1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sự sinh trưởng và phát triển của cây phúc bồn tử rubus idaeus trồng tại huyện đại lộc tỉnh quảng nam

62 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Sinh Thái Đến Sự Sinh Trưởng Và Phát Triển Của Cây Phúc Bồn Tử (Rubus Idaeus) Trồng Tại Huyện Đại Lộc, Tỉnh Quảng Nam
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phượng
Người hướng dẫn TS. Võ Châu Tuấn
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm..... Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng của c

Trang 1

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô đã truyền đạt và định hướng, giúp tôi tiếp cận với những nguồn kiến thức khoa học chuyên ngành bổ ích, giúp tôi trau dồi kiến thức và rèn luyện kỹ năng trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Võ Châu Tuấn – người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài

Tôi cảm ơn vườn ươm Vịnh Phương đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tôi thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn động viên, khích

lệ tinh thần, cảm ơn các đồng nghiệp và học trò tại trường THPT Lê Hồng Phong và THPT Cẩm Lệ nơi tôi công tác đã luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập và thực hiện việc nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 11 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Mỹ Phượng

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN vi

MỤC LỤC vii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu về cây phúc bồn tử 3

1.1.1 Phân bố 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh thái 3

1.1.3 Giá trị 4

1.1.4 Các nghiên cứu về cây phúc bồn tử 5

1.2 Ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đối với sự sinh trưởng của thực vật 9

1.2.1 Vai trò của các nhân tố sinh thái đối với sự sinh trưởng 9

1.2.2 Ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng 12

1.2.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của cây từ giống nuôi cấy mô 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phạm vi nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.3.1 Phương pháp hồi cứu số liệu 16

2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 16

2.3.3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu đất 17

2.3.4 Phương pháp ươm trồng cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm 17

2.3.5 Các phương pháp trồng cây phúc bồn tử ngoài tự nhiên tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 18

2.3.6 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng 19

2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm 21

Trang 8

3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro

trong giai đoạn vườn ươm 21

3.1.2 Ảnh hưởng của thời gian huấn luyện cây đến khả năng sống sót của cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm 24

3.1.3 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm 25

3.1.4 Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm 27

3.1.5 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khoáng đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm 29

3.2 Khảo sát các nhân tố sinh thái tự nhiên và chọn vùng sinh thái phù hợp để trồng thử nghiệm cây phúc bồn tử từ giống nuôi cấy mô trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 31

3.2.1 Khảo sát điều kiện thời tiết, khí hậu tại huyện Đại Lộc 31

3.2.2 Khảo sát đặc điểm đất đai tại huyện Đại Lộc 33

3.3 Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng của cây phúc bồn tử trồng thực nghiệm tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 34

3.3.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử in vitro trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 34

3.3.2 Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 36

3.3.3 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khoáng đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 37

3.4 Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sự phát triển của cây phúc bồn tử được trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 39

3.4.1 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự khả năng ra hoa và tạo quả của cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 39

3.4.2 Ảnh hưởng của chế độ phân bón đến sự khả năng ra hoa và tạo quả của cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 40

3.5 Quy trình sản xuất cây giống phúc bồn tử từ nuôi cấy mô và quá trình trồng ngoài tự nhiên tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 42

3.5.1 Quy trình sản xuất giống cây phúc bồn tử trong giai đoạn vườn ươm từ giống cây nuôi cấy mô 42

3.5.2 Quy trình trồng giống cây phúc bồn tử in vitro ngoài tự nhiên 43

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự

GT : Glycosyltransferases

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

3.1 Ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sống sót và sinh trưởng của

cây phúc bồn tử in vitro trong điều kiện vườn ươm sau 30 ngày 21 3.2

Ảnh hưởng của thời gian huấn luyện cây trong bình đến khả năng

sống sót của cây phúc bồn tử in vitro sau 15 ngày trồng tại vườn

ươm

24

3.3 Ảnh hưởng của ánh sáng đến khả năng sống sót và sinh trưởng của

cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm sau 4 tuần 25 3.4 Ảnh hưởng của chế độ nước tưới đến sự sinh trưởng của cây phúc

bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm sau 4 tuần 28 3.5

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khoáng đến sự sinh trưởng của

cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm sau 4 tuần và 8

tuần

29

3.6 Kết quả phân tích một số nhân tố sinh thái đất ở 2 vùng sinh thái tại

3.7 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự sinh trưởng của cây phúc bồn tử

trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam sau 2 tháng và 4 tháng 34 3.8

Ảnh hưởng của chế độ nước tưới đến sự sinh trưởng của cây phúc

bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam sau 2 tháng và 4

tháng

36

3.9

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khoáng đến sự sinh trưởng của

cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam sau 2

tháng

38

3.10

Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khoáng đến sự sinh trưởng của

cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam sau 4

tháng

39

3.11 Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự phát triển của cây phúc bồn tử

3.12 Ảnh hưởng của chế độ phân bón đến sự phát triển của cây phúc bồn

3.13 Ảnh hưởng của chế độ phân bón đến thời gian phát triển của cây

phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam 41

Trang 11

Cây phúc bồn tử in vitro sau 30 ngày trồng trong vườn ươm trên 4

loại giá thể khác nhau: (a) Giá thể đất; (b) Giá thể đất : xơ dừa

(2:1); (c) Giá thể đất : trấu hun (2:1);(d) Giá thể đất : xơ dừa : trấu

hun (2:1:1)

22

3.2

Cây phúc bồn tử in vitro sau 4 tuần trồng trong vườn ươm với các

độ che sáng khác nhau: (a) Không che sáng; (b) Che sáng 25%; (c)

Che sáng 50%; (d) Che sáng 75%

26

3.3

Cây phúc bồn tử in vitro sau 4 tuần trồng trong vườn ươm với chế

độ nước tưới khác nhau: (a) 1 lần/ngày, 1,5 lít/1m2; (b) 1 lần/ngày,

3 lít/1m2; (c) 2 lần/ngày, 1,5 lít/1m2; (d) 2 lần/ngày, 3 lít/1m2

28

3.4

Cây phúc bồn tử in vitro sau 4 tuần trồng trong vườn ươm với các

công thức phân bón khác nhau: (a) 100g/ gốc; (b)300g/ gốc; (c)

500g/ gốc

30

3.5

Cây phúc bồn tử in vitro sau 8 tuần trồng trong vườn ươm với các

công thức phân bón khác nhau: (a) 100g/ gốc; (b) 300g/ gốc; (c)

500g/ gốc

30

3.6 Điều kiện khí hậu các năm (2012 – 2017) tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng

3.7 Điều kiện thời tiết trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2018

3.8

Cây phúc bồn tử 60 ngày tuổi trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng

Nam với các điều kiện che sáng khác nhau: (a) Không che sáng; (b)

Che sáng 25%; (c) Che sáng 50%; (d) Che sáng 75%

36

3.9

Cây phúc bồn tử 2 tháng tuổi trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng

Nam với các chế độ nước tưới khác nhau: (a) 1 lần/ngày, 2 lít/1m2;

(b) 1 lần/ngày, 4 lít/1m2; (c) 2 lần/ngày, 2 lít/1m2; (d) 2 lần/ngày, 4

lít/1m2

37

3.10

Cây phúc bồn tử 2 tháng tuổi trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh

Quảng Nam với các chế độ dinh dưỡng khoáng khác nhau: (a)

