PHAN THỊ THU HUYỀN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TẠI SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Đà Nẵng - Năm 2013... BỘ GIÁO DỤC VÀ
Trang 1PHAN THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN
NUÔI TẠI SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN
NUÔI TẠI SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Sinh thái học
Mã số : 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH THỊ PHƯƠNG ANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Thu Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HỌ DẾ MÈN GRYLLIDAE 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGHỀ NUÔI VÀ SỬ DỤNG HỌ DẾ MÈN GRYLLIDAE LÀM THỰC PHẨM 10
1.2.1 Trên thế giới 10
1.2.2 Ở Việt Nam 12
1.2.3 Giá trị của họ dế mèn Gryllidae đối với con người 15
1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI DẾ THAN (GRYLLUS BIMACULATUS DE GEER) 17
1.3.1 Vị trí phân loại và đặc điểm phân bố 17
1.3.2 Đặc điểm hình thái dế than 18
1.3.3 Đặc điểm các pha phát triển (vòng đời) dế than 21
1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN QUẬN SƠN TRÀ 26
1.4.1 Vị trí địa lý 26
1.4.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 26
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội tại quận Sơn Trà 27
Trang 5CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 32
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 32
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 32
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 33
2.4.3 Phương pháp chuyên gia 41
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 THỜI GIAN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI 43
3.2 MẬT ĐỘ CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI 46
3.3 DINH DƯỠNG CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI 47
3.3.1 Thành phần thức ăn 47
3.3.2 Nhu cầu khối lượng thức ăn 49
3.3.3 Hiệu suất đồng hóa thức ăn 53
3.3.4 Tương quan giữa hiệu suất đồng hóa thức ăn với yếu tố nhiệt – ẩm của môi trường 55
3.4 TĂNG TRƯỞNG CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI 57
3.4.1 Tăng trưởng chiều dài thân 57
3.4.2 Tăng trưởng trọng lượng 61
3.4.3 Tương quan giữa tăng trưởng trọng lượng và chiều dài thân 65
3.4.4 Tương quan giữa tốc độ tăng trưởng trọng lượng tuyệt đối với yếu tố nhiệt – ẩm của môi trường 66
Trang 63.5 SỨC SINH SẢN CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN
NUÔI 69
3.5.1 Cấu trúc giới tính và cấu trúc sinh sản 69
3.5.2 Sức sinh sản của quần thể 70
3.6 SỰ TỬ VONG CỦA QUẦN THỂ DẾ THAN TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI 74
3.6.1 Mức tử vong của quần thể 74
3.6.2 Tương quan giữa tỷ lệ thành trùng của quần thể và yếu tố nhiệt – ẩm của môi trường 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1.1 Kết quả phân tích prôtêin, lipit, cacbonhydrat 9
1.4 Thống kê lượng mưa qua các tháng ở Sơn Trà và thành
3.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển của quần thể dế than
3.2 Kết quả khảo sát một số đặc điểm sinh học của các quần
3.3 Thành phần thức ăn của quần thể dế than trong điều kiện
3.4 Nhu cầu về khối lượng thức ăn của quần thể dế than
3.5 Tăng trưởng chiều dài thân và tốc độ tăng trưởng chiều
dài thân tuyệt đối của các cá thể trong quần thể dế than 58
3.6 Tăng trưởng trọng lượng và tốc độ tăng trưởng trọng
lượng tuyệt đối của các cá thể trong quần thể dế than 62
3.7 Cấu trúc giới tính và cấu trúc sinh sản của quần thể dế
3.8 Sức sinh sản của quần thể dế than trong điều kiện nuôi 71
Trang 93.1 Nhu cầu khối lượng thức ăn của các cá thể trong quần
3.2 Tương quan giữa nhu cầu khối lượng thức ăn của các cá
3.3 Hiệu suất đồng hóa thức ăn của các cá thể trong quần thể
3.7 Tốc độ tăng trưởng chiều dài thân tuyệt đối các cá thể
3.8 Tốc độ tăng trưởng trọng lượng tuyệt đối của các cá thể
Trang 103.9 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tốc độ tăng trưởng trọng
3.10 Tương quan giữa tăng trưởng chiều dài thân và trọng
lượng của các cá thể trong quần thể dế than 66
3.11 Tương quan giữa tốc độ tăng trưởng trọng lượng tuyệt
3.12 Tương quan giữa tốc độ tăng trưởng trọng lượng tuyệt
3.13 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến sức sinh sản của quần
3.17 Tương quan giữa tỷ lệ thành trùng của quần thể dế than
3.18 Tương quan giữa tỷ lệ thành trùng của quần thể với độ
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhiều nước trên thế giới coi côn trùng là một món ăn ngon như cào cào, châu chấu, dế, tằm Trong đó, dế là một loại côn trùng có thể nuôi và chế biến ra nhiều món ăn, ở nhiều nơi còn được coi là đặc sản Những năm gần đây phong trào sử dụng dế như một thực phẩm và nghề nuôi dế ở nước ta ngày càng phổ biến, nhất là ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhờ đó mà nghề nuôi dế bắt đầu hình thành và đã có người giàu lên nhờ nuôi dế Theo GS Nguyễn Lân Hùng nuôi dế là một trong 100 nghề chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân Nghề nuôi dế có thể trở thành một sinh kế mới, có hiệu quả kinh tế cao với “một vốn bốn lời” Trong tự nhiên, dế là một mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn với vai trò là sinh vật tiêu thụ bậc 1 góp phần đảm bảo dòng tuần hoàn trong chuỗi chuyển hóa vật chất và năng lượng Rất nhiều loài sử dụng dế làm thức ăn như nhện, lưỡng cư, bò sát, chim, thú trong khi đó dế lại sử dụng thức ăn thực vật Dế thuộc loại côn trùng biến thái không hoàn toàn, khá nhạy cảm với những thay đổi của các nhân tố môi trường sống Trong tự nhiên, dế sống chủ yếu trong hang và hoạt động về đêm Tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhốt do không có hang hốc và phải đứng lộ thiên nên nhiều tập tính của dế bị thay đổi Đặc biệt là khi chuyển giao dế giống giữa các vùng sinh thái khác nhau thì người chăn nuôi thường gặp khó khăn trong việc tạo khả năng thích ứng cho dế Thực tế cho thấy, nhiều nơi nuôi dế không thành công, số lượng dế chết nhiều, không phát huy được tiềm năng sinh trưởng tối đa của loài, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
tế Ở Đà Nẵng, nghề nuôi dế mới chỉ hình thành trong khoảng vài năm trở lại đây, kinh nghiệm chăn nuôi còn ít, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, tự phát Các hộ nuôi dế chủ yếu tập trung ở các quận, huyện ngoại thành như Hòa Vang, Liên Chiểu, Sơn Trà Quận Sơn Trà với đặc điểm khí hậu có lượng mưa nhiều, độ
