ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐỖ VĂN THÀNH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐỖ VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Đà Nẵng, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐỖ VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG
CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH, HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Sinh thái học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
Đà Nẵng, năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu và kết quả tính toán đưa ra trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Thành
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
5 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN 5
1.1.1 Tác động tích cực 5
1.1.2 Tác động tiêu cực 5
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG NAM 7 1.2.1 Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam 13
1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 14 1.3.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 24
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.4.1 Phương pháp kế thừa 26
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 26
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 27
2.4.4 Sử dụng công thức trong tính toán 29
Trang 53.1 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH 2
30
3.1.1 Hiện trạng hoạt động thủy điện Sông Tranh 2 30
3.1.2 Những sự cố của thủy điện Sông Tranh 2 31
3.2 THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH 32 3.2.1 Đa dạng thành phần loài 32
3.2.2 Các loài cá quý hiếm 40
3.2.3 Các loài cá kinh tế trên sông Tranh 41
3.2.4 Mối quan hệ giữa thành phần loài cá ở khu hệ sông Tranh với khu hệ khác 42
3.2.5 Đặc điểm phân bố của các loài cá khu vực sông Tranh 45
3.3 TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH 46
3.3.1 Những tác động liên quan 46
3.3.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng 66
3.3.3 So sánh biến động thành phần loài khu hệ cá sông Tranh và sông Đà ở địa phận Hòa Bình 77
3.4 NHỮNG GIẢI PHÁP KHẢ THI PHỤC HỒI LẠI HỆ SINH THÁI VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ 80
3.4.1 Xây đập phụ 80
3.4.2 Giữ dòng sông nguyên vẹn 80
3.4.3 Trồng phủ cây xanh ở hai khu vực trên và dưới đập 81
3.4.4 Tạo sinh kế cho người dân 81
3.4.5 Quản lý tổng hợp 82
3.4.6 Nâng cao nhận thức cộng đồng 82
3.4.7 Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 83
Trang 6QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
CO : Lượng ôxy hòa tan
Trang 8Số hiệu Tên bảng Trang
1.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 16 1.2 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 18 1.3 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 19 1.4 Diện tích và mật độ dân số huyện Bắc Trà My, tỉnh
Quảng Nam
22
3.1 Danh mục thành phần loài cá ở sông Tranh 32 3.2 Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá sông Tranh 38 3.3 Các loài cá quý hiếm ở sông Tranh 40 3.4 Các loài cá kinh tế ở sông Tranh 42 3.5 Quan hệ giữa thành phần loài cá sông Tranh với khu
hệ khác
43
3.6 Tần số bắt gặp cá Chình hoa điều tra qua người dân 48 3.7 Đặc trưng dòng chảy năm 2005 tuyến đập sông Tranh 49 3.8 Phần trăm dòng chảy cần thiết để duy trì một điều kiện
sông theo phương pháp Tennant
53
3.10 Số hộ khai thác tài nguyên theo xã 60 3.11 Năng suất khai thác theo ngư cụ kg/tháng/hộ 62 3.12 Các loài cá nhập nội ở sông Tranh 63 3.13 Diện tích và sản lượng nuôi cá ở sông Tranh 64
Trang 9với một số khu hệ khác
43
3.6 Tần số bắt gặp cá Chình hoa điều tra qua người dân 483.7 Biến động sản lượng của một số loài khảo sát 503.8 Thành phần nhóm loài cá ở các lưu vực theo hàm lượng DO 583.9 Số hộ khai thác các tài nguyên theo xã 603.10 Năng suất khai thác theo ngư cụ kg/tháng/hộ 623.11 Sản lượng cá phổ biến trong 1 ngày khai thác 653.12 Tỷ lệ % loài cá mới xuất hiện và mất đi trong toàn khu hệ 663.13 Sản lượng cá giảm so với trước xây đập 693.14 Thành phần cấu trúc bậc bộ, họ, loài cá trên và dưới đập 713.15 Biến động thành phần loài giữa hai khu hệ dưới tác động
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có diện tích nước ngọt bề mặt lớn với 653 nghìn hecta sông ngòi, 394 nghìn hecta hồ chứa, 85 nghìn hecta đầm phá ven biển, 580 nghìn hecta ruộng lúa nước Vì vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú Theo kết quả điều tra khoa học, đã xác định được
1027 loài cá nước ngọt thuộc 22 bộ, 97 họ và 427 giống phân bố ở Việt Nam [6] Tuy nhiên, việc đánh bắt, khai thác cá quá mức, sự ô nhiễm môi trường do các hoạt động công nghiệp đã làm cho trữ lượng cá ngày một giảm mạnh, nhiều loài cá bị tuyệt chủng, nguy cơ tuyệt chủng được liệt kê vào sách đỏ Việt Nam
Huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam có diện tích tự nhiên 823,05
km2, là một trong những huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam, Bắc Trà My là đầu nguồn quan trọng cung cấp nước cho hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và một số sông suối ở cánh Bắc tỉnh Quảng Ngãi Đoạn chảy qua huyện Tiên Phước và Hiệp Đức gọi là sông Tranh và xã Trà Dơn
là địa phận thượng nguồn của sông Tranh ở Bắc Trà My Sông Tranh là đoạn thượng lưu và trung lưu của sông Thu Bồn, nhánh phải của hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh ở độ cao 2.598m Sông Tranh chảy qua các xã Trà Đốc, Trà Bui, Trà Tân, Trà Sơn, Trà Giác
Ở các sông suối đa dạng nhiều loài thủy sinh vật đặc biệt là cá
Tuy nhiên, trong thời gian qua việc đánh bắt ngày càng gia tăng, không có quy hoạch, cộng với những tác động của tự nhiên và hình thức đánh bắt mang tính chất hủy diệt của con người Đặc biệt, các hình thức sử dụng thuốc nổ và hóa chất độc đã làm suy giảm đáng kể nguồn lợi thủy sản trên sông, mất cân bằng sinh thái, suy thoái đa dạng sinh học và ô nhiễm môi trường
Trang 11Nếu nguồn lợi bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học sẽ bị suy kiệt, dẫn đến có ít cơ hội hơn cho hoạt động nghề cá, mất đi nguồn sinh kế và nhìn chung ảnh hưởng xấu đến lĩnh vực kinh tế Vì vậy, để phát triển kinh
tế thủy sản thì không thể không quan tâm đến việc sử dụng và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản
Hơn nữa, với các nhà máy thủy điện đã đi vào vận hành chưa có một nghiên cứu đánh giá tác động nào được thực hiện để đánh giá hiệu quả và những vấn đề môi trường phát sinh bởi các nhà máy thủy điện Ngoài ra việc phát triển thủy điện và động đất xuất hiện ở khu vực cũng làm ảnh hưởng đến dòng chảy và suy giảm chất lượng nước sẽ làm hạn chế khả năng kiếm mồi của cá, mất chỗ sinh sản hoặc làm chết cá con và trứng của một số loài cá Từ
đó ảnh hưởng đến sự đa dạng và phân bố của các loài cá nơi đây
Trong thời gian qua cũng chưa có nghiên cứu khoa học nào về nguồn lợi cá ở sông Tranh Vì vậy, muốn khai thác hợp lý và sử dụng lâu dài nguồn lợi, nhất thiết phải có những nghiên cứu cơ bản và những hiểu biết nhất định về nguồn lợi thủy sản này
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu một số tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố của cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam” nhằm góp phần giúp
cho lãnh đạo địa phương và các nhà quản lí cộng đồng các xã ven sông Tranh tham khảo làm cơ sở cho việc xây dựng phương án khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá được sự biến động thành phần loài và
sự phân bố của cá do tác động của thủy điện ở sông Tranh, huyện Bắc Trà
My, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng, quy hoạch, phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học nguồn cá
Trang 123 Nội dung nghiên cứu
* Hiện trạng hoạt động nhà máy thủy điện Sông Tranh 2
- Khái quát hiện trạng hoạt động của nhà máy thủy điện Sông Tranh 2
và các sự cố xảy ra trong thời gian nhà máy đi vào hoạt động
* Nghiên cứu về thành phần loài
- Thu mẫu cá tại 11 khu vực nghiên cứu, tiến hành định loại để xác định cấu trúc thành phần loài cá, lập danh mục thành phần loài cá ở sông Tranh
- Đặc điểm cấu trúc, tính đặc trưng về đa dạng sinh học của thành phần loài cá ở sông Tranh
* Nghiên cứu về đặc điểm phân bố
- Phân tích đặc điểm phân bố theo lưu vực, theo sinh cảnh của các loài
cá thuộc khu vực nghiên cứu
- So sánh thành phần loài cá sông Tranh với một số sông khác trong nước và lân cận làm cơ sở cho công tác bảo vệ và quản lý cá ở sông Tranh
* Tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố của cá
- Một số tác động của thủy điện lên môi trường và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nguồn lợi cá trên sông Tranh
Trang 13- Đánh giá biến động thành phần loài và sản lượng cá so với thời gian trước xây dựng nhà máy thủy điện
- Đánh giá về phân bố của cá trên đập và dưới đập nhà máy thủy điện
- So sánh sự biến động thành phần loài với khu hệ cá sông có tác động của nhà máy thủy điện
* Một số giải pháp khả thi phục hồi lại hệ sinh thái và nguồn lợi cá
- Đề xuất một số giải pháp khả thi phục hồi lại hệ sinh thái và nguồn lợi cá do tác động của thủy điện
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở sông Tranh là
những dẫn liệu khoa học về đa dạng sinh học, về thành phần loài góp phần làm cơ sở đánh giá tác động, ảnh hưởng của việc xây dựng thủy điện đến nguồn lợi cá, quy hoạch phát triển bền vững và góp phần cung cấp tài liệu về động vật chí Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận văn là những dẫn liệu quan
trọng giúp chính quyền địa phương, các nhà quản lý cộng đồng các xã ven sông Tranh tham khảo làm cơ sở cho việc xây dựng phương án khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá trong phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn có 3 chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN
1.1.1 Tác động tích cực
Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là giá thành nhiên liệu, đây là một nguồn năng lượng tái tạo được tính bền vững Do không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, các nhà máy thủy điện không phát thải ra các chất khí, chất rắn gây ô nhiễm môi trường, không tiêu thụ ôxygen, không phát sinh nhiệt, không thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính Do đó, có thể coi đây
là dạng năng lượng sạch Những hồ chứa dung tích lớn được xây dựng cùng với các nhà máy thuỷ điện sẽ tích nước vào các tháng mùa mưa để có thể dùng để phát điện trong mùa khô Như vậy, thủy điện giúp đồng bằng
hạ du chống lũ về mùa mưa và hạn hán vào mùa khô; cải thiện dòng chảy
kiệt và xâm nhập mặn [52]
1.1.2 Tác động tiêu cực
Việc xây dựng các hồ chứa làm mất đi một diện tích lớn đất đai và thông thường có cả đất rừng Theo tính toán, để có 1 MW điện phải mất ít nhất 7,5 - 10 ha rừng Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các
dự án nhà máy thuỷ điện lớn có thể làm thay đổi dòng chảy về cả số lượng
và chất lượng, phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh Thứ nhất, các nghiên cứu đã cho thấy rằng đập sẽ ngăn cản những con đường di cư của loài cá, biến những đoạn sông nước chảy xiết thành những cái ao tù đọng và gây nguy hiểm cho các khu vực cá đẻ và ấp trứng Điển hình các đập nước dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương của Bắc
Mỹ đã làm giảm lượng cá hồi vì chúng ngăn cản đường bơi ngược dòng của cá hồi để đẻ trứng, thậm chí ngay khi đa số các đập đó đã lắp đặt thang lên cho cá Cá hồi non cũng bị ngăn cản khi chúng bơi ra biển bởi vì