200g/ gốc; (b) 400g/ gốc; (c) 600g/ gốc

38

3.11 Cây phúc bồn tử 4 tháng tuổi trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng

Nam với các chế độ dinh dưỡng khoáng khác nhau: (a) 200g/ gốc; (b) 39

Trang 12

Số hiệu

400g/ gốc; (c) 600g/ gốc

3.12 Sơ đồ quy trình sản xuất giống cây phúc bồn tử trong giai đoạn

3.13 Sơ đồ quy trình trồng giống cây phúc bồn tử in vitro ngoài tự nhiên 43 3.14 Sự ra hoa và tạo quả của phúc bồn tử sau 5 tháng trồng tại huyện

Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam: (a) nụ; (b) hoa; (c) quả; (d) quả chín 44

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, thực phẩm từ thực vật có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của con người Việc sử dụng các loại trái cây, thảo mộc, hạt, đậu, rau và ngũ cốc rất quan trọng cho sự cân bằng về chế độ ăn và giảm nguy cơ về các bệnh khác nhau như viêm, viêm khớp, ung thư, tiểu đường, bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch, đục thủy tinh thể, bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer và sự lão hóa Thành phần dinh dưỡng của hoa quả và ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe con người là một trong những vấn đề thường xuyên được tham chiếu và là hầu hết các mục được tìm kiếm nhiều nhất trên internet [51]

Cây phúc bồn tử (Rubus idaeus) là loài thực vật thuộc họ hoa hồng, sinh trưởng ở

các điều kiện sinh thái khác nhau Phúc bồn tử được xếp vào hạng thượng phẩm trong biểu đồ đánh giá thực phẩm, có nhiều giá trị dinh dưỡng hơn dâu tây, việt quất, nho đen,… và có giá trị cao về mặt kinh tế [70] Phúc bồn tử có chứa các hợp chất hóa học

có khả năng chống oxy hóa cao như anthocyanin, axit folic, ellagitannin, flavonol, vitamin C, A, B, PP, E; kali, sắt,… [38] [57] Ngoài các vitamin, khoáng, phúc bồn tử còn có nguồn chất xơ phong phú giúp ổn định đường huyết, tốt cho bệnh nhân tiểu đường [50] Phúc bồn tử được sử dụng như một loại trái cây tươi và được chế biến thành các sản phẩm khác nhau như salad, đồ ăn nhẹ, món tráng miệng, siro, nước giải khát, rượu vang hay các loại mứt [57] [68] [36] Do đó, phúc bồn tử được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng như một thực phẩm lành mạnh [38] [57] [50] Quả phúc bồn tử được sản xuất và tiêu thụ toàn cầu chỉ đứng sau quả dâu tây [36] Tuy nhiên, quả phúc bồn tử là loại quả thuộc quả mọng [36], có sự trao đổi chất cao khiến chúng

dễ hư hỏng trong và sau khi thu hoạch nên việc bảo quản gặp nhiều khó khăn [23] Hiện nay trên thế giới, giống của cây phúc bồn tử đang được tiếp tục nghiên cứu

để đáp ứng với nhu cầu sản xuất thực tế Các nhà khoa học đang khảo sát để tìm điều kiện sinh thái phù hợp cho cây đạt năng suất cao, chất lượng quả tốt cũng như đang tiến hành gây tìm những nguồn gen mới nhằm tăng hàm lượng chất chống oxy của cây [57] Tại Việt Nam, bên cạnh việc mọc dại, phúc bồn tử được du nhập từ Mỹ, Thụy Điển, New Zealand, đã được Trung tâm ứng dụng Khoa học công nghệ & Tin học nghiên cứu và đưa vào trồng tại Đà Lạt Trong những năm gần đây, ở một số thành phố lớn tại Việt Nam, nhu cầu dùng các sản phẩm từ phúc bồn tử dưới hình thức đồ

ăn, thức uống ngày càng tăng cao Tuy nhiên, số lượng cung chưa đáp ứng đủ cầu nên giá thành và chất lượng chưa đảm bảo Việc nghiên cứu chuyên sâu để xác định các điều kiện sinh thái, kỹ thuật trồng và chăm sóc phù hợp để góp phần xây dựng mô hình sản xuất giống cây phúc bồn tử trong điều kiện sinh thái Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và trên thế giới là rất cần thiết Xuất phát từ các cơ sở trên đây, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sự sinh trưởng và phát triển

Trang 14

của cây phúc bồn tử (Rubus idaeus) trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam”

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định được các nhân tố sinh thái thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển

của cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam từ nguồn giống in vitro

- Xác định được các nhân tố sinh thái thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây phúc bồn tử trồng tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu đề tài cung cấp dẫn liệu khoa học mới, có tính hệ thống và hoàn chỉnh về các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của phúc bồn tử trồng trong giai đoạn vườn ươm và ngoài tự nhiên tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

- Kết quả khoa học của đề tài là tài liệu tham khảo tốt cho nghiên cứu, giáo dục trong lĩnh lực sinh học, nông nghiệp, công nghệ sinh học,… tại các trường đại học, viện nghiên cứu,…

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở tốt để xây dựng các quy trình sản xuất cây giống và trồng ngoài tự nhiên cây phúc bồn tử, góp phần sản xuất nguồn thực phẩm có dinh dưỡng tốt cho con người

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu về cây phúc bồn tử

1.1.1 Phân bố

Phúc bồn tử là loài thực vật phổ biến và thường được gặp trong nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, từ rừng ẩm nguyên sinh đến trảng cây bụi hay mọc hoang bên đường Cây phân bố hầu hết ở các vùng ôn đới [26], trải rộng ở Bắc Mỹ, các vùng Bắc

Âu đến Tây Bắc Á [32] [72] [75]

1.1.2 Đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh thái

a Đặc điểm sinh thái học

Phúc bồn tử (Rubus idaeus) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), bộ Rosales, chi

Rubus Phúc bồn tử là loại cây bụi, rễ chùm, thân leo mọc thẳng hay mọc cong, cao

khoảng 1,6 – 2m nên người ta thường làm giàn để tránh thân cây mọc bò tràn ra mặt đất làm ảnh hưởng đến sự phát triển và chất lượng quả [67] [72]

Thân cây phúc bồn tử có đường kính 0,5 – 1,5 cm, có nhiều lông và gai mềm, màu sắc của gai mang đặc trưng của từng loài [72] [32] Khi cây còn nhỏ, thân cây có màu xanh và chuyển sang màu nâu khi cây già [31] Khi cắt ngang thân cây già, nhìn tương tự lát cắt ngang thân cây hoa hồng, trong cùng là một lõi xốp, phần sát biểu bì nhu mô vỏ hóa gỗ [61] [31] Lá thuộc loại lá đơn, có lông ở mặt trên, phiến lá chia thành 5 thùy hình chân vịt, viền lá có hình răng cưa [62] Lá cây có màu xanh và nhiều lông màu trắng hoặc xám [72] Hoa màu trắng, mọc thành cụm có 5 cánh, đường kính khoảng 4 – 5 mm và có 5 đài hoa [44] [72] [32] Phúc bồn tử được thụ phấn nhờ côn trùng, chủ yếu là ong [34] Quả được hình thành tương đối nhanh, khoảng 30 – 36 ngày kể từ khi được thụ phấn [67], thuộc quả mọng, khi chín có màu đỏ, vàng hoặc đen tùy thuộc vào mỗi loài [22] Quả phúc bồn tử có vị ngọt và chứa lượng tương đối cao của cả mono và disaccharides [66] Glucose tương đối, tinh bột và hàm lượng đường đã được ghi nhận cho một số quả phúc bồn tử đỏ của Mỹ [25] – đây là một món

ăn quan trọng của nhiều người Mỹ bản địa Nó đã được ăn tươi hoặc bảo quản để sử dụng vào mùa đông [74]

b Nhân tố sinh thái

Đối với sự sinh trưởng và phát triển của mình, phúc bồn tử không có yêu cầu cụ thể về loại đất, tuy nhiên, cây sinh trưởng tốt ở những vùng đồi thấp, đồng bằng, phù hợp với loại đất cát pha, đất sét có độ mùn cao (5% mùn), pH đất khoảng 6,0 – 6,5 Không nên trồng phúc bồn tử trên các vùng đất đã canh tác các cây họ cà tên 5 năm vì phúc bồn tử dễ bị nhiễm một số bệnh nấm mốc [67] [21] [36]

Về điều kiện khí hậu, phúc bồn tử là cây ưa sáng và cần độ ẩm cao, sinh trưởng tốt trong ngưỡng nhiệt độ từ 60C đến 270C, , nhiệt độ tối ưu cho phúc bồn tử

Trang 16

sinh trưởng và phát triển trong khoảng 21 – 260C, lượng mưa hàng năm từ 800 – 1000m [21] [36]

Thời gian sinh trưởng của chúng dao động từ 9 tháng đến 3 năm [67] Phúc bồn tử có thể được nhân giống thông qua hạt, cành lá chồi, hoặc giâm hom [29] [48] [71] [73] Tuy nhiên, việc nhân giống bằng cách cắt gốc đạt tỷ lệ thành công 60% ở các thử nghiệm thực nghiệm [71] Lựa chọn đúng ngày trồng và kỹ thuật canh tác là việc rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng và phát

triển của cây [24] [71] Ngoài ra, các kỹ thuật nhân giống in vitro cũng đã được

phát triển để sản xuất hàng loạt giống phúc bồn tử [74] Việc nhân giống được thực hiện ở vườn ươm cho đến khi cây cao khoảng 15 cm thì đem ra trồng với khoảng cách cây 60 x 60 cm [67]

1.1.3 Giá trị

Phúc bồn tử là một vị thuốc quý Tất cả các thành phần của cây phúc bồn tử như

lá, thân, quả đều có thể sử dụng được Phúc bồn tử một nguồn giàu chất chống oxy hóa

do chứa hàm lượng cao của các hợp chất phenolic Phúc bồn tử có chứa hàm lượng ellagitannin – chất có một số hoạt tính sinh học, bao gồm các đặc tính chống ung thư [18], flavanol và liên hợp acid ellagic (EAC) cao, một loại polyphenol tương đối không phổ biến trong trái cây và rau quả đối với chế độ ăn của chúng ta, chỉ được tìm thấy trong vài loại trái cây như dâu tây, lựu, nho xạ hương, một số loại hạt, phúc bồn

tử ( Rubus idaeus L.) [45] [30] [56] [50] Ngoài ra, phúc bồn tử có chứa các hợp chất

phenolic cơ bản khác là anthocyanin [33] [42], là một trong những chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ thực vật, chống oxy hóa cao, rất có lợi cho sức khỏe [53]

Phúc bồn tử còn chứa một loại dầu thực vật có hàm lượng gamma và tocopherols, vitamin A và omega-3 và axit béo omega-6 cao Quả phúc bồn tử cung cấp các lợi ích chống viêm, giữ ẩm, ngăn chặn và chống oxy hóa cho da Hơn nữa, dầu phúc bồn tử cung cấp các lợi ích chống lão hóa của việc cải thiện độ đàn hồi và tính linh hoạt của da, đồng thời làm mịn và làm mềm vẻ ngoài của các hiệu ứng lão hóa da, nếp nhăn và da bị chảy xệ Thường được sử dụng trong các sản phẩm mỹ phẩm với mục đích dưỡng ẩm, chất chống oxy hóa và các đặc tính tạo thành lipid, dầu hạt quả phúc bồn tử, bổ sung các công thức trên khuôn mặt như huyết thanh, dầu, kem dưỡng

alpha-da và các loại alpha-da khô, mất nước, nhạy cảm và trưởng thành hoặc lão hóa Dầu hạt phúc bồn tử cũng phục vụ như là một bổ sung sang trọng để dưỡng môi và môi sản phẩm, vì

nó tạo thành một rào cản tắc để ngăn ngừa mất độ ẩm và bảo vệ da khỏi các yếu tố gây tổn hại Vì dầu hạt giống phúc bồn tử có chứa tocopherols hỗn hợp, điều này cho phép bảo vệ rộng hơn, vitamin A rất cần thiết cho làn da khỏe mạnh và được chứng minh là làm tăng tốc độ chữa lành da bị tổn thương [69] Ngoài ra, vitamin E, carotenoid và các chất flavoniod có phong phúc bồn tử có tác dụng tiêu viêm, giải độc, bảo vệ da dưới tác động của tia cực tím, làm giảm các vết thâm nám trên da, giúp da đàn hồi, tăng cường tuần hoàn ở các mao mạch ngoại vi, thúc đẩy sự tái tạo các tế bào collagen

Trang 17

mới giúp da căng mịn sáng đẹp [28] Với sự có mặt của ellagitannin, phúc bồn tử còn góp phần chống ung thư, tiểu đường, kháng khuẩn và đặc biệt có tác dụng chống lão hóa 50% mạnh hơn dâu tây, gấp ba lần trái kiwi và gấp 10 lần trái cà chua Khi hiệp lực với vitamin C và anthocyanin thì khả năng chống oxi hóa và ngăn ngừa ung thư của phúc bồn tử tăng lên gấp đôi [53] [38] [57] Theo nghiên cứu của một số nhà khoa học Mỹ còn cho thấy các hợp chất chống oxi hóa trong phúc bồn tử còn có tác dụng phòng ngừa các gốc tự do gây tổn hại đến não đồng thời tăng lưu lượng máu và oxi đến não, từ đó làm tăng trí nhớ và sức sáng tạo Riêng đối với phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh hoặc rối loạn tiền mãn kinh, nó còn giúp giảm stress, giảm sự thay đổi tâm sinh lý và chính những hoạt chất sinh học này đóng vai tò như hocmon thay thế góp phần điều hòa lượng estrogen bị thiếu hụt trong giai đoạn này [28] Đặc biệt, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Ohio (Mỹ), những bệnh nhân mắc chứng Esophagus barett (có thể chuyển sang ung thư thực quản) nếu thường xuyên ăn quả phúc bồn tử thì có thể ngăn ngừa quá trình phát triển ung thư [28] Phúc bồn tử còn có hàm lượng chất xơ hòa tan (pectin) lớn, một chất giúp chống lại bệnh tim mạch

nhờ làm giảm lượng cholesteron cao trong máu Ngoài ra, lá của phúc bồn tử đã từng

được sử dụng như một loại thuốc thảo dược để thúc đẩy lao động cũng như giảm đau trong khi sinh con Nghiên cứu trước đây đã cho thấy lá của phúc bồn tử cho một trong hai hợp đồng hoặc thư giãn các mô cơ trơn tử cung [60]

Quả phúc bồn tử là một trong những món tráng miệng khá ngon, có thể được chế biến thành những món ăn thức uống khác nhau như mứt, thạch, [72] và cung cấp bổ sung hương vị cho bánh nướng và các loại bánh nướng, kẹo và sữa khác các sản phẩm như sữa chua hoặc kem Lá và thân phúc bồn tử sấy khô làm trà, làm nước súc miệng chữa các bệnh viêm loét miệng, viêm họng [28] Ngành công nghiệp phúc bồn tử tại Bắc Mỹ là một doanh nghiệp đang phát triển với số doanh thu lên đến hàng triệu đô la [46] [60]

1.1.4 Các nghiên cứu về cây phúc bồn tử

Do có nhiều giá trị về dinh dưỡng, dược liệu và làm đẹp nên phúc bồn tử đã và đang là một trong những đối tượng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhân nhanh

in vitro và các nghiên cứu về tách chiết hoạt chất sinh học

Nowak và cs (2017) đã nghiên cứu điều tra các hoạt động cyto- và độc tế bào của ellagitannin chiết xuất từ quả phúc bồn tử trong phạm vi nồng độ 2,5-160 μg / mL, cũng như của ellagitannin, sanguiin H- 6 (SH-6, 12.8–256 μM) và lambertianin C (LC, 9.3–378 μM), chống lại dòng tế bào ung thư đại tràng của người Caco-2 Nồng độ ellagitannin được sử dụng trong nghiên cứu tương ứng với các nồng độ trong thực phẩm có chứa quả phúc bồn tử, SH-6, và LC thể hiện các đặc tính độc tính mạnh phụ thuộc vào nồng độ, gây ra tổn thương DNA dao động từ 7,3 ± 1,3 đến 56,8 ± 4,3%, gây đứt gãy sợi đôi và oxy hóa các cơ sở DNA Tại IC 50 (124 μg / mL), phúc bồn tử ảnh hưởng đến hình thái hạt nhân và gây ra quá trình apoptosis của các tế bào Caco-

Trang 18

2 Bởi vì phúc bồn tử đã được tìm thấy có hoạt tính chemopreventive, nó có thể được

sử dụng như một phụ gia thực phẩm tự nhiên để tăng cường lợi ích sức [18]

Oomah và cs (2000) đã tiến hành nghiên cứu các tính chất của dầu được chiết xuất từ hạt phúc bồn tử Sản lượng dầu từ hạt giống là 10,7% Tính chấ hóa lý của dầu bao gồm: saponification số 191; giá trị diene 0,837; giá trị p-anisidine 14,3; trị số peroxit 8,25 meq/kg; hàm lượng carotenoid 23 mg/100 g; và độ nhớt 26 mPa.s ở 25 °

C Dầu hạt phúc bồn tử cho thấy độ hấp thụ tia UV trong phạm vi UV-B và UV-C nên có tiềm năng để sử dụng như một chất bảo vệ tia UV phổ rộng Dầu hạt có nhiều tocopherols với thành phần sau (mg/100 g): a-tocopherol 71; g-tocopherol 272; d-tocopherol 17.4; và tổng vitamin E tương đương với 97 Dầu có khả năng chống oxy hoá tốt và ổn định lưu trữ Phân đoạn lipid của dầu hạt phúc bồn tử thô mang lại 93,7% lipid trung tính, 3,5% phospholipid và 2,7% axit béo tự do Các axit béo chính của dầu thô là C18: 2 n-6 (54,5%), C18: 3 n-3 (29,1%), C18: 1 n-9 (12,0%) và C16:

Axit ellagic / ellagitannins là chất chống oxy hóa polyphenolic thực vật được tổng hợp từ axit galic và có liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư và bệnh tim mạch Katja Schulenburg và cs (2016) báo cáo nhận dạng và đặc tính của 5 glycosyltransferases (GT) từ hai chi thuộc họ Rosaceae ( Fragaria và Rubus ; F × ananassa FaGT2 *, FaGT2, FaGT5, F vescaFvGT2 và R idaeus RiGT2) xúc tác sự hình thành 1- O -galloyl-β- D-glucopyranose (β-glucogallin) tiền thân của quá trình sinh tổng hợp ellagitannin Trong dâu tây và phúc bồn tử có chứa enzyme GT2 có thể góp phần vào việc sản xuất axit ellagic/ ellagitannin điều này rất hữu ích để phát triển quả dâu tây, phúc bồn tử với các lợi ích sức khỏe bổ sung và sản xuất công nghệ sinh học của polyphenol sinh học [43]

Trang 19

Sangiovanni và cs (2013) cũng đã đánh giá về những ảnh hưởng của ellagitannin

được chiết xuất từ phúc bồn tử Rubus idaeus L – có đặc tính kháng viêm dạ dày và chống Helicobacter pylori Hoạt tính kháng viêm đã được thử nghiệm trên dòng tế bào

dạ dày AGS được kích thích bởi TNF-α và IL-1β để đánh giá hiệu ứng trên phiên mã điều khiển NF-kB, chuyển vị hạt nhân và tiết IL-8 Thí nghiệm được tiến hành trên chuột, chuột được điều trị bằng đường uống trong mười ngày với 20 mg/ kg/ ngày ETs, và ethanol đã được đưa ra một giờ trước khi hy sinh Niêm mạc dạ dày đã được

cô lập và được sử dụng để xác định IL-8 phát hành, NF-kB hạt nhân chuyển vị, Trolox tương đương, superoxide dismutase và catalase hoạt động ETs ức chế TNF-α gây ra phiên mã điều khiển NF-kB (IC 50 : 0,67–1,73 µg / mL) và giảm sự chuyển dịch hạt nhân NF-kB TNF-α gây ra (57% –67% ở 2 µg / mL) ETs ức chế tiết IL-8 gây ra bởi TNF-α và IL-1β ở nồng độ thấp (IC 50khoảng 0,7-4 µg / mL) Sanguiin H-6 và lambertianin C, các ETs chính hiện diện trong các chất chiết xuất, đã được tìm thấy có trách nhiệm, ít nhất là một phần, vì ảnh hưởng của các hỗn hợp ETs của phúc bồn tử giảm chỉ số Ulcer lần lượt là 88% và 75% và được bảo vệ khỏi sự gây ra oxy hóa gây

ra bởi stress ethanol ở chuột CINC-1 (sự tương đồng chuột của IL-8) tiết ở niêm mạc

dạ dày đã giảm ở các động vật nhận được quả phúc bồn tử ET Ảnh hưởng của ET trên CINC-1 liên quan đến việc giảm sự chuyển dịch hạt nhân NF-κB trong động vật được điều trị bằng ET Kết quả của báo cáo nghiên cứu hiện tại lần đầu tiên tác dụng ngăn ngừa của ET trong viêm dạ dày và hỗ trợ cho việc sử dụng chúng trong các chế độ ăn kiêng chống loét dạ dày tá tràng [60]

Seeram và cs (2006) nghiên cứu về phytochemical với các tính chất sinh học như chất chống oxy hóa, chống ung thư, chống loạn thần kinh và các hoạt động chống viêm được chiết xuất của sáu quả mọng được tiêu thụ phổ biến là blackberry, phúc bồn tử đen, việt quất, nam việt quất, quả phúc bồn tử đỏ và dâu tây được đánh giá cho các thành phần phenolic của chúng sử dụng sắc ký lỏng hiệu năng cao với phát hiện khối phổ ion hóa (UVLC-UV) và quang phổ ion hóa điện tử (LC-ESI-MS) Các nhóm chính của berry phenolics là anthocyanin, flavonol, flavanol, ellagitannin, gallotannin, proanthocyanidins, và axit phenolic Chất chiết xuất từ quả mọng được đánh giá khả năng ức chế sự phát triển của các dòng tế bào khối u (KB, CAL-27), vú (MCF-7), ruột kết (HT-29, HCT116) và tuyến tiền liệt (LNCaP) ở nồng độ khác nhau

từ 25 đến 200 μg / mL Chất chiết xuất từ quả phúc bồn tử và dâu tây đen cho thấy các tác dụng pro-apoptotic quan trọng nhất chống lại dòng tế bào này [52]

Ở một phương diện khác, Olson and DeGolier (2016) bằng cách sử dụng các kỹ thuật hiện đại hỗ trợ hoặc bác bỏ tuyên bố rằng hợp đồng RRL cô lập cơ tử cung Dung dịch nước của RRL ở tất cả các nồng độ được thử nghiệm (1,5 - 50 mg) tạo ra sự gia tăng lực co bóp từ các dải tử cung chuột dọc bị cô lập trong các bồn tắm

cơ thể tiêu chuẩn 15 mL.−5 M ACh ( p= 0.005), và bằng nhau về độ lớn hoặc lớn hơn

một chút so với những người gây ra bởi 10 −5 M ACh Cả hai chất đối kháng thụ thể

Trang 20

nicotinic và cholinergic cholinergic đều thất bại trong việc ngăn chặn các cơn co thắt

do RRL gây ra Salbutamol ngăn chặn bất kỳ phản ứng co bóp nào từ RRL; tuy nhiên,

β 2 nhân vật phản diện propranolol chặn thành công salbutamol phản ứng gây ra-thư giãn và cho phép co thắt RRL, ngụ ý có thể có một thành phần trong RRL tương tác với một số thành phần chức năng của β 2 adrenoceptor L-type Ca 2+bộ chặn kênh nifedipine đã chặn RRL gây ra phản ứng co bóp bằng 90% Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho việc sử dụng RRL truyền thống như một tử cung thảo dược Tuy nhiên, nó không đề cập đến hiệu quả tương đối của RRL được nhập vào các quá trình sinh đẻ và lao động [19]

Tomczyk và cs (2004), đã xác định định lượng các flavonoid, tannin và axit ellagic trong lá từ các biến thể hoang dã và trồng trọt của RubusL loài (Rosaceae): phúc bồn tử (2 hoang dã và 13 giống) và blackberry (3 hoang dã và 3 giống) Hàm lượng flavonoid được phân tích bằng phương pháp quang phổ (phương pháp Christ-Müllers) và phân tích HPLC sau khi thủy phân axit Hàm lượng tannin được xác định bằng phương pháp trọng lượng, với bột ẩn, được mô tả bởi Dược điển Đức 10 (DAB 10) Hàm lượng axit Ellagic được kiểm tra bằng phương pháp HPLC sau khi thủy phân axit Hàm lượng flavonoid, được xác định bằng phương pháp của Christ-Muller cao hơn cho lá dâu tây so với lá phúc bồn tử và thay đổi từ 0,46% đến 1,05% Quercetin và kaempferol chiếm ưu thế trong tất cả các mẫu được phân tích bằng phương pháp HPLC Hàm lượng flavonoid cao nhất được tìm thấy trong lá của R nessensis (1,06%); với kết quả trong tất cả các mẫu được kiểm tra khác nhau giữa 0,27% và 1,06% Nồng độ axit ellagic trong tất cả các loài được xác định sau khi thủy phân axit

và dao động từ 2,06% đến 6,89% Lá của phúc bồn tử được đặc trưng bởi một lượng lớn tannin (thay đổi từ 2,62% đến 6,87%) so với lá của các loài khác Kết quả từ nghiên cứu này chỉ ra rằng phúc bồn tử là một nguồn giàu flavonoid, axit ellagic và tannin, có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng của các loài lá Rubus L [39]

Ảnh hưởng của nhiệt độ ra hoa lên thành phần hóa học của quả phúc bồn tử được nghiên cứu trong điều kiện môi trường có kiểm soát thực hiện bởi Siv Fagertun Remberg và cs (2010) Trọng lượng quả mọng giảm đáng kể khi tăng dần nhiệt độ (12, 18, và 24°C) và kéo dài thời gian thu hoạch Bởi vì hàm lượng hơi tăng lên tỷ lệ thuận với trọng lượng quả mọng, khả năng chống oxy hóa và nồng độ của một loạt các hợp chất hoạt tính sinh học giảm với sự giảm nhiệt độ và tiến độ của mùa thu hoạch khi được thể hiện trên cơ sở trọng lượng tươi theo cách thông thường Tuy nhiên, mặc

dù tác dụng pha loãng của quả mọng lớn, nồng độ acid ascorbic (vitamin C) tăng lên với nhiệt độ giảm, ngay cả trên cơ sở trọng lượng tươi r = 0,958), chủ yếu là anthocyanin và ellagitannin Trong khi tổng số 10 anthocyanin được phát hiện, cyanidin-3-sophoroside và cyanidin-3- (2 G -glucosylrutinoside) -rutinoside chiếm 73% tổng số, anthocyanin giảm và sau đó tăng lên với sự gia tăng nhiệt độ Cho đến nay, các ellagitannin phổ biến nhất là lambertianin C và sanguiin H-6, cả hai đều tăng

Trang 21

đáng kể khi tăng dần nhiệt độ Nó kết luận rằng nhiệt độ tăng có tác động đáng kể và tương phản về nồng độ của một loạt các hợp chất có khả năng hoạt tính sinh học trong quả phúc bồn tử [63]

Nghiên cứu của Sønsteby và cs (2009) về sự sinh trưởng và ra hoa của phúc bồn

tử trong điều kiện môi trường được kiểm soát để tạo thuận lợi cho sản xuất trái mùa

Số lượng hoa tăng lên khi tăng dần nhiệt độ và tối đa ở 270C Nếu rút ngắn thời gian ban đêm thì việc ra hoa của cây cũng đạt hiệu quả cao [64] Sự ngừng tăng trưởng và khởi đầu hoa trong quả phúc bồn tử được kiểm soát chung bởi nhiệt độ thấp và điều kiện ngày ngắn [65]

Theo Baiyi và cs, các loại quả phúc bồn tử hoàn thành toàn bộ chu kỳ sinh trưởng của thực vật, ra hoa và đậu quả trong một mùa sinh trưởng, chưa được nghiên cứu kỹ nên nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của việc hấp thụ và sử dụng chất dinh dưỡng đến việc hình thành các hợp chất chống oxi hóa của phúc bồn

tử Một số là được xử lý bằng phân bón với hàm lượng 12g / cây (N-P2O5-K2O, 14-14) trong thời gian chiếu xạ kéo dài 17 giờ trong thời gian chiếu xạ kéo dài 17 giờ với PPFD của 240 μmol m-2 s-1 vào thời điểm tối (Pho + Fert.), nhóm khác được tiến hành bằng chu kỳ sáng dài hơn hoặc chịu sự kiểm soát So với sự kiểm soát, cả sinh trưởng và sinh khối, các chất dinh dưỡng lá bị suy giảm như là triệu chứng của sự pha loãng chất dinh dưỡng, dẫn đến triệu chứng của sự suy giảm chất dinh dưỡng so với sự kiểm soát Theo công thức của Pho + Fert thì việc đậu quả xảy ra trước hai tháng vào tháng 7, quả có trọng lượng quả khoảng 3 g và hàm lượng anthocyanin ở ~ 26,4 mg xyanua-3-glucoside equiv 100 g-1 Fw và tổng hàm lượng phenolic tại ~ 17,5 mg GAE

14-100 g-1 Fw [20]

1.2 Ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đối với sự sinh trưởng của thực vật

1.2.1 Vai trò của các nhân tố sinh thái đối với sự sinh trưởng

a Vai trò của ánh sáng

Ánh sáng có ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của thực vật từ khi hạt nảy mầm, sinh trưởng, phát triển cho đến khi cây ra hoa kết trái rồi chết Ánh sáng là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự sinh trưởng của cây vì nó cần cho quá trình quang hợp Nhờ quá trình quang hợp mà cây tổng hợp các chất hữu cơ làm nguyên liệu để xây dựng nên cơ thể và tích lũy năng lượng ở trong cây để tiến hành sinh trưởng Tùy theo nhu cầu ánh sáng đối với sự sinh trưởng của cây mà người ta chia thực vật thành hai nhóm

là cây ưa sáng và cây ưa bóng Cây ưa sáng sinh trưởng mạnh trong điều kiện ánh sáng đầy đủ, còn cây ưa bóng sinh trưởng tốt trong điều kiện bóng râm thích hợp Ánh sáng tác động lên cây trồng như nguồn năng lượng đối với các phản ứng quang hóa Ánh sáng cũng là nhân tố kích thích, điều khiển quá trình sinh trưởng phát triển và năng suất cho cây trồng Ngoài ra ánh sáng cũng tác động đến sự nảy mầm của hạt [11]

b Vai trò của nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây Nhiệt độ tác động

Trang 22

chủ yếu đến cây qua con đường quang hợp [35] Cây có thể sinh trưởng trong một khoảng nhiệt khá rộng, vì vậy các loại cây trồng khác nhau thì tồn tại những điểm nhiệt độ tối thấp và tối cao cũng khác nhau Trong giới hạn nhiệt độ sinh trưởng của cây thì có nhiệt độ tối thích cho sự sinh trưởng, ở nhiệt độ đó sự sinh trưởng của cây xảy ra thuận lợi nhất, trên dưới nhiệt độ tối ưu thì tốc độ sinh trưởng của cây sẽ giảm Nhiệt độ tối thấp và nhiệt độ tối cao cho sự sinh trưởng của cây đó là điểm nhiệt độ mà cây ngừng sinh trưởng Giới hạn nhiệt độ sinh trưởng thay đổi theo sự thích nghi của cây trồng ở những vùng sinh thái khác nhau [11]

Sinh trưởng của các cơ quan khác nhau của cây cũng nằm trong khoảng nhiệt khác nhau Những cơ quan ở trên mặt đất thích nghi với nhiệt độ không khí cao hơn so với những cơ quan dưới mặt đất, vì vậy ở nhiệt độ cao sự sinh trưởng của rễ kém hơn thân và cành Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của cây Ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang hợp và tích lũy chất hữu cơ, ban đêm nhiệt độ hạ thấp sẽ hạn chế hô hấp và tiêu phí chất hữu cơ, giảm sự thoát hơi nước nên sinh trưởng nhanh hơn Vì vậy, việc biết được yêu cầu nhiệt độ sinh trưởng của từng loại cây trồng có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định thời

vụ trồng thích hợp, chọn vùng, chuyển vùng hay nhập cây giống , từ đó có kỹ thuật chăm sóc cây trồng tốt hơn và cho chất lượng cao hơn

c Vai trò của nước và độ ẩm

Nước là thành phần không thể thiếu của tất cả các tế bào sống, chiếm tới 80 – 95% khối lượng của mô sinh trưởng Nước tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của sinh vật: là môi trường sống của sinh vật thủy sinh, là dung môi hòa tan được nhiều chất trong tế bào và là môi trường cho các phản ứng sinh hóa học diễn ra trong

cơ thể sống Nước là nguyên liệu cho quá trình tổng hợp và quá trình sinh lí của cơ thể sinh vật, là thành phần bảo vệ cấu trúc sống của tế bào thông qua sự hidrat hóa [16] Khi có đầy đủ nước và môi trường thích hợp, tế bào phân chia và phát triển thuận lợi, cây sinh trưởng nhanh Khi thiếu nước, các quá trình sinh lý, sinh hoá trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc, chậm phát triển Nếu quá trình thiếu nước kéo dài cây hoa sẽ bị héo, khô và chết

Độ ẩm của không khí và độ ẩm đất ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa Độ ẩm thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh,

ra hoa đẹp, chất lượng cao

d Vai trò của dinh dưỡng khoáng

Các nguyên tố khoáng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của thực vật Chất khoáng là thành phần xây dựng nên các chất hữu cơ cơ bản nhất của chất nguyên sinh, cấu trúc nên tế bào và cơ quan Ngoài các nguyên tố đại lượng là những nguyên

tố có vai trò chủ yếu trong việc tạo nên chất sống, có thể nói mọi chất khoáng đều ít nhiều có ở dạng liên kết trong các hợp chất hữu cơ bởi các liên kết hóa học hay hóa lý

và có độ bền khác nhau [16]

Trang 23

Nguyên tố khoáng tham gia vào quá trình điều chỉnh các hoạt động trao đổi chất, các hoạt động sinh lý của cây Chất khoáng có tác dụng điều tiết một cách mạnh mẽ quá trình sống thông qua tác động đến các chỉ tiêu hóa lý hóa keo của chất nguyên sinh như điện tích, độ bền, khả năng ngậm nước, độ phân tán, độ nhớt v.v của hệ keo nguyên sinh Chất khoáng còn có khả năng điều tiết các hoạt động sinh lý thông qua tác động đến các hệ enzim và hệ thống các hợp chất khác có vai trò quan trọng trong trao đổi chất và trao đổi năng lượng Các nguyên tố khoáng có khả năng làm tăng tính chống chịu của thực vật đối với các điều kiện bất lợi như một số nguyên tố đại lượng,

vi lượng làm tăng tính chống chịu hạn, chịu rét, chịu bệnh

Các nguyên tố khoáng đa lượng là các nguyên tố dinh dưỡng của yếu cần thiết cho cây trồng Nitơ, phôtpho, kali là ba nguyên tố đa lượng chính mà cây sử dụng nhiều nhất để tăng trưởng, ra rễ, ra chồi, ra lá, ra hoa, đậu trái Chúng bổ sung lẫn nhau

để thúc đẩy sự sinh trưởng phát triển của cây Trong đất, hàm lượng các nguyên tố khoáng thường ít hoặc ở dạng cây không dùng trực tiếp được và thường được bổ sung vào đất thông qua việc bón phân

+ Phôtpho (P)

Phôtpho có tác dụng giúp cây nảy mầm, ra rễ nhiều, ra hoa nhanh Phôtpho giữ vai trò quan trọng trong quá trình hô hấp và quang hợp của cây Nếu tỷ lệ P2O5 quá lớn kích thích sự ra hoa sớm, lá ngắn, cứng Nếu thiếu phôtpho, cây sẽ nhỏ, cằn cỗi, lá nhỏ ngắn, chuyển sang xanh thẫm, sức đề kháng kém, rễ chậm phát triển, rễ không có màu trắng sáng mà chuyển sang màu xám đen, không ra hoa Thừa lân cây thấp, lá dày, ra hoa sớm nhưng hoa ngắn, nhỏ và xấu, cây mất sức nhanh sau khi ra hoa và khó phục hồi Thừa phôtpho thường dẫn đến thiếu Zn, Fe, và Mn Ngoài ra, P làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi, chống rét, chống hạn, chịu chua và một số loại sâu bệnh hại,

+ Kali (K)

Kali có công dụng làm cho cây cứng cáp, đứng thẳng, tăng cường bó mạch trong thân cây, dự trữ dưỡng chất để nuôi cây trong mùa khô, đồng thời thúc đẩy ra chồi mới, giữ cho hoa lâu tàn, màu sắc tươi đẹp Nếu cung cấp quá nhiều kali, cây thừa kali

lá trở nên vàng úa, đọt non không phát triển và khô héo, cây cằn cỗi, lá không mướt và

Trang 24

nhỏ Ở trường hợp này ngưng cung cấp kali ngay và tăng cường cung cấp thêm đạm Thừa kali thường dẫn đến thiếu Mg và Ca Còn ở trong trường hợp cây thiếu kali thì cây không phát triển được, vì cây không được hấp thu dưỡng chất, cây khô dần rồi chết Ở trường hợp cây lan đang trong thời kì tươi tốt biểu hiện thiếu kali: Cây phát triển kém, lóng ngắn, lá ngọn mọc thành chùm, lá già vàng dần từ hai mép lá và chóp

lá sau đó dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, thân cây trở nên lùn thấp, cây mềm yếu

dễ bị sâu bệnh tấn công, cây chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu sắc không tươi dễ bị dập nát Tóm lại, ba nguyên tố đa lượng: Nitơ, phôtpho, kali cây sử dụng nhiều nhất để tăng trưởng, ra rễ, ra chồi, ra lá, ra hoa, tạo quả, chúng luôn luôn bổ sung cho nhau tạo điều kiện tốt cho cây sinh trưởng và phát triển

Nguyên tố trung và vi lượng

Để điều hòa sinh trưởng cho cây hấp thụ tốt nhất các loại phân đa lượng nói trên, cần có thêm những nguyên tố khác để giúp cây phát triển đồng bộ như: magie, lưu hình, sắt, đồng, kẽm, mangan, môlypden Những nguyên tố này cần với lượng ít nhưng không thể thiếu bởi chúng là thành phần của rất nhiều enzim, tham gia vào quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng cho cây [16] Ví dụ, sắt (Fe) cần để tổng hợp và duy trì diệp lục tố trong cây; kẽm (Zn) có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp đạm, hình thành các chất điều hòa sinh trưởng trong cây; mangan (Mn) là chất cần thiết cho quá trình hô hấp của cây, hoạt hóa các enzim chuyển hóa đạm và tổng hợp diệp lục tố, kiểm soát các quá trình xảy ra trong tế bào ở các pha sáng và tối; đồng (Cu) xúc tiến quá trình hình thành vitamin A, giúp cây tăng khả năng chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh…Tuy nguyên tố vi lượng rất cần thiết đối với cây nhưng hàm lượng cao trong đất

sẽ làm cây bị ngộ độc

Đối với cây, việc bổ sung chất khoáng cho cây thông dụng đó là bón phân Cách bón phân hiệu quả nhất trong giai đoạn vườn ươm là phun phân bón qua lá Phân bón cho cây phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và

tỉ lệ phù hợp với từng thời kì sinh trưởng và phát triển Nguyên tắc sử dụng phân bón khi trồng cây đó là: Chỉ sử dụng đối với những cây có bộ rễ phát triển, việc bón phân nên sử dụng trong thời kỳ cây sinh trưởng thích ứng tốt

Việc bón phân cho cây là rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển cây Phân vô cơ hoặc phân hữu cơ có thể được sử dụng để bón cho cây Phân bón hữu cơ được bón đều trên bề mặt hai tháng/lần và các chất khoáng được bón cho cây mỗi lần trong 25 ml với 1g/l dung dịch Nếu phối hợp sử dụng phân vô cơ cùng với phân hữu

cơ tốt hơn, với sản lượng chất khô cao hơn so với việc sử dụng phân bón riêng biệt (hữu cơ hoặc vô cơ)

1.2.2 Ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng

Giá thể là từ dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng, các loại giá thể khác nhau có ưu nhược điểm khác nhau và tùy theo mục đích trồng, loại cây trồng mà chọn các loại giá thể thích hợp Giá thể bao gồm hỗn hợp của các vật liệu

Trang 25

có thể giữ nước, tạo độ thoáng cho sự phát triển của cây Hỗn hợp này được dùng đơn

lẻ hoặc phối trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại: bột núi lửa, vỏ trấu hun, mùn dừa, than bùn, đá trân châu, cát, sỏi, Các loại giá thể này được dùng phổ biến trong ngành khoa học nghề vườn [58]

Giá thể trồng cây có ưu điểm:

- Kiểm soát được pH, thành phần dinh dưỡng, các yếu tố gây bệnh và lây truyền bệnh cho cây

- Có khả năng giữ ẩm và thoáng khí tốt

- Có khả năng tái sử dụng hoặc an toàn cho môi trường khi phân hủy

Các loại giá thể khác được sử dụng ngoài đất:

- Xơ dừa: Xơ dừa được lấy từ vỏ quả dừa, nghiền nhỏ và có thể làm khô đóng thành bánh để dễ vận chuyển và bảo quản Trước khi sử dụng cần loại bỏ chất chát (tanin) Xơ dừa là giá thể có khả năng giữa ẩm và thông thoáng khí tốt nhưng nó

dễ gây úng cho một số loại cây trồng, có pH từ 6,5 - 7,0 có trọng lượng riêng thấp, tính

ổn định cao Xơ dừa có thể sử dụng đơn lẻ hoặc phối trộn với các nguyên liệu khác như than bùn, tro trấu, đất mùn theo tỷ lệ, sẽ tạo ra loại giá thể có độ tơi xốp cao, thông thoáng khí [41]

- Trấu hun: Trấu hun là mảnh vỏ lúa (sau khi đã lấy gạo) đem hun cháy nhưng chưa thành tro Trấu hun là giá thể hữu cơ, thoát nước tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng Trong trấu hun chứa một lượng lớn kali có tính kiềm, có thể tái sử dụng và hoàn toàn sạch bệnh Trấu hun là loại phế phẩm rất phổ biến trong nông nghiệp Cũng như

xơ dừa, sử dụng trấu hun làm giá thể trồng cây mang lại hiệu quả kinh tế cao [59]

- Mùn cưa: Mùn cưa là phụ phẩm khi cưa, xẻ gỗ Tùy theo loại gỗ mà mùn cưa

có những đặc điểm riêng như: độ bền giá thể được lâu khả năng hút, thoát nước khác nhau, nhưng đều có chung đặc điểm là có chứa nhiều chất cellulozo, hút thoát nước và giữ ẩm tốt

Giá thể làm giá đỡ cho cây, cung cấp ẩm độ, độ thoáng khí và cải thiện độ pH, đồng thời cung cấp các chất dinh dưỡng để thích hợp với từng đối tượng cây trồng Theo John và Harold (1999) có thể dùng riêng lẻ hoặc phối trộn các loại giá thể để

tăng hiệu quả sử dụng đối với từng loại cây khác nhau

1.2.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của cây từ giống nuôi cấy mô

Cao Thị Thủy và cs (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng,

phát triển của cây xuyên khung in vitro Cây xuyên khung có một số tác dụng dược lý

như: ức chế sự co bóp tử cung, chống loạn nhịp tim, gây dãn động mạch vành, cải

thiện tuần hoàn não, giảm cholesterol máu Các cây xuyên khung in vitro đạt tiêu

chuẩn được trồng trên 3 nền giá thể khác nhau: Đất, cát, hỗn hợp: đất, cát, phân chuồng hoai mục theo tỷ lệ 1:1:1 Kết quả thu được hai nền giá thể là cát và đất cho tỷ

lệ sống đạt 100%, giá thể hỗn hợp (đất: cát: phân chuồng hoai mục) cho tỷ lệ sống là