Trang 12ẩm lớn hơn so với các quận huyện khác của TP Đà Nẵng [29] nên là điều kiện thích hợp cho sự phát triển của loài dế nói chung Hơn nữa, quận Sơn Trà với đặc thù dân cư phần nhiều làm nghề biển, công việc có tính chất mùa
vụ, tuổi nghề ngắn nên thời gian rảnh rỗi nhiều, nhiều lao động chưa có việc làm Đây chính là điều kiện thuận lợi để đưa nghề nuôi dế trở thành một lựa chọn sinh kế mới cho người dân, góp phần tạo công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi, góp phần cải thiện và ổn định cuộc sống Trong số các loài của họ
dế mèn (Gryllidae) thì loài dế than (Gryllus bimaculatus De Geer) là loài có
thời gian sinh trưởng phát triển ngắn nhất (chỉ vài tháng), chi phí đầu tư thấp,
có thể dễ dàng tổ chức chăn nuôi theo quy mô công nghiệp nên là đối tượng chăn nuôi có hiệu quả cao Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học về loài dế than tại khu vực Sơn Trà, Đà Nẵng để làm cơ sở cho việc hình thành và phát triển nghề nuôi dế than tại đây hầu như chưa có Mới chỉ có một số nghiên cứu về đặc tính sinh học, hình thái của dế than ở khu vực phía Nam nước ta Tuy nhiên, do các khác biệt về điều kiện sinh thái nên gây khó khăn khi chuyển giao Ngoài ra, còn có một số các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nuôi của các trang trại dế tự phát hành Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở kinh nghiệm chăn nuôi Vì vậy, để cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình
kỹ thuật nuôi dế than tại Sơn Trà, TP Đà Nẵng, góp phần phát triển nghề nuôi dế hiện nay và đa dạng hóa sinh kế cho người dân, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của quần thể dế than trong
điều kiện nuôi tại Sơn Trà, TP Đà Nẵng”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của quần thể dế than trong điều
kiện nuôi (thời gian sinh trưởng phát triển, mật độ, dinh dưỡng, tăng trưởng, sức sinh sản và mức tử vong của quần thể) nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho
Trang 13việc xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi loài dế than, góp phần phát triển nghề nuôi côn trùng, đa dạng hóa sinh kế cho địa phương vùng nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quần thể dế than (Gryllus bimaculatus De Geer)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Một số đặc điểm sinh thái (thời gian sinh trưởng phát triển, mật độ, dinh dưỡng, tăng trưởng, sức sinh sản và mức tử vong ) của quần thể dế than trong điều kiện nuôi
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
4.3 Phương pháp chuyên gia
- Kết quả đề tài cung cấp cơ sở khoa học góp phần hoàn thiện quy trình
kỹ thuật nuôi của loài dế than trong điều kiện sinh thái thành phố Đà Nẵng
- Đề tài góp phần phát triển nghề nuôi dế, đa dạng hóa sinh kế cho người dân
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần chính:
Trang 14Mở đầu
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HỌ DẾ MÈN GRYLLIDAE
1.1.1 Trên thế giới
Những nghiên cứu đầu tiên về họ dế mèn Gryllidae phải kể đến từ thời của Aritote (384-322TCN) Ông đã đề cập tới 60 loài côn trùng và ông đã gọi chúng là loại động vật có chân đốt Trong số này có đề cập đến một số loài thuộc họ Gryllidae với các mô tả sơ lược về hình thái và tập tính [12]
Đến thế kỷ XVIII, C.Line (1707-1778) năm 1735 đã phân loại một
cách có hệ thống họ Gryllidae trong cuốn sách nổi tiếng Systema naturae
Ông chia lớp côn trùng thành 7 bộ [24], [28] Cuối thế kỷ XVIII, Pallas (Viện
sĩ người Nga) đã nghiên cứu và mô tả họ Gryllidae như một họ côn trùng có hại cho sản xuất nông lâm nghiệp bởi đặc tính đào bới đất và bộ hàm có khả năng nghiền nát nhiều loại cây trồng [8], [12]
Đến thế kỷ XIX, các nghiên cứu về họ Gryllidae được đề cập đến nhiều trong các tài liệu về côn trùng ở châu Âu, châu Mỹ (gồm 40 tập), ở Madagatsca (gồm 6 tập), ở quần đảo Haoai, Ấn Độ và nhiều nước khác trên thế giới [24] Trong các tài liệu này đều đề cập đến các loài thuộc họ dế mèn Gryllidae với các đặc điểm về hình thái, sinh sản, khóa phân loại đến loài, vai trò cũng như tác hại của chúng đối với sản xuất nông nghiệp Nhà côn trùng học Nga – Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng trong đó đề cập nhiều đến côn trùng thuộc họ Gryllidae, bộ Cánh thẳng về hình thái, phân loại Ông chỉ ra rằng, đặc điểm chung để nhận biết các loài thuộc họ này là có đầu kiểu hypognathis, cánh trước là cánh da, cánh sau là cánh màng có hình quạt Những cuộc khảo sát, nghiên cứu của các nhà côn trùng Nga như Potarin (1899 – 1976), Provoroski (1895 – 1979), Kozlov
Trang 16(1883 – 1921) đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở trung tâm Châu Á, Mông Cổ và miền tây Trung Quốc bổ sung thêm vào kho tư liệu danh mục các loài thuộc họ Gryllidae nhiều loài mới [8], [12], [30]
Đến thế kỷ XX, các nghiên cứu về họ Gryllidae xuất hiện khá nhiều và đầy đủ Điển hình có A.I.Ilinski (1948) đã xuất bản cuốn “Phân loại côn
trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến phân loại một số loài thuộc họ dế mèn Gryliidae Theo đó, họ Gryllidae thuộc loại biến thái không hoàn toàn, trứng có hình thon dài, màu trắng, được đẻ rải rác trong đất Ấu trùng của họ Gryllidae có nhiều tuổi khác
nhau [17] Năm 1964, giáo sư V.N Xegolop viết cuốn “Côn trùng học” có
giới thiệu một số loài thuộc họ dế mèn Gryliidae với mô tả chi tiết về cấu tạo các phần đầu, ngực, bụng và cho biết trên thế giới đã phát hiện được hơn
1000 loài thuộc họ này Cũng theo tác giả thì họ Gryllidae thường hoạt động
về đêm và đẻ trứng trong đất với số lượng từ vài trăm cho đến vài nghìn trứng cho mỗi cá thể cái [15], [16], [20] Năm 1966, Giáo sư E G Bekker
(người Nga) xuất bản cuốn “Thuyết tiến hóa hình thái côn trùng” được xem
là một trong số các nghiên cứu có giá trị to lớn của ông về Côn trùng học Cuốn sách đóng vai trò phương pháp luận trong nghiên cứu hình thái học côn trùng, làm cơ sở của sinh thái học, tiến hóa học côn trùng [3]
Các nghiên cứu chi tiết về cấu tạo các loài thuộc họ Gryllidae thuộc về Donal Borror (1966) Ông nghiên cứu và mô tả một cách chi tiết về phần phụ miệng kiểu nghiền và phân loại, mô tả cấu tạo chi tiết chân và râu của họ dế [24] Năm 1977, hệ thống phân loại côn trùng của Mazokhin – Porniakov ra đời đã chia lớp côn trùng thành 2 phân lớp và 33 bộ Trong đó, họ Gryllidae được xếp thuộc bộ Cánh thẳng (Orthoptera) thuộc tổng bộ Cánh thẳng (Orthopteroidea), phân lớp hàm ngoài (hàm hở – Ectognatha) [24] Hệ thống phân loại này được thừa nhận và sử dụng cho đến ngày nay
