Một trong những nguyên nhân là do: chất lượng đào tạo tại các trường y dược, CBYT chưa cập nhật kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật y dược, kiến thức đã học của nhân viên y tế mai một the
Trang 1TRẦN THỊ ĐỨC NHÃ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƢỠNG CÁN BỘ Y TẾ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
`
Trần Thị Đức Nhã
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
8 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ CỦA TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ 7
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo ở nước ngoài 7
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo ở trong nước 9
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 10
1.2.2 Đào tạo, quá trình đào tạo, quản lý quá trình đào tạo 13
1.2.3 Đào tạo liên tục CBYT, quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT 17
1.3 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ 19
1.3.1 Ý nghĩa của công tác đào tạo liên tục CBYT trong giai đoạn hiện nay 19
1.3.2 Những đặc trưng của công tác đào tạo liên tục CBYT 21
1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ 28
1.4.1 Quản lý công tác tuyển sinh 28
1.4.2 Quản lý hoạt động đào tạo liên tục CBYT 28
Trang 4TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT 35
2.2 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 36
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm 36
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37
2.3.1 Thực trạng xây dựng và thực hiện MT đào tạo 37
2.3.2 Thực trạng xây dựng và thực hiện CT và ND đào tạo 38
2.3.3 Thực trạng đội ngũ GV 40
2.3.4 Thực trạng HV các khóa đào tạo liên tục CBYT 43
2.3.5 Thực trạng thực hiện phương pháp giảng dạy và hình thức tổ chức đào tạo 44
2.3.6 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV 46
2.3.7 Thực trạng các điều kiện phục vụ đào tạo 48
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 50
2.4.1 Thực trạng về quản lý công tác tuyển sinh 50
2.4.2 Thực trạng về quản lý công tác xây dựng và thực hiện MT đào tạo 52 2.4.3 Thực trạng về quản lý xây dựng và thực hiện CT, ND đào tạo 54
2.4.4 Thực trạng về quản lý hoạt động giảng dạy của GV 57
Trang 52.4.7 Thực trạng về quản lý các điều kiện phục vụ đào tạo 65
2.4.8 Thực trạng về quản lý đầu ra sau đào tạo 70
2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 72
2.5.1 Điểm mạnh 72
2.5.2 Điểm yếu 73
2.5.3 Cơ hội 74
2.5.4 Thách thức 74
Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 76
3.1 NGUYÊN TẮC XÁC LẬP BIỆN PHÁP 76
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 76
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 76
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn diện 77
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 77
3.2 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 78
3.2.1.Tăng cường quản lý công tác tuyển sinh 78
3.2.2 Xây dựng, điều chỉnh MT, CT ND đào tạo phù hợp với nhu cầu đào tạo của CSYT trong giai đoạn hiện nay 80
3.2.3 Quản lý hiệu quả hoạt động dạy của GV 82
Trang 6đảm yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập 90
3.2.7 Tăng cường thiết lập các mối quan hệ giữa Trung tâm với các tổ chức, cơ quan để xây dựng được môi trường đào tạo thuận lợi 91
3.2.8 Tăng cường quản lý các hoạt động phục vụ đào tạo 92
3.2.9 Quản lý hiệu quả đầu ra sau đào tạo 94
3.2.10 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95
3.3 KHẢO NGHIỆM SỰ NHẬN THỨC VỀ TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 95
3.3.1 Tổ chức khảo nghiệm 95
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 96
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 KẾT LUẬN 100
2 KHUYẾN NGHỊ 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 8Số
2.1 CBQL, GV, HV đánh giá về mức độ phù hợp của MT đào tạo
liên tục CBYT so với nhu cầu đào tạo của các CSYT 38 2.2 CBQL, GV, HV đánh giá về CT, ND đào tạo 39
2.3 Phân loại trình độ chuyên môn của đội ngũ GV tham gia giảng
dạy tại Trung tâm từ năm 2011-2013 41
2.4 Nhận xét, đánh giá của HV về GV giảng dạy tại các khóa đào
tạo liên tục hiện nay của Trung tâm 42
2.5 Đối tượng HV các khoá đào tạo liên tục của Trung tâm từ năm
2011-2013
43
2.6 CBQL, GV, HV đánh giá về phương pháp giảng dạy đã được
áp dụng tại các khóa đào tạo liên tục hiện nay của Trung tâm 45
2.7 CBQL, GV, HV đánh giá về các hình thức tổ chức các khóa đào
tạo liên tục hiện nay của Trung tâm 46
2.8 CBQL, GV, HV đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá kết quả
đào tạo liên tục hiện nay của Trung tâm 47
2.9 CBQL, GV, HV đánh giá cơ sở vật chất và trang thiết bị phục
vụ cho công tác đào tạo liên tục của Trung tâm hiện nay 48 2.10 Kết quả tuyển sinh đào tạo liên tục CBYT từ 2011-2013 51
2.11 CBQL, GV, HV đánh giá thực trạng quản lý công tác tuyển
sinh các khoá đào tạo liên tục hiện nay của Trung tâm 51 2.12 CBQL, GV đánh giá về thực trạng quản lý xây dựng và thực
Trang 92.13 CBQL, GV đánh giá về thực trạng quản lý xây dựng và thực
2.14 CBQL, GV đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động dạy học
2.17 CBQL và GV đánh giá về thực trạng quản lý lĩnh vực cơ sở vật
chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo 65 2.18 CBQL và GV đánh giá về quản lý môi trường đào tạo 67
2.19 CBQL và GV đánh giá về thực trạng quản lý các hoạt động
2.20 CBQL, GV đánh giá về quản lý đầu ra sau đào tạo 71 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp 97 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 98
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là nguồn tài nguyên quí báu nhất của xã hội, quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó, sức khỏe là vốn quí nhất của mỗi người và của toàn xã hội Vì vậy, đầu tư cho chăm sóc sức khỏe để mọi người có sức khỏe tốt chính là đầu tư cho sự phát triển KT-XH của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân và mỗi gia đình Dịch vụ y tế
là một dịch vụ xã hội đặc biệt và chất lượng dịch vụ y tế phụ thuộc phần lớn vào trình độ của CBYT Để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời, người CBYT phải được cập nhật những thông tin mới nhất về kiến thức lý thuyết, kỹ năng lâm sàng, tổ chức triển khai công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý Công tác đào tạo liên tục ngày càng trở nên quan trọng, người thầy thuốc cần học tập suốt đời nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệ thống chăm sóc y tế
Trên thế giới, từ năm 1988, Tuyên ngôn Edinburgh đã đưa ra những thay đổi hệ thống giáo dục y học và ND đào tạo liên tục y học Năm 1993, Hội nghị thượng đỉnh về giáo dục y học thế giới: khuyến nghị về học tập suốt đời cho CBYT Năm 2002, WPME (Liên đoàn giáo dục y học thế giới) và WHO (Tổ chức y tế thế giới) đã xây dựng các tiêu chuẩn toàn cầu về giáo dục y học trong đó có lĩnh vực đào tạo liên tục, đưa ra tiêu chuẩn đào tạo liên tục gồm 9 lĩnh vực và 38 tiêu chí, mỗi tiêu chí là các khía cạnh cụ thể với hai mức cơ bản và nâng cao
Ở Việt Nam, đầu những năm 1990, Bộ Y tế – Dự án hỗ trợ hệ thống đào tạo nhân lực y tế (TSSA-03/SIDA) dưới sự hỗ trợ của Thụy Điển, công tác đào tạo lại và đào tạo liên tục đã được đề cập và hình thành có hệ thống, được triển khai toàn quốc nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế Hình thành hệ thống đào tạo lại, ở Bộ Y tế có Ban đào tạo liên tục quốc gia, tại các
Trang 11tỉnh có Ban đào tạo liên tục do giám đốc Sở Y tế làm trưởng ban Tuy nhiên, công tác đào tạo liên tục chủ yếu tổ chức tại các trường trung cấp y tế tỉnh nên chưa phát huy được sức mạnh của ngành y tế cho công tác đào tạo [7]
Hiện tại, trình độ đào tạo CBYT của nước ta còn thấp, chưa đạt ngang tầm trung bình của các nước trong khu vực và chưa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của nhân dân Một trong những nguyên nhân là do: chất lượng đào tạo tại các trường y dược, CBYT chưa cập nhật kịp thời tiến bộ khoa học kỹ thuật y dược, kiến thức đã học của nhân viên y tế mai một theo thời gian Đứng trước yêu cầu hội nhập của ngành y tế nước ta và nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ y tế đáp ứng cho nhu cầu bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bộ trưởng Bộ Y
tế đã ban hành hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/5/2008 về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục CBYT, trong đó quy định: tất cả các cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về chuyên môn, mỗi người một năm phải tham gia học tập 24 tiết học chuẩn [3] Hiện nay, nước ta có hơn 300.000 CBYT công lập và hàng nghìn CBYT ngoài công lập cần được thường xuyên đào tạo liên tục, cập nhật về kiến thức, kỹ năng và thái độ về chuyên môn, nghiệp vụ
Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng được thành lập từ năm 1997, ngay sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, với nhiệm vụ chính là đào tạo CBYT trên địa bàn Thành phố Công tác đào tạo liên tục ngành y tế thành phố Đà Nẵng trong nhiều năm qua đã được quan tâm rất lớn và có được những thành quả đáng khích lệ Hằng năm, ngoài các Dự
án trong và ngoài nước tài trợ, Thành phố đều cấp riêng một nguồn kinh phí phục vụ công tác đào tạo liên tục cho CBYT Trong bối cảnh chung của cả nước, từ khi Bộ Y tế ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/5/2008
về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục CBYT, Trung tâm Đào tạo và Bồi
Trang 12dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng cần khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện công tác đào tạo liên tục, xác định các nguyên nhân còn bất cập, hạn chế
để đề xuất biện pháp quản lý công tác đào tạo liên tục hợp lý, khả thi nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Biện
pháp quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố
Đà Nẵng, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo liên tục cho cán bộ ngành y tế thành phố Đà Nẵng, đáp ứng nhu cầu
xã hội trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đào tạo liên tục CBYT của Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo
Trang 13các biện pháp đề xuất
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua có nhiều bất cập, hạn chế Nếu xác lập và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý phù hợp, tác động lên tất cả các khâu của quá trình đào tạo, phù hợp với thực tiễn của Trung tâm và địa phương thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố
Đà Nẵng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT của Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu lý luận liên quan đến quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu hồ sơ lưu trữ nhằm đánh giá thực trạng quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm nhằm rút ra những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại
Trang 14Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
- Phương pháp chuyên gia nhằm lấy ý kiến, kiểm nghiệm tính cấp thiết
và tính khả thi các biện pháp đề xuất
6.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề quản lý quá trình đào tạo đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến Khi tiến hành nghiên cứu về quản lý công tác đào liên tục CBYT, luận văn đã tham khảo những tài liệu của các tác giả nước ngoài và trong nước để làm cơ sở lý luận nghiên cứu
Có nhiều tác giả nước ngoài đã có những nghiên cứu, những tác phẩm viết về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý quá trình đào tạo Trong
số đó có thể kể đến các tác phẩm như: Những cơ sở của công tác giáo dục
-Giáo dục học tập 3 của Ilina T A (1979), Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà trường - Giáo dục học tập 1,2 của T.A Savin N.V (1983); New Ideas for Effective School Improvement (Những ý tưởng mới để nhà trường hiệu quả)
của Ramsay.W and Clark.E.E (1990); La Gestion administrative et
Pédagogique des écoles (Quản lý hành chính và sư phạm trong trường học)
của Jean Valésrien (1991)
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã có những công trình đề cập đến
quản lý và quản lý giáo dục như: Đại cương về Quản lý của các tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996); Phương pháp luận khoa học
giáo dục do tác giả Phạm Minh Hạc làm tổng chủ biên (1981); Quá trình sư phạm – Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của tác giả Hà Thế Ngữ (1986); Giáo dục học (tập 1 và tập 2) của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1987); Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục của Nguyễn Ngọc Quang
(1989), Tuyển tập Giáo dục học – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Hà Thế Ngữ (2001); Một số vấn đề của lý luận quản lý giáo dục của
Trang 15Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân (1984)
8 Bố cục đề tài
Luận văn gồm có 3 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: ND nghiên cứu, gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT của Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Biện pháp quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng CBYT thành phố Đà Nẵng
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ CỦA TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ Y TẾ
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo ở nước ngoài
Từ cuối thế kỷ XIV, khi xã hội tư bản bắt đầu xuất hiện và nhân loại bước vào thời kỳ phục hưng, J A Cômenxki (1592-1670) đã đưa các thành tố của quá trình giáo dục, các nguyên tắc dạy học như trực quan, nhất quán, đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống, thực hiện đồng bộ các thành tố của quá
trình đào tạo (cụ thể là quá trình dạy học), và “rất nhiều nguyên tắc dạy học
hiện nay vẫn được sử dụng” [13, tr.18] Những nguyên tắc đó xác định chất
lượng và hiệu quả đào tạo phụ thuộc vào trình độ quản lý quá trình đào tạo
Từ khoảng nửa cuối thế kỷ XI đến nửa cuối thế kỷ XX, cùng với kỷ nguyên công nghiệp, khoa học giáo dục thực sự có sự biến đổi mạnh cả về lượng và chất Những vấn đề chủ yếu của chủ nghĩa Mác – Lênin đã định
hướng cho quá trình đào tạo là các quy luật về “sự hình thành cá nhân con
người, ” [13, tr.21] Các quy luật đó khẳng định vai trò của các thành tố của
quá trình đào tạo đối với chất lượng và hiệu quả đào tạo Dựa trên tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhiều nhà khoa học Xô Viết (cũ) đã gián tiếp thể hiện quan điểm của họ về hiệu quả quản lý quá trình đào tạo thông qua phân tích vai trò, tầm quan trọng và mối quan hệ của những thành tố cấu trúc quá trình giáo dục tổng thể như: chủ thể, khách thể, mục đích, ND, phương pháp, lực lượng, phương tiện và đánh giá kết quả Các quan điểm trên được đăng tải trong một số công trình nghiên cứu khoa học giáo dục tiêu biểu của một số tác
Trang 17giả như: Ilina T A với 3 tập Giáo dục học (tập 3: Những cơ sở của công tác
giáo dục [14]; Savin N V với 2 tập Giáo dục học (chương 22: Những vấn đề
cơ bản của quản lý nhà trường) [27]
Từ khoảng cuối thế kỷ XX, khi thế giới đang chuyển dần từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, vấn đề quản lý đào tạo đã được một số nhà khoa học nghiên cứu:
Năm 1990, Ramsay W và Clark E E đã viết cuốn New Ideas for
Effective School Improvement (Những ý tưởng mới để nhà trường hiệu quả)
[31] Các tác giả nêu lên mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc quá trình đào tạo và phân tích rõ vai trò của các yếu tố mục đích, CT, ND, phương pháp, lực lượng, cơ sở vật chất và môi trường dạy học
Vào giữa năm 1991, USNESCO đã cho xuất bản cuốn La Gestion
administrative et pédagogique des écoles (Quản lý hành chính và sư phạm
trong trường học) của Jean Valésrien [32] Thông qua việc giới thiệu một số
mô đun về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người hiệu trưởng trường học; tác giả đã có quan điểm: chất lượng và hiệu quả đào tạo trong nhà trường phụ thuộc phần nhiều vào hoạt động quản lý các thành tố của quá trình đào tạo và với các thao tác quản lý của hiệu trưởng đối với quá trình đó
Nhìn chung, trong thời gian qua, vấn đề quản lý quá trình đào tạo trong các trường học nói chung đã được nhiều nhà khoa học giáo dục nước ngoài nghiên cứu và đã đăng tải trên các cuốn sách giáo dục học qua các thời kỳ khác nhau Những kết quả nghiên cứu đã khẳng định quản lý quá trình đào tạo
là quản lý các thành tố cấu trúc quá trình đào tạo
Hiện nay, giáo dục đang phát triển mạnh tại tất cả các quốc gia trên thế giới Hệ thống giáo dục của từng quốc gia đã góp phần đáng kể vào việc cung cấp cho xã hội một đội ngũ đông đảo những trí thức, nhà khoa học cũng như hàng triệu công nhân kỹ thuật lành nghề, góp phần phát triển đất nước
Trang 181.1.2 Tổng quan nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo ở trong nước
Trước hết là tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1980-1969) về quản lý
giáo dục và dạy người Nhờ việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Mác - Lênin và
kế thừa những tinh hoa các tư tưởng giáo dục tiên tiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã để lại cho nền giáo dục Việt Nam những tư tưởng có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận giáo dục và quản lý giáo dục Người đã chỉ rõ các
thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo huấn luyện ai (đối tượng đào tạo), ai
huấn luyện (lực lượng đào tạo), huấn luyện gì và có mục đích nào (ND, CT và
mục đích đào tạo, huấn luyện thế nào (phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo) và tài liệu huấn luyện (các điều kiện đào tạo) [17, tr.236-271] Người đã
chỉ giáo về phương pháp dạy học: “phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học” [17, tr.273] có ý nghĩa và yêu cầu đối với người học (đối tượng đào tạo)
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận quản lý giáo dục và quản lý quá
trình đào tạo dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học Hầu hết các cuốn giáo dục học của các tác giả Việt Nam thường phân tích kỹ các thành tố của quá trình đào tạo
Thông qua việc phân tích các thành tố của quá trình đào tạo, các tác giả đều khẳng định để đạt được chất lượng và hiệu quả đào tạo thì người quản lý quá trình đào tạo cần phát huy tác dụng của các thành tố trong cấu trúc của quá trình đó như: mục đích, ND, phương pháp, phương tiện và điều kiện, lực lượng dạy học, hình thức tổ chức và kết quả đào tạo Các công trình nghiên cứu như:
- Phương pháp luận khoa học giáo dục do tác giả Phạm Minh Hạc làm
tổng chủ biên, 1981, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội [9]
- Quá trình sư phạm – Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của tác giả Hà
Trang 19Thế Ngữ, 1986, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội [18]
- Giáo dục học của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1987, NXB Giáo dục,
Hà Nội [19]
- Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục của Nguyễn Ngọc
Quang, 1989, Trường CBQL giáo dục Trung ương 1, Hà Nội [24]
- Tuyển tập Giáo dục học – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả
Hà Thế Ngữ, 2001, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội [20]
Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình khoa học của nghiên cứu sinh và HV cao học có liên quan đến quản lý quá trình đào tạo trong các trường học Những luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục tại Đại học Đà Nẵng cũng đề cập đến quản
lý quá trình đào tạo theo những cách tiếp cận khác nhau: Quản lý quá trình đào tạo tại trường cao đẳng thương mại Đà Nẵng (2010) - tác giả Nguyễn Quý Nhẫn; Quản lý quá trình đào tạo tại trường cao đẳng kinh doanh công nghệ Việt Tiến Đà Nẵng (2010) - tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt; Biện pháp quản lý quá trình đào tạo tại trường cao đẳng Bách khoa Đà Nẵng (2012) - tác giả Mai Thị An; Biện pháp quản lý quá trình đào tạo ở trường chính trị Quảng Ngãi (2012) - tác giả Nguyễn Văn Đức;
Tuy nhiên, đối với quản lý quá trình đào tạo của một cơ sở đào tạo liên tục CBYT thì chưa có tác giả nào nghiên cứu
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
a Quản lý
Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động
đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý
Trang 20Có nhiều cách trình bày về khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Các Mác viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà
sự hoạt động Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng chung tức là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa vận động chung của cơ thể sản xuất với những hoạt động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng’’[1, tr.29,30]
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nhà xuất bản giáo dục 1998) thì quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan
W.Taylor: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn và sau đó hiểu rằng
họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9, tr.12]
Còn H Koontz thì khẳng định: Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm
sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức [11]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những MT dự kiến” [24, tr.24]
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là
sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [5, tr.1]
Quản lý là sự cộng tác liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có
Trang 21thể quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, hệ thống (tổ chức); có thể là con người cụ thể, sự vật cụ thể [4]
Tóm lại: Quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới MT
xác định Hay nói một cách khái quát nhất: Quản lý là một quá trình tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được MT của tổ chức đã đề ra
Để đạt được những MT đã định, quản lý phải thực hiện bốn chức năng
cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất Trong đó, mỗi chức năng có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo một trình tự nhất định Nhà quản lý không được
bỏ qua hay coi nhẹ bất cứ chức năng nào
b Quản lý giáo dục
Theo Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân thì: Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến cơ sở giáo dục là các Nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả MT phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội [16] Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất” [10, tr.7]
Theo tác giả Trần Kiểm, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục
Trang 22đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học và giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến MT dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [15]
Quản lý giáo dục là hoạt động có tự giác của chủ thể quản lý, nhằm huy động tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, tài lực, vật lực), phục vụ cho MT phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH [4]
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Tuy nhiên, theo nghĩa rộng của giáo dục với việc thực hiện triết
lý giáo dục thường xuyên và triết lý học suốt đời thì ngoài tiêu điểm giáo dục thế hệ trẻ còn phải chăm lo giáo dục cho mọi người
Như vậy, quản lý giáo dục là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động
có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể quản lý lên toàn bộ các mắc xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt tới MT giáo dục (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH trong từng giai đoạn cụ thể)
1.2.2 Đào tạo, quá trình đào tạo, quản lý quá trình đào tạo
Trang 23của loài người [34].
Đào tạo là quá trình trang bị những kiến thức, những kinh nghiệm cần thiết kế tiếp nhau bảo đảm cho mỗi người được đào tạo hoàn thành được một hoặc một số công việc nhất định có tính tương đối, ổn định lâu dài trong hệ thống phân công lao động, bảo đảm cho mỗi người hoàn thiện mình, cho xã hội tồn tại phát triển không ngừng
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành
và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, để hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách
có năng suất và hiệu quả [8]
Nói cách khác, đào tạo là quá trình hoạt động thống nhất hữu cơ của hai mặt dạy và học trong một cơ sở giáo dục mà trong đó được quy định về tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình một cách chặt chẽ, với những quy định cụ thể về MT, CT, ND, phương pháp, hình thức tổ chức, CSVC-TTBDH, đánh giá kết quả đào tạo một cách có hệ thống cho mỗi hệ thống cho mỗi khoá học với những quy định về thời gian, về đối tượng đào tạo cụ thể
b Quá trình đào tạo
Quá trình đào tạo được hiểu là quá trình tiến hành có trình tự các khâu từ xây dựng mục tiêu, ND, CT, giáo trình và tài liệu đào tạo, lực lượng đào tạo (người dạy, người học), chuẩn bị các điều kiện cho hoạt động đào tạo (tài chính, CSVC & TTBDH, các mối quan hệ trong môi trường đào tạo), phương thức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo để tiến hành các khâu từ tuyển sinh đến tổ chức việc dạy và học trong một cơ sở giáo dục; nhằm giúp người học có được các chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với mục tiêu đào tạo (yêu cầu nguồn nhân lực xã hội đáp ứng sự phát triển KT – XH trong một giai đoạn lịch sử cụ thể)
Cụ thể hơn, quá trình đào tạo là một quá trình giáo dục để đạt tới mục
Trang 24tiêu giáo dục của một chuyên ngành đào tạo Quá trình này được cấu trúc bởi các thành tố như mục tiêu, ND, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, chủ thể đào tạo nhà giáo dục và người học (đối tượng đào tạo), các điều kiện đào tạo (CSVC & TTBDH, tài chính, môi trường đào tạo), kết quả đào tạo (chất lượng và hiệu quả đào tạo tương xứng với mục tiêu đào tạo) và công tác quản
lý đào tạo Cụ thể:
- Mục tiêu đào tạo, được hiểu là mô hình nhân cách có tính định chuẩn
của cả hệ thống giáo dục quốc dân hay của tổng phân hệ giáo dục được xác định trên cơ sở những yêu cầu của xã hội về người công dân, về nguồn nhân lực; hoặc kết quả được xác định với độ chính xác mà chủ thể phải đạt được ở trong hoặc ở cuối một tình huống sư phạm hoặc một CT học tập: có mục tiêu của bậc, cấp, ngành học, mục tiêu của môn học
Nói cách khác là chuẩn nhân cách người học (được thể hiện ở 3 lĩnh vực kiến thức, kỹ năng và thái độ) được xây dựng từ yêu cầu của xã hội, nhà nước, gia đình người học và người học nhằm đáp ứng sự nghiệp phát triển KT-XH của cộng đồng, địa phương, quốc gia và quốc tế ở mỗi thời kỳ lịch sử
- ND và CT đào tạo, được hiểu là những kiến thức cơ bản, toàn diện,
thiết thực, hiện đại, khoa học và có hệ thống theo chuyên ngành đào tạo sắp xếp theo các môn học để người dạy truyền thụ và người học lĩnh hội nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo
- Phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo, được hiểu là các tri thức
về triết học, giáo dục học, tâm lý học, điều kiện học và kinh tế học, … được người dạy và người học vận dụng sáng tạo, phù hợp với các nguyên lý, quy luật, nguyên tắc, ND CT giáo dục; với đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh của người học và với điều kiện môi trường (ở trên lớp, trong phòng thí nghiệm của trường, cộng đồng, cơ sở sản xuất; bằng giáo dục chính quy, không chính quy, giáo dục từ xa, giáo dục tại chức, chuyên tu, giáo dục thường xuyên, vừa
Trang 25làm vừa học hoặc bằng E-learning, ) nhằm đạt tới mục tiêu đào tạo
- Phương tiện và điều kiện đào tạo, được hiểu là các nguồn lực tài chính,
CSVS&TTBDH, phương tiện kỹ thuật dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông, được người dạy và người học sử dụng trong quá trình đào tạo
- Lực lượng đào tạo, được hiểu là các lực lượng tham gia hoạt động đào
tạo của nhà trường như các chuyên gia giáo dục, nhà quản lý giáo dục, quản
lý nhà trường, tập thể sư phạm, gia đình người học, trong đó chủ yếu là người dạy và người học (hai chủ thể của hoạt động đào tạo)
- Môi trường đào tạo, được hiểu là: các điều kiện tự nhiên như đặc điểm
địa hình, khí hậu, sinh thái, phát triển dân số, nhu cầu và yêu cầu xã hội về lực lượng lao động có trình độ và kỹ năng thuộc chuyên ngành đào tạo; các luật pháp, cơ chế tổ chức và quản lý, chiến lược phát triển KT-XH và chiến lược phát triển giáo dục,
- Kết quả đào tạo, được hiểu là chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo
tương xứng với mục tiêu đào tạo (về kiến thức, kỹ năng và thái độ người học) thông qua hoạt động kiểm tra và đánh giá
- Quản lý đào tạo, được hiểu là việc thực hiện các chức năng, kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra – đánh giá của các chủ thể quản lý đào tạo nhằm phối hợp hiệu quả nhất sự vận động của các thành tố trong cấu trúc của quá trình đào tạo nêu trên để đưa hoạt động đào tạo đạt tới mục tiêu đào tạo
c Quản lý quá trình đào tạo
Quản lý quá trình đào tạo là quản lý quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đào tạo đến các thành tố của quá trình đào tạo, nhằm đạt tới MT đào tạo
Cụ thể: “Quản lý quá trình đào tạo trong một cơ sở giáo dục là nhân tố hàng đầu đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo, là MT trọng tâm của quản
lý nhà trường, là một trách nhiệm lớn lao của người quản lý nhà trường, đó là
Trang 26quá trình tác động hướng đích (huy động, cộng tác, điều phối, tham gia, can thiệp, hướng dẫn, giúp đỡ, điều chỉnh, ) của chủ thể quản lý đối với tập thể
GV, cán bộ công chức, học sinh, sinh viên và các thực thể hữu quan ngoài trường hướng vào việc đẩy mạnh hoạt động đào tạo của trường mà tiêu điểm hội tụ là hoạt động dạy học” [29, tr.191]
Theo khái niệm đào tạo, sự nhận biết các thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo nêu trên, để cho thành tố cấu trúc của quá trình đào tạo vận hành theo đúng quy luật, hỗ trợ và tương tác với nhau để phát triển tích cực nhằm đạt tới
MT đào tạo, thì người dạy và người học phải tạo được sự cộng tác tối ưu với nhau nhằm xác định đúng MT dạy học, lựa chọn ND thích hợp, tuân thủ các nguyên tắc và quy luật giáo dục, áp dụng hài hoà các phương pháp và hình thức dạy học, sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học, tận dụng tốt các yếu
tố của môi trường, đồng thời tìm được phương thức đánh giá kết quả đào tạo đáng tin nhằm đạt tới MT đào tạo
1.2.3 Đào tạo liên tục CBYT, quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT
a Đào tạo liên tục CBYT
Đào tạo y khoa liên tục (continuing medical education, viết tắt là CME)
là một hoạt động đặc thù và chuyên biệt nhằm giúp phát triển năng lực nghề nghiệp của nhân viên y tế với MT cuối cùng là cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người bệnh CME bao gồm tất cả các hình thức học tập mà nhân viên y tế tham gia nhằm MT cải thiện kiến thức, kỹ năng, thái độ để thực hiện tốt hơn trách nhiệm chuyên môn Chính sự liên tục các hoạt động CME đã giúp định hình sự phát triển năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng các chức năng và trách nhiệm của nhân viên y tế đối với xã hội
Theo Hội đồng chứng nhận đào tạo y khoa liên tục Hoa kỳ (ACCME): Đào tạo y khoa liên tục là một dạng đặc biệt của đào tạo liên tục nhằm giúp
Trang 27nhân viên y tế duy trì năng lực chuyên môn và học tập những kiến thức mới cũng như thông tin về những lãnh vực mới thuộc chuyên ngành Những hoạt động này có thể bao gồm các sự kiện (hội nghị, hội thảo, họp chuyên môn định kỳ, hội nghị thường niên), tài liệu, các CT đào tạo qua mạng internet, các hình thức nghe nhìn hoặc thông tin điện tử khác… ND của các hoạt động đào tạo này được xây dựng, xem xét và thực hiện bởi các chuyên gia đầu ngành trong các lãnh vực chuyên môn.
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa kỳ (AAP): Đào tạo y khoa liên tục bao gồm các hoạt động đào tạo nhằm MT duy trì, phát triển năng lực chuyên môn hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng y khoa cần thiết cho bác sĩ để thực hiện chức năng nghề nghiệp, bao gồm cung cấp dịch vụ điều trị cho bệnh nhân, phục vụ cho cộng đồng và cho ngành y Định nghĩa này của CME nhấn mạnh rằng tất cả các hoạt động đào tạo liên tục nhằm hỗ trợ người bác sĩ thực hiện chức năng nghề nghiệp của mình hiệu quả hơn đều được xem là đào tạo y khoa liên tục [33]
Theo thông tư số 07/2008/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 28/5/2008
về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục CBYT quy định: “Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn bao gồm đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và những khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia” [3]
b Quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT
Vận dụng khái niệm quản lý vào lĩnh vực đào tạo liên tục, có thể hiểu:
Quản lý công tác đào tạo liên tục CBYT là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đào tạo đối với các thành tố cấu trúc quá trình
đó (đầu vào: đánh giá nhu cầu đào tạo, tuyển sinh; hoạt động đào tạo: MT,
Trang 28CT ND, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo liên tục, GV, HV, kiểm tra, đánh giá học tập HV, các điều kiện đào tạo và đầu ra: kết quả đào tạo) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được MT
đào tạo của cơ sở đào tạo liên tục CBYT
1.3 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ Y TẾ 1.3.1 Ý nghĩa của công tác đào tạo liên tục CBYT trong giai đoạn hiện nay
Với tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật và thông tin hiện nay, các nhà khoa học ước tính trong tương lai, tri thức của nhân loại sẽ đổi mới khoảng 50% trong một chu kỳ thời gian là 2,5 năm Tốc độ này còn có thể nhanh hơn đối với y khoa Bên cạnh đó, sau khi tốt nghiệp trường y, kiến thức học được nếu không được ôn tập, sử dụng cũng sẽ mất đi theo thời gian Do
đó, nếu không có những hoạt động học tập củng cố kiến thức đã được dạy và cập nhật các thông tin kiến thức mới, nhân viên y tế sẽ không đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân
Đào tạo y khoa liên tục không phải là khái niệm mới, các hoạt động này
đã được nhìn nhận và phát triển trên thế giới từ thập niên 50 Cho đến nay, CME đã được công nhận và bắt buộc tại hầu hết các nước, kể cả nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á Các hoạt động của CME sẽ giúp đỡ CBYT một cách hiệu quả trong việc khái quát hóa, diễn giải, đánh giá và ứng dụng các kiến thức mới vào chăm sóc sức khỏe nhằm cung cấp cho bệnh nhân một dịch
vụ chăm sóc chất lượng, hiệu quả và chi phí phù hợp
Ở Việt nam, trước đây chúng ta cũng có chú trọng đến công tác đào tạo liên tục CBYT và thường gọi là bổ túc cán bộ, đào tạo lại, bồi dưỡng chuyên môn, Tuy nhiên, do khó khăn về kinh tế nên công tác này không được coi trọng và nhiều khi bị lãng quên Trong những năm trở lại đây, khái niệm đào tạo liên tục CBYT được chú ý và quan tâm lớn, do yêu cầu hội nhập của
Trang 29ngành y tế nước ta và việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBYT là vô cùng cần thiết nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ y tế đáp ứng cho nhu cầu bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân trong ngày càng cao
Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/05/2008 của Bộ Y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục CBYT quy định: “Tất cả CBYT đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình Thời gian được đào tạo mỗi năm tối thiểu là 24 giờ thực học Trong 5 năm, mỗi CBYT phải tham gia học tập và tích lũy đủ thời gian đào tạo liên tục ít nhất là 120 giờ thuộc lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ đang hành nghề Mọi cá nhân đang làm việc trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam đều có nghĩa vụ tham gia học tập theo quy định của Thông tư này” [3] Luật Khám bệnh – Chữa bệnh được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 quy định: “Điều 29 Thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề đối với người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 2 năm liên tiếp”, “ Điều 37 Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp: … 3 Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa liên tục để nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế” [26] Như vậy, theo các qui định hiện hành tại Việt Nam, nhu cầu đào tạo liên tục của CBYT trong cả nước là rất lớn Cả nước hiện nay có khoảng 300.000 nhân viên y tế (và sẽ tăng nhanh trong tương lai) Nếu trung bình mỗi năm, mỗi nhân viên y tế phải thực hiện ít nhất 24 giờ đào tạo liên tục theo thông tư 07/2008 TT-BYT, hệ thống đào tạo y khoa liên tục ở Việt Nam phải đảm bảo cung cấp tối thiểu 6.000.000 giờ học trong một năm
Trang 301.3.2 Những đặc trưng của công tác đào tạo liên tục CBYT
a Đặc trưng về yêu cầu của công tác khảo sát nhu cầu đào tạo và tổ
chức tuyển sinh
Đào tạo liên tục CBYT là lĩnh vực đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho
cán bộ, viên chức thuộc ngành y tế, cũng là một hình thức đào tạo theo nhu
cầu xã hội vì mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân
ngày càng tăng cao, đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn của CBYT phải
càng nâng cấp để đáp ứng Do đó, việc tổ chức các khoá đào tạo liên tục phải
gắn liền với việc đánh giá được nhu cầu đào tạo của các tuyến y tế Việc khảo
sát nhu cầu đào tạo là tiền đề để xác định MT, xây dựng ND CT đào tạo
Công tác tuyển sinh các khoá đào tạo liên tục căn cứ từ nhu cầu đào tạo
của các CSYT và trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch đào tạo đã xây dựng và được
phê duyệt hằng năm của cơ sở đào tạo liên tục CBYT
b Đặc trưng về yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Theo Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005, đào tạo liên tục CBYT thuộc
lĩnh vực giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là những
khóa đào tạo ngắn ngày trang bị, cập nhật, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng
chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý chuyên ngành cho các công chức viên chức,
người hành nghề đang làm việc tại các CSYT
MT của giáo dục thường xuyên: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi
người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách,
mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải
thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời
sống xã hội” [25] Cụ thể hơn, MT đào tạo liên tục CBYT là đào tạo các HV
có kiến thức chuyên môn vững vàng, có kỹ năng thực hành chuyên nghiệp, và
có thái độ, đạo đức nghề nghiệp đúng đắn để từ đó họ có thể cung cấp các
Trang 31dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng cao tại các CSYT Với đặc trưng nhu cầu xã hội về một nguồn nhân lực y tế có trình độ chuyên môn đáp ứng việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đặc biệt là chất lượng khám chữa bệnh ở các CSYT tuyến dưới, góp phần giảm tải cho tuyến trên, hướng đến công bằng trong thụ hưởng chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân giữa các vùng miền, thì MT đào tạo của các cơ sở đào tạo liên tục CBYT sẽ nhằm vào đào tạo nguồn nhân lực y tế gắn với nhu cầu xã hội, có kiến thức, phẩm chất năng lực thực hành đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân theo từng tuyến y tế
c Đặc trưng về yêu cầu của CT, ND đào tạo
CT đào tạo liên tục CBYT có đặc điểm chung là thể hiện được MT đào tạo, quy định tiêu chuẩn đầu ra: kiến thức, kỹ năng và thái độ; phạm vi và cấu trúc ND đào tạo; phương pháp và hình thức đào tạo; và cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi khoá đào tạo Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển của KT-XH với đặc trưng toàn cầu hoá và hội nhập, phát triển kinh tế tri thức, sự phát triển của khoa học công nghệ và các đặc trưng chuyên ngành đào tạo CBYT thì CT, ND đào tạo của các cơ sở đào tạo liên tục CBYT có các đặc trưng:
- Chuẩn hoá, hiện đại và hội nhập khu vực và quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những CT đào tạo của các nước phát triển, phù hợp với yêu cầu của đất nước, phục vụ thiết thực cho việc nâng cao trình độ, phát triển nguồn nhân lực phòng bệnh và khám chữa bệnh để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân và phát triển bền vững
- Cập nhật kiến thức mới, kỹ năng, công nghệ mới cho tất cả các đối tượng có nhu cầu học tập, nâng cao kiến thức theo đúng các quy định hiện hành CT đào tạo liên tục phải đảm bảo tính đa dạng và phù hợp với MT đào tạo của từng đối tượng cụ thể, đáp ứng nhu cầu học tập, tiếp cận với sự phát
Trang 32triển của nền y học hiện đại, tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi người
- CT phải có cấu trúc hợp lý, chú trọng thực hành và đào tạo kỹ năng, thiết kế theo hướng lấy người học là trung tâm
d Đặc trưng về yêu cầu đối với lực lượng đào tạo
* Đối với GV:
GV của các khoá đào tạo liên tục CBYT là những GV cơ hữu của các cơ
sở đào tạo liên tục hoặc là GV thỉnh giảng Yêu cầu mang tính đặc trưng đối với GV đào tạo liên tục CBYT bao gồm:
- Phải có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên Trình độ chuyên môn phù hợp với chuyên ngành giảng dạy và phải cao hơn trình độ chung của HV
- Với những khoá đào tạo lâm sàng, kỹ thuật cao, GV cần có trình độ chuyên sâu, có kinh nghiệm thực tiễn, ít nhất 5 năm làm việc trong chuyên ngành tương ứng
- Được đào tạo về phương pháp sư phạm cơ bản theo CT do Bộ Y tế ban hành
Các khoá đào tạo liên tục còn phải bố trí trợ giảng để đảm bảo thực hiện đầy đủ các ND CT đào tạo Yêu cầu trợ giảng phải có chuyên môn phù hợp, trình độ từ trung cấp trở lên, có ít nhất 3 năm làm việc trong lĩnh vực chuyên ngành liên quan, có năng lực giảng dạy và được đào tạo về phương pháp sư phạm cơ bản [2]
* Đối với HV
HV của các khoá đào tạo liên tục là các CBYT đang công tác tại tất cả các tuyến y tế, là những người đã được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và được cấp bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo từng lĩnh vực Do đó, CBYT đã có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định Tuy nhiên, người CBYT luôn luôn cần được đào tạo cập nhật, bổ sung các kiến thức, kỹ năng,
Trang 33thái độ trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của mình Nó thể hiện ở việc họ không những có nhu cầu học để biết, mà còn học để làm việc, đáp ứng theo nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân của các CSYT
e Đặc trưng về yêu cầu phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo
Dạy và học trong ngành y có đặc điểm là CT đào tạo có tính logic chặt chẽ, có sự liên quan giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức, thái độ và hành vi Ngoài ra, đào tạo trong ngành y là đào tạo nghề, nhóm ngành sức khoẻ là những nghề cụ thể, có hệ thống lý thuyết phức tạp, có kỹ năng tay nghề rõ ràng và những yêu cầu thái độ - y đức cao cả HV phải được học nghề cẩn thận vì sẽ hành nghề trên con người Những đặc điểm này đòi hỏi việc lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo trang bị cho người học có
đủ năng lực để họ làm việc, coi trọng dạy cho họ có thái độ đúng chứ không chỉ cung cấp cho họ thật nhiều kiến thức Do đó, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phải phối hợp hiệu quả giữa đào tạo kiến thức chuyên môn và với hoạt động thực hành nghề nghiệp và qua đó phải hình thành được cho HV
thái độ nghề nghiệp đúng đắn
Một đặc điểm riêng của đào tạo liên tục CBYT là dạy cho người lớn đi học Người lớn đi học có những đặc điểm khác với trẻ em Họ đã tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như đã hình thành những phong cách học tập khác nhau Trong khi đi học, họ có rất nhiều điều phải bận tâm như công việc của cơ quan, của gia đình, của bản thân Do vậy,
GV cần biết được những đặc điểm này để có thể chọn lựa những phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học phù hợp cũng như giúp HV học có hiệu quả Đồng thời, thông qua các khoá học, GV có thể giúp họ hình thành, rèn luyện được kỹ năng học suốt đời Phương pháp học tập theo hướng tập trung vào tính tích cực của người học và người dạy có nghĩa là phải sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đặc điểm học tập của người lớn
Trang 34g Đặc trưng về yêu cầu về các điều kiện phục vụ đào tạo
* Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo
Ngoài yêu cầu chung về CSVC & TTBDH của một cơ sở đào tạo, với các đặc trưng của các chuyên ngành chăm sóc sức khoẻ và đặc trưng về nhu cầu vừa học tri thức về lý luận vừa học thực hành chuyên môn, thì yêu cầu đặc trưng về CSVC & TTBDH đối với các cơ sở đào tạo liên tục CBYT bao gồm:
- Cơ sở đào tạo được bố trí khu vực riêng có cảnh quan môi trường sư phạm, thuận tiện cho việc dạy - học lý thuyết và thực hành của GV, HV
- Có các phòng học dành cho các khóa đào tạo liên tục, phòng học lý thuyết với đủ trang thiết bị nghe nhìn, phòng thực hành có các mô hình, học
cụ, tranh ảnh phù hợp phục vụ công tác dạy - học có chất lượng
- Có tủ sách với các sách và tài liệu tham khảo liên quan chuyên ngành,
ít nhất 100 đầu sách, tạp chí và máy tính nối mạng Internet cho HV sử dụng
- Các cơ sở đào tạo xây dựng các labo đào tạo, phòng tiền lâm sàng phục
vụ cho công tác đào tạo liên tục có chất lượng
- Liên kết với các BV để có thể bố trí cho HV được thực hành tại các khoa phòng cận lâm sàng, lâm sàng đáp ứng yêu cầu ND của từng CT đào tạo, được sử dụng các thiết bị có tại BV, được cung cấp đủ hóa chất dung môi, bông băng và các vật tư khác
* Về môi trường đào tạo
Môi trường là toàn bộ các yếu tố và điều kiện bao xung quanh và ảnh hưởng đến con người Môi trường đào tạo là một khái niệm có nội hàm rộng, bao hàm cả môi trường vật chất và môi trường tinh thần Những yêu cầu đặc trưng về môi trường đào tạo trong các cơ sở đào tạo liên tục CBYT bao gồm:
- Mối quan hệ giữa các lực lượng tham gia đào tạo liên tục CBYT (các
cơ quan tổ chức chính trị, chính quyền địa phương, CBQL cơ sở đào tạo, GV,
Trang 35HV và các cơ quan chủ quản HV) ở khía cạnh đóng góp trí tuệ và tài chính cho hoạt động đào tạo
- Môi trường tâm lý thuận lợi cho việc dạy học trong công tác đào tạo liên tục CBYT là môi trường trong đó có sự tôn trọng cá nhân, hoạt động sáng tạo nội tâm được khuyến khích, có sự đối thoại tự do giữa người học với người dạy và CBQL, khoan dung với sự không chắc chắn, hỗ trợ niềm tin, chấp nhận sai lầm của người học [28] Một môi trường như vậy khuyến khích được con người bộc lộ và phát huy hết mọi tiềm năng cá nhân – cả từ phía nhà quản lý, người dạy và người học
* Về hoạt động phục vụ đào tạo
Đào tạo là hoạt động chính của một cơ sở đào tạo và mọi hoạt động khác đều xoay xung quanh hoạt động đào tạo và phục vụ cho nó, bao gồm một phổ rộng các hoạt động từ tổ chức đến thông tin, từ quản lý đến phục vụ
Đội ngũ quản lý là lực lượng đảm bảo cho hoạt động đào tạo được thực hiện Nếu không có đội ngũ này sẽ không có sự tổ chức và quản lý đào tạo Chính đội ngũ này xác định MT đào tạo và xây dựng các kế hoạch đào tạo liên tục nhân lực y tế hằng năm và dài hạn Trong tình hình ở nước ta hiện nay, nghề y dược và nghề chăm sóc sức khoẻ đang biến đổi rất nhanh để ứng phó với các thử thách mới: đòi hỏi những năng lực mới về y học xã hội và các khoa học hành vi (tâm lý học, giao tiếp, giáo dục sức khoẻ …), mô hình bệnh tật chuyến biển; kỹ thuật chẩn đoán, chăm sóc, điều trị, phục hồi và sản xuất thuốc … đổi mới rất nhanh, nhu cầu sức khoẻ của nhân dân khác trước, dân trí cao, kinh tế phát triển, đòi hỏi chất lượng dịch vụ sức khoẻ cao hơn Do đó, công tác đào tạo CBYT cũng phải đáp ứng theo những nhu cầu đó Và việc lựa chọn được những bước đi hợp lý trong công tác đào tạo là yếu tố cốt lõi của quản lý đào tạo, điều này phụ thuộc vào năng lực và tầm nhìn của đội ngũ quản lý
Trang 36Đội ngũ nhân viên (các chuyên viên, nhân viên phục vụ) chịu trách nhiệm thực thi trực tiếp các hoạt động phục vụ đào tạo Các hoạt động này bao gồm: triển khai kế hoạch, theo dõi các khoá đào tạo liên tục, báo cáo kết quả tổ chức lớp học, lưu trữ hồ sơ, Các hoạt động này đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, vì vậy đội ngũ nhân viên ở các cơ sở đào tạo liên tục CBYT là những người được đào tạo, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực
mà mình phụ trách, thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng nâng cao tay nghề để có khả năng độc lập giải quyết những vấn đề thường nhật
h Đặc trưng về yêu cầu kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
Kết quả đào tạo được hiểu là chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo tương xứng với MT đào tạo (kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học) thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá Cần phải tiến hành kiểm tra, đánh giá nhằm vào mục đích chính là cung cấp phản hồi cho quá trình dạy và học:
- Cung cấp phản hồi cho người dạy để cải tiến việc dạy: Các câu trả lời,
các bài làm và các kết quả học tập của HV chính là các phản hồi cần thiết cho
GV để họ nâng cao chất lượng dạy học (kể cả về ND, phương pháp và phương tiện dạy học)
- Cung cấp phản hồi cho HV để cải tiến việc học: Các lời nhận xét của
GV, của bạn học và kết quả tự lượng giá khi làm test, khi đối chiếu với bảng kiểm kỹ năng chính là các phản hồi cần thiết cho HV để họ nâng cao chất lượng tự học Nếu không có hoặc chỉ có ít phản hồi thì việc học tập của HV sẽ
có thiếu căn cứ để tự điều chỉnh kịp thời Nhiệm vụ của GV là tạo ra các công
cụ tự phản hồi và tạo điều kiện cho HV sử dụng để tự phát hiện các phản hồi nội sinh
- Cung cấp phản hồi làm căn cứ cho việc chứng nhận nhằm bảo vệ cho
xã hội: CBYT hành nghề trên con người, nên việc giám định chất lượng và
trình độ của họ là rất quan trọng
Trang 371.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CÁN BỘ
Y TẾ
1.4.1 Quản lý công tác tuyển sinh
Quản lý công tác tuyển sinh tại các cơ sở đào tạo liên tục CBYT bao gồm các ND:
- Thông báo CT đào tạo và kế hoạch tổ chức các khóa đào tạo liên tục đến các CSYT
- Thông báo hồ sơ cho HV đăng ký tham gia các khóa học
- Tổng hợp số lượng HV đăng ký tham gia các khóa học
- Phân phối HV tham gia các lớp học
- Thông báo và đón tiếp HV nhập học
1.4.2 Quản lý hoạt động đào tạo liên tục CBYT
a Quản lý mục tiêu đào tạo
Quản lý MT đào tạo nhằm đảm bảo MT đào tạo được xây dựng hợp lý
và được thực hiện trọn vẹn Quản lý MT đào đạo liên tục CBYT bắt đầu từ việc xây dựng được MT tổng quát của cơ sở đào tạo, xác định trên chức năng nghề nghiệp của các đối tượng HV MT đào tạo phải gắn chặt với các chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của từng đối tượng HV, để họ có thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng phù hợp với hoàn cảnh điều kiện tại nơi họ làm việc MT đào tạo còn xác định trên cơ sở phân tích những thiếu hụt trong hành nghề của HV (so với các chuẩn mực được xác định hoặc nhu cầu xã hội) Từ đó, xác định nhu cầu học tập cụ thể và đặt ra các MT đào tạo nhằm giảm hoặc xoá bỏ những thiếu hụt đó Đó là tiền đề để các cơ sở đào tạo xây dựng được các nhiệm vụ đào tạo cụ thể
MT và nhiệm vụ đào tạo phải được thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh và được triển khai thực hiện Phải xây dựng kế hoạch định kỳ so sánh đối chiếu MT với kết quả đạt được để đánh giá một cách toàn diện công tác
Trang 38đào tạo, tìm ra mặt mạnh, mặt yếu, các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo
b Quản lý CT, ND đào tạo
Quản lý CT, ND đào tạo ở các cơ sở đào tạo liên tục CBYT thể hiện ở việc xây dựng CT đào tạo liên tục cho các đối tượng CBYT căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao và nhu cầu đào tạo liên tục của các tuyến y tế CT đào tạo liên tục phải phản ánh được MT đào tạo, đồng thời hướng đến đáp ứng các nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực y tế của xã hội CT đào tạo phải đảm bảo tính mềm dẻo, được cập nhật thường xuyên
Quản lý CT đào tạo hướng đến MT đảm bảo các CT được thiết kế và thực hiện trọn vẹn với chất lượng và hiệu quả cao nhất trong điều kiện cụ thể của các cơ sở đào tạo liên tục CT đào tạo liên tục được biên soạn với sự tham gia của các GV, CBQL và cả đại diện nhà quản lý của các CSYT Biên soạn
CT là công việc chuyên sâu, đòi hỏi người biên soạn ngoài trình độ chuyên môn, kỹ thuật tốt cần phải có kiến thức kỹ năng về nghiệp vụ giáo dục, đào tạo
CT đào tạo phải có MT rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của từng trình độ HV và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của các các tuyến y
tế CT đào tạo phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tế dựa trên cơ sở tham khảo các CT tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi
từ phía HV, GV, các CSYT, nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế
Từ CT đào tạo, xây dựng và quản lý việc thực hiện ND đào tạo một cách hợp lý, khoa học, phù hợp với MT đào tạo
c Quản lý GV và hoạt động dạy
Quản lý người dạy bao gồm nhiều công đoạn trải qua nhiều quá trình
Trang 39khác nhau, bao gồm :
- Quản lý hồ sơ GV (lý lịch khoa học, văn bằng, chứng chỉ, ) theo đúng quy định của Bộ Y tế về tiêu chuẩn GV của các khóa đào tạo liên tục CBYT
- Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng GV về nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn
- Quản lý hoạt động dạy học của GV: tổ chức hoạt động biên soạn giáo trình, giáo án của người GV; quản lý việc sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học của GV; các phương pháp và hình thức lượng giá, đánh giá kết quả học tậps HV trong quá trình giảng dạy của GV
Quản lý phương pháp và hình thức dạy học trong các khóa đào tạo liên tục CBYT là quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp và hình thức dạy học sao cho phù hợp với ND dạy học và phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học: thuyết trình, đọc và bình luận tài liệu, động não, thảo luận nhóm, đóng vai, bài tập tình huống, thao diễn/làm mẫu, dạy học lâm sàng, dạy học tại cộng đồng,
Quản lý các phương pháp và hình thức lượng giá kết quả học tập của
HV trong các khóa đào tạo liên tục CBYT để cung cấp các phản hồi cho người dạy và người học, từ đó có thể điều chỉnh quá trình dạy học tốt hơn
- Quản lý chế độ tiền thù lao giờ giảng cho GV
- Phê bình nhắc nhở GV nếu không hoàn thành nhiệm vụ
Trang 40- Sắp xếp nơi ở, học cho HV
- Quản lý hoạt động học của HV: HV vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động nhận thức Kết quả đào tạo phụ thuộc vào tính tích cực của HV Quản lý hoạt động học của HV phải đảm bảo cho HV không chỉ là khách thể của hoạt động dạy mà phải biến thành chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo để tiếp nhận kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp
ND quản lý hoạt động học của HV bao gồm: đảm bảo HV thực hiện đầy đủ nội quy, quy chế của khóa đào tạo, quản lý ND, phương pháp học tập, xây dựng phương pháp tự lượng giá phù hợp, hướng dẫn HV tự xây MT và kế hoạch học tập cá nhân
e Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, bao gồm các ND chủ yếu sau đây:
- Xây dựng chuẩn, các tiêu chí và minh chứng để đánh giá kết quả đào tạo Các chuẩn, các tiêu chí và minh chứng được xây dựng ngay từ khâu xây dựng CT đào tạo
- Quản lý việc GV lượng giá học tập của HV trong suốt quá trình đào tạo và đánh giá kết quả học tập của HV thông qua kiểm tra, thi kết thúc khóa học
- Quản lý việc xét công nhận hoàn thành khóa học và cấp phát chứng chỉ đào tạo liên tục cho HV
g Quản lý các điều kiện phục vụ đào tạo
* Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo
- Quản lý việc huy động, mua sắm và trang bị cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ đào tạo để thực hiện MT đào tạo theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa, đồng thời đảm bảo về số lượng, chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo