong hình thức giáo dục này Hội thảo đã thu hút gần 30 báo cáo, đề tài của các nhà khoa học, nhà quản lý và các cơ sở GDTX trong cả nước
Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Đào tạo trực tuyến trong nhà trường Việt Nam - thực trạng và giải pháp” vào ngày 05/12/2008 nhằm trao đổi kinh nghiệm về mô hình đào tạo trực tuyến của nhà trường; kinh nghiệm của những nhà quản lý giáo dục về việc tổ chức quản lý, đầu tư sử dụng thiết bị và phần mềm trong đào tạo trực tuyến; giới thiệu, trao đổi ý kiến của các chuyên gia, kỹ thuật viên trong việc quản lý bài giảng…; những giải pháp thực hiện đào tạo trực tuyến trong thời kỳ phát triển, đổi mới giáo dục [45]
Đại học Đà Nẵng tổ chức hội nghị liên kết đào tạo đại học từ xa ngày 03/8/2012 với mục tiêu: “Hướng đến sự hoàn thiện và phát triển” Hội nghị nhằm tổng kết, nhìn lại công tác đào tạo từ xa trong thời gian qua, từ đó định hướng, đề ra các giải pháp đổi mới công tác đào tạo từ xa của Đại học Đà Nẵng trong thời gian tới Theo báo cáo tổng kết tại Hội nghị, sau 13 năm triển khai phương thức đào tạo từ xa, Đại học Đà Nẵng đã đào tạo 36.761 học viên Tại Hội nghị, Đại học Đà Nẵng đã lắng nghe các tham luận, các ý kiến đóng
Trang 30góp về quá trình tổ chức đào tạo từ xa; công tác phối hợp giữa Đại học Đà Nẵng và các đơn vị liên kết; xây dựng giáo trình, học liệu, kế hoạch học tập thuận lợi hơn cho người học… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức, chất lượng đào tạo từ xa [46]
Trường Đại học Cần Thơ: “Hội nghị liên kết đào tạo với các đơn vị liên kết đào tạo” - năm 2015 Tại Hội nghị, Trường Đại học Cần Thơ đã báo cáo, đánh giá hiệu quả công tác liên kết đào tạo với các đơn vị liên kết trong thời gian qua; đồng thời tiếp thu những ý kiến đóng góp, các đề xuất để công tác liên kết giữa trường với các đơn vị liên kết ngày càng hiệu quả, phục vụ tốt công tác đào tạo
Đánh giá chung về kết quả đạt được: Sau gần 16 năm (1994 - 2009) triển khai thực hiện, theo ông Nguyễn Hồng Sơn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục thường xuyên Bộ Giáo Dục và Đào tạo, đến cuối năm 2009, đã có 159.947 người tốt nghiệp đại học theo hình thức học từ xa và hiện có 232.781 người đang theo học hình thức này Nhờ hình thức đào tạo này mà nhiều giáo viên, cán bộ công chức và người lao động ở các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long có cơ hội được tiếp cận với trình độ giáo dục đại học [36, tr.30]
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học từ xa Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc vận dụng các biện pháp này chưa mang lại hiệu quả Trong khi
đó, đào tạo đại học từ xa là một trong các loại hình đào tạo đang được xã hội quan tâm Các trường đại học trong cả nước được phép đào tạo đại học từ xa ngày càng nhiều Do đó, trong thời gian vừa qua, số lượng học viên đăng ký theo học đại học từ xa tại Đại học Đà Nẵng ngày càng giảm và có không ít trong số đó không theo học đến cùng của chương trình đào tạo Đồng thời, có nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả và chất lượng của loại hình đào tạo này
Trang 31Như vậy, nghiên cứu về ĐTTX cả từ góc độ lý luận và thực tiễn quản
lý phương thức đào tạo này đã có nhiều thập niên trên thế giới, với VN cũng
đã vài thập niên, tuy vậy, ĐTTX trong bối cảnh mới ở Việt Nam nói chung và
ở Đà Nẵng nói riêng có nhiều vấn đề đặt ra cần nghiên cứu
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
K.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động
xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực tiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy Một nghệ sĩ
vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [9, tr.480]
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong
muốn” [29, tr.27]
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý)
đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” Như vậy theo tác giả, hiện nay
hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn, “quản lý là quá trình đạt
Trang 32đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [10, tr.9]