Trang 17Các nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng làm thực phẩm của họ dế mèn Gryllidae xuất hiện đầu tiên năm 2005, trên cuốn sách Ecological Implication
of Minilivestock: Potential of Insects, Rodents, Frogs and Snails (Ứng dụng
sinh thái vật nuôi nhỏ: Tiềm năng của côn trùng, gặm nhấm, ếch nhái và ốc
sên) Cuốn sách đã trình bày số calori, prôtêin, chất béo và chất xơ ở phần lớn các loài côn trùng ăn được trong đó có họ Gryllidae Theo đó, trong thành phần prôtêin của dế mèn còn có chứa một loại axit amin không thay thế như cysteine và methionine….Hàm lượng chitin của dế trưởng thành chiếm 8,7% có chất lượng tốt hơn so với chitin của tôm và cua Ngoài ra còn
có các bản phụ trong đó tóm tắt lại tiềm năng của những loài động vật này trong việc đóng góp những chất quan trọng vào khẩu phần ăn như axit amin, chất béo, chất khoáng, vitamin tốt cho sức khỏe [6], [30]
Tiếp theo đó, năm 2006, nhà khoa học thực phẩm Francis O.Orech và cộng sự đã tiến hành khảo sát nguồn khoáng chất tốt có trong các loại côn trùng là kiến, mối và dế Nhóm đã phát hiện ra loài dế có hàm lượng khoáng chất cao nhất Cụ thể 100g dế khô chứa hơn 1.550mg sắt, 25mg kẽm và 340mg canxi, chỉ cần 3 con dế là đủ cung cấp nguồn chất sắt hàng ngày cho
con người Kết quả này được trình bày trên tờ International Journal of
Food Sciences and Nutrition [30]
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về côn trùng nói chung và họ Gryllidae nói riêng trước cách mạng tháng tám còn rất ít Về phương diện côn trùng làm thực phẩm đáng chú ý có nghiên cứu của kỹ sư canh nông Nguyễn Công
Tiễu (1928) đã cho đăng một khảo luận bằng tiếng Pháp nhan đề “Một số ghi chép về các loài côn trùng làm thực phẩm ở Bắc bộ” trên tập san Kinh tế
Đông Dương [30]
Từ năm 1954, sau khi hòa bình lập lại, xuất phát từ nhu cầu sản xuất
Trang 18nông lâm nghiệp, việc điều tra cơ bản về côn trùng mới được chú ý Năm
1961 và 1965, năm 1967 và 1968 bộ Nông Nghiệp đã tổ chức các đợt điều tra
cơ bản xác định được 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ và 20 bộ khác nhau Các nghiên cứu chỉ tập trung vào hướng nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân
bố, đặc điểm sinh lí của loài nhằm phục vụ công tác bảo vệ thực vật Trong các nghiên cứu này, họ Gryllidae ở Việt Nam được xác định có 5 loài thường gặp thuộc các chi Gryllus, Brachytrypes, Loxoglammus Các nghiên cứu ứng dụng cho mục đích làm nguồn thực phẩm còn rất ít
Năm 2000, Bùi Hữu Mạnh và các cộng sự của mình trong một nghiên cứu về côn trùng ở vườn quốc gia Cát Tiên đã lập được một dạnh mục gồm 749 loài, 47 họ thuộc 8 bộ Trong đó bộ Cánh thẳng được xác định có họ dế mèn
Gryllidae với 1 loài dế cơm Brachytrupes partentosus Năm 2006, Vũ Quang
Mạnh xuất bản cuốn “Thế giới côn trùng trong lòng đất” cũng đề cập đến các đặc điểm lý thú như vòng đời, sự thích nghi với môi trường sống của các loại côn trùng trong đó có họ dế mèn Gryllidae Theo đó, sở dĩ dế mèn phải sống trong lòng đất là vì chúng sợ mất nước dưới ánh sáng mặt trời, do bề mặt cơ thể chúng chỉ được phủ một lớp sáp dày không quá 1 micromet Tiếng ca hát của dế mèn khi đến mùa sinh sản là của dến mèn đực, dế mèn cái không có khả năng này [15] TS Lê Trọng Sơn (Đại học Huế) năm 2011 xuất bản cuốn giáo trình
“Côn trùng học” trong đó đề cập nhiều đến các đặc điểm về phân loại, hình thái,
sinh lý của các loài côn trùng theo họ, bộ Bộ Cánh thẳng Orthoptera được thống kê gồm 2 bộ phụ với 7 họ và 21.000 loài Họ dế mèn Gryllidae được mô
tả với 5 loài thường gặp của Việt Nam Ông cũng viết cuốn “Sinh thái học côn
trùng” trong đó đề cập đến các quy luật sinh thái chung đối với cá thể và quần
thể côn trùng, một số phương pháp mô tả sự biến động số lượng quần thể côn trùng bằng các mô hình toán học [24], [25]
Trang 19Nói chung các nghiên cứu về họ Gryllidae ở nước ta còn chưa nhiều, chưa có các nghiên cứu riêng biệt mà chỉ nằm chung trong các nghiên cứu về côn trùng Các nghiên cứu về giá trị thực phẩm còn rất ít Có một nghiên cứu rất đáng chú ý của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Bắc Giang chủ trì ngày 17/10/2011, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở:
“Nghiên cứu các thành phần dinh dưỡng của Dế Mèn có lợi cho sức khỏe con
ng ười” Theo nghiên cứu này, các loài thuộc họ dế mèn Gryllidae là nguồn
thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao [14] Cụ thể:
B ảng 1.1 : Kết quả phân tích prôtêin, lipit, cacbonhydrat
Trang 20Ngoài ra, theo kết quả phân tích hàm lượng dinh dưỡng của bộ Y tế đối với dế than theo giấy chứng nhận số 002273/ATVSTP cấp ngày 19/5/2005 theo đề nghị giám định của anh Lê Thanh Tùng (chủ trang trại dế Thanh Tùng) đã xác định: mẫu dế thử nghiệm có giá trị năng lượng 105,95kcal/mol [30]
Riêng các nghiên cứu về loài dế than Gryllus bimaculatus De Geer,
theo chúng tôi được biết mới chỉ có 2 nghiên cứu của Từ Văn Dững, Nguyễn Văn Huỳnh và Trương Văn Trí Cụ thể, năm 2008, Từ Văn Dững và Nguyễn Văn Huỳnh đã tiến hành khảo sát một số đặc điểm về tập tính sinh học liên quan đến việc nuôi sản xuất dế than tại đồng bằng sông Cửu Long đăng trên tạp chí khoa học của Đại học Cần Thơ Nghiên cứu này chỉ ra, vòng đời trung bình của dế than trong điều kiện nuôi là 56,3 ngày gồm cả giai đoạn ủ trứng,
tỉ lệ nở của trứng là khoảng 91% Vòng đời của dế than trong điều kiện nuôi trải qua 8 lần lột xác Lần cuối cùng gọi là vũ hóa để thành con trưởng thành [6]
Năm 2011, Trương Văn Trí, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của dế than trong điều kiện nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh Trong đó đề cập đến một số đặc điểm về sinh trưởng, sinh sản của loài dế than Đề tài cũng xác nhận ấu trùng dế than có 8 tuổi với 7 lần lột xác và lần lột xác thứ 8
là vũ hóa để chuyển sang giai đoạn thành trùng [30]
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGHỀ NUÔI VÀ SỬ DỤNG HỌ DẾ MÈN GRYLLIDAE LÀM THỰC PHẨM
Trang 21không ăn côn trùng?” Trong tài liệu này ông đã phân tích những lợi ích của
việc dùng dế mèn làm thực phẩm và khuyến khích mọi người nên sử dụng chúng làm nguồn thực phẩm bổ sung cho khẩu phần ăn hàng ngày [11], [14]
Theo tổ chức Lương nông Liên hợp quốc (FAO), hiện nay trên thế giới
có khoảng 1462 loài côn trùng ăn được, trong số đó có 527 loài (trong đó có các loài thuộc họ dế mèn Gryllidae) đang trở thành nguồn thực phẩm quen thuộc của gần 90 quốc gia trong đó có 36 nước châu Phi, 29 nước châu Á và
23 nước châu Mỹ [30]
Tháng 2/2008, một hội thảo quốc tế về chăn nuôi côn trùng làm nguồn thực phẩm cho tương lai nhân loại được Tổ chức lương nông Liên hợp quốc (FAO) tổ chức tại Chiang Mai (Thái Lan) quy tụ khoảng 30 nhà khoa học đến từ 15 quốc gia trên thế giới Từ đó, việc chăn nuôi và chế biến côn trùng làm nguồn thức ăn thay thế thịt, tôm cá, gia súc, gia cầm đang được đẩy mạnh và định hình thành ngành kinh tế nông nghiệp mới [14] Các trang trại nuôi côn trùng thường được khởi đầu và kết hợp với việc nuôi các loài thuộc
họ dế mèn vì ngoài giá trị làm thực phẩm cho con người, dế còn là thức ăn giàu dinh dưỡng và giá rẻ cho cho các loại côn trùng nuôi khác
Ngày 19/12/2007, để khuyến khích giới chăn nuôi trên thế giới, Tổ Chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc đã bắt tay xây dựng một cơ sở nuôi côn trùng hoang dã ở Chiang Mai (Thái Lan) Cơ sở này tổ chức nuôi và nhân giống rất nhiều loại côn trùng có giá trị, trong đó có các loài thuộc họ
dế mèn Gryllidae Việc nuôi côn trùng cho sinh sản quả là ta đã đi sau nhiều nước trên thế giới, trong đó có Thái Lan Ở các nước này, việc nuôi côn trùng được nâng lên hàng công nghiệp hiện đại Sản phẩm từ côn trùng không chỉ nhằm phục vụ nhu cầu cho khách du lịch, cho nhân dân trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu hàng năm thu về cho họ một số ngoại tệ khá lớn
Trang 22Sử dụng côn trùng làm thực phẩm đang dần trở nên phổ biến trên thế giới Côn trùng không chỉ giàu prôtêin mà còn chứa các vitamin, chất khoáng
và chất béo Ví dụ, châu chấu, dế rất giàu calcium và mối giàu chất sắt Karen
Duve, nữ tác giả của cuốn sách best-seller "Anstandig essen" (Ăn một cách
hợp lý), cũng kêu gọi mọi người nên ăn côn trùng trong đó có dế mèn Các nhà nghiên cứu ở Australia, Hà Lan và Mỹ nói tại quê hương của họ nay đã mọc lên nhiều nhà hàng phục vụ những món côn trùng như kiến, dế, bò cạp [6], [14], [30] Nuôi dế mèn sử dụng làm thực phẩm còn được khuyến khích bởi nó góp phần bảo vệ môi trường hơn chăn nuôi các vật nuôi khác Theo Fritz Vollrath - nhà nghiên cứu ở thành phố Freiburg, Đức và hiện là nhà động vật học ở Oxford - côn trùng thân thiện với môi trường hơn bò xấp xỉ 10 lần Các chuyên gia trên thế giới hiện nay tin rằng càng nhiều côn trùng xuất hiện trong thực đơn hàng ngày của chúng ta sẽ giúp giải quyết được một số vấn đề tệ hại nhất của nhân loại Dennis Oonincx, nhà côn trùng học Đại học Wageningen Hà Lan, và các nhà nghiên cứu khác đã có cuộc thí nghiệm so sánh sự phát sinh khí thải nhà kính của 5 loài côn trùng khác nhau với bò và heo Oonincx nói, côn trùng thân thiện với môi trường nhiều hơn [27] Tại các nước như Nhật Bản, Anh, Mỹ, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, đều có những nhà hàng kinh doanh các món côn trùng như dế mèn, bò cạp, trứng kiến… Chỉ tính riêng ở Mỹ hằng năm đạt 125 triệu USD nhờ kinh doanh từ các sản phẩm liên quan đến côn trùng
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta nghề nuôi dế chỉ mới có khoảng 10 năm trở lại đây Từ xa xưa, nông dân ở các vùng quê đã biết săn bắt dế và nhiều giống côn trùng khác để chế biến nhiều món ăn ngon miệng cho gia đình Thuở xa xưa, đất rộng người thưa nên các giống côn trùng này phải nói nhiều vô số, bắt ăn không hết nên không ai nghĩ tới việc nuôi chúng cho sinh sản để nhân
Trang 23giống ra nhiều Tuy nhiên ngày nay muốn có đủ ăn, con người phải nghĩ đến việc nuôi chúng cho sinh sản mới đủ cung cấp cho thị trường tiêu thụ [11], [23]
Ở Việt Nam trong những năm gần đây nhu cầu về các món ăn từ
dế mèn tại các quán ăn, nhà hàng trong cả nước tăng đáng kể Thị trường rộng lớn là thế nhưng nguồn cung cấp lại quá ít không đáp ứng đủ cho thị trường nên hầu hết côn trùng được nhập hàng từ Campuchia và Thái Lan, một số ít lấy từ các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trong nước thông qua các mối lái nên nguồn gốc cũng như vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm là điều cần được quan tâm [11] Nghề nuôi dế là lĩnh vực mới được hình thành tại Việt Nam từ khoảng 10 năm trở lại đây nhưng lại được ưa chuộng vì lợi nhuận cao, dễ nuôi và đặc biệt chi phí đầu tư ban đầu là cực thấp Gần đây nhà nước đã có một số chính sách ưu đãi cho ngành nuôi côn trùng tại Việt Nam vì tính bền vững và mang lại lợi nhuận cao của lĩnh vực này [11], [35]
Ở nước ta, nghề nuôi dế phát triển mạnh ở các tỉnh thành phía nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh Theo ông Nguyễn Văn Tủi, phó ban Kinh tế -
Xã hội Hội Nông dân TP Hồ Chí Minh cho biết, mô hình nuôi dế đang có xu hướng phát triển mạnh Hiện nay, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có 42 cơ sở (năm 2005 chỉ có vài cơ sở) trong đó tập trung chủ yếu ở Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức và quận 9 [11] Người có công đầu tiên trong việc khởi xướng và phát triển nghề nuôi dế là anh Lê Thanh Tùng ở Củ Chi – TP Hồ Chí Minh với trang trại dế Thanh Tùng rộng hơn 500m2 để chăn nuôi khởi nghiệp từ năm 2003 Trung bình 1 tháng, anh Tùng bán khoảng 300 kg dế, đạt doanh thu từ 60-90 triệu đồng Trừ chi phí, 1 tháng thu lời khoảng 25 - 30 triệu đồng Đó là chưa kể thu nhập từ tiền bán con giống, bọ cạp và rết Như vậy, mỗi năm thu về hàng trăm triệu đồng
Trang 24Ở miền Bắc nghề nuôi dế cũng phát triển khá mạnh mẽ và rất được khuyến khích Người nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh thành ven Hà Nội như Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định… và tập trung cả ở các huyện ngoại thành của Hà Nội Điển hình có chị Trần Thanh Xuân (Hà Nội) với trang trại dế Thanh Xuân Hiện nay, bằng nghề nuôi dế, thu nhập hàng tháng của Trại Thanh Xuân đã lên tới 100 triệu đồng Ngoài cơ sở chính ở Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội, chị còn mở thêm một cơ sở nữa tại Mỹ Lộc, Nam Định nuôi nhiều loại côn trùng như dế vàng, dế trắng, bọ cạp, rết [11], [36]
Ở Quảng Nam – Đà Nẵng, nghề nuôi dế bắt đầu và phát triển chậm hơn các tỉnh thành phía Bắc và phía Nam của nước ta Mới chỉ hình thành trong khoảng vài năm trở lại đây và chưa tạo được phong trào nuôi và sử dụng dế một cách rộng rãi Nghề nuôi dế chủ yếu mang tính tự phát và phân bố rải rác
ở các quận huyện ngoại thành Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện các trang trại có quy mô và làm ăn có hiệu quả Điển hình có trại dế Ba Hưng do anh Nguyễn Văn Hưng (Quảng Nam) làm chủ Là một trong những trại dế đi tiên phong trong lĩnh vực nuôi dế thịt thương phẩm ở miền Trung với công tác xây dựng trại, nhân giống dế, chăm sóc dế từ khi mới nở đến lúc trưởng thành giàu tính chuyên nghiệp [37]
Ở Đà Nẵng, các mô hình nuôi dế được phân bố rải rác ở các quận huyện ngoại thành như Liên Chiểu, Hòa Vang, Sơn Trà và chưa mang tính bền vững Nói chung, các sản phẩm từ dế mèn đã bắt đầu xuất hiện trên các quán nhậu bình dân và một số nhà hàng ở Đà Nẵng nhưng phần nhiều vẫn được tiêu thụ mạnh bởi các cơ sở nuôi động vật cảnh Tuy nhiên, do số lượng người nuôi ít nên vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường Điển hình có anh Nguyễn Thành Đạt (Liên Chiểu) Ngoài cơ sở tại nhà, anh còn có trại dế tại số 146 đường Tô Hiệu, TP.Đà Nẵng Mỗi năm, trừ hết chi phí, vợ chồng anh thu khoảng 100 triệu đồng
Trang 25Theo Giáo sư - Tiến sĩ Bùi Công Hiển, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Côn trùng học cho biết ở nước ngoài việc nhân nuôi côn trùng thường theo
mô hình nhân tạo Nhưng ở Việt Nam nếu làm thế sẽ rất tốn kém, không phù hợp với khả năng kinh tế và trình độ kỹ thuật Theo ông Hiển, Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, thuận lợi để nuôi côn trùng Việc phát triển mô hình này sẽ mang lại nhiều lợi ích như bảo tồn sự đa dạng sinh học, người dân có thêm nghề mới, xóa đói giảm nghèo ở những vùng đất đai cằn cỗi, cung cấp nguồn thực phẩm cũng như nguyên liệu làm thuốc cho xã hội
Tại buổi hội thảo về nghề nuôi dế tổ chức ngày 2/4/2009, giáo sư Nguyễn Lân Hùng đã giới thiệu về loài dế, một trong những con vật nuôi mới đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân trên cả nước, đặc biệt là các tỉnh khu vực phía Nam Thịt dế rất giàu dinh dưỡng,
có vị thơm ngon bổ dưỡng cho người già và trẻ em suy dinh dưỡng Hiện nay, đã có rất nhiều nhà hàng trong cả nước bổ sung món thịt dế vào thực đơn và được thực khách rất ưa chuộng Chính vì vậy, theo Giáo sư Nguyễn Lân Hùng cho biết: Hiện nay, nghề nuôi dế đã và đang trở thành một trong
100 nghề chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con nông dân [11]
1.2.3 Giá trị của họ dế mèn Gryllidae đối với con người
Các loài trong họ dế mèn có những lợi ích đáng kể với đời sống con người, giá trị của chúng được thể hiện ở các mặt sau đây:
a Giá trị làm thực phẩm
Các kết quả phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng chính, hàm lượng các nguyên tố khoáng trên các loài thuộc họ dế mèn cho thấy chúng là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, rất giàu các nguyên tố khoáng và vi lượng Thịt dế mèn lại thơm, ngon, vị béo ngậy, rất dễ ăn và dễ tiêu, phù hợp cho cả người già và trẻ nhỏ Thịt dế có thể được chế biến thành rất nhiều món
Trang 26ăn ngon khác nhau mà giá thành lại rẻ hơn nhiều so với thịt lợn, bò, tôm, cua như: dế chiên bột, dế rang muối ớt, dế kho tiêu, dế trộn gỏi, dế chiên giòn…
Bên canh đó, dế mèn còn được đặc biệt sử dụng làm nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho nhiều động vật nuôi khác như chim, cá cảnh, bò cạp, rắn,
tê tê, kỳ đà, … Hầu như hiện nay, tất cả các cửa hàng chăm sóc chim, cá cảnh, các trang trại nuôi côn trùng đều phải nhập dế làm nguồn thức ăn chính hàng ngày nếu muốn con vật nuôi của mình lớn nhanh, đẹp mã và hót tốt
b Giá trị làm thuốc
Theo Đông y, dế có vị mặn tính hàn, không độc, quy vào kinh bàng quang, đại tràng và tiểu tràng, công năng thông trệ, lợi đại, tiểu tiện, thúc đẻ, sau đẻ rau thai không ra Dùng trong các trường hợp chữa thuỷ thũng, táo bón
và tiểu tiện bí dắt, sỏi đường niệu Có thể dùng dưới dạng bột hoặc dạng thuốc sắc, ngày 6 - 12g Các bài thuốc từ dế có thể chữa các bệnh như: chữa đau khắp mình mẩy, chữa chứng viêm bàng quang, chữa sỏi bàng quang, chữa "lậu ké đau buốt" (chứng có sỏi trong đường niệu), chữa cam tẩu mã, chữa tiểu tiện bí, nước tiểu ít, trường hợp người già tiểu tiện khó khăn [14]
c Giá trị giải trí
Nhắc đến giá trị của các loài trong họ dế mèn không thể thiếu giá trị giải trí với thú chơi chọi dế (đá dế) vốn đã phổ biến từ rất lâu cả thành thị lẫn nông thôn, đặc biệt là ở các nước Đông Á Chọi dế là một trò chơi đã phổ biến ở Trung Quốc cách đây cả ngàn năm Ở Việt Nam, chọi dế là trò chơi lành mạnh, mang đậm nét văn hóa làng quê, là kỷ niệm không thể quên đối với tuổi thơ của những đứa trẻ Ngày nay, các trang trại dế cũng đang nắm bắt nhu cầu này của khách hàng để cho ra một loại hình kinh doanh mới lạ là bán
dế chọi Hiện nay, mỗi con dế chọi được bán với giá 5000 đồng một hộp giấy
và 15.000 đồng đối với một hộp gỗ, giá thành rất phù hợp với một thú chơi mang nhiều ý nghĩa cho trẻ em [30]
Trang 27d Giá trị văn hóa, tín ngưỡng
Người Đông Á quan niệm rằng dế báo trước điềm lành Tiếng hát của chúng mang lại sự may mắn cho tất cả những người có cơ hội nghe thấy bài hát này Theo sử sách ghi chép thì các tì thiếp của Hoàng đế nhà Đường đã nhốt dế trong những lồng bằng vàng và đặt chúng trên giường để nghe hát suốt đêm Bên cạnh đó, dế mèn cũng đã vinh hạnh được đi vào nhiều tác phẩm văn học hiện đại cuốn hút mê say hàng triệu trái tim người đọc Ở nước
ta, không ai là không ít nhất một lần nhắc tới tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài Tác giả không chỉ thể hiện sự hiểu biết của mình đối với đời sống đa dạng các loài dế mà còn thổi cả hồn mình vào mỗi hành động, mỗi lời nói của các chú dế mèn Tác phẩm đã làm say mê biết bao tâm hồn trẻ nhỏ và những người yêu sách Tác phẩm cũng đã được dựng thành phim hoạt hình và dịch ra nhiều nước trên thế giới
e Giá trị đối với sản xuất nông nghiệp
Thức ăn ưa thích của các loài trong họ dế mèn là các loại cỏ Như vậy chúng góp phần huỷ diệt các loại cỏ có hại cho mùa màng Chúng cũng giúp cải thiện các điều kiện vật lý và tăng độ phì của đất thống qua hoạt động đào bới của mình làm cho đất thông thoáng, xác chết của chúng làm tăng lượng chất hữu cơ trong đất
1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI DẾ THAN
(GRYLLUS BIMACULATUS DE GEER)
1.3.1 Vị trí phân loại và đặc điểm phân bố
Loài: Dế than Gryllus bimaculatus De Geer
Trang 28Phân lớp hàm ngoài: Ectognatha
dế than phân bố khắp nơi, chúng sống trong hang đất, đất pha cát, dưới lá hay thân cây mục Chúng thích sống ở những nơi ấm áp và khô ráo có nhiệt độ khoảng từ 20 – 300C và hàm lượng nước trong đất từ 20 – 25% Trong tự nhiên, dế than hoạt động theo mùa, chúng thường xuất hiện vào đầu tháng 4
và hoạt động mạnh trong mùa hè Sau đó khoảng cuối tháng 8 thì ngưng hoạt động và bước vào trạng thái đình dục [17]
1.3.2 Đặc điểm hình thái dế than
Cấu tạo, hình thái cơ thể của dế than Gryllus bimaculatus De Geer có
các đặc điểm cấu tạo chung của một cơ thể côn trùng Cơ thể được chia làm 3 phần: đầu, ngực và bụng Mỗi phần do nhiều đốt hợp thành, cả 3 phần đều có các phần phụ là phần phụ đầu, phần phụ ngực và phần phụ bụng
Hình 1.1 C ấu tạo chung cơ thể côn trùng [28]
Trang 29Cấu tạo phần đầu và phụ đầu: dế than có kiểu đầu miệng dưới (hypognathous) tức là miệng nằm phía dưới của đầu, trục dọc của đầu vuông góc với trục dọc của thân Mắt kép phát triển, có mắt đơn Râu hình sợi chỉ, dài quá thân, chia thành 3 phần: chân râu, cuống râu và roi râu trong đó các đốt gốc và cuống hơi lớn còn các đốt khác tương đối đều nhau, càng về cuối ngọn càng nhỏ Phần phụ miệng của dế than kiểu nghiền, cấu tạo gồm 5 phần là: môi trên, hàm trên, hàm dưới, môi dưới và lưỡi (tấm dưới hầu) Chúng có thể cắn nát rễ cây, thân cây và đào hầm Dế đào hầm rất khoẻ Hang dế sâu và nhiều ngóc ngách [24], [28]
Cấu tạo phần ngực và phụ ngực: dế than thuộc loại côn trùng sử dụng chân trước nhiều hơn nên ngực trước phát triển, ngực giữa và ngực sau gắn liền nhau Mỗi đốt ngực do bốn mảnh hợp lại là: mảnh trên là mảnh lưng, mảnh dưới là mảnh bụng và hai mảnh bên Phần phụ ngực gồm có chân và cánh dế than có 3 đôi chân nằm ở ba mảnh bên của các đốt ngực, lần lượt từ trước ra sau có: hai chân trước, hai chân giữa, hai chân sau Mỗi chân được cấu tạo bởi nhiều đốt, từ trong ra ngoài gồm: đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống (đốt chày) và các đốt bàn chân [11], [24], [30]
Chân dế than thuộc kiểu chân nhảy với đặc điểm đốt đùi to khỏe, đốt ống dài phía cuối có gai, cựa, dưới bàn chân có nhiều tấm đệm Đặc biệt, ở đốt chày chân trước có cơ quan màng nhĩ dưới dạng một khe hẹp hay hình bầu dục [24], [28]
Dế than có hai đôi cánh là đôi cánh trước và đôi cánh sau Về nguồn gốc, các đôi cánh này là do phần da ở góc sau mảnh lưng của đốt ngực giữa
và đốt ngực sau đính lại kéo dài ra tạo thành Các đôi cánh này gồm hai lớp da mỏng áp lấy hệ thống mạch cánh bên trong Trong hai đôi cánh thì đôi cánh trước là cánh da, có đặc điểm dài, hẹp, có chất cánh dày, mạch cánh mờ Đôi cánh sau là cánh màng có cấu tạo chất cánh mỏng, trong suốt, nhìn rõ mạch
Trang 30cánh Nó đảm nhận việc giúp cho dế bay được Nhưng khi di chuyển trên mặt đất, đôi cánh đó thường xếp lại và nằm dưới đôi cánh trên Ở con đực, cơ quan phát thanh là do sự cọ xát của hai cánh trước tạo nên [17], [24], [28]
Cấu tạo phần bụng và phụ bụng: bụng là bộ phận thứ ba của cơ thể, bên trong chứa các cơ quan tiêu hóa và sinh sản của dế Bụng được cấu thành bởi nhiều đốt, các đốt này nối với nhau bởi một màng mỏng nên có thể có dãn và quay được dễ dàng Phần bụng của dế than thuộc loại bụng rộng với đốt thứ nhất to rộng bằng đốt ngực sau Phần phụ bụng gồm: lỗ thở, lông đuôi và bộ phận sinh dục ngoài
Lỗ sinh dục con cái ở đốt bụng thứ VIII hay IX, con đực thì ở giữa đốt thứ IX và X Vì vậy phần phụ các đốt bụng từ VIII – X biến thành bộ phận sinh dục ngoài [24] Ở con đực gồm có dương cụ để đưa tinh trùng vào cơ thể con cái và bộ phận quặp âm cụ con cái Bộ phận sinh dục ngoài của con cái là máng đẻ trứng do chi phụ đốt thứ VIII và IX hình thành Ở dế than máng đẻ trứng có hình kim, gồm đôi phiến đẻ trứng dưới và đôi phiến đẻ trứng trên hợp thành [24] có nhiệm vụ vừa là máng dẫn trứng vừa là mũi khoan để cắm vào đất khi đẻ Máng này dài từ 10-15mm Khi đẻ chúng cong đít xuống nền đất và cắm máng vào Trứng sẽ theo máng đẻ vào sâu trong lòng đất Đây có
lẽ là đặc điểm dễ nhận nhất để phân biết dế đực và dế cái Người ta thường nhìn vào đít dế để tìm máng đẻ trứng Nếu có máng thì chắc chắn là con cái
Về màu sắc, dế than Gryllus bimaculatus De Geer có hai kiểu màu sắc:
đen tuyền và vàng nghệ, chính vì thế người ta thường gọi đây là hai loài dế khác nhau là dế than và dế lửa Tuy nhiên, thực tế chúng chỉ là một loài dế
than Gryllus bimaculatus De Geer với hai kiểu màu sắc như vậy Khi sống
chung, chúng vẫn có thể giao phối với nhau và sinh sản bình thường [6], [30]
Trang 311.3.3 Đặc điểm các pha phát triển (vòng đời) dế than
Trong quá trình phát triển của côn trùng, chúng phải trải qua nhiều pha phát triển khác nhau với sự khác biệt không chỉ ở hình thái mà cả cấu tạo giải phẫu cũng như phương thức sinh sống Hiện tượng này được gọi là biến thái (Morphosis) Căn cứ vào những đặc điểm hình thái và sinh học của pha ấu trùng và trưởng thành người ta chia thành các kiểu biến thái khác nhau Về cơ bản có 2 kiểu là biến thái không hoàn toàn (biến thái thiếu) và biến thái hoàn toàn (biến thái đủ) [24]
Dế than là loài biến thái không hoàn toàn (thuộc kiểu biến thái dần dần), tức là nó chỉ biến thái có một phần Vòng đời của dế than trải qua 3 pha: trứng, sâu non (ấu trùng) và thành trùng (trưởng thành) Dế non khi nở ra về
cơ bản là giống với dế trưởng thành về hình thái, cấu tạo và cả phương thức sinh sống, nhưng kích thước còn nhỏ, chưa mọc cánh và mức độ phát triển của các cơ quan sinh dục chưa hoàn thiện Nó phải trải qua các lần lột xác thì mới hiện hình đúng là một chú dế với đầy đủ hai bộ cánh dài Ở pha trưởng thành, dế than không còn hoạt động lột xác [24], [30] Vòng đời của dế than kéo dài khoảng 80 – 90 ngày, trong đó pha trứng khoảng 10 ngày, pha ấu trùng khoảng 40 – 50 ngày và pha trưởng thành 30 – 35 ngày [11], [30]
Trang 32Cấu tạo chung của trứng: bên ngoài trứng là lớp vỏ trứng được cấu tạo bởi prôtêin và chất sáp do tế bào vách ống trứng tiết ra Vỏ trứng nhờ có lớp sáp bảo vệ nên không bị thấm nước Phía trên vỏ trứng có noãn khổng (lỗ thụ tinh) là lối cho tinh trùng chui vào trứng để thụ tinh [24], [30] Phía trong
vỏ trứng có một màng rất mỏng gọi là màng lòng đỏ, màng này bao bọc lấy tế bào chất và nhân trứng Tế bào chất được chia thành hai phần: phần xung quang tương đối dày, không pha trộn với lòng đỏ trứng, được gọi là chất quanh trứng và phần bên trong với lòng đỏ trứng tạo thành lưới lòng đỏ Khi trứng chưa thụ tinh thì nhân nằm ở giữa, còn khi trứng đã thụ tinh thì nhân di chuyển ra ngoài
Trứng sau khi được thụ tinh trải qua quá trình phát triển phôi thai gồm
5 giai đoạn là: phân chia nhân, hình thành màng phôi, hình thành các tầng
Trang 33phôi, hình thành các chi, hình thành các cơ quan bên trong Quá trình này biến đổi phức tạp và được phản ánh qua sự biến đổi màu sắc của trứng từ màu trắng trong sang màu vàng nhạt rồi vàng đậm Sau khi phôi thai đã phát triển đầy đủ, ấu trùng sẽ phá vỡ vỏ trứng ra ngoài Vỏ trứng thường cứng nên ấu trùng phải dùng hàm cắn hoặc đục vỡ vỏ trứng để chui ra ngoài
b Pha ấu trùng
Ấu trùng dế than khi mới nở có màu trắng, sau vài giờ chúng sẽ chuyển sang màu đen đặc trưng của loài Dế non khi nở ra về cơ bản là giống với dế trưởng thành về hình thái, cấu tạo và cả phương thức sinh sống, nhưng kích thước còn nhỏ, chưa mọc cánh và mức độ phát triển của các cơ quan sinh dục chưa hoàn thiện Nó phải trải qua các lần lột xác thì mới trưởng thành Bản chất của lột xác là sự bài tiết lớp vỏ cũ – một sản phẩm của các tế bào nội bì và các chất khác bất lợi cho sự sinh trưởng của côn trùng [24]
Trước khi lột xác, dế non thường tìm nơi kín đáo, không ăn, không hoạt động Dưới lớp biểu bì cũ hình thành lớp biểu bì mới do tế bào nội bì kéo dài ra Đầu tiên hình thành tầng cuticun mới sau đó hình thành một phần của biểu bì trong Độ dài của các tế bào nội bì không bằng nhau do vậy trên bề mặt lớp biểu bì mới có nhiều nếp nhăn Khi lớp nội bì tách khỏi lớp biểu bì cũ
và lớp cuticun mới thì giữa lớp biểu bì cũ và biểu bì mới có một dịch thể được tiết ra gọi là dịch lột xác Dịch lột xác chứa enzim phân giải prôtêin, tiêu hủy phần lớn lớp vỏ cũ [24] Khi lột xác, nhờ áp lực máu, cơ thể ấu trùng trương lên làm cho lớp biểu bì cũ nứt ra một đường giữa lưng của phần ngực Sau đó, chúng nhô đầu và rút chân ra rồi cuối cùng rút toàn bộ cơ thể ra khỏi lớp vỏ
cũ [30] Dế vừa mới lột xác thì vỏ da còn mềm, màu nhạt do biểu bì ngoài chưa hình thành hoàn chỉnh, cơ thể còn khá mềm và yếu ớt Lúc này chúng tiếp tục ăn và lớn lên rất nhanh trước khi lớp biểu bì mới khô cứng lại sau vài
Trang 34ngày Sau khi lột xác, dế than ăn luôn phần xác lột của mình, đây được xem là một trong những bản năng tự vệ ở các loài động vật [17], [24]
Như vậy quá trình sinh trưởng và lột xác ở côn trùng nói chung cũng như loài dế nói riêng là hai quá trình tất yếu liên quan với nhau Trong quá trình sinh trưởng, sau mỗi lần lột xác sâu non lại lớn thêm một tuổi Theo quy ước, ấu trùng mới nở ra từ trứng là ấu trùng tuổi 1, sau lần lột xác thứ nhất trở thành ấu trùng tuổi 2 Như vậy sau lần lột xác thứ n thì tuổi ấu trùng là n +1 [24] Đối với dế than, pha ấu trùng trải qua 7 lần lột xác, vì thế số tuổi ấu trùng của dế than là 8 [6], [30] Thời gian phát triển của giai đoạn ấu trùng khoảng 40 – 50 ngày tùy vào điều kiện sinh thái
c Pha thành trùng
Sau khi ấu trùng dế than đã hoàn thành quá trình phát triển của pha ấu trùng, tích lũy đủ chất dinh dưỡng và năng lượng thì tiến hành lột xác lần cuối cùng (lần 8) để biến thành thành trùng (trưởng thành) Hiện tượng này được gọi là vũ hóa [24] Đối với dế than, do không có sự phát triển song song giữa
cơ quan sinh dục và hình thái nên khi đã hóa trưởng thành thì tuyến sinh dục vẫn chưa phát triển đầy đủ nên cần phải ăn thêm để chín muồi sinh dục Lúc
đó, dế than mới đạt kích thước tối đa và sinh sản được [24] Thời gian ăn thêm của dế than trưởng thành khoảng 4 - 5 ngày
Tại giai đoạn này sự khác biệt về mặt hình thái giữa đực và cái thể hiện rất rõ Dế mái đôi cánh trước có nhiều đường gân nổi lên và sắp xếp đan chéo vào nhau tạo thành hình mắt lưới Ngoài ra, cuối phần bụng còn có một ống dẫn trứng dài khoảng 15 mm Trong khi đó, đôi cánh trước của dế đực có
hệ thống gân hằn lên rất dày và sắp xếp đan xen vào nhau không theo trật tự tạo nên hoa văn rất bắt mắt Đồng thời phần cuối bụng dế đực có một gai sinh dục nhỏ và cứng [30]
Trang 35Chức năng chủ yếu của giai đoạn trưởng thành là sinh sản Ở dế đực, khi bộ phận sinh sản của cơ thể đã sẵn sàng thì chúng sẽ rung động hai cánh trước với tần số lớn khiến hai mạch cánh siết vào nhau tạo ra những “tiếng gáy” báo hiệu cho con cái biết để sẵn sàng giao hoan Tiếng gáy của dế đực sẽ được cảm nhận bằng cơ quan thính giác nằm ở đốt chày chân trước của dế cái Khi giao hoan, dế cái leo lên lưng dế đực từ phía sau và bám chặt vào khoảng vài phút Khi đó, dế đực nằm bên dưới sẽ cong phần cuối của bụng lên để đưa gai sinh dục của nó vào lỗ sinh dục của dế cái, đặt vào đó các tinh cầu Các tinh cầu này sẽ vỡ ra và lượng tinh trùng chứa trong đó sẽ đi vào túi lưu tinh của dế cái và thụ tinh cho trứng Sau khi giao hoan một thời gian dế đực tiếp tục tìm đến dế cái khác và giao hoan tiếp tục xảy ra Quá trình này kéo dài cho đến khi dế đực kết thúc vòng đời của chúng [6], [30]
Sau khi giao hoan vài giờ, dế cái sẽ tìm phần đất ẩm và xốp rồi cắm ống đẻ vào đó, đứng bất động và rặn đẻ đưa các trứng đã thụ tinh ra ngoài Vài phút sau chúng lại tìm đến phần đất khác và đẻ tiếp Sau khi đẻ 1 – 2 ngày, chúng lại tiếp tục giao hoan lần nữa và đẻ trứng tiếp Quá trình này lặp đi lặp lại cho đến khi dế cái không còn trứng để đẻ nữa Như vậy, trong giai đoạn đẻ trứng, dế cái có thể bắt cặp nhiều lần với các cá thể dế đực khác nhau Khi hết trứng, dế cái sống thêm được vài ngày rồi chết
Nhìn chung, pha thành trùng của dế than kéo dài khoảng 30 – 35 ngày Hoạt động dinh dưỡng trong giai đoạn này không cao bằng pha ấu trùng Hoạt động chủ yếu là giao hoan và đẻ trứng Do tập trung toàn bộ sức lực cho hoạt động sinh sản nên sau khi hoàn thành nhiệm vụ, thành trùng đực và cái đều kiệt sức và chết
Trang 361.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN QUẬN SƠN TRÀ [29]
1.4.1 Vị trí địa lý
Quận Sơn Trà nằm về phía Đông thành phố Đà Nẵng, trải dài theo hạ lưu phía hữu ngạn sông Hàn, có toạ độ địa lý từ 16004'51''đến 16009'13'' vĩ độ Bắc, 108015'34'' đến108018'42'' kinh độ Đông Đây là một quận có ba mặt giáp sông, biển Phía Bắc và Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Vũng Thùng (Vịnh Đà Nẵng) và sông Hàn, phía Nam giáp quận Ngũ Hành Sơn
1.4.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Quận Sơn Trà thuộc vùng khí hậu III, đồng bằng Duyên Hải và hải đảo
có khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc điểm sau:
a Nhiệt độ
Tổng nhiệt bình quân năm: 8700-93620C Nhiệt độ trung bình năm 24 - 25,60C Tháng nóng nhất là các tháng 5, 6, 7, 8 Nhiệt độ trung bình cao nhất
từ 32-360C, những ngày có gió mùa Tây Nam nhiệt độ có khi lên đến 28 -
390C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 – 2 với nhiệt độ trung bình từ
Tốc độ gió: Cao tập trung vào tháng 9,10 (13m/s – 14m/s); thấp nhất tập trung vào tháng 1, 2, 3, 4, 11, 12 (4m/s – 7m/s)
Tổng số giờ nắng trong năm: 1800 – 2000 giờ
Trang 37B ảng 1.4: Thống kê lượng mưa qua các tháng ở Sơn Trà và TP Đà Nẵng
Tháng
Đà Nẵng 153,3 0,4 58,0 55,3 156,4 7,1 24,1 152,2 252,8 1147,4 893,6 163,8 Sơn Trà 190,1 0 66,2 65,8 57,8 18,2 20,3 239,1 133,5 982,3 1164,6 303,6
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn khu vực trung trung bộ, 2012)
Kết quả bảng 1.4 cho thấy, mùa mưa tại Sơn Trà và thành phố Đà Nẵng bắt đầu từ tháng 8 đến cuối tháng 12 hoặc tháng 1, các tháng có mưa lớn là
10, 11, 12 Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7
Lượng mưa tại Sơn Trà nhìn chung cao hơn Đà Nẵng, tuy nhiên vào tháng 2 tháng 9, 10 lượng mưa tại Đà Nẵng cao hơn Sơn Trà do đây là 2 tháng tại Sơn Trà có tốc độ gió cao (13m/s – 14m/s), ảnh hưởng đến sự hình thành lượng mưa tại đây
1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội tại quận Sơn Trà
Quận Sơn Trà có 7 phường: An Hải Đông, An Hải Tây, Phước Mỹ, An Hải Bắc, Nại Hiên Đông, Mân Thái và Thọ Quang Sơn Trà là một quận vừa Khu vực
Trang 38có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên - Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực, có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ sở quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia
a Dân số và phân bố
Quận Sơn Trà có diện tích 59,32 km2, chiếm 4,62% diện tích toàn thành phố; dân số 132.944 người, chiếm 14,4% dân số toàn thành phố, mật độ dân số 2.241,13 người/km2 Lao động có 68.168 người, trong đó có việc làm 64.003 người; chưa có công ăn việc làm 4.165 người
Dân số ở Sơn Trà có tỷ lệ nữ chiếm nhiều hơn nam giới Nguồn lao động chiếm 60% tổng dân số của quận Lao động có công ăn việc làm chiếm
tỷ lệ 93,89%; lao động chưa có công ăn việc làm chiếm tỷ lệ 6,11% Tỷ lệ thất nghiệp, không có công ăn việc làm là 4.165 người (6,11%) ít nhiều đây cũng
là thách thức đối với quận Sơn Trà trong việc ổn định đời sống dân cư, an ninh trật tự xã hội
b Đặc điểm một số ngành kinh tế trên địa bàn quận Sơn Trà
* Thuỷ sản
Thủy sản là ngành sản xuất quan trọng trong các chỉ tiêu phát triển kinh
tế của quận Với lợi thế vị trí của quận có cảng biển, nhân dân trong quận làm nghề biển chiếm tỷ lệ rất lớn, sản xuất thuỷ sản đã giải quyết được phần lớn lao động và ngày càng phát triển ổn định, có đóng góp lớn vào toàn bộ nền kinh tế của quận Giá trị sản xuất của thuỷ sản năm 2004 đạt 163.310 triệu đồng chiếm 96% trong tổng số giá trị sản xuất nông - lâm - ngư của địa phương
Trang 39Nguồn lợi thuỷ sản dồi dào, phong phú, có giá trị kinh tế cao và nhiều loại hải sản quí hiếm Ngư trường không bó hẹp trong phạm vi của quận, của thành phố, mà được mở rộng ra các tỉnh lân cận, kéo dài đến vịnh Bắc Bộ và biển Nam Trung Bộ Phát triển đội ngũ tàu khai thác hải sản xa bờ, phát triển nhanh số lượng tàu cá có công suất lớn và cải hoán, nâng cấp tàu cá công suất nhỏ để vươn khơi, hình thành các đội tàu cùng nghề để hỗ trợ nhau khai thác trên biển
Sản xuất, khai thác thuỷ sản hình thành và trở thành nghề truyền thống, lại nằm cạnh một trung tâm công nghiệp lớn, một thị trường có sức mua mạnh, tiêu thụ một khối lượng lớn hàng thuỷ sản cho tiêu dùng hàng ngày và cho công nghiệp chế biến Khu công nghiệp Đà Nẵng và khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang đã thu hút được các nhà đầu tư là hạt nhân quan trọng để làm nền tảng cho phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và
sự hình thành của các vệ tinh công nghiệp trên địa bàn quận
* Nông nghiệp
Trong những năm về trước, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo ổn định cuộc sống cho nông hộ, cung cấp một phần lương thực thực phẩm tại chỗ, cung cấp rau, hoa quả cho cả thành phố Đà Nẵng
Nhưng gần đây do nhu cầu phát triển đô thị nên diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2004 chỉ đạt 3.455 triệu chiếm khoảng 2% so với tổng giá trị sản xuất nông- lâm - ngư của địa phương
* Lâm nghiệp
Sơn Trà có 4.195,7 ha đất lâm nghiệp nhưng đều tập trung ở khu Bảo tồn, với chức năng là quản lý và bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan môi trường và đóng vai trò quan trọng trong các công tác phòng hộ
Trang 40Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu là trồng rừng phân tán, cây xanh đô thị, làm kinh tế vườn rừng của các hộ gia đình có giao đất, nhận khoán đất lâm nghiệp trong khu bảo tồn và chế biến lâm sản
Hiện tại, chung quanh chân núi Sơn Trà diện tích đất được giao và khoán theo nghị định 184/NĐ-HĐBT, nghị định 02/NĐCP, nghị định 163/NĐCP và Nghị định 01/CP là 625 ha cho 247 đơn vị tập thể và cá nhân
sử dụng để trồng rừng và làm kinh tế vườn rừng Đây cũng là giải pháp giải quyết công ăn việc làm cho người dân sống chung quanh bán đảo Sơn Trà, nhằm giảm bớt những tác động xấu đến tài nguyên rừng
* Giao thông
Mạng lưới giao thông ở quận Sơn Trà tương đối hoàn chỉnh, với trục đường chính là đường Ngô Quyền dài 12 km, nối với Cảng Tiên Sa Tuyến giao thông ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc chạy dọc theo bờ biển rất thuận tiện cho việc lưu thông hàng hoá và du lịch
Trong khu bảo tồn hệ thống đường giao thông được nâng cấp và mở mới với các tuyến đường bao bọc quanh bán đảo Sơn Trà và tuyến đường nối liền các đỉnh trên bán đảo Sơn Trà tạo ra hệ thống giao thông khép kín rất thuận tiện cho việc tuần tra rừng cũng như phục vụ cho du lịch sinh thái
Đầu tư nâng cấp, mở rộng để hoàn chỉnh mạng giao thông nội thị ở các khu vực còn lại Trong đó quan trọng hàng đầu là xây dựng hệ thống xử lý nước thải bảo đảm tiêu chuẩn về môi trường Xây dựng, cải tạo vỉa hè, xây dựng các công viên cây xanh, các trung tâm vui chơi công cộng, tạo thêm cảnh quan môi trường hấp dẫn
* Du lịch
Vị trí của quận Sơn Trà rất có nhiều điểm thuận lợi cho việc phát triển
du lịch, có nhiều bãi biển đẹp, nhiều cảnh quan môi trường, trong đó phải kể đến là tiềm năng du lịch sinh thái rừng - biển Thiên nhiên đã dành cho Sơn