Trang 15chúng phải chui qua các tuốc-bin Điều này dẫn tới việc một số vùng phải chuyển cá hồi con xuôi dòng ở một số khoảng thời gian trong năm Các thiết kế tuốc-bin và các nhà máy thuỷ điện có lợi cho sự cân bằng sinh thái vẫn còn đang được nghiên cứu [52]
Thứ hai, các tua-bin thường mở không liên tục, có thể quan sát thấy
sự thay đổi nhanh chóng và bất thường của dòng chảy làm mực nước sông dâng lên hoặc hạ xuống rất nhanh, đặc biệt là vùng hạ lưu ngay sát nhà máy Điều này có thể gâythiệt hại về người và của cho khu vực dưới chân đập Cuối cùng, nước chảy ra từ tuốc-bin lạnh hơn nước trước khi chảy vào đập, điều này có thể làm thay đổi số lượng cân bằng của hệ động vật, gồm cả việc gây hại tới một số loài [52]
Do lượng phù sa bị giữ lại trong lòng hồ, nước sau khi ra khỏi tuốc-bin thường chứa rất ít phù sa làm giảm độ phì nhiêu đối với vùng đồng bằng Phù sa cho phép sự hình thành bờ sông, châu thổ, phù sa, hồ,
đê tự nhiên, đường bờ biển Ngoài ra, điều này cùng việc thay đổi lưu lượng có thể gây ra tình trạng sạt lở bờ sông và thay đổi hình thái lòng sông, nhất là vùng cửa sông Đáy sông bị tụt xuống kéo theo mực nước ngầm dọc sông xuống thấp Trên thực tế, việc sử dụng nước tích trữ thỉnh thoảng khá phức tạp bởi vì yêu cầu tưới tiêu có thể xảy ra không trùng với thời điểm yêu cầu điện lên mức cao nhất [52]
Trong mùa cạn, nhiều hồ chứa thuỷ điện tăng cường việc tích nước
để dự trữ phát điện, nên giảm lượng nước xả xuống hạ lưu, gây xâm nhập mặn sâu và thiếu nước tưới Ngoài ra, các nhà máy thuỷ điện hiện nay đều vận hành phát điện hàng ngày theo chế độ phù đỉnh Trong đó, để tạo ra hiệu quả sản xuất điện năng cao nhất nên vào ban đêm, lượng nước qua tuốc bin xả xuống hạ lưu giảm đến mức tối thiểu, hoặc có khi ngừng hẳn.Một số dự án thuỷ điện cũng sử dụng các kênh, thường để đổi hướng dòngsông tới độ dốc nhỏ hơn nhằm tăng áp suất có được, trong một số trường
Trang 16hợp, toàn bộ dòng sông có thể bị đổi hướng để trơ lại lòng sông cạn Bên cạnh đó, nhiều công trình thuỷ điện dùng đường ống áp lực để dẫn nước từ
hồ chứa đến nhà máy thuỷ điện bố trí ở cao trình thấp để tạo đầu nước lớn, nâng cao hiệu quả phát điện, nên đoạn sông từ đập đến nhà máy không có nước trở thành một đoạn sông chết có chiều dài từ vài km đến hàng chục
km ngay sau tuyến đập chính
Theo bản báo cáo của Uỷ ban Đập nước Thế giới (WCD), ở nơi nào đập nước lớn so với công suất phát điện (ít hơn 100 watt trên mỗi km diện tích bề mặt) và không có việc phá rừng trong vùng được tiến hành trước khi thi công đập nước, khí gas gây hiệu ứng nhà kính phát ra từ đập có thể cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường Ở các hồ chứa phương bắc Canada và Bắc Âu, sựphát sinh khí nhà kính tiêu biểu chỉ là 2 đến 8%
so với bất kỳ một nhà máy nhiệt điện nào.Với các công trình thủy điện, do mất rất nhiều đất ở và đất canh tác để làm hồ chứa nên sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân có thể gặp khó khăn Vấn đề di dân -tái định cư cho dân cư nông nghiệp sống trong vùng hồ chứa không đơn giản, tác động về mặt xã hội sẽ rất lớn và lâu dài Vấn đề là phải dành một diện tích canh tác rất lớn để phân chia và xây chỗ ở cho các người tái định cư Trong nhiều trường hợp không một khoản bồi thường nào có thể bù đắp được sự gắn bó của họ về tổ tiên và văn hoá gắn liền với địa điểm đó vì chúng có giá trị tinh thần đối với họ [52]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG NAM
1.2.1 Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu cá nội địa ở nước ta được đề cập từ rất sớm Tuy nhiên những công trình nghiên cứu thực sự có hệ thống về cá nước ngọt mới được bắt đầu từ nửa thế kỷ XIX
Trang 17Trong thời gian trước năm 1945, những công trình nghiên cứu về cá nước ngọt ở Việt Nam đã được công bố chủ yếu là của các tác giả người nước ngoài Công trình đầu tiên nghiên cứu về phân loại cá nước ngọt ở Việt Nam là của H.E Sauvage được công bố năm 1881 Đó là công trình
“Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu” Qua công trình này, H.E Sauvage đã thống kê được 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới
ở miền Bắc Việt Nam Đến năm 1884, ông thu thập và công bố thêm 10 loài cá nước ngọt ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới [17]
Năm 1907, kết quả phân tích mẫu cá thu thập ở Hà Nội của đoàn Thường trực khoa học Đông Dương đã công bố 29 loài và mô tả 2 loài mới
và đến năm 1934 công bố thêm 33 loài mới Từ năm 1930 đến năm 1937, P Chevey đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các sông suối miền Bắc Việt
Nam và phát hiện ra sự có mặt của cá Chình Nhật (Anguilla japonica) ở
sông Hồng Đặc biệt là vào năm 1937, P Chevey và J Lemasson đã công bố công trình nghiên cứu tổng hợp cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam: “Góp phần nghiên cứu về các loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam” với 17 họ
và 98 loài Đây được xem là công trình tổng hợp đầy đủ nhất về cá lúc bấy giờ, và nhiều tác giả người nước ngoài khác như J Henry (1865), Pellagin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934), P Worman (1925), Gruvel (1925), Chabanaud (1926), R Bourret (1927),…cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá ở các sông suối và đầm phá ven biển nước ta [18]
Nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu về cá trong giai đoạn trước năm 1945 mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài, còn về nguồn lợi cá chưa được thực hiện
Trong thời gian miền Nam còn đang chiến tranh chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ nên công tác nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và nghiên cứu cá nói riêng vẫn chưa được chú trọng Tuy nhiên, cũng có một
số công trình nghiên cứu cá do các cán bộ khoa học người Việt và người
Trang 18nước ngoài công bố như Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanvir (1965), M Yamarmura (1966), Kawamoto trong đó K Kuronnuma (1961) đã tổng hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài; Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách các loài cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long gồm 93 loài [48]
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu cá được đẩy mạnh về phía Nam Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước ta coi trọng việc nghiên cứu và phát triển tiềm năng của các thủy vực nội địa Các nghiên cứu không chỉ tập trung vào thành phần loài mà còn đánh giá sự đa dạng, thích nghi của các môi trường thủy vực khác nhau
Năm 1978, Mai Đình Yên đã công bố “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam”, thống kê danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá ở miền Bắc nước
ta [41] Đến năm 1992, Mai Đình Yên cùng với các cộng sự công bố “Định loại các loài cá nước ngọt Nam bộ”, mô tả, định loại 255 loài cá ở Nam bộ Việt Nam [43] Năm 1993, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương đã công bố “Định loài cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 173 loài [18] Đây là các công trình tổng hợp đầy đủ nhất về hai khu hệ cá miền Bắc và miền Nam nước ta trong thời kỳ này
Từ năm 1981 đến năm 1994, một số kết quả nghiên cứu về khu hệ cá
đã được công bố, tiêu biểu là Nguyễn Hữu Dực (1982): “Thành phần loài
cá sông Hương”, đã thống kê được 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983): Khu
hệ cá sông Lam, đã thống kê được 157 loài; Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần các loài cá sông Thu Bồn gồm 58 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái
25 loài [42]
Trang 19Năm 1994, Vũ Trung Tạng đã tiến hành đánh giá thành phần loài cá các cửa sông Việt Nam “Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” với 580 loài thuộc 110 họ và 26 bộ Đồng thời, ông chia làm 4 nhóm sinh thái có nguồn gốc khác nhau: cá biển, cá cửa sông, cá nước ngọt và cá di cư [37]
Về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nước ngọt Việt Nam có các tác giả Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo (1993, 1998) và Nguyễn Hữu Dực (1995) Các tác giả cho rằng khu hệ cá nước ngọt Việt Nam có thể xếp vào vùng Đông Dương với 2 vùng phụ cận và 11 khu địa
lý như sau [18]:
- Vùng phụ Nam Trung Hoa có 5 khu thuộc Việt Nam là Cao Lạng, Việt Bắc, Tây Bắc, miền núi Bắc Trung bộ, đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ
- Vùng phụ Đông Dương có 4 khu thuộc Việt Nam là Tây Nguyên, hạ lưu sông Mêkông, đồng bằng Nam bộ và đảo Phú Quốc
- Ngoài ra, còn hai khu mang tính chất chuyển tiếp giữa hai vùng phụ cận trên là khu thứ 10: Trung và Nam Trung bộ mang tính chất chuyển tiếp theo hướng Bắc Nam và khu thứ 11: Điện Biên Phủ mang tính chất chuyển tiếp theo hướng Tây Bắc
Nhìn chung, những nghiên cứu toàn diện về cá trong giai đoạn này được đẩy mạnh và có những bước tiến vững chắc Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu về cá chỉ tập trung ở hệ sinh thái của các thủy vực nội địa phía Bắc và phía Nam, nơi gần những trung tâm nghiên cứu Quốc gia về thủy sản Các vùng biển và các thủy vực nội địa ở miền Trung vẫn chưa được chú trọng nghiên cứu
Từ 1995 đến 2000, nghiên cứu cá được quan tâm và chú trọng Bên cạnh các thủy vực miền Bắc và miền Nam, các thủy vực miền Trung và
Trang 20Tây Nguyên cũng được tập trung nghiên cứu, tiêu biểu trong giai đoạn này là: Võ Văn Phú (1995) “Thành phần loài của khu hệ cá đầm phá Thừa Thiên Huế” với 163 loài cá thuộc 95 giống, 60 họ và 17 bộ, trong
đó có 23 loài cá kinh tế [25]; Vũ Trung Tạng, Nguyễn Thị Thu Hè (1997) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần cá ở sông Krông Ana (Đắk Lắk) [38]; Nguyễn Trường Khoa, Võ Văn Phú (2002) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” với 83 loài thuộc 56 giống, 36 họ và 12 bộ [22]
Ở miền Trung công tác nghiên cứu phát triển mạnh mẽ từ năm 2001 đến nay, công tác nghiên cứu được tập trung chú trọng Các công trình nghiên cứu tiêu biểu: “Thành phần loài cá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế sau trận lũ lịch sử 1999” của Võ Văn Phú (2001) với 171 loài [26]; “Đa dạng về thành phần loài cá Đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên” của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) [27]; “Dẫn liệu bước đầu về cá sông Chu thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Hữu Dực, Dương Quang Ngọc (2004) với 94 loài, 68 giống, 24 họ và 9 bộ [14]…
Từ năm 2001 - 2005, Nguyễn Văn Hảo đã xuất bản cuốn sách “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm 3 tập, mô tả các loài nước ngọt điển hình và một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước lợ của vùng cửa sông, đầm phá ven biển Theo công bố này, tác giả đã thống kê được 1.027 loài và phân loài cá thuộc 427 giống, 98 họ và 22
bộ Đây được xem là bộ sách phân loại cá nước ngọt đầy đủ và chi tiết nhất Việt Nam hiện nay [18]
Năm 2005, Võ Văn Phú và cộng sự đã công bố danh lục thành phần loài cá Khu bảo tồn thiên nhiên Đăkrông (Quảng Trị) với 100 loài thuộc 65
Trang 21giống, 19 họ và 8 bộ Trong đó, bộ cá Chép chiếm ưu thế với 62 loài (chiếm 62,00%), tiếp đến là bộ cá Vược với 26 loài (chiếm 26,00%) [29] Các công trình nghiên cứu khu hệ cá ở các hồ chứa và biến động thành phần loài do xây dựng các đập, hồ thủy điện còn hạn chế, chỉ mới bắt đầu chú trọng từ những năm 1997 trở lại đây Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Quỳnh Anh và Nguyễn Xuân Huân (2012), đã nghiên cứu thấy khu hệ cá sông Đà địa phận Hòa Bình từ 72 loài chỉ còn 68 loài sau 20 năm nhà máy
đi vào hoạt động và mức độ gần gũi giữa hai khu hệ trên và dưới đập hiện tại chỉ ở mức “Gần ít” [24] Một nghiên cứu khác của Lâm Ngọc Châu và
cs (2011), về hệ cá ở các hồ chứa ở hai tỉnh Đồng Nai và Bình Phước cho thấy một số loài có nguồn gốc sông, suối đang bị suy giảm và biến mất như
cá Chình, cá Đỏ mắt thay vào đó các loài cá nuôi du nhập vào hồ gia tăng [12]
Gần đây có Vũ Thị Phương Anh, Dương Thị Mỹ Diệp (2014),
“Nghiên cứu về thành phần loài cá ở sông Bàn Thạch, tỉnh Phú Yên” đã công bố được 115 loài với 85 giống nằm trong 47 họ thuộc 14 bộ [5]
Năm 2015, Nguyễn Xuân Đồng nghiên cứu khu hệ cá hạ lưu sông Sài Gòn trước và sau khi xây dựng hồ Dầu Tiếng cho thấy về thành phần loài thì
đa dạng hơn tăng lên, hiện có 133 loài so với năm 1979 chỉ 80 loài, những loài cá mới xuất hiện do xâm nhập mặn khi ngăn hồ Ngoài ra có 13 loài thường gặp và chiếm số lượng nhiều trước đây nay không còn thấy [16] Nhìn chung, công tác nghiên cứu cá ở nước ta thời gian đầu tuy chỉ mới dừng lại ở thống kê và mô tả thành phần loài nhưng sau năm 1975 đến nay công tác nghiên cứu cá đang được đẩy mạnh, có những bước tiến vững chắc về đa dạng và sinh thái Công tác nghiên cứu không chỉ hạn hẹp ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam mà còn được lan rộng ra khắp cả nước Việc nghiên cứu không chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài
Trang 22mà còn nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái, sinh lý khác nhau Ngoài
ra, việc nghiên cứu đánh giá tác động của môi trường đến đa dạng và phân
bố của cá cũng được đẩy mạnh trước thực trạng môi trường ngày càng ô nhiễm như hiện nay
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam
Nhìn chung, những nghiên cứu cá ở Việt Nam đang được đẩy mạnh trong những năm qua Tuy nhiên, ở Quảng Nam những nghiên cứu về cá chỉ mới tập trung chủ yếu ở các sông suối lớn của một số nhà khoa học tiêu biểu như Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực đã tiến hành nghiên cứu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ vào năm 1991 [42] Trong đó sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam là một trong số 7 vực nước được điều tra nghiên cứu về thành phần loài, sinh thái học, các loài cá kinh
tế và nghề cá Đến năm 1991, Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực tiếp tục công bố thành phần loài cá sông Thu Bồn có tổng số 58 loài và họ cho rằng thành phần loài cá có sự giao lưu của hai phức hệ cá phía Bắc và phía Nam Năm 2004, Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú công bố thành phần loài
cá ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam gồm 71 loài nằm trong 49 giống, thuộc
19 họ của 9 bộ khác nhau [1]
Năm 2005, Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Ngọc Hoàng Tân đã công bố thành phần loài cá ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 83 loài nằm trong 59 giống, 34 họ, thuộc 10 bộ khác nhau, trong đó bộ cá Vược (Percifomes) chiếm ưu thế về mặt họ, giống và loài [28]
Năm 2008, Nguyễn Kim Sơn, Hồ Thanh Hải (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) công bố thành phần loài cá trong hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn gồm 107 loài
cá, thuộc 31 họ, 9 giống Trong đó có 8 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam Ngoài ra hai tác giả còn tiến hành điều tra tình trạng nguồn lợi cá
Trang 23của hệ thống Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn lợi cá đã giảm 50%
so với 10 - 15 năm về trước [35]
Gần đây nhất có công trình nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh, Trần Thị Thanh Thu (2014), đã công bố thành phần loài cá ở sông Đầm, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 91 loài, thuộc 66 giống nằm trong 32 họ của 13 bộ [4]
Đây là các công trình nghiên cứu về cá ở Quảng Nam mà chúng tôi biết được từ trước đến nay Có thể nói, nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung, về cá nói riêng ở các hệ thống sông tỉnh Quảng Nam còn ít
và chưa có hệ thống Đặc biệt các nghiên cứu về biến động thành phần loài cá do xây dựng hồ chứa hay do tác động môi trường, hoạt động đánh bắt chưa được chú trọng
1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Bắc Trà My có ba dạng địa hình cơ bản, gồm địa hình núi cao, địa hình đồi thấp, địa hình thung lũng và suối Núi cao nhất của huyện là Hòn Bà (1.347m) thuộc xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My [11]
Trang 24Hình 1.1 Bản đồ vị trí huyện Bắc Trà My
b Địa chất thổ nhưỡng
Theo tài liệu Niên giám thống kê huyện Bắc Trà My (2014) [11], đất của Bắc Trà My gồm nhiều nhóm bao gồm: nhóm đất mùn, đất vàng đỏ và đất phù sa
- Nhóm đất mùn phân bố chủ yếu trên vùng núi cao thuộc xã Trà Giang, Trà Giáp, Trà Ka, Trà Giác, được hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau, với diện tích không lớn có vị trí gần các nguồn nước khe suối, nhân dân đã san phẳng làm ruộng bậc thang lúa nước
- Nhóm đất vàng đỏ được phát sinh từ các loại đá phiến sa thạch, phiến thạch sét, phiến mica, gơnai ; tầng đất dày trên 1,5m lớp đất mặt khá tơi xốp, hàm lượng mùn khá, phân bố hầu hết các xã huyện Bắc Trà
My
- Nhóm đất phù sa hình thành do lắng đọng phù sa sông, nhưng do các sông ở Bắc Trà My đều có vận tốc dòng chảy lớn, nên lắng đọng được các sản phẩm thô, vì vậy đất có thành phần cơ giới nhẹ, hình thái phẫu diện
Trang 25tương đối đồng nhất về thành phần cơ giới và màu sắc Nhóm đất phù sa phân bố tập trung ở các xã Trà Núi, Trà Kót, Trà Giác và Trà Đốc
c Nhiệt độ và lượng mưa
Khí hậu huyện Bắc Trà My nói riêng và khí hậu tỉnh Quảng Nam nói chung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Chế độ gió mùa cùng với đặc điểm địa lý, địa hình, đặc biệt sự tồn tại của dãy Trường Sơn đã quyết định đến loại hình và bản chất khí hậu toàn năm và cho mỗi mùa riêng biệt
Có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau
- Nhiệt độ là một trong những điều kiện sinh thái cần thiết cho đời
sống sinh vật Sự phân bố của nhiệt độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là yếu tố không gian (địa hình, vị trí địa lý) và thời gian (mùa, tháng)
Nhiệt độ không khí trung bình năm trên khu vực nghiên cứu thay đổi trong khoảng (19 - 28)oC và phụ thuộc vào độ cao địa hình Tại Trà My nhiệt độ không khí trung bình là 24,5oC Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình xuống dưới 210C; nhiệt độ thấp nhất đo vào tháng 1 năm 2014 là 19,40
Trang 26Hình 1.2 Đồ thị biểu diễn nhiệt độ trung bình các tháng trong năm
Sự dao động về nhiệt độ trung bình các tháng trong những năm 2012,
2013 và 2014 được thể hiện qua hình 1.2
Như vậy, ở khu vực huyện Bắc Trà My nhiệt độ tương đối không cao Điều đó đã tác động mạnh đến quá trình phân bố, sinh trưởng, dinh dưỡng và chín muồi sản phẩm sinh dục của các loài cá, tôm trong sông Tuy nhiên, nhiệt độ cao tuyệt đối có ngày đạt trên 280
C và kéo dài gây ảnh hưởng tới giới hạn sinh lý, quang hợp của thực vật thủy sinh làm cho quá trình hô hấp tăng, ôxy hóa các hợp chất hữu cơ xảy ra nhanh chóng
- Mưa là một trong những yếu tố cơ bản của khí hậu, thủy văn, là một trong những thành phần của cán cân nước, nó quan hệ mật thiết đến các chế
độ thủy học và nghề cá Lượng mưa trung bình năm của ba năm qua chỉ dưới 300mm, tập trung từ tháng 9 - 11 Tháng 11 năm 2013 lượng mưa đạt cao nhất là 1.243,4mm Lượng mưa thấp nhất trong năm thường vào tháng
2 đến tháng 4 Từ tháng 6 đến tháng 9 thường xuyên có mưa giông nhiệt vào buổi chiều (Bảng 1.2)
Trang 27Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm (Đơn vị: mm)
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bắc Trà My năm 2014)
Hình 1.3 Biểu đồ mô tả lượng mưa trung bình các tháng trong năm
Lượng mưa trung bình các tháng trong những năm 2012, 2013 và
2014 dao động khá rõ ràng từ mùa khô sang mùa mưa
Từ bảng 1.2 cho thấy tổng lượng mưa các tháng mùa mưa đạt từ 17% đến 18% tổng lượng mưa trung bình năm Tổng lượng mưa các tháng mùa khô đều dưới 6% tổng lượng mưa trung bình năm Lượng mưa vào mùa mưa và mùa khô có sự chênh lệch rất lớn
Như vậy, sông Tranh nhận nước từ thượng nguồn đổ về, vì thế khi mùa mưa mực nước sông dâng cao, chảy siết do địa hình dốc Tạo ra
“sự ngọt hóa” ở vùng hạ lưu do lượng phù sa đổ về nhiều, điều này đã ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng của các loài cá ở vùng thượng nguồn cũng như vùng hạ lưu
Trang 28d Chế độ gió và độ ẩm
Do cơ chế hoàn lưu và địa hình nên chế độ gió tại Bắc Trà My và vùng lân cận theo hai mùa rõ rệt, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau gió thịnh hành thiên về thành phần Bắc gồm các hướng: Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc; từ tháng 5 đến tháng 9, gió thịnh hành thiên về thành phần Tây, hướng chính là Tây Nam, ngoài ra còn xen vào gió Đông, Đông Nam Tốc độ gió trung bình năm từ 3,5 đến 4,5m/s, trong mùa mưa tốc
độ gió lớn hơn mùa khô Tần suất lặng gió từ (18 - 32)%
Gió mùa Đông Bắc
Gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng đến Bắc Trà My chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu từ tháng 9 đến tháng 12, giai đoạn này thường gây ra những đợt mưa vừa, mưa to và lạnh Giai đoạn sau, từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa giảm hơn Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 thường gây mưa phùn, rét lạnh, trời âm u ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và sức khoẻ của con người
Gió Tây Nam
Bắc Trà My ít chịu tác động của gió mùa Tây Nam do địa hình ở phía tây cao tạo thành sườn chắn gió Nên các tháng mùa khô độ ẩm luôn cao hơn ở đồng bằng, dao động từ 80 đến 99%, ảnh hưởng đến sự phân bố các nhóm cá
Bảng 1.3 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm (Đơn vị:%)
Trang 29Hình 1.4 Biểu đồ mô tả độ ẩm trung bình các tháng trong năm
Từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau có nhiều đợt gió mùa Đông Bắc, nên
có nhiệt độ thấp và độ ẩm cao Độ ẩm trung bình năm đạt 90%, từ tháng 6 đến tháng 8 là mùa khô, độ ẩm thấp, độ ẩm cao nhất đo được vào tháng 1 năm 2012 là 96%
Bắc Trà My là đầu nguồn quan trọng tạo nguồn nước cho sông Thu Bồn và một số sông ở cánh Bắc của tỉnh Quảng Nam Do địa hình bị phân cắt mạnh nên hệ thống sông, suối tại đây khá phong phú Bắc Trà My có hai sông lớn là sông Tranh và sông Trường, ngoài ra còn nhiều suối lớn nhỏ
Trang 30Trong mùa mưa, lũ thường xảy ra trong các tháng 9, 10 và 11 với cường suất lớn, gây sạt lở đất ở nhiều nơi Hiện tượng lũ ống, lũ quét (xã Trà Bui, Trà Giác) thường xuyên xuất hiện gây nguy hiểm tính mạng và tài sản nhân dân
Mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Trong mùa kiệt, lưu vực sông suối còn rất ít, mực nước sông xuống thấp gây khó khăn cho việc tưới tiêu đồng ruộng Việc chặn dòng và xây dựng thủy điện sông Tranh 2 đã giải quyết lượng nước tưới cho 27.000ha đất nông nghiệp Nhưng hiện nay
có hiện tượng động đất liên tục gây nhiều lo ngại cho người dân
1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Dân số
Tổng dân số trong toàn huyện có 40.097 người, trong đó dân tộc Kinh 20.198 (50%), dân tộc Ca Dong 14.016 (34,12%), dân tộc Cor 4.403 (10,95%), dân tộc Mơ Nông 712 (1,7%), dân tộc Xê Đăng 116 (0,25%), còn lại các dân tộc thiểu số khác Mỗi dân tộc hình thành các nhóm địa phương có ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa, kĩ thuật canh tác riêng Hiện nay ở nhiều xã lối canh tác truyền thống của người dân ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái
Huyện Bắc Trà My có 12 xã và 1 thị trấn Mật độ dân số là 48,28 người/km2, cao nhất là ở thị trấn Trà My, xã Trà Dương, xã Trà Đông, thấp nhất thuộc các xã Trà Kót và xã Trà Giác
Số người trong độ tuổi lao động là 21.533 người, chiếm 52,4% Tỷ lệ tăng dân số là 14,35% Tỷ lệ sinh 19,1%, tỷ lệ chết 4,74% Toàn huyện có 9.239 hộ gia đình, trung bình 710 hộ/xã Số nhân khẩu bình quân 4,7 người/hộ gia đình Số hộ nghèo 5.657 chiếm 61,23%
Trang 31Bảng 1.4 Diện tích và mật độ dân số huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Đơn vị Diện tích
tự nhiên (km2
)
Dân số trung bình
Mật độ dân số
bà con dân tộc ít người
Theo Niên giám thống kê huyện Bắc Trà My, 2014 [11] cơ cấu kinh tế của huyện gồm các ngành nghề: trồng trọt, chăn nuôi, thương mại dịch vụ, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi trồng thủy sản Tổng diện tích đất canh tác toàn huyện khoảng 4.281ha, trong đó diện tích cây lương thực có hạt là 2.447ha Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 7.419 tấn/năm Tổng đàn gia súc đạt 27.000 con, đàn gia cầm đạt 102.000 con Diện tích nuôi trồng thủy
Trang 32sản 32,5ha, chủ yếu lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2
Nhu cầu trồng rừng của địa phương khá phát triển, nhiều hộ đã tập trung khai hoang, phát triển kinh tế rừng theo mô hình nông lâm kết hợp, hàng năm trên địa bàn huyện trồng khoảng 311ha
Vấn đề khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản vẫn còn diễn biến phức tạp Việc phát rừng làm nương rẫy xảy ra nhiều nơi
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Thành phần loài cá và tình hình khai thác cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
- Tác động của thủy điện liên quan đến thành phần loài và phân bố của
cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Điều tra, khảo sát và thu mẫu được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2015 qua 8 đợt, mỗi đợi kéo dài 2 đến 3 ngày (mỗi tháng tiến hành thu mẫu 1 lần) Cụ thể như sau:
Đợt 1: Từ ngày 25 - 26 tháng 3 (đi thực địa)
Đợt 2: Từ ngày 24 - 26 tháng 4 (đi thực địa)
Đợt 3: Từ ngày 8 - 9 tháng 5 (thu mẫu)
Đợt 4: Từ ngày 20 - 21 tháng 6 (thu mẫu)
Đợt 5: Từ ngày 30 - 31 tháng 7 (thu mẫu)
Đợt 6: Từ ngày 27 - 29 tháng 8 (thu mẫu)
Đợt 7: Từ ngày 15 - 16 tháng 9 (thu mẫu)
Đợt 8: Từ ngày 2 - 4 tháng 10 (thu mẫu)
Ngoài thời gian đi điều tra thực địa, thu mẫu cá, tìm hiểu các thông tin liên quan về ảnh hưởng của thủy điện và môi trường, tiến hành phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm, cuối cùng là viết luận văn
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Tiến hành thu mẫu diễn ra ở 11 điểm thu mẫu, các điểm thu mẫu được
ký hiệu từ M1- M11 trên sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Trang 34Bảng 2.1 Địa điểm và vị trí thu mẫu
Trang 352.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp kế thừa
Tham khảo các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương và các kết quả nghiên cứu về cá, các nghiên cứu về tác động của thủy điện trong và ngoài nước cũng như khu vực lân cận trong tỉnh Quảng
Nam
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
a Điều tra theo tuyến khảo sát
Dựa vào đặc thù sinh sống và phân bố của các xã, lập thành 4 tuyến điều tra, mỗi tuyến đi qua các vùng sinh cảnh khác nhau: khu vực thượng nguồn ở núi cao, khu vực lòng hồ thủy điện, vùng hạ lưu Tổng số điểm thu mẫu là 11, cụ thể như sau:
Tuyến 1: Dọc theo sông Tranh khu vực thượng nguồn đi qua xã Trà Bui (điểm M3, M4, M5)
Tuyến 2: Đoạn sông chảy qua xã Trà Đốc hạ lưu sông Tranh (M1, M9) Tuyến 3: Khu vực lòng hồ thủy điện (M2, M6, M7, M8)
Tuyến 4: Gồm các nhánh sông chảy qua hai xã Trà Sơn và Trà Giang (M10, M11)
b Phương pháp thu thập mẫu cá
- Trực tiếp đánh bắt với ngư dân để thu mẫu
- Mua mẫu của các ngư dân đánh cá ở các địa điểm nghiên cứu
- Đặt các bình có pha sẵn hoá chất định hình để nhờ các hộ dân khai thác thuỷ sản trên sông thu thập thường xuyên trong thời gian nghiên cứu Thu mẫu tại ngư dân mỗi tháng một lần
c Xử lý và bảo quản mẫu cá
- Mẫu thu được xử lý bằng formol và chụp ảnh ngay khi còn tươi Định hình trong dung dịch formol 9% Sau đó, chuyển sang bảo quản bằng dung dịch cồn 700
để ổn định mẫu
Trang 36- Đối với các loài cá có kích thước lớn thì tiêm formol 10% vào cơ
và ruột
- Ghi nhãn những thông tin: Số thứ tự của mẫu, tên địa phương, địa điểm thu mẫu, thời gian thu mẫu
d Phân tích các chỉ tiêu môi trường nước
Thu mẫu nước tại khu vực nghiên cứu theo Tiêu chuẩn Quốc gia - TCVN 5996 : 1995 (ISO 5667 - 6: 1990) - Chất lượng nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
Tiến hành đo các thông số hóa lí của môi trường nước bằng máy đo chất lượng nước đa chỉ tiêu Ecosense 9500 Photometer và Waterproof Tester với các chỉ tiêu hóa lí: pH, DO, NH4+, EC, TDS Dựa vào Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 38: 2011/ BTNMT, để tiến hành đánh giá chất lượng môi trường nước mặt
d Phương pháp điều tra qua ngư dân
- Điều tra qua ngư dân bằng phiếu điều tra, với 155 phiếu được hỏi với những người dân làm nghề đánh bắt và có liên quan đến nguồn lợi cá
- Điều tra về tên cá (tên phổ thông, tên địa phương), kích thước và khối lượng tối đa của cá mà họ gặp, điều kiện sống, tập tính sinh học, sự phân bố…
- Điều tra về biến động của các loài cá, điều tra các ngư cụ khai thác
và đời sống của các ngư dân chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp
- Điều tra về năng suất sản lượng cá, mùa vụ, khả năng đánh bắt và giá trị sản phẩm
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
a Phân tích các chỉ tiêu hình thái
Thực hiện phương pháp đo, đếm và lập phiếu các chỉ tiêu hình thái
(mm) và cân khối lượng (g) cơ thể cá [33]
Trang 37Hình 2.2 Các chỉ số đo trong phân loại trên mẫu cá
Ghi chú:
AG Chiều dài toàn thân Cd Chiều cao cán đuôi
AH Chiều dài Smith a’g Chiều dài gốc vây lưng
AE Chiều dài thân Hi Chiều dài gốc vây hậu môn
AB Chiều dài mõm Kl Chiều dài vây ngực
AD Chiều dài đầu Mn Chiều dài vây bụng
BC Đường kính mắt Ef Chiều dài xương hàm trên
EG Chiều dài vây đuôi OO Khoảng cách giữa 2 ổ mắt
ĐF Chiều dài cán đuôi Ab Chiều cao thân
CD Chiều dài sau ổ mắt (P) Trọng lượng cá
Ngoài các thông số trên, trong nghiên cứu xác định hình thái cá còn dựa vào các chỉ tiêu: hình dạng, màu sắc cơ thể, số đôi râu hàm, cấu tạo vây lưng, vây ngực, vây hậu môn và dạng miệng
b Giám định tên khoa học của loài
- Định loại các loài cá bằng phương pháp so sánh hình thái Theo các khóa phân loại lưỡng phân và mô tả của Vương Dĩ Khang (1963) [21], Nguyễn Nhật Thi (2000) [40], Mai Đình Yên (1978, 1992) [41], [43], W.J Rainboth (1996), FAO (1998) [47]
Trang 38- Mỗi loài cá đƣợc nêu tên khoa học và tên Việt Nam Trình tự các
bộ, họ, giống, loài đƣợc sắp xếp theo hệ thống phân loại của FAO (1998) [47] và Eschmeyer (1998) [46]
2.4.4 Sử dụng công thức trong tính toán
Đánh giá mức độ gần gũi về thành phần loài cá giữa các khu hệ theo công thức tính hệ số gần gũi của Sorencen (1948)
S = 2C A+B S: Hệ số gần gũi giữa hai khu hệ
A: Số loài riêng của khu hệ A
B: Số loài riêng của khu hệ B
C: Số loài chung của hai khu hệ
Hệ số gần gũi biến đổi từ 0 đến 1 Giá trị S càng gần 1, mối quan hệ giữa hai khu hệ càng lớn, thành phần loài trong 2 khu hệ càng giống nhau Ngƣợc lại, S càng gần 0, mối quan hệ giữa 2 khu hệ càng ít, thành phần loài trong 2 khu hệ càng khác nhau
2.4.5 Xử lí số liệu
Các số liệu đƣợc tính toán, xử lý và đƣợc thể hiện qua bảng biểu, sơ
đồ, đồ thị biểu diễn số lƣợng và tỷ lệ Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel®
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH 2 3.1.1 Hiện trạng hoạt động thủy điện Sông Tranh 2
Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 được đặt tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, trên sông Tranh thuộc hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 được khởi công xây dựng vào tháng 3/2006
và được hoàn thiện giữa năm 2011 Công suất thiết kế của hồ chứa cho nhà máy thủy điện là hơn 730 triệu m3
nước, đây là một trong những hồ chứa lớn nhất tại khu vực Miền Trung Việt Nam Nhà máy có hai tuabin chính với tổng công suất lắp đặt là 190MW Tiềm năng sản lượng điện hàng năm lên tới 680 triệu kWh [9]
Dung tích toàn bộ hồ chứa là 733,4 triệu m3, trong đó dung tích chết là 212,3 triệu m3, dung tích hữu ích là 521,1 triệu m3 Mực nước dâng bình thường là 175m, mực nước chết là 140m Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 được xây dụng với đường ống dẫn áp riêng, không nằm trên đập chính Nước từ hồ chứa sẽ qua cửa nhận nước vào đường hầm tới nhà máy phát điện Hồ chứa được làm việc với chế độ điều tiết năm, lưu lượng nước trung bình của nhà máy là 110,5m3
/s, còn lúc hoạt động hết công suất thì lưu lượng đạt 245,52m3/s Với chế độ thủy văn của lưu vực 4 tháng mùa lũ, 9 tháng mùa kiệt, chế độ vận hành của nhà máy hiện tại như sau:
- Mùa lũ: Từ ngày 01/9 - 15/12 khi chưa tham gia vận hành giảm lũ cho hạ du, mực nước hồ không được vượt quá 172m Khi tham gia giảm lũ cho hạ du, mực nước hồ được nâng lên 175m và công suất hoạt động lưu lượng xả bằng lưu lượng nước về nhà máy để vừa giảm lũ cho hạ du nhưng cũng vừa đảm bảo an toàn đập
- Mùa kiệt từ tháng 16/12 - 31/8 vận hành hồ theo các thời kỳ sử
Trang 40dụng nước gia tăng, sử dụng nước bình thường và theo chu kỳ 10 ngày dựa theo mực nước trạm Giao Thủy
Thời kỳ sử dụng nước gia tăng nếu mực nước tại trạm Giao Thủy nhỏ hơn 1,02m thì vận hành hồ chứa 12 h/ngày với lưu lượng không nhỏ hơn 90m3/s, còn mực nước ở trạm lớn hơn 1,02m thì vận hành 12 h/ngày lưu lượng giảm nhưng không dưới 80m3
/s
Thời kỳ sử dụng nước bình thường thì chế độ vận hành nhà máy không nhỏ hơn 6 - 7 h/ngày với lưu lượng hoạt động không nhỏ hơn 29 -35m3/s
3.1.2 Những sự cố của thủy điện Sông Tranh 2
Sự cố rò rỉ nước
Sau khi đi vào hoạt động, năm 2012 nhà máy thủy điện Sông Tranh 2
đã xuất hiện hiện tượng rò rỉ nước Sự cố rò rỉ nước ở đập thủy điện Sông Tranh 2 là rất nghiêm trọng, nước thấm xãy ra ở 30 khe co giãn của đập thủy điện Sông Tranh 2, với tốc độ rò rỉ tại 10 vết nứt chính là 26,2 lít/giây, tốc độ rò rỉ tại 20 vết nứt nhỏ là 0,15 lít/giây, sự rò rỉ nước qua thân đập ước tính là khoảng 4,2 lít/giây gấp 5 lần cho phép [19]
Do đó để đảm bảo an toàn cho tuyến đập, nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 đã sữa chữa và lượng nước rò rỉ tại các khe giãn đã giảm đến 90%, đập được xác định là an toàn bao gồm cả chất lượng công trình và khả năng chống chịu động đất trong các viễn cảnh khác nhau
Sự cố động đất
Một loạt trận động đất xảy ra trong khu vực từ cuối năm 2011 đến nay, chỉ tính riêng năm 2012 đã có hơn 50 trận động đất ở khu vực thủy điện, đỉnh điểm là với trận động đất ở cấp độ 6 xảy ra vào tháng 11/2012 Do đó, chính phủ vẫn chưa cho phép tích nước thậm chí sau khi đã khẳng định đập đã an toàn, mực nước hồ chỉ được giữ mức dưới 160m
Động đất xảy ra tại khu vực của nhà máy thuỷ điện Sông Tranh 2 đã