1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý công tác đào tạo từ xa của trường đại học trà vinh trong giai đoạn hiện nay

125 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều nguyên nhân đã được đưa ra để lý giải cho hiện trạng này như: các điều kiện đảm bảo cho hoạt động từ xa cơ sở vật chất, học liệu, nội dung chương trình đào tạo, chất lượng giảng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐOÀN THỊ MỸ HẠNH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

TỪ XA CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Văn Liên

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Mỹ Hạnh

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Bố cục đề tài 5

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TỪ XA 7

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7

1.1.1 Sự hình thành và phát triển ĐTTX trên thế giới 7

1.1.2 Sự hình thành và phát triển ĐTTX ở Việt Nam 11

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 19

1.2.1 Đào tạo từ xa 19

1.2.2 Quản lý giáo dục đại học 20

1.2.3 Quản lý đào tạo 22

1.2.4 Quản lý ĐTTX và quản lý ĐTTX ở trường đại học 22

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ ĐTTX 25

1.3.1 Xác định mục tiêu đào tạo 25

1.3.2 Quy hoạch tuyển sinh theo mục tiêu và khả năng phục vụ 25

1.3.3 Quản lý nội dung, chương trình đào tạo 26

1.3.4 Quản lý quá trình đào tạo 27

1.3.5 Quản lý quá trình kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu 28

1.3.6 Cung ứng phương tiện, học liệu phục vụ cho công tác ĐTTX 29

1.3.7 Quản lý CBQL, đội ngũ GV và HV tại các trạm ĐTTX 29

Trang 4

XA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH 32

2.1 VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH VÀ VIỆN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC 32

2.1.1 Khái quát về quá trình phát triển của Trường Đại học Trà Vinh 32

2.1.2 Khái quát đặc điểm, nhiệm vụ của Trường Đại học Trà Vinh 33

2.1.3 Mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Trà Vinh 35

2.1.4 Phương thức, bậc học và ngành đào tạo tại Trường Đại học Trà Vinh 35

2.1.5 Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên 36

2.1.6 Tổng quan về ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh 38

2.1.7 Vài nét về Viện Phát triển nguồn lực 38

2.2 QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 40

2.2.1 Nội dung và đối tượng khảo sát 40

2.2.2 Phương pháp và tiến trình khảo sát 41

2.2.3 Cách xử lý số liệu 42

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐTTX TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH 42

2.3.1 Công tác tuyển sinh 42

2.3.2 Quản lý nội dung, chương trình đào tạo 45

2.3.3 Quản lý quá trình tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu 47

2.3.4 Quản lý cơ sở vật chất, phương tiện và học liệu phục vụ cho công tác ĐTTX 59

2.3.5 Quản lý đội ngũ GV, CBQL và HV tại các trạm ĐTTX 62

2.4 NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐTTX TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH 68

2.4.1 Mặt mạnh 68

Trang 5

2.4.4 Những khó khăn 69

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH 71

3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP 71

3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐTTX TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH 73

3.2.1 Nâng cao nhận thức của GV, CBQL và HV về vai trò và đặc thù quản lý theo hình thức GDTX 73

3.2.2 Tăng cường công tác phối hợp trong quản lý ĐTTX 76

3.2.3 Cải tiến nội dung, chương trình đào tạo theo hình thức GDTX 78

3.2.4 Tăng cường quản lý thực hiện chương trình đào tạo 80

3.2.5 Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá kết quả 84

3.2.6 Đẩy mạnh phát triển học liệu phục vụ công tác ĐTTX 88

3.2.7 Xây dựng hệ thống thông tin và cơ chế phối hợp giữa Trường Đại học Trà Vinh – các trạm ĐTTX – HV 91

3.3 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 94

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

Số hiệu Tên bảng Trang

2.3 Đánh giá của học viên về chương trình đào tạo 46

2.7 Thực trạng giảng dạy theo giáo trình chung 51

2.9 Đánh giá thái độ học tập của học viên 55 2.10 Thời gian thông báo kết quả thi hết học phần 56 2.11 Lựa chọn của cán bộ quản lý, giảng viên và học viên về hình thức thi hết học phần 58 2.12 Ý kiến của HV về kết quả kiểm tra, đánh giá 59 2.13 Thực trạng cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ đào tạo từ xa 59 2.14 Thực trạng trang bị giáo trình, tài liệu cho học viên từ xa 61 2.15 Số lượng giảng viên cơ hữu tham gia giảng dạy đại học từ xa 64 2.16 Kết quả đánh giá đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý 66 2.17 Ý kiến của học viên về việc cung cấp và phản hồi thông tin 67 3.1 Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi 95

Trang 8

Số hiệu Tên hình Trang 2.1 Biểu đồ thực trạng giảng dạy theo giáo trình chung 52 2.2 Biểu đồ đánh giá phương pháp giảng dạy 54

2.3 Biểu đồ lựa chọn của cán bộ quản lý, giảng viên và học

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế nền kinh tế cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay, yếu

tố quyết định cho sự thành công hay thất bại trong mọi lĩnh vực đều là con người Vì vậy, việc đào tạo nâng cao năng lực và trí thức của con người là một nhu cầu được ưu tiên hơn bao giờ hết

Với nhu cầu học tập ngày càng cao và đa dạng, đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải có sự linh hoạt, mở rộng nhiều phương thức và loại hình đào tạo Đi đôi với việc đổi mới phương thức dạy và học theo phương châm phát huy tính

chủ động, sáng tạo của người học “lấy học sinh làm trung tâm” cần nhanh

chóng phát triển loại hình đào tạo không chính quy, đặc biệt là loại hình đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến, nhằm mở rộng cơ hội học tập cho mọi người theo hướng học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tầng lớp nhân dân có thể tham gia học tập thích ứng kịp thời với sự phát triển của xã hội và ổn định cuộc sống

Đánh giá vai trò và tầm quan trọng của giáo dục từ xa trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước có những chủ trương, đường lối rất rõ ràng về phát triển giáo dục từ xa Nghị quyết Hội nghị lần thứ II của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Khóa VIII đã chỉ rõ “Mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt

là hình thức học từ xa” Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ

IX đã chỉ rõ: “Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết

hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính” Quyết định số

112/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 nêu rõ:

“Đẩy mạnh áp dụng phương thức giáo dục từ xa để thực hiện các chương

Trang 10

trình giáo dục thường xuyên; tăng nhanh khả năng cung ứng cơ hội học tập theo phương thức giáo dục từ xa đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; tăng cường sử dụng các phương tiện thông tin

và truyền thông hiện đại…” Qua các văn bản nêu trên, Đảng và Nhà nước ta

rất quan tâm đến phát triển loại hình giáo dục từ xa để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và phát triển đất nước

Trường Đại học Trà Vinh là trường công lập có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, nghiên cứu khoa học và ứng dụng, cung cấp các dịch vụ góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Trà Vinh

và Đồng bằng Sông Cửu Long Trường hoạt động theo mô hình đa cấp, đa ngành và đa phương thức đào tạo, đáp ứng mọi chuyên môn và lĩnh vực mà

xã hội cần, được tổ chức BUREAU VERITAS chứng nhận là trường đại học đạt chuẩn ISO 9001:2008 và là thành viên thứ 151 của Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng Canada

Với phương châm “Mang đến cơ hội học tập chất lượng cho cộng đồng”,

đồng thời phát huy lợi thế có được từ mô hình đào tạo đa cấp, đa ngành, đa phương thức đào tạo, năm 2008 Trường đã tuyển sinh khóa cao đẳng, đại học theo hình thức từ xa đầu tiên và đến nay đã phát triển với quy mô trên 8.000 học viên Đặc biệt, Trường luôn được sự quan tâm của Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh và Bộ Giáo dục và Đào tạo, được ưu tiên về chỉ tiêu đào tạo hệ từ xa

và mở thêm nhiều ngành đào tạo bậc đại học hệ từ xa, từ đó Trường Đại học Trà Vinh đã đạt được những thành quả đáng kể góp phần thực hiện Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục đào tạo và Dạy nghề khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2010 và chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2020 và những năm tiếp theo

Trang 11

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh vẫn còn nhiều tồn tại như: một số cán bộ quản lý, giảng viên và học viên không coi trọng phương thức giáo dục từ xa, số lượng sinh viên tốt nghiệp thấp, công tác quản lý ĐTTX còn bất cập

Có nhiều nguyên nhân đã được đưa ra để lý giải cho hiện trạng này như: các điều kiện đảm bảo cho hoạt động từ xa (cơ sở vật chất, học liệu, nội dung chương trình đào tạo, chất lượng giảng viên và cán bộ quản lý công tác đào tạo từ xa…); hệ thống thông tin chưa đồng bộ giữa Trường với các trạm ĐTTX và học viên; mặt khác, vì là hình thức đào tạo mới, nên việc quản lý công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh từ trước đến nay chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý đào tạo theo hình thức tập trung mà chưa có một công trình nghiên cứu nào quan tâm đến vấn đề này

Là một viên chức của Trường Đại học Trà Vinh, được phân công quản lý công tác ĐTTX, do đó việc khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản

lý công tác ĐTTX là việc làm cấp thiết, góp phần thực hiện nhiệm vụ, sứ mạng và các mục tiêu của Nhà trường Nếu có hệ thống các biện pháp quản lý công tác ĐTTX mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện và bối cảnh hiện nay

ở Trường Đại học Trà Vinh, sẽ góp phần phát triển quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, chất lượng giáo dục, đặc biệt là tạo được thương hiệu cho Trường Đại học Trà Vinh, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp quản lý công tác đào tạo từ xa của Trường Đại học Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay” làm vấn đề nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý ĐTTX đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả ĐTTX tại Trường Đại học

Trang 12

Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý công tác ĐTTX của Trường Đại học Trà Vinh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đào tạo bậc đại học theo hình thức từ xa tại Trường Đại học Trà Vinh trong thời gian từ khi Nhà trường có đào tạo loại hình này, cụ thể là công tác quản lý của Viện Phát triển nguồn lực Qua đó đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay

4 Giả thuyết khoa học

Chất lượng ĐTTX sẽ được nâng cao, nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp với lý luận khoa học quản lý giáo dục và quán triệt các vấn đề:

Nâng cao nhận thức của CBQL, GV và HV về vai trò và đặc thù quản lý theo phương thức giáo dục từ xa; cải tiến nội dung, chương trình đào tạo theo hình thức giáo dục từ xa; đổi mới công tác tổ chức đào tạo và kiểm tra đánh giá kết quả; tăng cường các điều kiện về phương tiện, học liệu phục vụ công tác ĐTTX; xây dựng hệ thống thông tin và cơ chế phối hợp giữa Trường Đại học Trà Vinh – các trạm ĐTTX– HV

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý công tác ĐTTX ở trường Đại học

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh

5.3 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh, đồng thời khảo nghiệm tính hợp lý và khả thi của các biện pháp

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: để tiến hành điều tra về thực trạng việc đào tạo, quản lý công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh, cũng như tính cần thiết và khả thi của các biện pháp, chúng tôi xây dựng phiếu hỏi cho 3 đối tượng: CBQL, GV và HV viên đang theo học các lớp từ xa tại Trường Đại học Trà Vinh

Phương pháp phỏng vấn: bên cạnh việc điều tra bằng phiếu hỏi, chúng tôi tiến hành phỏng vấn, trao đổi ý kiến với một số CBQL, GV và HV đang theo học các lớp từ xa tại Trường để thu thập thêm thông tin liên quan đến đề tài Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: sử dụng các tài liệu, số liệu có liên quan, đặc biệt là các tài liệu, số liệu của ngành chủ quản và của Trường còn lưu giữ

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: trực tiếp trao đổi ý kiến với các CBQL tại Trường Đại học Trà Vinh để có thêm những thông tin cần thiết, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

6.3 Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý các kết quả điều tra

7 Bố cục đề tài

Luận văn gồm có 3 phần:

Phần mở đầu

Phần nội dung nghiên cứu Phần này gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác ĐTTX

- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh

Trang 14

- Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác ĐTTX tại Trường Đại học Trà Vinh

Phần kết luận và khuyến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Để thực hiện công trình nghiên cứu, ngoài việc tổng hợp, thu thập các loại tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, tìm ra những dấu hiệu đặc thù của vấn đề, chúng tôi cũng đã tìm hiểu các công trình

nghiên cứu của các tác giả sau: “Nghiên cứu triển khai chương trình đào tạo

từ xa bậc đại học trong điều kiện Việt Nam” (Chủ nhiệm: Cao Văn Phường);

“Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo từ xa” (Chủ nhiệm:

Nguyễn Kim Truy); “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới phục vụ đào tạo

từ xa” (Chủ nhiệm: Phạm Minh Việt); “Nghiên cứu ứng dụng các nhóm công nghệ đào tạo từ xa và quản lý liên thông trong phạm vi cả nước” (Chủ nhiệm:

Trần Đức Vượng) Bên cạnh đó cũng có nhiều học viên cao học đã lựa chọn

quản lý công tác ĐTTX làm đề tài nghiên cứu của mình như: “Thực trạng và

một số giải pháp về quản lý quá trình đào tạo tại Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh” (Phạm Thị Phương Trang, 2002); “Thực trạng và giải pháp quản lý đào tạo từ xa tại Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2010” (Dương Thị Mai Phương, 2006); “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo phương thức giáo dục từ xa tại Trung tâm Đào tạo Thường xuyên – Đại học Đà Nẵng” (Đỗ Thị Thu Hương, 2009)

Dù có nhiều tác giả đã nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác ĐTTX

ở trường cao đẳng, đại học nhưng đối với tỉnh Trà Vinh nói chung và Trường Đại học Trà Vinh nói riêng, đây là một vấn đề hoàn toàn mới chưa được ai nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC

ĐÀO TẠO TỪ XA

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Sự hình thành và phát triển ĐTTX trên thế giới

Sự hình thành và phát triển ĐTTX trên thế giới chịu tác động mạnh mẽ của hai nhân tố: một là tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin, hai là nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu ngày càng tăng của người dân đối với giáo dục – đào tạo

ĐTTX được hình thành từ cuối thế kỷ 19 tại các nước Tây Âu và Bắc

Mỹ Phương tiện chuyển tải thông tin cho ĐTTX lúc đó chủ yếu dựa vào tài liệu in ấn và hệ thống bưu điện Đến đầu thế kỷ 20, do có những tiến bộ mới của khoc học và công nghệ thông tin, ĐTTX được tiến thêm một bước Năm

1927, Đài BBC (Luân Đôn) lần đầu tiên phát sóng các chương trình ĐTTX Giữa thế kỷ 20, khi công nghệ truyền hình phát triển, các chương trình ĐTTX được phát trên sóng truyền hình sinh động, lớp học hiện ra trước mắt học viên qua màn ảnh nhỏ Những thập niên cuối thế kỷ 20, máy vi tính đã tạo cho ĐTTX có một bước tiến nhảy vọt Đặc biệt, hệ thống vi tính nối mạng, kỹ thuật số và truyền tin viễn thông qua vệ tinh cho phép chuyển tải thông tin hai chiều một cách nhanh nhạy và chính xác, đã tác động đến mọi mặt của ĐTTX

và đã tạo cho ĐTTX có một ưu thế mới Các chương trình ĐTTX được thiết

kế và tiến hành bằng công nghệ thông tin hiện đại thậm chí đã làm thay đổi hẳn cách dạy và học trong hệ thống đào tạo truyền thống

Qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, ĐTTX đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân Thời

kỳ từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ĐTTX chủ yếu đáp ứng nhu cầu học

Trang 16

tập của dân chúng, những người không có điều kiện theo học các trường truyền thống vì lý do kinh tế hoặc do vị trí địa lý Đến nửa cuối thế kỷ 20, xuất hiện nhu cầu bức thiết hơn, đó là nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Sau Đại chiến Thế giới lần thứ II, thế giới lao vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế; khoa học và công nghệ có những bước tiến nhảy vọt; giáo dục và đào tạo được coi là then chốt trong cuộc đại cách mạng đó Các nước đã trở thành những “con rồng” của thế giới là những nước đã nắm bắt được xu thế của lịch sử; nền kinh tế có tri thức Xu thế đó vẫn còn là mục tiêu của nhiều nước trong thiên niên kỷ mới Các học giả trên thế giới đã nhận định rằng: nếu như thời

kỳ phong kiến do quyền lực và đất đai ngự trị, thời đại công nghiệp bị vật chất

tư bản chi phối, thì ở thế kỷ 21 sự quyết định tối cao thuộc về nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức lấy giáo dục – đào tạo làm đòn bẩy; trong đó, ĐTTX phải được ưu tiên hàng đầu, vì nó tạo ra những đột phá mới, nhờ có tiến bộ của công nghệ thông tin hiện đại Hơn nữa, giáo dục thế kỷ 21 phải tiến đến mọi người, mọi nhà, để mọi người dân được vươn lên trong cuộc sống và lao động Mặt khác, giáo dục phải tạo ra cho được những công dân có trách nhiệm và có

ý nghĩa đối với xã hội; người dân phải được quyền lựa chọn tối đa để đạt tri thức và phương pháp hành động Vì vậy, ĐTTX sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển hệ thống giáo dục suốt đời và nền kinh tế tri thức

Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã và đang xây dựng hệ thống giáo dục đào tạo theo hình thức học từ xa song hành và bổ trợ cho hệ thống giáo dục đào tạo truyền thống Mỗi hình thức đào tạo đều có những thế mạnh riêng

và là thành phần cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân

Để tổ chức và thực hiện các chương trình ĐTTX, nhiều nước đã thành lập các trường đại học chuyên ngành ĐTTX như các trường Đại học Mở ở Anh, Thái Lan, Singapore, Philippin, Indonesia, Ấn Độ,…hoặc các chương

Trang 17

trình đại học hàm thụ ở Pháp, Bungari, Trường Đại học Phát thanh và Truyền hình Trung Quốc, Trường Đại học Không trung ở Nhật Bản, Triều Tiên,…

Đào tạo từ xa ở Hàn Quốc: ĐTTX ở Hàn Quốc được tiến hành ở cả giáo

dục chính quy và giáo dục không chính quy, ở cả trung học và đại học ĐTTX rất có ý nghĩa trong giáo dục không chính quy, đó là các trường cao trung hàm thụ và không trung và trường Đại học tổng hợp hàm thụ và không trung

Đào tạo từ xa ở Nhật Bản: ở Nhật Bản ĐTTX đa dạng hơn ở Hàn Quốc,

nhiều tổ chức phi chính phủ và các ngành ngoài giáo dục tham gia tiến hành ĐTTX, có tác dụng hỗ trợ cho giáo dục chính quy, với nội dung mang lại những lợi ích cho cộng đồng Chính phủ Nhật Bản cũng nêu ra, hỗ trợ cho các thử nghiệm, đầu tư cho các phương tiện ĐTTX Đầu tư cho giáo dục cũng được coi là vấn đề làm giàu vốn liếng cơ bản cho xã hội ĐTTX ở Nhật Bản bao gồm: các khóa trình hàm thụ đại học chuyên ngành, trường đại học tổng hợp không trung và các khóa trình hàm thụ cao trung

Đào tạo từ xa ở Thái Lan: hệ thống giáo dục không chính quy ở Thái Lan

rất phát triển, được coi là một phần không thể thiếu của hệ thống giáo dục quốc dân Năm 1979 thành lập Vụ giáo dục không chính quy trong Bộ giáo dục (thực chất như một tổng cục với rất nhiều cơ sở) Năm 1970 thành lập Đại học Mở Ramkhamhaeng Năm 1978 thành lập Đại học Mở Sukhothai Thammathirat chuyên giảng dạy từ xa thông qua nhiều phương tiện, nhằm mở rộng cơ hội cho những người tốt nghiệp trung học được học lên đại học

Đào tạo từ xa tại Australia: tại đây ĐTTX như một phần của hệ thống

giáo dục, từ tiểu học lên đến đại học ĐTTX ở tiểu học và trung học ở Australia bắt đầu có ngay từ đầu thế kỷ để dạy cho trẻ em ở các vùng nông thôn xa xôi Năm 1910, đại học Queensland đã mở hệ hàm thụ, nhưng ĐTTX phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới thứ 2 để giúp quân nhân và phụ nữ tiếp tục học đại học Trong các thập kỷ 60 và 70, đại học từ xa thật sự bùng nổ

Trang 18

Đào tạo từ xa ở Trung Quốc: ĐTTX ở Trung Quốc rất phát triển trong

ba thập kỷ gần đây Chính phủ và Bộ Giáo dục Trung Quốc ưu tiên đầu tư cho ĐTTX, áp dụng hàng loạt các thành tựu và tiến bộ của khoa học công nghệ và giáo dục, nhất là giáo dục từ xa Hiệp hội Giáo dục Mở Bắc Kinh gồm 22 trường phía Bắc đất nước, Đại học Truyền hình Thượng Hải có 3 trung tâm điều hành chính, 6 trường quay hiện đại, 49 trường thành viên và 01 trung tâm học liệu điện tử

Tổ chức OECD là tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển của các nước cộng đồng Châu Âu, một nước Châu Á là Nhật và hai nước Châu Mỹ là Mỹ và Canada Phần lớn các trường đại học từ xa được thành lập trong các thập kỷ 70

và 80 nhằm trước hết là cung cấp cơ hội học đại học cho những người lớn do nhiều điều kiện không theo học ở các trường truyền thống

- Ở Pháp có Trung tâm Quốc gia dạy hàm thụ là một trung tâm lớn cung cấp các khóa trình học ở mọi trình độ, 18 trường đại học ở Pháp có các trung tâm dạy từ xa bằng các phương tiện nghe nhìn

- Ở Cộng hòa Liên bang Đức có Viện đại học từ xa, nằm ở Trường Đại học Turbingen, có các khóa trình đào tạo ở nhiều mức

- Ở Ai – len có Viện Quốc gia giáo dục đại học tiến hành ĐTTX

- Ở Ý có thành lập tổ hợp các trường đại học và trường khác có ĐTTX

- Ở Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, Canada, Mỹ, Thụy Điển, Nam Tư, Nga đều có các trường đại học từ xa

Sở dĩ hầu hết các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển trong những thập kỷ cuối thế kỷ XX đã triển khai ĐTTX nhanh chóng như vậy la do

sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân mà lực lượng lao động luôn có nhu cầu được bổ sung kiến thức và kỹ năng để theo kịp với sự phát triển của khoa học, công nghệ và đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất Bên cạnh đó các nước đang phát triển muốn

Trang 19

rút ngắn khoảng cách trong quá trình đuổi kịp các nước phát triển, tránh nguy

cơ bị tụt hậu, đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và lấy ĐTTX làm phương tiện hữu hiệu để đào tạo và tái tạo nguồn nhân lực, thích ứng với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại

1.1.2 Sự hình thành và phát triển ĐTTX ở Việt Nam

Đào tạo đại học theo phương thức GDTX đã hình thành ở nước ta từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ trước, đó là những khóa học hàm thụ theo hình thức gửi thư của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Điều này đã

mở ra một hướng đi mới cho ngành giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho những người đang làm việc, những người do hoàn cảnh khó khăn của bản thân, của gia đình hoặc của đất nước đang trong thời kỳ có chiến tranh, không

có điều kiện học tập trung,…nay được học đại học, góp phần tăng quy mô đào tạo, tạo nguồn nhân lực ngay tại địa phương, cơ quan, xí nghiệp,…Với hệ đào tạo này, đã bước đầu hình thành ở Việt Nam khái niệm và tâm lý, phương pháp tự học, học tập suốt đời

Tuy nhiên về sau do khó khăn về kinh tế, về chiến tranh, hình thức học hàm thụ bằng cách gửi thư không phát triển được

Đến giai đoạn từ 1977 – 1988, Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã thí điểm mở các khóa đào tạo giáo viên tại các địa phương theo hình thức tự học kết hợp với thực tập sư phạm thường xuyên Để phát triển giáo dục

từ xa, vào năm 1993 Chính phủ đã cho phép thành lập 2 đại học mở đầu tiên

đó là Viện Đại học Mở Hà Nội và Đại học Mở Bán công Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) với chức năng và nhiệm vụ chính là đào tạo từ xa, đến năm 1994 lần lượt các trung tâm đào tạo

từ xa ở các trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội được thành lập

Trang 20

Khi bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế đào tạo đại học theo hình thức Tự học có hướng dẫn (Quyết định số 2091/GD-ĐT ngày 07/10/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Để quản lý quá trình đào tạo ở trình độ đại học theo hình thức học từ xa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế tạm thời về xét tuyển, thi – kiểm tra và cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp giáo dục từ xa (ban hành theo Quyết định số 1860/GD-ĐT ngày 25/5/1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) và ban hành chính thức Quy chế tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa (theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/8/2003) Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý để các trường, các địa phương triển khai các hoạt động GDTX nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo Nhờ phát triển nhanh các phương tiện truyền thanh, truyền hình, thiết bị

in ấn, công nghệ thông tin hiện đại, GDTX trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể Nhiều đề án cấp Bộ và cấp quốc gia được triển khai nghiên cứu Nhiều chương trình dạy ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng kiến thức

về văn hóa xã hội, về nghiệp vụ quản lý kinh tế thực hiện trên Đài phát thanh, truyền hình ngày càng phong phú, đa dạng, thiết thực phục vụ nhu cầu học tập của xã hội Việc thử nghiệm, triển khai ĐTTX qua mạng bước đầu đã đạt được kết quả tốt

Về phát triển quy mô, mạng lưới:

Để phát triển GDTX, năm 1994 Chính phủ đã cho phép thành lập 2 Đại học Mở, năm 1994 đã bắt đầu thành lập các trung tâm ĐTTX ở một số trường đại học Đến cuối năm 2009 đã có thêm 15 trường đại học được Bộ Giáo dục

và Đào tạo cho phép tiến hành đào tạo theo phương thức giáo dục từ xa, nâng tổng số các trường đại học đang tham gia là 17 Hệ thống Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh tại các địa phương đã được hình thành và phát triển

Trang 21

mạnh, tạo thành mạng lưới cơ sở tiếp nhận các chương trình GDTX rộng khắp, rất thuận lợi cho việc phát triển GDTX

Tổng số học viên đã tốt nghiệp đại học theo hình thức học từ xa trong 15 năm (từ 1994 – 2009) là 159.947 người, số học viên đang theo học là 232.781 người [3, tr 8]

Về tổ chức quản lý quá trình đào tạo:

Để tiến hành ĐTTX, các trường đã xây dựng quy chế riêng về GDTX; lập kế hoạch mở các khóa đào tạo, tổ chức xây dựng kế hoạch đào tạo chi tiết cho từng ngành, từng khóa; tổ chức sản xuất và phân phối học liệu cho từng học viên; kết hợp tổ chức quá trình đào tạo, thi, kiểm tra và cấp văn bằng, chứng chỉ

Bên cạnh đó, các trường đã tổ chức một mạng lưới các cơ sở tiếp nhận chương trình ĐTTX tại các địa phương để làm cầu nối giữa HV và nhà trường Căn cứ vào Quy chế của Bộ, các trường đã cố gắng tổ chức quy trình đào tạo, phân công trách nhiệm cụ thể giữa trung tâm ĐTTX của trường với các khoa, phòng, ban trong trường, với các cơ sở tiếp nhận chương trình ĐTTX của các địa phương, tạo mối quan hệ đa chiều trong các khâu quản lý

Tuy nhiên so với GDTX của các nước trong khu vực và trên thế giới và

so với chất lượng nguồn nhân lực hiện nay thì GDTX ở Việt Nam trong thời gian qua còn nhiều mặt hạn chế:

Về công nghệ đào tạo (học liệu): Học liệu chủ yếu là tài liệu in kết hợp sử dụng một số CD-ROM, băng tiếng, băng hình Hầu hết các loại học liệu do các trường biên soạn chưa thật sự phù hợp với công nghệ ĐTTX Một số môn học còn dùng chung tài liệu với hệ đào tạo chính quy và đào tạo tại chức Chưa có

sự phối hợp giữa các trường trong việc xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình và thiết kế học liệu Việc sử dụng thiết bị nghe-nhìn và công nghệ thông tin hiện đại để triển khai các chương trình GDTX chưa được các trường chú

Trang 22

trọng Sự phối hợp với đài phát thanh, truyền hình trung ương, địa phương và các cơ quan truyền thông trong việc sản xuất và chuyển tải các chương trình ĐTTX chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao

Về vấn đề đầu tư: chưa có chính sách đầu tư từ Ngân sách Nhà nước cho ĐTTX Phần lớn các trường đang tự chủ, lấy thu bù chi cho các hoạt động ĐTTX, hoặc tranh thủ nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Về tổ chức và quản lý quá trình đào tạo: hiện nay một số trường và một

số cơ sở tiếp nhận GDTX ở địa phương chưa có tổ chức hợp lý, đủ mạnh; chưa

có quy trình và biện pháp quản lý ĐTTX chặt chẽ Các cơ sở tiếp nhận chương trình ĐTTX ở địa phương của một số trường phần lớn là do cán bộ của các Sở Giáo dục và Đào tạo kiêm nhiệm, không có bộ máy chuyên trách, địa điểm thuê mượn, không ổn định Một số trường còn đặt trung tâm từ xa vệ tinh ở các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện hoặc các đơn vị khác không đúng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Điều này dẫn đến tình trạng

mở lớp phân tán, môi trường sư phạm không đảm bảo, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy-học, khả năng quản lý đào tạo và hỗ trợ đào tạo bị hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả ĐTTX

Quy trình thi, kiểm tra, đánh giá: công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá thường được tiến hành theo phương pháp tự luận và tổ chức tại các trạm tiếp nhận chương trình ĐTTX ở địa phương Vì vậy, có nơi, có lúc chưa đảm bảo tính nghiêm túc, khách quan

Việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và phương pháp sư phạm về giáo dục

từ xa cho đội ngũ CBQL, GV: phần lớn các trường sử dụng đội ngũ giảng viên dạy hệ chính quy chưa có nghiệp vụ và phương pháp sư phạm về ĐTTX tham gia biên soạn học liệu và giảng dạy cho học viên học từ xa, đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng biên soạn chương trình, thiết kế học liệu dành riêng cho ĐTTX

Trang 23

cũng như việc giảng dạy qua phương tiện kỹ thuật và hướng dẫn học tập cho học viên

Là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, GDTX ngày càng được

mở rộng, phát triển, là chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI GDTX cùng với các

bộ phận giáo dục chính quy giúp cho mọi người hoàn thiện và phát triển nhân cách GDTX có thể thực hiện tốt các chức năng thay thế, tiếp nối cho quá trình đào tạo mà người học không thể tiếp tục theo học trong các nhà trường chính quy Khi đó việc đào tạo phải thực hiện theo chuẩn mực của đào tạo chính quy, đảm bảo và nâng cao chất lượng của giáo dục GDTX vừa là phương thức vừa là mục tiêu của quá trình phát triển liên tục GDTX sẽ tạo ra một lực lượng lao động có kỹ thuật, tức là phát triển tài nguyên con người và là nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội Song, mặt khác, để thực hiện được mục tiêu của DGTX thì cần thiết phải hết sức đa dạng và mềm dẻo trong giáo dục và đào tạo

GDTX - hiểu theo nghĩa đúng của nó - là một phương thức giáo dục mới đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội to lớn Với GDTX, mọi người đều có thể tham gia học tập, học một cách thường xuyên, người học luôn được bổ túc, cập nhật kiến thức để trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, theo kịp và thúc đẩy sự đổi mới Phương thức này cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ ở nước ta, vì đây là xu thế của giáo dục hiện đại, một nhân tố không thể thiếu trong việc phát triển nền kinh tế tri thức trong tương lai

GDTX được tiến hành theo nhiều phương thức Nếu như trong khoảng

10 năm về trước, khi mà Internet còn chưa được phổ biến rộng, các trường đại học tiến hành GDTX bằng cách phân phát cho học viên một hệ thống giáo trình, băng tiếng và băng hình để học viên tự nghiên cứu, thì khi công nghệ thông tin phát triển, dữ liệu kiến thức không còn được lưu giữ theo lối truyền thống như trên nữa mà thay vào đó là dữ liệu điện tử Thông qua Internet, chỉ

Trang 24

cần ngồi trước màn hình, học viên có thể tiếp thu các bài học có đủ cả âm thanh và hình ảnh sống động, trao đổi bài học và bài thi tiện lợi hơn trước rất nhiều thông qua dịch vụ thư điện tử (E-mail), diễn đàn (Forum), hay nhóm tin (Newsgroup) trên mạng Chính Internet đã tạo ra các lớp học ảo không cần có

sự hiện diện của cả giáo viên và học viên mà vẫn đảm bảo được công tác đào tạo Các bộ môn phụ trách các môn học sẽ phân công cho các giáo viên chuẩn

bị tài liệu giảng dạy, giáo viên tiến hành soạn bài giảng trên máy tính cá nhân

và đưa lên trang Web của chương trình GDTX Dựa vào đặc thù của ngành học, các khoa có thể lựa chọn các môn học cần thiết cho ngành học của mình,

từ đó học viên thuộc ngành học có thể tiếp thu các bài học của các môn học

đó thông qua việc truy cập vào trang Web cần thiết Nhờ các dịch vụ trên mạng, giáo viên cũng có thể tổ chức thi qua mạng dưới nhiều hình thức: Thi trắc nghiệm, thi viết hay vấn đáp rất gọn nhẹ và đơn giản Tuy nhiên, hình thức thi trắc nghiệm hiện đang được ưa chuộng hơn cả vì đây là hình thức thi đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng và khoa học Giáo viên không còn phải

lo trộn đề thi như trước kia mà chỉ cần đưa ra các câu hỏi của từng chủ đề môn học vào cơ sở dữ liệu "Ngân hàng câu hỏi", từ đó máy tính sẽ tự động trộn đề thi theo các yêu cầu của giáo viên về chủ đề thi, mức độ khó của câu hỏi Đối với học viên, thi trắc nghiệm đảm bảo tính công bằng, vì đây là đề thi ngẫu nhiên và có thể bao quát hết kiến thức cần trang bị cho họ

Đánh giá vai trò và tầm quan trọng của giáo dục từ xa trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước có những chủ trương, đường lối rất rõ ràng về phát triển giáo dục từ xa Nghị quyết Hội nghị lần thứ II của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Khóa VIII đã chỉ rõ “Mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt

là hình thức học từ xa” Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5

Trang 25

năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội

học tập giai đoạn 2005-2010 nêu rõ: “Đẩy mạnh áp dụng phương thức giáo

dục từ xa để thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên; tăng nhanh khả năng cung ứng cơ hội học tập theo phương thức giáo dục từ xa đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; tăng cường sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông hiện đại…” Quyết

định số 164/2005/QĐ-TTg ngày 04/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005-2010” đã đề ra các

chỉ tiêu và nhiệm vụ chủ yếu: “ Phát triển phương thức giáo dục từ xa ở các

trường đại học, cao đẳng Phấn đấu đến năm 2010 có ít nhất 20% sinh viên học tập theo phương thức giáo dục từ xa…”

Trong diễn văn bế mạc tại Diễn đàn quốc tế giáo dục Việt Nam về “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” ngày 23 tháng 6 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã nhấn mạnh: Trước hết, cần giải bài toán quan hệ giữa quy mô và chất lượng giáo dục đại học theo hướng từng bước thực hiện đại chúng hóa giáo dục đại học nhờ nhiều giải pháp mà tinh thần cơ bản là đa dạng hóa trình độ, loại hình đào tạo, đi đôi với việc chuẩn hóa chương trình theo yêu cầu của từng trình độ đào tạo; tăng cường các hình thức đào tạo truyền thống, chú trọng phương thức giáo dục từ xa… [10, tr 11]

Việc vận dụng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển ĐTTX, kết hợp với kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của thế giới nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn GDTX của Việt Nam ngày càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về phát triển ĐTTX như các đề tài cấp Bộ của các tác giả sau:

Trang 26

- Cao Văn Phường: “Nghiên cứu triển khai chương trình đào tạo từ xa bậc đại học trong điều kiện Việt Nam” – năm 1998

- Nguyễn Kim Truy: “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo

từ xa” – năm 2007

- Phạm Minh Việt: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới phục vụ đào tạo từ xa” – năm 2008

- Trần Đức Vượng: “Nghiên cứu ứng dụng các nhóm công nghệ đào tạo

từ xa và quản lý liên thông trong phạm vi cả nước” – năm 2009

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, những luận văn thạc sĩ gần đây được công bố cũng đã đề xuất được những giải pháp khả thi về quản lý công tác ĐTTX, cụ thể như:

- Phạm Thị Phương Trang: “Thực trạng và một số giải pháp về quản lý quá trình đào tạo tại Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh” - năm

2002

- Dương Thị Mai Phương: “Thực trạng và giải pháp quản lý đào tạo từ

xa tại Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2010” – năm 2006

- Đỗ Thị Thu Hương: “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo phương thức giáo dục từ xa tại Trung tâm Đào tạo Thường xuyên – Đại học

Đà Nẵng” – năm 2009

Tóm lại, vấn đề quản lý công tác ĐTTX hiện nay rất quan trọng và mang tính cấp thiết, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học Tuy nhiên, việc khai thác, tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có để đồng bộ hóa các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác ĐTTX ở Trường Đại học Trà Vinh vẫn còn bỏ ngỏ Đó chính là nội dung chính mà đề tài luận văn này cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ

Trang 27

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Đào tạo từ xa

Khi định nghĩa về ĐTTX có rất nhiều thuật ngữ liên quan và có ý nghĩa tương tự Ở một số nước, người ta đã sử dụng các khái niệm như GDTX (Distance education), đào tạo mở (Open learning), đào tạo lấy người học làm trung tâm (Student – centred learning), đào tạo trực tuyến (E-learning hay online-learning)… để phân biệt phương pháp sư phạm mới này với phương pháp giảng dạy truyền thống trực tiếp – phương pháp “phấn bảng – trò chuyện”, “mặt giáp mặt” (face to face)

Theo Giáo sư Sonja Ruehl Trường Đại học Tổng hợp Luân Đôn thì về

cơ bản, ĐTTX được thực hiện thông qua các phương pháp và phương tiện

thông tin chứ không phải thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa người dạy và người học Đặc điểm phân biệt của các phương pháp ĐTTX là tính tương hỗ,

thể hiện ở sự tác động qua lại giữa người học và tài liệu học tập Đây là một phương pháp sư phạm mà trong đó quá trình và ý thức học tập tự giác cao của học viên được nhấn mạnh Các nội dung, phương pháp, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập được thiết kế để phù hợp với quá trình tự học đó Mục tiêu hàng đầu của chương trình đào tạo này là hướng dẫn, giúp đỡ HV bổ sung, nâng cao kiến thức để trở thành những người có tri thức, các nhà kinh

tế, nhà khoa học có suy nghĩ độc lập, có kỹ năng phân tích và lập luận tốt Ngoài ra, họ còn phải nắm được những kỹ năng viết, kỹ năng trình bày các bài viết, các công trình nghiên cứu một cách rõ ràng, dễ hiểu, chặt chẽ và có sức thuyết phục cao

Ở Việt Nam, ĐTTX được hiểu là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian Người học theo hình thức ĐTTX chủ yếu là tự học tự nghiên cứu qua tài liệu như giáo trình in, băng hình, băng tiếng, CD-ROM, giáo trình điện tử, đa

Trang 28

phương tiện…; bằng việc sử dụng các phương tiện nghe – nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình và mạng tin học – viễn thông do các cơ sở giáo dục phối hợp với các cơ quan truyền thông tổ chức và trợ giúp ĐTTX đòi hỏi người học phải tự lực, tự giác, kiên trì và quyết tâm cao mới có thể hoàn thành chương trình học tập của mình

Theo Quy chế hiện hành, “Giáo dục từ xa là một quá trình, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian.” (Điều 1, Quy chế ban hành theo Quyết định số 40/2003QĐ-BGD&ĐT, ngày 8/8/2003) Moore (1990) nêu ra định nghĩa: “Giáo dục từ xa là quá trình

mà trong đó thầy và trò gián cách nhau về thực thể, do đó công nghệ và phương tiện chuyển tải thông tin phải làm cầu nối cho quá trình dạy và học” Như vậy, ta có thể nêu các đặc điểm chủ yếu của ĐTTX:

- Phần lớn quá trình đào tạo có sự cách biệt giữa người dạy và người học;

- Có sự tổ chức và hướng dẫn của các cơ sở đào tạo để phát huy cao nhất

sự nỗ lực tự học của người học;

- Có sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, các loại học liệu như tài liệu in ấn các phương tiện nghe – nhìn, máy tính, mạng máy tính, truyền thanh, truyền hình;

- Sử dụng phương tiện thông tin hai chiều trong quá trình dạy học;

- Có sự giúp đỡ của các giáo viên hướng dẫn; tỷ lệ hướng dẫn, phụ đạo tập trung tùy thuộc vào nội dung học tập và phương tiện giảng dạy;

- Có sự cá thể hóa trong quá trình dạy – học

1.2.2 Quản lý giáo dục đại học

Điều 4 trong Điều lệ trường đại học ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ:

Trang 29

- Trường đại học chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục

và Đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi trường đặt trụ sở

- Cơ quan chủ quản phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản

lý nhà nước đối với các trường đại học trực thuộc theo quy định của Điều lệ này [6, điều 4]

Việc quản lý giáo dục đại học như điều lệ nêu trên thì Bộ Giáo dục và ủy ban nhân dân tỉnh là cấp quản lý vĩ mô so với trường đại học Còn trường đại học là cấp vi mô so với Bộ Giáo dục và Đào tạo và ủy ban nhân dân tỉnh Luật Giáo dục đã nêu giáo dục đại học bao gồm đào tạo trình độ: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ theo mục tiêu giáo dục đại học Quản lý giáo dục đại học cần quan tâm cả bốn trình độ trên theo mục tiêu giáo dục đại học Như vậy, quản lý trường học, quản lý nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô, đây là những tác động quản lý diễn ra trong phạm vi một trường đại học hay là quản lý nhà trường

Trên quan điểm “Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục (giáo dục là quốc sách hàng đầu) thì quản lý giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm (quản lý lấy nhà trường làm nền tảng) và quản lý nhà trường phải lấy việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát và hướng vào người học” [15,

tr 210] Từ việc quản lý nhà trường đại học lấy việc quản lý đào tạo là khâu

cơ bản, nên công việc điều hành nhà trường của chủ thể quản lý giáo dục phải tập trung cao vào quản lý các nhân tố của công tác đào tạo, bao gồm: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, đối tượng đào tạo, hình thức

tổ chức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, bộ máy quản lý đào tạo

và quy chế đào tạo

Trên cơ sở khái niệm quản lý giáo dục, có thể kết luận quản lý giáo dục đại học là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục

Trang 30

đại học lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục đại học nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức đại học để đạt mục tiêu giáo dục đại học đã đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động

1.2.3 Quản lý đào tạo

Quản lý giáo dục nói chung, quản lý đào tạo nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục nhằm đạt đến mục tiêu của giáo dục – đào tạo

Quản lý đào tạo có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ: cấp quản lý vi mô

và cấp quản lý vĩ mô Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống Trong hệ thống này có nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống con này là các hoạt động quản lý

vi mô Tuy nhiên, sự phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối Ví dụ, nếu ta đặt Phòng Đào tạo trong phạm vi trường học thì nó chỉ là cấp quản lý vi mô so với Ban lãnh đạo Nhà trường, nhưng nó trở thành cấp quản lý vĩ mô đối với các trợ lý đào tạo của các khoa Do đó khi xem xét một vấn đề quản lý phải xác định chủ thể quản lý đang ở cấp độ nào Từ đó mới thấy được mối tương quan trên dưới vĩ mô và vi mô

Quản lý dù là quản lý ở cấp vĩ mô hay cấp vi mô thì chúng đều là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích, các đối tượng của hệ thống nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục nhằm đạt đến mục tiêu của giáo dục – đào tạo

1.2.4 Quản lý ĐTTX và quản lý ĐTTX ở trường đại học

Quản lý ĐTTX bao gồm việc quản lý tất cả các vấn đề liên quan đến ĐTTX như: xác định mục tiêu đào tạo, xác lập các chuẩn mực chất lượng, thiết kế và tiến hành các chương trình đào tạo, giám sát giảng dạy, các phương

Trang 31

pháp xây dựng và kiểm soát chuẩn mực chất lượng, xây dựng, ban hành và thực hiện các quy trình đảm bảo chất lượng một cách công khai,… nhằm đạt được mục tiêu ĐTTX

Nhu cầu học tập của người dân đa dạng với nhiều mục đích khác nhau Trách nhiệm của ngành giáo dục là phải đáp ứng các nhu cầu học tập chính đáng UNESCO (1996) đã tuyên bố: “Giáo dục là quyền cơ bản của con người, cần được thực hiện qua toàn bộ cuộc đời của mỗi cá nhân”

Sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay đã dần dần tạo điều kiện cho từng người dân, thông qua việc học tập suốt đời và cơ hội bình đẳng

về tiếp nhận giáo dục để tự hoàn thiện mình, đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Giáo dục suốt đời là phương thuốc hữu hiệu của ngành giáo dục và đào tạo để nhanh chóng làm cho tất cả người lao động nước

ta sớm được thông qua đào tạo Trong cuộc hành trình suốt đời, hướng tới một

xã hội học tập, giáo dục theo phương thức từ xa chính là hướng đi chủ đạo Trong giai đoạn hiện nay trước những chuyển biến mạnh mẽ và ngày càng sâu sắc về kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới thì giáo dục không chính quy hay GDTX ngày càng có vị trí quan trọng vì những lý do sau đây:

- Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế

- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,… đòi hỏi phải cập nhật thông tin, tri thức cho người lao động để họ không bị làm ăn thua lỗ, không bị phá sản hoặc bị đào thải khỏi lực lượng sản xuất trong cơ chế thị trường

- Yêu cầu ngày càng cao về nhân lực và chất lượng sản phẩm trong các ngành nghề trong khi đó thế giới lại đang trong tình trạng khủng hoảng về nguồn tài nguyên và môi trường sinh thái

Trang 32

- Sự cách biệt giữa các nhóm đối tượng và cộng đồng dân cư (thành thị

và nông thôn, người giàu và người nghèo, giữa các giới và các nhóm dân tộc) ngày càng tăng

Từ những nguyên do trên mà nhiệm vụ của việc quản lý hệ từ xa ở một trường đại học phải được thể hiện trong các chương trình sau:

- Chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức kỹ năng; đào tạo lại và bồi dưỡng người lao động đang làm việc theo chu kỳ 5 năm một lần; chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ lãnh đạo và CBQL từ Trung ương đến địa phương

- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học Chương trình giáo dục tạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng sở thích cá nhân và giáo dục định hướng tương lai

- Chương trình giáo dục để giúp người học đạt được văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức từ xa

Có thể thấy trong những năm qua chúng ta chưa sử dụng được hệ thống quản lý tốt và một hệ thống kiểm tra – đánh giá như một công cụ để phát triển loại hình đào tạo này

Mặc dù hệ ĐTTX và hệ đào tạo chính quy có những mục tiêu, nội dung, chương trình, cách tổ chức quá trình học tập khác nhau thì đương nhiên sẽ có những cách đánh giá khác nhau Song bên cạnh đó, người quản lý giáo dục cần nghiên cứu các giá trị tương đương giữa hai loại hình đào tạo này Hệ thống GDTX cần có sự liên thông giữa hai hệ đào tạo để bất cứ một người theo học nào cũng đạt được trình độ yêu cầu trong một hệ thống giáo dục quốc dân Một nhóm các nhà nghiên cứu phê bình học đường cho rằng giáo dục hệ ĐTTX được xem như chìa khóa của lối thoát cho xã hội Giáo dục đào tạo có một sức mạnh giải phóng con người và đánh giá đúng giá trị của người đó bằng việc làm của họ Một người nào đó của hệ ĐTTX cũng có thể bước vào

Trang 33

cửa ngõ của giáo dục chính quy nhưng phải thỏa mãn những yêu cầu và các tiêu chí của hệ giáo dục chính quy

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ ĐTTX

1.3.1 Xác định mục tiêu đào tạo

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [17, điều 2]

Mục tiêu của giáo dục đào tạo là những gì mà HV phải có về đạo đức, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà HV đạt được sau quá trình học tập Việc xác định mục tiêu giáo dục có một ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của quá trình đào tạo Nó giúp cho GV xác định phải dạy gì, đánh giá khách quan

và đúng đắn kết quả học tập của HV và kết quả giảng dạy của bản thân

Mục tiêu của ĐTTX là nhằm cung cấp cơ hội học tập, nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng thực hành và khả năng nghiên cứu sáng tạo cho mọi người, đặc biệt là các cán bộ, công nhân viên và người lao động ở vùng sâu, vùng xa, …nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Đặc biệt là mở ra

cơ hội cho những người có nhu cầu học tập, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ nhưng lại không có điều kiện tập trung đến trường

1.3.2 Quy hoạch tuyển sinh theo mục tiêu và khả năng phục vụ

Để có được nguồn tuyển sinh đào tạo, nhà trường cần bám sát các chương trình kinh tế, xã hội trọng điểm; tăng cường công tác điều tra, khảo sát, nắm bắt nhu cầu của xã hội; chú trọng các ngành nghề truyền thống, quan tâm các ngành mới để vừa đáp ứng nhu cầu nguồn lực cho địa phương vừa đáp ứng nhu cầu của người học nâng cao hiểu biết phục vụ cuộc sống dân sinh

Trang 34

Quy hoạch tuyển sinh theo mục tiêu chính là việc lựa chọn trình độ đầu vào Việc xác định trình độ đầu vào theo mục tiêu giúp cho GV lựa chọn được những phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng tuyển sinh Nó còn giúp cho người học xác định được trình độ của bản thân để có những kế hoạch phấn đấu

Tuyển sinh theo khả năng phục vụ là việc đảm bảo các điều kiện về đội ngũ GV, điều kiện về cơ sở vật chất, chương trình, hệ thống học liệu, giáo trình, hệ thống các dịch vụ hỗ trợ khác…để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho quá trình dạy – học có hiệu quả, có chất lượng

1.3.3 Quản lý nội dung, chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo là một trình tự dưới dạng văn bản của các kinh nghiệm học tập được tạo ra với mục đích phát triển kiến thức cho người học Việc thiết kế các chương trình giảng dạy là hướng trực tiếp đến mục tiêu, qua

đó kinh nghiệm học tập có thể được hướng dẫn và kết quả học tập theo mong đợi được đưa ra nhằm đảm bảo kiến thức của HV được phát triển phù hợp với khóa học cụ thể

Nội dung, chương trình đào tạo là chất liệu biến đầu vào thành đầu ra Nội dung, chương trình đào tạo của các môn học phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản, hiện đại và sát với thực tiễn Việt Nam Người giáo viên trong quá trình thiết kế và giảng dạy, ngoài việc quán triệt các yêu cầu trên vào nội dung, chương trình đào tạo môn học của mình, cần cố gắng giáo dục cho HV những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những yêu cầu mới của đất nước và của thời đại đối với con người

Nội dung, chương trình đào tạo đại học ngày nay phải có tính chuyển hóa, hiện đại hóa và đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành, các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo dục đại học phải mang tính kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp

Trang 35

và bản sắc văn hóa dân tộc để có thể tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới Tóm lại trình độ đại học cần đảm bảo cung cấp cho HV những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên ngành thật sự cần thiết để sau này khi ra trường HV có ý thức rèn luyện kỹ năng cơ bản, năng lực thực hiện công tác chuyên môn, có phương pháp làm việc khoa học và có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn trong thực tiễn

1.3.4 Quản lý quá trình đào tạo

Có thể nói quản lý quá trình đào tạo có vai trò quyết định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo, vì vậy muốn hoàn thành tốt vai trò người quản lý thì phải phối hợp tốt với các đơn vị liên kết, các trạm ĐTTX, có cơ chế phân công, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận thực hiện quá trình đào tạo Quản

lý quá trình đào tạo bao gồm:

Quản lý công tác kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo toàn khóa học, từng học kỳ, từng đợt học trong mỗi học kỳ, kế hoạch kiểm tra, thi hết học phần, thi tốt nghiệp Đây là nội dung cơ bản của công tác quản lý quá trình đào tạo Trên cơ sở chương trình, kế hoạch của các đơn vị chủ trì đào tạo

mà các đơn vị liên kết hoặc tại các trạm ĐTTX có thể giám sát được việc tổ chức quá trình dạy của thầy và học của trò, hạn chế được mọi sự tùy tiện trong các hoạt động, chấm dứt được các hiện tượng cắt xén hay dồn nén chương trình góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

Quản lý quá trình dạy – học theo hình thức GDTX Dạy học là quá trình tác động kép giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Cả hai hoạt động này phải phối hợp nhịp nhàng, gắn bó chặt chẽ với nhau giữa hai chủ thể khác nhau, thực hiện hai chức năng nhiệm vụ khác nhau được thực hiện trong một môi trường là trường học nhằm đạt đến mục tiêu của đào tạo Thiết kế các quá trình dạy học sao cho phù hợp với đối tượng đầu vào, nội dung và các điều kiện thực tế Người thầy cần phải hình thành quan niệm cần

Trang 36

lựa chọn các phương tiện truyền thông, phát triển các học liệu dạy và học và đặc biệt là lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp Việc xác định quá trình giảng dạy, học tập từ xa nhằm giúp cho người học nhanh chóng đạt được kiến thức, trình độ cần thiết trong điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng theo học từ

xa

Quản lý học vụ - điểm số cũng là một trong những khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo, quá trình thực hiện phải kịp thời và phải theo một quy trình thống nhất từ cơ sở đào tạo đến các đơn vị liên kết hay trạm ĐTTX

1.3.5 Quản lý quá trình kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu

Kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét Đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ người học Muốn đánh giá kết quả học tập của người học thì việc đầu tiên là phải kiểm tra lại toàn bộ công việc học tập của họ, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của người học là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra

Như vậy, kiểm tra, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Việc kiểm tra, đánh giá cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

Trang 37

1.3.6 Cung ứng phương tiện, học liệu phục vụ cho công tác ĐTTX

Do đặc trưng của loại hình ĐTTX là thầy – trò gián cách nhau về không gian và thời gian trong phần lớn quá trình đào tạo, học liệu và phương tiện là cầu nối trong việc chuyển tải thông tin

Phương tiện đào tạo là các trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ để hỗ trợ cho việc giảng dạy và học tập Đặc biệt, đối với hệ ĐTTX thì cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, các thiết bị nghe – nhìn, hệ thống liên lạc không thể thiếu thậm chí càng hiện đại thì càng hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý và dạy – học từ xa

Học liệu bao gồm nhiều loại như tài liệu in, bài giảng phát thanh, phát hình, trực tuyến qua mạng Internet, học liệu điện tử… Tài liệu in có nhiều loại

đa dạng như sách tham khảo với đầy đủ nội dung của môn học được diễn giải chi tiết; sách hướng dẫn học giúp sinh viên cách học, tự ôn tập, kiểm tra đánh giá; sách bài tập, và các loại sách khác như tóm tắt môn học, hỏi và đáp, phân tích tình huống… Các chương trình phát thanh, truyền hình cũng có thể có nhiều dạng như bài giảng, trả lời thắc mắc, hướng dẫn phân tích tình huống… Khác với đào tạo theo hình thức tập trung, người học theo hình thức ĐTTX không đến lớp mỗi ngày để nhận sự truyền thụ kiến thức trực tiếp từ người thầy mà người học phải tự học để đạt lấy những kiến thức từ những học liệu được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau dưới sự trợ giúp của người thầy

và ban tư vấn học tập

1.3.7 Quản lý CBQL, đội ngũ GV và HV tại các trạm ĐTTX

Trong các nhân tố quyết định về chất lượng ĐTTX thì con người luôn được xem là nhân tố quan trọng nhất, đóng vai trò then chốt thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện và phát triển bền vững Nguồn nhân lực là yếu tố trung tâm tác động đến các nhân tố ảnh hưởng khác Thể hiện ở vai trò của người thầy, nhận thức của người học, ý thức trách nhiệm của cơ sở tổ chức việc dạy – học

Trang 38

Đây là vấn đề của nhận thức, kiến thức cũng như kỹ năng sư phạm của các nhà

tổ chức ĐTTX

Đối với CBQL: đào tạo theo hình thức từ xa đòi hỏi người quản lý trước hết phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của ĐTTX để vạch ra những hướng đi đúng đắn có tính chiến lược lâu dài, có sự chỉ đạo thống nhất

từ trên xuống để tạo nên tính ổn định và phát triển Bên cạnh đó kiến thức, kỹ năng quản lý theo hình thức ĐTTX và thái độ phục vụ, kỹ năng chăm sóc khách hàng của cán bộ quản lý là không thể thiếu

Đối với GV: phương thức GDTX là loại hình mang tính đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo Vì vậy, GV phải là những người có trình độ, năng lực và kinh nghiệm, có phương pháp giảng dạy phù hợp với với loại hình ĐTTX, phải biết lấy người học làm trung tâm…, việc nhận thức đúng đắn về phương thức ĐTTX còn giúp cho GV tận tâm, nhiệt tình trong công tác giảng dạy

Đối với HV: HV hệ từ xa đa số là những người đã có nhiều kinh nghiệm trong công việc, họ có vai trò nhất định trong xã hội, nhận thức của người học

là đòi hỏi người học không chỉ có tiếp thu kiến thức của GV truyền đạt tại lớp

mà còn phải tự học, tự nghiên cứu bằng nhiều hình thức, phương tiện, sẽ giúp

họ có ý thức cao hơn trong quá trình học tập

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Quản lý đào tạo là hoạt động trọng tâm của trường đại học Thực chất của quản lý đào tạo là quản lý quá trình dạy - học; quản lý để các thành tố cấu trúc của quá trình đó vận động, hỗ trợ tích cực cho nhau để tạo thành một hệ toàn vẹn; việc quản lý đó được thông qua các hoạt động quản lý và tự quản lý; thông qua các lực lượng CBQL, các phòng chức năng, GV và HV

Nội dung cơ bản của quản lý ĐTTX ở trường đại học là:

- Xác định mục tiêu đào tạo,

Trang 39

- Xây dựng chương trình đào tạo,

- Tổ chức tuyển sinh,

- Tổ chức, quản lý thực hiện chương trình đào tạo,

- Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo

- Quản lý cơ sở vật chất, phương tiện đào tạo

- Quản lý CBQL, GV và HV

Đào tạo đại học theo phương thức GDTX là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác đào tạo tại Trường Đại học Trà Vinh Muốn nâng cao hiệu quả đào tạo trước hết phải cải tiến công tác quản lý đào tạo Chúng tôi vận dụng những cơ sở lý luận đã trình bày ở chương 1 để khảo sát thực trạng quản lý công tác đào tạo theo phương thức GDTX tại Trường Đại học Trà Vinh

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TỪ XA

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

2.1 VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH VÀ VIỆN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC

2.1.1 Khái quát về quá trình phát triển của Trường Đại học Trà Vinh

Trường Đại học Trà Vinh, tiền thân là Trường Cao đẳng Cộng đồng Trà

Vinh được thành lập vào năm 2001 trên cơ sở triển khai Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam - Canada do Cơ quan Phát triển Quốc tế của Canada (CIDA), Hiệp hội Cao đẳng Cộng đồng của Canada (ACCC), một số viện trường của Canada như Viện Khoa học và Kỹ thuật Ứng dụng tỉnh Saskatchewan (SIAST), Viện Hàng hải (MI), Viện Kỹ thuật Nông nghiệp tỉnh Québec (ITA) và Trường Đại học – Cao đẳng Malaspina (MUC) và Chính phủ Việt Nam đồng tài trợ về tài chính và kỹ thuật Dự án Cao đẳng Cộng đồng Việt Nam – Canada đã minh chứng mô hình trường cao đẳng cộng đồng của Canada có thể vận hành hiệu quả trong hệ thống giáo dục của Việt Nam Số lượng sinh viên của nhà trường đã tăng lên khá nhanh, từ 3.000 sinh viên (2001- 2002) lên hơn 9.500 sinh viên (2006 - 2007) và hơn 23.000 sinh viên (2010-2011) Trường CĐCĐ Trà Vinh là trường cao đẳng đầu tiên tại Việt Nam đạt ISO 9001:2000 Trường thiết lập hợp tác với hơn 300 doanh nghiệp, trong đó hầu hết các doanh nghiệp đã tuyển dụng sinh viên của nhà trường sau khi tốt nghiệp Tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm khoảng 80% Trường CĐCĐ Trà Vinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá là trường thực hiện thành công mô hình cao đẳng cộng đồng Bắc Mỹ trong bối cảnh ở Việt Nam Tháng 6 năm 2006, Trường CĐCĐ Trà

Ngày đăng: 27/06/2021, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa, Quyết định số 40/2003/QĐ-BGDĐT, ngày 08/8/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 – 2010, Quyết định số 20/2005/QĐ-BGDĐT, ngày 24/5/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 – 2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
[3]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia về giáo dục mở và từ xa, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia về giáo dục mở và từ xa
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới
Năm: 2009
[4]. PGS.TS.Đặng Quốc Bảo, TS. Nguyễn Thành Vinh (2010), Quản lý Nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: uản lý Nhà trường
Tác giả: PGS.TS.Đặng Quốc Bảo, TS. Nguyễn Thành Vinh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[5]. TS. Trần Xuân Bách (2010), Quản lý sự thay đổi trong giáo dục, Tài liệu dành cho học viên cao học ngành Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sự thay đổi trong giáo dục
Tác giả: TS. Trần Xuân Bách
Năm: 2010
[6]. Chính phủ, Điều lệ trường đại học (ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường đại học
[7]. Nguyễn Đức Chính (chủ biên), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[8]. Đại học Đà Nẵng (2012), Kỷ yếu hội nghị liên kết đào tạo từ xa, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị liên kết đào tạo từ xa
Tác giả: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2012
[9]. TS. Nguyễn Quang Giao (2011), Quản lý chất lượng giáo dục, Giáo trình dành cho học viên cao học ngành Quản lý giáo dục, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng giáo dục
Tác giả: TS. Nguyễn Quang Giao
Năm: 2011
[10]. Hội đồng quốc gia giáo dục Việt Nam, Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế, (2005), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế
Tác giả: Hội đồng quốc gia giáo dục Việt Nam, Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[11]. GS.TSKH. Vũ Ngọc Hải, PGS.TS. Đặng Bá Lãm, PGS.TS. Trần Khánh Đức (2007), Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa
Tác giả: GS.TSKH. Vũ Ngọc Hải, PGS.TS. Đặng Bá Lãm, PGS.TS. Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[12]. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
[13]. Đỗ Thị Thu Hương (2009), Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo phương thức giáo dục từ xa tại Trung tâm Đào tạo thường xuyên Đại học Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo đại học theo phương thức giáo dục từ xa tại Trung tâm Đào tạo thường xuyên Đại học Đà Nẵng
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hương
Năm: 2009
[14]. GS.TS. Nguyễn Đình Hương (2009), Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[15]. Trần Kiểm (2008), Khoa học quản lý giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[16]. Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
[18]. Đặng Bá Lãm (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI chiến lược phát triển, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI chiến lược phát triển
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[27]. Trang web của Bộ Giáo dục và Đào tạo: http://www.moet.gov.vn/ Link
[28]. Trang web Trường Đại học Trà Vinh: http://www.tvu.edu.vn/ Link
[29]. Trang web Viện Phát triển nguồn lực – Trường Đại học Trà Vinh: http://online.tvu.edu.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w