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [15, tr.7]
Theo Lê Quang Sơn: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý” [33, tr.2]
Từ những định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể nói rằng quản lý là một quá trình mang tính xã hội, xuất hiện cùng với sự hợp tác và phân công lao động ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tóm lại:
Quản lý là toàn bộ những biện pháp được phối hợp nhằm đạt được mục đích nhất định
Quản lý là quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Do đó, quản lý phải bao gồm 2 yếu tố chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Quản lý bao giờ cũng là tác động hướng đích, có mục tiêu xác định Dưới những tác động này các đối tượng sẽ biến đổi theo các mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý Trong giáo dục, đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến cán bộ giảng dạy, học viên và các lực lượng khác nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu giáo dục
Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các
Trang 33quá trình và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với các quy luật khách quan
1.2.2 Đào tạo, hoạt động đào tạo
Đào tạo là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước [22]
Theo Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ … để hình thành và hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả” [16, tr.11]
b Hoạt động đào tạo
Hoạt động đào tạo là một hoạt động giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục của mỗi chuyên ngành đào tạo Hoạt động này được cấu trúc bởi các thành tố như mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, chủ thể đào tạo và đối tượng đào tạo, các điều kiện đào tạo (tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, môi trường đào tạo), kết quả đào tạo (chất lượng
và hiệu quả đào tạo tương xứng với mục tiêu đào tạo) và công tác quản lý đào tạo
Trang 341.2.3 Đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa
Hiện nay, có nhiều thuật ngữ được sử dụng để mô tả khái niệm giáo dục - đào tạo từ xa, chẳng hạn như Giáo dục mở, Giáo dục từ xa, Dạy từ xa, Học từ xa, Đào tạo từ xa hoặc Giáo dục ở xa…
Theo giáo sư Sonja Ruehl - trường Tổng hợp Luân Đôn thì về cơ bản, đào tạo từ xa được thực hiện thông qua các phương pháp và phương tiện thông tin chứ không phải thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa người dạy và người học Đặc điểm phân biệt của các phương pháp đào tạo từ xa là tính tương hỗ, thể hiện ở sự tác động qua lại giữa người học và tài liệu học tập Đây là một phương pháp sư phạm mà trong đó quá trình và ý thức học tập tự giác cao của học viên được nhấn mạnh Các nội dung, phương pháp, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập được thiết kế phù hợp với quá trình tự học
đó Mục tiêu hàng đầu của chương trình đào tạo này là hướng dẫn, giúp người học bổ sung, nâng cao kiến thức, có kỹ năng phân tích, lập luận tốt Ngoài ra,
họ còn phải nắm được những kỹ năng viết, kỹ năng trình bày các bài viết, các công trình nghiên cứu một cách rõ ràng, dễ hiểu, chặt chẽ và có sức thuyết phục cao [49]
Ở Việt Nam, đào tạo từ xa là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo phần lớn có gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian [6, tr.2]
Người học theo hình thức ĐTTX chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu qua tài liệu như giáo trình in, băng hình, băng tiếng, CD-ROM, giáo trình điện tử, mạng Internet…dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường ĐTTX đòi hỏi người học phải tự lực, tự giác, kiên trì và quyết tâm cao mới có thể hoàn thành chương trình học tập của mình
Một cách tổng quát, đào tạo từ xa là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp theo phương pháp dạy học từ xa
Trang 35Như vậy, đào tạo từ xa bao gồm các đặc điểm chủ yếu dưới đây:
- Giảng viên và học viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách
về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)
- Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối
tới cho học viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính
- Có sự tổ chức và hướng dẫn của các cơ sở đào tạo để phát huy cao
nhất sự nỗ lực tự học của người học
- Có sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, các loại học liệu như tài liệu in ấn, các phương tiện nghe - nhìn, máy vi tính…
- Sử dụng phương tiện thông tin hai chiều trong quá trình dạy học
- Có sự trợ giúp của các giáo viên hướng dẫn; tỷ lệ hướng dẫn, phụ đạo tập trung tùy thuộc vào nội dung học tập và phương tiện giảng dạy
Tuỳ theo phương thức phân phối các nội dung dạy học và sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và học viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiện đào tạo từ xa khác nhau
Quy trình ĐTTX gồm có 3 công đoạn chính [6,tr.2]:
- Xuất phát từ nhu cầu và đặc điểm của từng loại đối tượng học từ xa, nhà trường xây dựng chương trình kế hoạch đào tạo phù hợp cho từng khóa; sản xuất học liệu gồm các giáo trình, các tài liệu in ấn khác, băng hình, băng tiếng, các chương trình phát thanh, truyền hình, phần mềm vi tính, đĩa CD-ROM, các trang Web trên mạng Internet
- Tổ chức quá trình dạy học, gồm chuyển các học liệu đến tay người học; tổ chức các chương trình phát thanh, truyền hình, các cầu truyền hình
Trang 36trực tiếp, hai chiều; tổ chức tư vấn, hướng dẫn; tổ chức các đợt tập trung để
ôn tập, giải đáp các thắc mắc
- Tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quy trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng ĐTTX
Phương thức đào tạo từ xa có nhiều ưu điểm hấp dẫn người học hơn so với các loại hình đào tạo khác: [14, tr.27]
Thứ nhất: Không phải thi tuyển đầu vào mà chỉ xét tuyển, giúp cho người có nhu cầu theo học tránh được áp lực thi cử, đặc biệt là các đối tượng
đã tốt nghiệp THPT, BTTH và tương đương Đây là một quy định hợp lý đối với loại hình đào tạo này nhằm tạo điều kiện cho nhiều đối tượng, nhất là những người lớn tuổi
Thứ hai: Hình thức đào tạo từ xa lấy tự học là chính, thời gian học tập trung ít (bao gồm ôn tập giải đáp thắc mắc, thi hết học phần, thi tốt nghiệp) và chỉ diễn ra vào các ngày cuối tuần Đây là điều kiện thuận lợi cho người học
Thứ ba: Chi phí cho quá trình đào tạo ít hơn so với các loại hình đào tạo khác, mặt khác học liệu được cơ cấu trong học phí nên HV không phải tốn thêm chi phí cho học liệu
1.2.4 Quản lý giáo dục, quản lý đào tạo và quản lý đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa
a Quản lý giáo dục
Quan niệm của tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy
mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr.3]
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận
Trang 37hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái
về chất” [19, tr.7]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32, tr.31]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” hoặc “Quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu giáo dục trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [27, tr.15]
Như vậy Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên
lý, phương pháp … chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục đề ra
b Quản lý đào tạo
Quản lý giáo dục (nói chung) và quản lý đào tạo (nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục nhằm đạt đến mục tiêu của giáo dục đào tạo
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2000, đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực
Trang 38theo những tiêu chuẩn nhất định Quản lý đào tạo là tổ chức và điều khiển con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Quản lý
và đào tạo đại học là tổ chức và điều khiển để làm cho trở thành con người có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo
c Quản lý đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa
Quản lý đào tạo từ xa là việc tác động có mục đích, có kế hoạch đến tất
cả các vấn đề liên quan đến đào tạo từ xa nhằm đạt được mục tiêu của ĐTTX
Mặc dầu hình thức ĐTTX và đào tạo chính quy có những mục tiêu, nội dung, chương trình, cách thức tổ chức quá trình học tập khác nhau thì đương nhiên sẽ có những cách quản lý khác nhau Tuy nhiên, người quản lý giáo dục cần nghiên cứu các giá trị tương đương giữa hai loại hình đào tạo này ĐTTX cũng cần có sự liên thông giữa hai hệ đào tạo để bất cứ một người theo học nào cũng đạt được trình độ yêu cầu trong một hệ thống giáo dục quốc dân
1.3 NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA ĐÀO TẠO THEO HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TỪ XA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Hình thức đào tạo từ xa ra đời là một cách tân trong giáo dục và đào tạo, được nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và các nước đang phát triển quan tâm, đón nhận, đưa vào áp dụng trước tiên trong giáo dục đại học và đem đến thành công Nhiều nước trong khu vực (Thái Lan, Phillipins, Hàn Quốc…) đã rất thành công khi áp dụng phương thức từ xa để phát triển giáo dục đại học Cùng với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, áp dụng phương thức từ xa để mở rộng quy mô giáo dục đại học là xu hướng tất yếu của thời đại [42, tr.4-5] Đào tạo từ xa đáp ứng nhu cầu học mọi nơi, mọi lúc, thường xuyên và suốt đời của mọi tầng lớp nhân dân, được người học trên thế giới ưa chuộng vì nó cho phép người học chủ động về
Trang 39thời gian và không gian [43]
Qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, đào tạo từ xa đã góp phần phát triển kinh tế xã hội và đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân Do hoàn cảnh (điều kiện sống, làm việc, thời gian…) phần đông người dân không có điều kiện theo học tại các trường đại học truyền thống với hình thức tập trung toàn thời gian Trong khi đó nhu cầu học tập của toàn xã hội
là rất lớn
Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng, tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc đã sớm triển khai thành lập các trường Dân lập, trường Tư thục, các Trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) các cấp, các Trung tâm học tập cộng đồng…tạo ra cơ hội học tập thuận lợi cho mọi người dân ở mọi lứa tuổi, mọi điều kiện hoàn cảnh cũng có thể tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời Xuất phát từ lý do đó, đến năm 1994, một số cơ
sở cũng được phép tuyển sinh hình thức đào tạo từ xa, cụ thể như Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Đà Lạt, Đại học dân lập Bình Dương, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông, Đại học Trà Vinh, Đại học Cần Thơ…
Qua đó, đẩy mạnh các hoạt động đào tạo từ xa ở các cơ sở giáo dục và đào tạo, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến (E-learning), tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc cung ứng các chương trình học tập suốt đời cho mọi người
Đào tạo từ xa thuộc phương thức giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân ĐTTX là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn
có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt thời gian và không gian
Từ đó, ĐTTX có những nét đặc thù so với đào tạo tập trung:
Trang 40Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa đào tạo từ xa và đào tạo tập trung
Tiêu chí Đào tạo tập trung Đào tạo từ xa
Đối tượng học - Được quy định chặt
chẽ về độ tuổi cho từng bậc học
- Đồng nhất về độ tuổi, trình độ
- Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn quốc
- Độ tuổi, trình độ khác nhau
Hình thức học Học tập trung tại một địa
điểm cố định như lớp học, giảng đường Việc dạy và học tổ chức thông qua các hoạt động trực tiếp
Học không tập trung, HV ở khắp mọi nơi Việc dạy và học chủ yếu thông qua các phương tiện như giáo trình, tài liệu, băng hình, băng tiếng, đĩa CR-ROM, mạng Internet
Khóa học Quy trình được thiết kế,
diễn tiến theo nề nếp, chủ động, theo quy định
Quy trình được thiết kế, diễn tiến theo các khóa học phức tạp, bị động và phụ thuộc
Tổ chức, quản lý Tổ chức thành một hệ thống
hoàn chỉnh về đội ngũ quản
lý, GV, cán bộ ở các Khoa,
bộ môn Đội ngũ GV chủ yếu là cơ hữu, số ít là thỉnh giảng
Tổ chức thành những bộ phận quản lý gọn nhẹ, đội ngũ GV chủ yếu là thỉnh giảng ở các trường
Mục tiêu đào tạo Nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
- Cung cấp cơ hội học tập, nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp