BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG HUỲNH THỊ KIM ANH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN CẨM LỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HUỲNH THỊ KIM ANH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC
CƠ SỞ QUẬN CẨM LỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học : TS HUỲNH THỊ TAM THANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
HUỲNH THỊ KIM ANH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Mục đích nghiên cứu……….4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu……… 4
4 Giả thuyết khoa học……… 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu………5
6 Phạm vi nghiên cứu……… 5
7 Phương pháp nghiên cứu……… 5
8 Cấu trúc của luận văn………….……… 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, chức năng quản lý giáo dục…… ….10
1.2.2 Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng chuyên môn……… 15
1.2.3 Biện pháp quản lý hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn……… 19
1.3 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN 20
1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục Trung học cơ sở……… 20
1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên Trung học cơ sở 21
1.4 QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 23
1.4.1 Ý nghĩa của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn……….23
Trang 41.4.2 Mục tiêu, nội dung và hình thức tự bồi dưỡng chuyên môn của
giáo viên Trung học cơ sở………24
1.4.3 Hiệu trưởng với công tác quản lý việc tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên Trung học cơ sở……….26
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 28
1.5.1 Những yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục Trung học cơ sở……….28
1.5.2 Yêu cầu đổi mới công tác quản lý tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên ở trường Trung học cơ sở hiện nay……… 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 33
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33
2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 33
2.1.1 Mục đích khảo sát……… 33
2.1.2 Nội dung khảo sát……… 33
2.1.3 Đối tượng, địa bàn khảo sát……… 33
2.1.4 Phương pháp khảo sát………34
2.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
2.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay………34
2.2.2 Định hướng phát triển KT-XH quận Cẩm Lệ đến năm 2020… 35
2.3 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CỦA QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 36
2.3.1 Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo……… 36
Trang 52.3.2 Về tình hình phát triển giáo dục Trung học cơ sở………42
2.4 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN CẨM LỆ 45
2.4.1 Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng thường xuyên của ngành giáo dục và đào tạo……… 46
2.4.2 Mục tiêu của giáo viên về công tác tự bồi dưỡng chuyên môn….50 2.4.3 Nội dung tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên………51
2.4.4 Hình thức tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên……… 52
2.4.5 Kết quả tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên……… 53
2.5 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 54
2.5.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn về sự cần thiết của việc quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn……… 54
2.5.2 Lập kế hoạch quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn………55
2.5.3 Quản lý nội dung, chương trình và hình thức tự bồi dưỡng chuyên môn ………56
2.5.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả tự bồi dưỡng của giáo viên………….57
2.5.5 Quản lý các điều kiện đảm bảo hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn……… 58
2.6 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG 59
2.6.1 Điểm mạnh……….59
2.6.2 Điểm yếu………60
2.6.3 Thời cơ – cơ hội……….60
2.6.4 Thách thức……….61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 62
Trang 6CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 64
3.1 CƠ SỞ XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP 64
3.1.1 Cơ sở lí luận……… 64
3.1.2 Cơ sở pháp lí……… 64
3.2 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP 64
3.2.1 Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên………64
3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa của công tác tự bồi dưỡng chuyên môn… 65
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn của công tác tự bồi dưỡng chuyên môn 65
3.2.4 Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp đề xuất………66
3.3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN CẨM LỆ 67
3.3.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác tự bồi dưỡng chuyên môn……….66
3.3.2 Biện pháp 2 Tăng cường quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên Trung học cơ sở hiện nay……… 69
3.3.3 Biện pháp 3 Đổi mới nội dung tự bồi dưỡng chuyên môn…… 78
3.3.4 Biện pháp 4 Đổi mới hình thức tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên………81
3.3.5 Biện pháp 5 Động viên khích lệ việc học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên……… 87
3.3.6 Biện pháp 6: Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên………90
3.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 94
Trang 73.5 KHẢO NGHIỆM VỀ TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA
CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT 95
3.5.1 Đối tượng khảo nghiệm……….95
3.5.2 Nội dung khảo nghiệm……… 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BD Bồi dưỡng BDCM Bồi dưỡng chuyên môn BDHSG Bồi dưỡng học sinh giỏi BDTX Bồi dưỡng thường xuyên CBGV Cán bộ giáo viên
CBQL Cán bộ quản lý CSVC Cơ sở vật chất
GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
PHHS Phụ huynh học sinh
TH Tiểu học THCS Trung học cơ sở
TP Thành phố TTCM Tổ trưởng chuyên môn UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng Tên bảng
Số trang 2.1 Thống kê số lượng học sinh ở quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2008-2012
38
2.2 Tổng hợp số lượng đội ngũ giáo viên các cấp học ở
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008-2012
2.5 Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý các trường THCS trên
địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (Năm học
2.8 Nhận xét về bồi dưỡng giáo viên theo chương trình
BDTX của Phòng GD&ĐT quận Cẩm Lệ
48
2.9 Nhận xét về quản lý công tác tự BDCM của GV THCS
quận Cẩm Lệ theo chương trình BDTX của Bộ
GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT
49
2.10 Mục tiêu cần tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên 50
Trang 102.11 Khảo sát mức độ thường xuyên về các nội dung tự BDCM
2.15 Thực trạng việc lập kế hoạch quản lý công tác tự BDCM
của Hiệu trưởng
55
2.16 Kết quả đánh giá giáo viên THCS ở tiêu chuẩn 3: Năng
lực dạy học theo Chuẩn nghề nghiệp của các trường
THCS quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
57
3.1 Các nhóm đối tượng được khảo nghiệm 96 3.2 Tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 96
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
trang 1.1 Chu trình quản lý 15 2.1 Kết quả về hạnh kiểm của học sinh THCS năm 2011-
2012
42
2.2 Kết quả về học lực của học sinh THCS năm 2011-2012 43
Trang 122020 có nêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng” [2, tr.4]; thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS; thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên
Ngày 22/10/2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT qui định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giúp GV tự đánh giá năng lực nghề nghiệp của mình, từ đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân và khắc phục những điểm yếu của mình
Trang 13vị trí vai trò của giáo dục, GV là thực trạng về chất lượng giáo dục hiện nay
Hơn thế nữa, việc học của con người trong thời đại ngày nay là học suốt đời Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tầm phổ biến toàn nhân loại bởi các lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, hiện nay lượng tri thức rất phong phú, nhu cầu tiếp nhận kiến thức của con người là vô cùng mà thời gian đào tạo ở nhà trường là rất có hạn Nhà trường lại không thể chuyển tải hết các tri thức phong phú đa dạng đó Vì vậy, Nhà nước đã và đang thực hiện một cách mạnh mẽ chủ trương xã hội hoá giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học; tổ chức nhiều loại hình đào tạo phong phú đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời, xây dựng xã hội học tập: chính quy, tại chức, bồi dưỡng thường xuyên (BDTX), từ xa, các loại hình phổ biến kiến thức trên các phương tiện thông tin đại chúng vv
Thứ hai, chúng ta đang sống trong thời kỳ thông tin và khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ Nhiều kết quả nghiên cứu đã tổng kết trong vòng năm năm, mười năm, tri thức không được bồi dưỡng lại và nâng cấp sẽ trở nên lạc hậu
Thứ ba, khối lượng kiến thức được ứng dụng ở một lĩnh vực ngành nghề cụ thể nào đó chỉ có khoảng một nửa kiến thức học được ở nhà trường; còn nửa số kiến thức còn trống do nhu cầu công việc của đời sống Rõ ràng, thời đại ngày nay đòi hỏi con người không chỉ nắm những tri thức sách vở mà cần có những tri thức mang tính sáng tạo để giải quyết các vấn đề của thực
Trang 14đề chung của mọi quốc gia, dân tộc về giáo dục
Hoạt động tự bồi dưỡng (BD) của GV dù có sáng tạo, tích cực đến đâu cũng khó đạt được hiệu quả tối ưu nếu thiếu đi vai trò của nhà quản lý nhằm đưa hoạt động này vào nền nếp ổn định Hiệu trưởng (HT) tổ chức quản lý công tác tự BDCM của GV là giúp GV thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của nhà giáo Quản lý công tác tự BDCM còn giúp GV trau dồi kiến thức, kỹ năng, thái độ của người lao động tự chủ, sáng tạo trong công việc
và lãnh đạo các cấp chưa quan tâm nhiều đến vấn đề tự BD nên việc chỉ đạo chỉ dừng lại ở phần BDCM là chủ yếu
Hiện nay, công tác quản lý tự BDCM của GV tại quận Cẩm Lệ đã nhiều năm chưa có một công trình nghiên cứu luận văn thạc sỹ nào đề cập đến Vì
Trang 154
vậy, thực hiện nghiên cứu về quản lý công tác tự BDCM của GV THCS quận
Cẩm Lệ là điều cần quan tâm vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược
Qua tìm hiểu thực tế về việc tự BDCM và quản lý công tác tự BDCM của GV
THCS tại quận Cẩm Lệ, đối chiếu với những cơ sở lí luận; những chủ trương
chính sách của Đảng, Nhà nước và quản lý chỉ đạo của ngành về nâng cao
chất lượng GV, để từ đó rút ra những mặt mạnh, mặt tồn tại của vấn đề về
quản lý công tác tự BDCM của GV, nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm
cho công tác quản lý Đồng thời đề xuất những biện pháp mà tác giả cho rằng
cần thiết và có thể thực hiện được, giúp các HT trường THCS quận Cẩm Lệ
quan tâm quản lý tốt hơn việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV tại trường, mặt
khác những biện pháp nêu ra cũng giúp GV có điều kiện hơn để vừa thực hiện
tốt nhiệm vụ được giao, vừa có cơ hội tham gia học tập bồi dưỡng nâng cao
trình độ cá nhân cả về chuyên môn, nghiệp vụ và cả về trình độ tri thức
Xuất phát từ những thực trạng nêu trên, để góp phần giải quyết vấn đề,
tác giả chọn đề tài: “Biện pháp quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn
của giáo viên THCS quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất biện pháp quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên
môn của giáo viên THCS quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng nhằm góp phần nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo ở các trường THCS trên địa bàn quận Cẩm Lệ
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên của
Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên THCS
Trang 165
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên THCS quận Cẩm Lệ còn bất cập Nếu đề xuất và đưa vào áp dụng các biện pháp quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên THCS trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận về hoạt động quản lý của HT đối với công tác
tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên trong các trường THCS
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công tác tự bồi dưỡng
chuyên môn của giáo viên các trường THCS quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên THCS quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu về công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THCS quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng đối với công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên
Địa bàn khảo sát là 6 trường THCS công lập trên địa bàn quận Cẩm Lệ,
TP Đà Nẵng với việc sử dụng các số liệu thống kê từ năm 2008 đến năm 2012
để phân tích và nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: bao gồm phương pháp phân
tích, tổng hợp,… nhằm xây dựng cơ sở lí luận về quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên các trường THCS quận Cẩm Lệ
Trang 177.3 Phương pháp điều tra
Sử dụng các phiếu điều tra Anket để thu thập thông tin về các nội dung nghiên cứu
7.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phỏng vấn và ghi nhận ý kiến của cán bộ quản lý phòng GD&ĐT quận Cẩm Lệ về công tác quản lý hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên của Hiệu trưởng
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được kết cấu với các phần chính: ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn
của giáo viên THCS
Chương 2 Thực trạng quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của
giáo viên THCS quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Chương 3 Biện pháp quản lý công tác tự bồi dưỡng chuyên môn của
giáo viên THCS quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Trang 187
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của bồi dưỡng, Người dạy:
“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Bác cũng rất coi trọng vấn đề BD và tự BD Người chỉ rõ: “ Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”
GV có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Do đặc điểm của nghề nghiệp, GV cần phải thường xuyên được BD và tự BD để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Vấn đề đặt ra ở đây là việc quản lý công tác
tự BDCM của GV sao cho đạt yêu cầu đề ra, sao cho hiệu quả để GV luôn đảm bảo vai trò nòng cốt trong hoạt động dạy học ở trường học
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Luật Giáo dục (1998), Luật Giáo dục (2005), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2009) có hiệu lực từ 01/7/2010 Đây là những văn bản pháp luật chỉ đạo hoạt động thống nhất của hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, đồng thời là văn bản pháp quy giúp đội ngũ CBQL thực hiện trong công tác quản lý
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó công tác tự BDCM của GV luôn đặt ra song song với nhiệm vụ dạy học, nhiều quy định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng
và các văn bản của ngành, như những năm gần đây có: Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về một số
Trang 198
biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng thực hiện một số biện pháp “Xây dựng đội ngũ GV phổ thông đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu” [31, tr.2], đồng thời yêu cầu xây dựng và thực hiện “Phát triển đội ngũ nhà giáo; chuẩn hóa trình độ của đội ngũ nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục; cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” [31, tr.3]
Các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, đặc biệt là Đại hội VI với đường lối đổi mới, đã mở ra một giai đoạn mới cho quá trình phát triển của sự nghiệp giáo dục
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “…Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường”
Gần đây, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 8/8/2011 kèm theo chương trình BDTX mới cho đội ngũ GV THCS, theo đó:
“Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học cơ sở là căn cứ
của việc quản lý, chỉ đạo, tổ chức, biên soạn tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên trung học cơ sở, nâng cao mức độ đáp ứng của giáo viên trung học
cơ sở với yêu cầu phát triển giáo dục trung học cơ sở và yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở ” [7]
Hiện nay, ngành GD&ĐT cả nước đang tập trung đẩy mạnh triển khai sâu rộng, quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI diễn ra (tháng 01/2011) thành công, đưa Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn 2011-2020
có nêu “…phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục
Trang 209
quốc dân” [14 ]
Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đòi hỏi ngành GD&ĐT phải khẩn trương đẩy mạnh đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và GV trong thời kỳ mới để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
Mặc dù đã được đề cập khá nhiều công trình nghiên cứu về lí luận giáo dục, lí luận dạy học, các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành nhưng vấn đề lí luận về tự BDCM của GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống Một số tác giả đã đề cập đến vấn đề này như:
Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục [15]
Năm 1997, ấn phẩm: Tự học, tự đào tạo-tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam ra đời, có nhiều bài viết khá sâu sắc của các tác giả tên tuổi như: cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn
Kỳ, Trần Bá Hoành, Vũ Văn Tảo nhưng số lượng các bài viết có đề cập tới lĩnh vực BDTX cho GV vẫn còn ít, các bài viết của tác giả Nguyễn Trí (Vụ GV-Bộ GD&ĐT); Vũ Quốc Chung (ĐHSP-Đại học Quốc gia Hà Nội) đã đề cập đến vấn đề tự học trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên
Năm 1999, trong tạp chí Phát triển Giáo dục số 1, tác giả Phạm Quang Huân có bài “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên trường phổ thông” [18]
Tại trường Đại học sư phạm Đà Nẵng, chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lý giáo dục đề cập đến quản lý công tác tự BDCM của GV, nhất là GV THCS
Như vậy, việc tự học, tự bồi dưỡng là một trong những công việc quan trọng của mỗi GV Công việc này vốn tiềm ẩn bên trong ý thức mỗi người, giúp cho con người tiếp thu và lĩnh hội nguồn kho tàng tri thức vô tận của nhân loại Tự học, tự bồi dưỡng có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với hoạt
Trang 2110
động dạy học mà còn đối với tất cả các lĩnh vực ngành nghề khác trong đời sống xã hội Ngay từ thời xa xưa, vấn đề tự học, tự bồi dưỡng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong thực tiễn, tự học, tự bồi dưỡng là hình thức học tập đem lại hiệu quả cao đối với nhiều người GS Phạm Minh
Hạc cho rằng: Học trong tự học là một khái niệm rất rộng, rất chặt chẽ và kéo
dài suốt cuộc đời con người Mỗi người từ lúc sinh ra, lớn lên, dù ở nhà hay đến trường tuỳ hoàn cảnh và điều kiện đều phải liên tục học, tự học để nên người
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, chức năng quản lý giáo dục
a) Quản lý
Quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp
Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau,
theo nhiều góc độ khác nhau Theo góc độ tổ chức đó là: cai quản, chỉ huy,
lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra Theo góc độ điều khiển từ quản lý là: lái, điều khiển, điều chỉnh Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội
để đạt được mục đích đã định [12]
Theo góc độ kinh tế: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực
nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra
Theo góc độ chung nhất: Quản lý là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy,
lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt tới mục tiêu
Trang 2211
Theo Henry Fayol (1841-1925) đã nghiên cứu kĩ bản chất và tính chất
công việc của người quản lý và đi đến kết luận rằng: Quản lý đó là dự tính
(dự toán và lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra
Từ rất nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thể hiểu
một cách khái quát là: “Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường
học, địa phương…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp tích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra” [12]
Tất cả các quan điểm trên có thể hiểu: “Quản lý là một quá trình tác
động có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thỏa mãn nhu cầu chung và đạt được các mục tiêu đã xác định”
b) Quản lý giáo dục
Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt nên quản lý giáo dục cũng là một loại quản lý xã hội, nó tuân thủ theo những nguyên tắc, chức năng của quản lý Tuy nhiên, đối tượng của quản lý giáo dục là con người, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích đã
đề ra Mục đích giáo dục là mục đích do con người đề ra, đó là một mẫu nhân cách trong tương lai mà người học cần đạt được Mục đích giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý (nhưng không phải là mục đích duy nhất) Đây
là mục đích có tính khách quan Nhà quản lý, cùng với đội ngũ GV, học sinh, các lực lượng xã hội, v.v bằng hành động của mình hiện thực hóa mục đích
đó Quản lý giáo dục có những đặc trưng riêng biệt là:
- Quản lý giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội, thu hút sự tham gia của đông đảo các thành viên xã hội và là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc
Trang 2312
- Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, vì mục tiêu phát triển giáo dục là nhằm giáo dục các vấn đề: dân trí-nhân lực-nhân tài, đang thu hút sự quan tâm tham gia của toàn xã hội
- Quản lý giáo dục là hoạt động trí óc, vì con người cùng với các mối quan hệ phức tạp của nó là đối tượng của hoạt động quản lý giáo dục Để phát huy được sự sáng tạo của con người thì quản lý giáo dục trước hết phải là hoạt động mang tính sáng tạo là dạng quản lý phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trường xã hội ở nhiều tầng bậc, phạm vi, mức độ khác nhau Quản lý giáo dục thể hiện tính bao hàm giữa thuật học và nghệ thuật
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em”.[20] hoặc "Có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách hiệu quả nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội" [22, tr10]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản
lý là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá, thông tin Các chức năng này có mối liên hệ ràng buộc, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu trình sau theo hướng phát triển, trong đó yếu
tố thông tin là trung tâm, là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện các hoạt
Trang 2413
động của công tác quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, là cơ sở cho việc
ra quyết định quản lý Các chức năng quản lý không phải là cái "nhất thành bất biến", trái lại nó luôn biến đổi cho phù hợp
c) Chức năng của quản lý giáo dục
Khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và sự tiến bộ của phân công hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động Quá trình tạo ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn người lao động phải thực hiện một nhiệm vụ hay một chức năng nhất định Từ chức năng đó của khách thể quản lý (người lao động) làm xuất hiện một cách khách quan dạng hoạt động quản lý chuyên biệt nhất định tương ứng của chủ thể quản lý gọi là chức năng quản lý
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [25]
Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau Chúng phản ánh lôgic bên trong sự phát triển của hệ quản lý Sự phân chia chức năng quản lý bắt nguồn từ sự phân công và sự chuyên môn hóa lao động quản lý Khi phân tích cụ thể, ta thấy quản lý gồm bốn chức năng sau:
Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản Căn cứ vào quá trình phát triển của
tổ chức căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ có dự báo trạng thái kết thúc của tổ chức (và những trạng thái trung gian) vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và hệ thống các giải pháp, biện pháp, xác định có tính chắc chắn và đảm bảo sự cam kết về các nguồn lực, nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã
đề ra
Tổ chức chính là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn là mối liên kết các bộ phận
tạo thành một hệ thống Để thực hiện chức năng này nhà quản lý phải hình thành, sắp xếp cơ cấu bộ máy phù hợp với yêu cầu của công việc Phát triển tổ
Trang 25để tác động đến các đối tượng bị quản lý, duy trì các mối quan hệ trong tổ chức, khiến cho hệ thống hoạt động đạt được mục tiêu Hiển nhiên, việc chỉ đạo được bắt đầu từ khi lập kế hoạch, thiết kế bộ máy hoàn chỉnh và xuyên suốt trong quá trình của hoạt động quản lý
Kiểm tra là một chức năng của mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống Thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một
tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết từ đó có những quyết định điều chỉnh cho phù hợp với những chi phí bỏ ra Thực chất công việc kiểm tra là gắn với
sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm và điều chỉnh mục tiêu
Tổng hợp tất cả các chức năng quản lý chính là cơ sở để phân công lao động quản lý giữa những CBQL và cũng là nền tảng để hình thành cấu trúc của sự quản lý Điều đáng chú ý trong quá trình quản lý là nhà quản lý phải thực hiện một dãy các chức năng kế tiếp nhau một cách lôgic, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cho đến khi kiểm tra kết quả đạt được
và tổng kết quá trình quản lý Mỗi quá trình quản lý xảy ra trong thời gian cụ thể, nhất định Trong một chu trình quản lý các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ là tương đối bởi vì một số chức năng diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện chức năng khác
Trang 2615
Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý [22, tr 46]
Ngoài 4 chức năng trên, trong một chu trình quản lý, chủ thể quản lý phải sử dụng thông tin như là một công cụ để thực hiện các chức năng
1.2.2 Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng chuyên môn
a) Bồi dưỡng
Theo Từ điển Tiếng Việt (2008) - NXB Hồng Đức: “Bồi dưỡng là vun trồng, nuôi nấng cho mạnh” [25] Về góc độ chuyên môn thì “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” [30] Về kiến thức và nghiệp vụ thì “Bồi dưỡng được xem là làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [30, tr.14]
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ khẳng định “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [11,tr.2] “Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực trình độ nghề nghiệp”.[17,tr 216]
Theo tổ chức UNESCO định nghĩa: "Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn của bản thân nhằm đáp ứng nhu
cầu lao động nghề nghiệp” [9, tr 162]
Như vậy, bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng
Chức năng
kế hoạch hóa
Chức năng
tổ chức (nhân sự)
Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo)
Chức năng kiểm tra
Thông tin phục vụ quản lý
Trang 2716
cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp Thực chất của quá trình bồi dưỡng là để bổ sung, cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn, đồng thời nhằm mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức -
kỹ năng - kỹ xảo, chuyên môn đã có sẵn, giúp cho công việc đang làm đạt được hiệu quả tốt hơn với phương châm “Học tập suốt đời” thì việc đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại là quá trình thống nhất
Theo nghĩa hẹp: Chuyên môn là lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng nói chung của một ngành khoa học kĩ thuật
c) Tự bồi dưỡng
Tự bồi dưỡng có nghĩa tương đương với từ tự học
Theo GS.TS khoa học Thái Duy Tuyên: Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học
Trang 2817
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn
về khái niệm tự học: Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức
vào tháng 11/2005 tại Đại học Huế, GS.Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ
và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi GV phải
tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; tự thân rèn luyện các kĩ năng; tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi, mọi lúc
Trong quá trình học tập và lao động bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức Trong tự học, tự bồi dưỡng bước đầu thường có nhiều khó khăn nhưng đó lại là động lực thúc đẩy người học tư duy để chiếm lĩnh kiến thức, nhờ vậy mà thành thạo lên, khi đã thành thạo thì có thể đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu Muốn học, muốn hiểu sâu một chủ đề nào, điều quan trọng nhất
là phải tự mình chạm tới nó trước, phải tự mình khơi mở trước trong đầu, như gieo mầm cho việc tiếp thu, thẩm thấu của mình Khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò người thầy (hướng dẫn, tác động ) là không thể thiếu Bản chất của tự học, tự bồi dưỡng là tự làm việc với chính mình trước,
Trang 2918
nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn theo cách học nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn
Tự bồi dưỡng là một chu trình gồm ba giai đoạn:
Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, giải thích, phát hiện vấn
đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu có tính chất cá nhân
Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng lời nói, tự trình bày, bảo
vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với đồng nghiệp, với thầy, cô giáo, nhà quản lý tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao
đổi với các bạn và thầy, cô giáo, nhà quản lý và nhận sự kết luận từ thầy cô giáo thì người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình; tự sửa sai; tự điều chỉnh sản phẩm khoa học
Chu trình tự nghiên cứu - tự thể hiện - tự kiểm tra, tự điều chỉnh thực
chất cũng là con đường phát hiện vấn đề, định hướng cách giải quyết và tiến
hành giải quyết vấn đề tự bồi dưỡng
d) Tự bồi dưỡng chuyên môn
Tự BDCM của GV có thể coi là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho GV, là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trước và trong khi làm việc của người GV Là quy trình bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; kỹ năng tay nghề; kiến thức, kỹ năng thực tiễn
Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng dặn dò các thầy cô giáo, bên cạnh việc rèn luyện đạo đức thì việc không ngừng trau dồi năng lực chuyên môn là nhiệm vụ mà mỗi GV cần phấn đấu suốt cuộc đời
Trang 3019
Trong thời đại mà khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học, đặc biệt đối với người GV là một công việc có vị trí cực kì quan trọng Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau thì mỗi GV mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức khoa học, về đời sống xã hội Từ đó có được sự tự tin trong
cuộc sống, trong công việc để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình
Tự BDCM là tự hỏi chính bản thân mình, tự hỏi để ôn luyện và tự hỏi
để biết mình hiểu và chưa hiểu vấn đề gì trong lĩnh vực kiến thức bộ môn để tiếp tục tìm tòi, học hỏi
Tự BDCM là tìm tài liệu đọc, là hỏi han, lắng nghe và đào sâu suy nghĩ
để giúp ta nắm vững vấn đề Giúp suy nghĩ có được sự chăm chú, chuyên tâm, giúp năng lực suy nghĩ được rèn luyện trở nên mạnh mẽ và nhạy bén Chỉ nhờ tự BDCM sẽ bỏ hết mọi thói quen ỷ lại, suy nghĩ độc lập hơn, tự do hơn Sự tự BDCM giúp người học trở thành người nghiên cứu, có được sự tập trung suy nghĩ sâu sắc hơn và tự bồi dưỡng cũng là điều kiện cần phải có để
tư duy thăng hoa, giúp khai thác tối đa khả năng còn tiềm ẩn của mỗi người
1.2.3 Biện pháp quản lý hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn
a) Biện pháp quản lý, quản lý hoạt động
* Biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1997) “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [24]
* Biện pháp quản lý
Là cách làm, cách giải quyết của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
(thông qua các chức năng quản lý) một cách hợp qui luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
Trang 3120
* Biện pháp quản lý hoạt động
Cách làm, cách giải quyết những hoạt động giáo dục của người quản lý
giáo dục tác động đến khách thể quản lý giáo dục (thông qua các chức năng quản lý) nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra
b) Biện pháp quản lý hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn
Cách làm, cách giải quyết của người quản lý (thông qua các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) về các hoạt động tự BDCM cho khách thể quản lý (đội ngũ) nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra (về nâng cao năng lực chuyên môn)
1.3 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1.3.1 Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục Trung học cơ sở
a) Vị trí
Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình Tiểu học, có độ tuổi là mười một tuổi (Khoản 1, Điều 26, Luật GD, 2005)
b) Vai trò
Giáo dục THCS có vai trò hết sức quan trọng cùng với Tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân
c) Mục tiêu giáo dục Trung học cơ sở
Luật Giáo dục (2005), Điều 27 chỉ rõ: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc
đi vào cuộc sống lao động” [28]
Trang 3221
d) Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
Luật Giáo dục (2005), Điều 28 chỉ rõ yêu cầu: “Giáo dục trung học cơ
sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp”
và “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh [28]
1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên Trung học cơ
“ý chí muốn thay đổi” cũng như chất lượng GV “Không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những GV làm việc cho nó” [19, tr.54]
Trang 3322
b) Nhiệm vụ
Trong Điều lệ trường trung THCS (Ban hành kèm theo Thông tư
số:12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Điều 31 qui định nhiệm vụ của GV THCS cụ thể là: “Dạy học và giáo
dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh ”.[6]
c) Yêu cầu đối với giáo viên Trung học cơ sở
- Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy
đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật
và điều lệ nhà trường;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học
Trang 3423
1.4 QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.4.1 Ý nghĩa của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn
GS Phạm Minh Hạc cho rằng: Học trong tự học là một khái niệm rất rộng, rất chặt chẽ và kéo dài suốt cuộc đời con người Mỗi người từ lúc sinh
ra, lớn lên, dù ở nhà hay đến trường tuỳ hoàn cảnh và điều kiện đều phải liên tục học, tự học để nên người
Đối với đội ngũ GV công tác trong lĩnh vực giáo dục, yêu cầu tự học,
tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết về kiến thức văn hóa xã hội và hoàn thiện kỹ năng hành nghề trở thành yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết Để chuẩn bị tốt cho công việc trong tương lai, GV phải không ngừng rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo, học cách tự học, tự bồi dưỡng và dạy phương pháp tự học cho học sinh Xuất phát từ những đòi hỏi
và yêu cầu về phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống, về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của nhà giáo, chúng ta thấy rằng để đáp ứng yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy, mỗi nhà giáo phải không ngừng bồi dưỡng
mở rộng tầm nhìn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trong đó tự bồi dưỡng là hoạt động có chủ đích, tự giác của bản thân GV giúp họ hình thành
hệ thống kiến thức, kỹ năng mới Tự bồi dưỡng trở thành việc làm thường xuyên, liên tục của GV với ý nghĩa sau:
- Việc tự học, tự bồi dưỡng xuất phát từ nhu cầu tự thân muốn học hỏi, muốn gia tăng sự hiểu biết để làm việc một cách hiệu quả và có cuộc sống tốt đẹp hơn Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
- Tự học, tự bồi dưỡng là con đường phát triển của mỗi người Bằng việc tự học, tự bồi dưỡng ở các mức độ, hình thức khác nhau, con người đã
Trang 3524
tiếp thu, lĩnh hội, vận dụng và phát triển các kinh nghiệm, kiến thức của xã hội loài người Từ đó biến kinh nghiệm, kiến thức chung của xã hội thành vốn kinh nghiệm, kiến thức riêng của bản thân Như vậy việc tự học, tự bồi dưỡng chính là quá trình tạo ra hệ thống giá trị mới trong nhân cách của con người
- Tự bồi dưỡng phải đảm bảo nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, tính sáng tạo, đặc điểm nhân cách mỗi cá nhân
- Tự bồi dưỡng giúp cho đội ngũ nhanh chóng thích nghi với sự phát triển giáo dục đồng thời nâng cao khả năng tiếp thu ứng dụng thành quả tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn công việc và cuộc sống
- Tự bồi dưỡng còn giúp đội ngũ có khả năng đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của bản thân, đồng nghiệp và tập thể sư phạm nhà trường
Với những ý nghĩa nêu trên, công tác tự bồi dưỡng của GV vừa là điều kiện cần và đủ cho việc thực hiện các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GV đồng thời giúp GV sử dụng có hiệu quả những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp vào việc giảng dạy, giáo dục học sinh, khơi dậy hứng thú học tập, phát huy tinh thần tự lực, tự giác trong học tập của học sinh
1.4.2 Mục tiêu, nội dung và hình thức tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên Trung học cơ sở
a) Mục tiêu
GV phải nắm vững mục tiêu và quan điểm dạy học hiện đại nhằm phát huy tối đa khả năng phát triển trí tuệ, đánh thức óc tò mò, sáng tạo của học sinh Những mục tiêu về tự BDCM của GV THCS là:
- Đáp ứng được các yêu cầu trong giảng dạy nhằm thích ứng với yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục và sự phát triển của xã hội;
- Cập nhật kịp thời kiến thức các môn khoa học khác;
- Củng cố, mở rộng, nâng cao kiến thức chuyên môn về bộ môn giảng dạy;
Trang 3625
- Nâng cao ý thức, khả năng tự học, tự bồi dưỡng CM
Kiến thức bổ trợ phục vụ cho hoạt động dạy học ở bậc THCS như: kiến thức khoa học tự nhiên; kiến thức khoa học xã hội; kiến thức chung về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; kiến thức tin học, ngoại ngữ, thể dục thể thao, mỹ thuật, âm nhạc cũng cần được học thêm mọi lúc mọi nơi
Kỹ năng nghề nghiệp: kỹ năng dạy học; kỹ năng giáo dục; kỹ năng xử
lý tình huống; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tự học, tự bồi dưỡng; kỹ năng nghiên cứu khoa học (NCKH); và các kỹ năng khác để phục vụ cho công tác chuyên môn
Như vậy, mục tiêu tự bồi dưỡng của GV khá toàn diện, đa dạng và phong phú Trong đó, mỗi mục tiêu tự bồi dưỡng đặt ra những yêu cầu và mức độ thành thạo khác nhau Vì vậy, tự bồi dưỡng không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi GV mà còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục học sinh trong nhà trường THCS
b) Nội dung
- Cập nhật kiến thức bổ trợ liên quan đến kiến thức chuyên môn;
- Nghiên cứu cách làm đồ dùng dạy học phục vụ trong giảng dạy;
- Giải đề, bài tập,… kiến thức bộ môn giảng dạy;
- Viết SKKN, bài tham luận, chuyên đề, nghiên cứu khoa học…
c) Hình thức
- Tự bồi dưỡng thông qua hình thức tự học theo chương trình BDTX;
- Tự bồi dưỡng thông qua sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn;
- Tự bồi dưỡng qua nghiên cứu trên mạng Internet;
- Dự giờ đồng nghiệp, dự hội thảo, dự chuyên đề…;
- Đọc sách tại thư viện, giải các bài tập tham khảo và nâng cao ;
- Trao đổi, thảo luận chuyên môn với đồng nghiệp(cá nhân)
Trang 3726
d) Kết quả tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên Trung học cơ sở
Kết quả tự BDCM của GV được thể hiện qua:
- Trong học sinh: là bài giảng có nội dung phong phú, sinh động, thu hút sự chú ý nghe giảng của học sinh (HS) làm tăng hiệu quả giờ dạy
- Đối với nhà trường: Chất lượng giáo dục của nhà trường; chất lượng tham gia các cuộc thi, các phong trào hoạt động do ngành tổ chức
- Đối với bản thân: Nâng tầm hiểu biết lên vị thế cao hơn
1.4.3 Hiệu trưởng với công tác quản lý việc tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên Trung học cơ sở
Để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV trường THCS, HT thực hiện các nội dung quản lý hoạt động tự BDCM của GV như sau:
a) Quản lý kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên
Quản lý kế hoạch tự BDCM của GV là nhằm giúp cho HT nắm bắt
thông tin cần thiết về kế hoạch tự bồi dưỡng của GV, qua đó có biện pháp chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho GV thực hiện tốt kế hoạch tự bồi dưỡng
Kế hoạch tự BDCM cần phải xác định mục tiêu tự BDCM trong đó phân chia thời gian, nội dung, chương trình và cách thức tổ chức việc tự BDCM một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ tự BDCM, có tính đến khả năng của bản thân và các điều kiện đảm bảo việc thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Xây dựng kế hoạch tự BDCM giúp cho
GV thực hiện một cách hiệu quả nội dung tự BDCM đảm bảo đúng tiến độ
Kế hoạch tự BDCM càng rõ ràng, cụ thể thì càng thuận lợi cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự bồi dưỡng và mức độ đạt được mục tiêu tự BDCM Do đó, quản lý việc xây dựng kế hoạch tự BDCM sẽ góp phần khích lệ phong trào tự BDCM trong nhà trường và nâng cao hiệu quả tự BDCM của đội ngũ GV
Trang 3827
b) Quản lí nội dung tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên
Hoạt động tự bồi dưỡng của đội ngũ GV là một trong những nhiệm vụ mang tính thường xuyên liên tục và đòi hỏi sức sáng tạo cao Những nội dung
tự BD phải liên quan chặt chẽ và phục vụ hữu ích cho công việc dạy học, giáo dục của GV HT quản lý nội dung tự bồi dưỡng của GV có tác dụng định hướng cho GV trong việc lựa chọn, xác định, tìm kiếm vấn đề cần BD phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của công việc cũng như đòi hỏi phát triển của bản thân GV Để quản lý tốt nội dung tự BDCM của GV, HT thường xuyên thực hiện nhiệm vụ định hướng, tư vấn, hỗ trợ, giúp cho GV lựa chọn nội dung tự BD phù hợp với đòi hỏi và yêu cầu phát triển bản thân và nhà trường
c) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện các hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Tổ chức thực hiện các hoạt động tự BDCM bao gồm cả quá trình tổ chức điều khiển, dẫn dắt của HT nhà trường, tổ trưởng bộ môn, nhóm trưởng
bộ môn và quá trình tự tổ chức, tự điều khiển của GV trong mối quan hệ tương quan chặt chẽ với nhau nhằm mục đích giúp cho GV thực hiện tốt kế hoạch tự bồi dưỡng, đảm bảo thực hiện có hiệu quả kế hoạch chung của nhà trường
Hoạt động tự BDCM của GV bao gồm nhiều bước, nhiều mức độ được tiến hành thông qua các hoạt động tự học, tự BD một cách chủ động, sáng tạo linh hoạt của chính bản thân GV Trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động
tự BD cho GV, HT tổ chức hướng dẫn cho các tổ trưởng, nhóm trưởng và bản thân GV biết cách sắp xếp, quản lý các công việc để tiến hành trong thời gian học tập, tự BD, biết cách huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết cách tự kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tự bồi dưỡng của bản thân
Trang 39BD, môi trường thực hiện hoạt động tự BD là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tự BD của GV HT nhà trường cần phải có kế hoạch và biện pháp quản lý nhằm tác động và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự BD
GV, qua đó HT tác động kịp thời đến từng đối tượng GV một cách hiệu quả Việc kiểm tra đòi hỏi phải gắn với thực tiễn của nhà trường, của GV đồng thời phải kết hợp nhiều phương pháp, hình thức kiểm tra linh hoạt, mềm dẻo
Trang 4029
- Sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học, công nghệ;
- Những yêu cầu của khoa học giáo dục
+ Sự phát triển tâm sinh lí của học sinh
+ Xu thế đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trên thế giới
+ Sự phát triển giáo dục phổ thông nước ta
- Người GV THCS cần có tinh thần trách nhiệm cao thể hiện trong công việc và thường xuyên có ý thức học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ và hoàn thiện bản thân
- Người GV THCS cần có năng lực tự kiểm tra hoạt động giáo dục của mình và của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm và học tập nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
Như vậy, để đạt được mục tiêu trên, cần phải có sự đổi mới toàn diện, đổi mới quản lý, đổi mới giảng dạy, đổi mới nội dung, chương trình và đội ngũ GV là yếu tố quan trọng nhất để thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục
1.5.2 Yêu cầu đổi mới công tác quản lý tự bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên ở trường THCS hiện nay
Nếu chủ trương xã hội hoá giáo dục là nhìn từ góc độ không gian thì xác lập quan niệm tự BD là suốt đời và được nhìn từ góc độ thời gian Từ nhận thức đó, trên địa vị công tác của mình, theo tác giả trong quá trình tự học, tự BD của GV, mỗi cán bộ GV ngành GD&ĐT cần tập trung vào các yêu cầu sau:
- Trong quá trình tự học, tự BD phải có ý thức cần gì học nấy, không có kiểu tự BD chung chung xa rời công việc Điều này có ý nghĩa là phải lấy công tác, nhiệm vụ được giao của mình làm trung tâm Nếu không có mục