Trang 26

87% Giá thể còn ảnh hưởng tới sự sinh trưởng chiều cao và số lá trên cây, đạt cao ở nền giá thể đất (chiều cao cây đạt 12,0 cm, số lá/ cây đạt 3,9) và hỗn hợp (chiều cao cây đạt 10,5 cm, số lá/ cây đạt 4,1), đạt thấp ở nền giá thể cát (chiều cao 9,0 cm, số lá/ cây là 3,2) sau 45 ngày sau trồng ngoài vườn ươm Thời vụ ra cây từ 12/1 đến 22/2 là thích hợp nhất, tỷ lệ cây sống đạt 100% đồng thời cây sinh trưởng và phát triển thuận

lợi Sau khi đưa cây xuyên khung in vitro trên giá thể đất ba ngày, phun dung dịch

dinh dưỡng 1/2 MS cho cây con theo định kỳ 5 ngày một lần có tác dụng tăng nhanh các chỉ tiêu về sinh trưởng (chiều cao đạt 24,7 cm và số lá trung bình trên cây đạt 6,5

lá sau 30 ngày trồng) [13]

Năm 2013, Bùi Kiều Hưng nghiên cứu kỹ thuật trồng sa nhâm tím (Amomum

longiligulare) trên đất vườn đồi tại khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì Kết quả

nghiên cứu cho thấy, phân bón có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng chiều cao, đẻ nhánh, ra hoa và đậu quả của sa nhân tím giai đoạn 15 tháng sau khi trồng nhưng chưa

có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống Kết quả bước đầu kh ng định công thức thí nghiệm (2kg phân chuồng + 100g NPK (5:10:3) + 200g vi sinh)/ gốc là có triển vọng nhất (tỷ

lệ sống đạt 96,2%, chiều cao vút ngọn 165,67 cm, 47,42 nhánh/ khóm, 21,0 hoa/ khóm, 13,33 quả/ khóm, tỷ lệ đậu quả 67,86%) Độ tàn che có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng chiều cao vút ngọn, khả năng ra hoa, đậu quả của sa nhân tím giai đoạn 15 tháng sau khi trồng nhưng chưa có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống và khả năng đẻ nhánh Kết quả bước đầu kh ng định cây sinh trưởng triển vọng nhất ở độ tàn che 0,3 – 0,5 (tỷ lệ sống 96,67%, chiều cao vút ngọn 163,67 cm, 38,75 nhánh/ khóm, 17,67 hoa/ khóm, 8,67 quả/ khóm, tỷ lệ đậu quả 49,07%) [8]

Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao,

phân bố khá rộng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Campuchia Rễ và thân hoàng đằng là một trong những vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền để chữa các chứng viêm tấy, lỵ trực trùng, lở ngứa, mụn nhọt, sốt da vàng, đau mắt đỏ, các bệnh về đường tiêu hoá Năm 2015, Phạm Hữu Hạnh và Nguyễn Huy Sơn nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và ánh sáng đến sinh trưởng

của cây hoàng đằng (Fibraureatinctoria) ở giai đoạn vườn ươm, kết quả cho thấy: ánh

sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng cây con Giai đoạn 2 tháng đầu kể từ khi cấy cây vào đất, cây con thích hợp với độ che sáng 75%, tỷ lệ sống đạt 91,7%, đường kính gốc đạt 0,34 cm, chiều cao vút ngọn đạt 17,32 cm Giai đoạn từ sau 6 tháng đến 8 tháng tiếp theo cây con thích hợp ở độ che sáng 25%, tỷ lệ sống đạt 89,8%, đường kính gốc đạt 0,39 cm, chiều cao vút ngọn đạt 21,20 cm, sau 8 tháng có thể dỡ bỏ dàn che hoàn toàn để huấn luyện cây con trước khi xuất vườn đi trồng Bón thúc phân cho cây con hoàng đằng trong giai đoạn vườn ươm có ảnh hưởng khá rõ đến tỷ lệ sống cũng như khả năng sinh trưởng cả đường kính gốc và chiều cao, cây con được bón thúc bằng cách tưới phân NPK (5:10:3) với nồng độ 5% cho tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng tốt hơn so với tưới nước phân chuồng ngâm hoặc không bón thúc [3]

Trang 27

Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) là loài cây đa mục đích thuộc chi

Moringa và họ Moringaceae, được trồng thương mại và sử dụng rộng rãi ở hơn 80 quốc gia trên thế giới, được sử dụng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát, dinh dưỡng và thực phẩm chức năng, chùm ngây đã được dùng để trị nhiều bệnh trong y học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á (Fahey, 2005) Theo kết quả nghiên cứu của Mai Hải Châu (2016), sau 5 tuần trồng cây chùm ngây

in vitro vào giá thể, thu thập và xử lý số liệu, kết quả thu được cho thấy thành phần

giá thể khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ sống của cây chùm ngây in

vitro Giá thể gồm 40% đất mặt + 50% mụn dừa + 10% phân trùng quế là tốt nhất,

tỷ lệ cây sống trung bình sau 5 tuần trồng cao nhất đạt 88,9%, tiếp đó là 2 giá thể (50% đất mặt + 40% mụn dừa + 10% phân hữu cơ vi sinh Trichoderma) và (40% đất mặt + 50% mụn dừa + 10% phân hữu cơ vi sinh Trichoderma) đạt tỷ lệ cây sống lần lượt 84,4 % và 82,2 %, tỷ lệ cây sống thấp nhất là ở giá thể 100% đất mặt chỉ đạt 57,8 % Nhìn chung, chùm ngây là loại cây không đòi hỏi khắt khe về đất,

tuy nhiên với đối tượng là cây in vitro giai đoạn sau ống nghiệm, giai đoạn cây con

chuyển từ môi trường vô trùng sang môi trường tự nhiên nên vẫn cần loại đất có chất lượng tốt và phù hợp để tăng khả năng sống sót của cây [2]

Năm 2017, Đặng Thị Tường Vy đã nghiên cứu về sản xuất giống cây hà thủ ô đỏ

từ cây nuôi cấy mô ở giai đoạn vườn ươm cho kết quả cây hà thủ ô đỏ nuôi cấy in vitro

sống sót và sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện nhà lưới tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum trên giá thể đất thịt : xơ dừa (2:1) với tỉ lệ sống sót 99%, chiều cao cây 7,8cm, số lá 7,6 lá/cây Trong điều kiện nhà lưới không che sáng, bón NPK có nồng độ 50g/l tưới phun 2 lần/ tuần tốt nhất cho sự sinh trưởng của cây [17]

Trang 28

2.3.3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu đất

a Phương pháp lấy mẫu đất

Lấy mẫu theo quy tắc đường chéo 5 điểm tại khu vực trồng, độ sâu lấy mẫu từ 0 – 30 cm Dùng cuốc gọt một lớp đất từ trên xuống đáy hố, mỗi điểm lấy 200 gam (loại

bỏ đá sỏi lớn) rồi trộn đều Lấy mẫu lúc nắng ráo, không bị ướt

b Phương pháp xác định các chỉ tiêu của đất

- Sử dụng máy đo pH và độ ẩm đất của Nhật Bản, model Shinwa 72716 để xác định pH và độ ẩm đất

- Dùng phương pháp Kjeldahl để xác định chỉ số nitơ tổng số (N, %) (TCVN 2620:2014) Dùng H2SO4 đậm đặc kết hợp với chất xúc tác như CusO4, Se, TiO2, HgO2 hoặc chất oxi hóa mạnh như K2Cr2O7, KClO4 nhằm phân hủy chất hữu cơ, chuyển các dạng N về dạng amoni Tiến hành chưng cất chuyển amoni về NH3, sau đó

áp dụng phương pháp chuẩn độ để xác định N tổng số trong đất

- Theo phương pháp so màu, sử dụng hỗn hợp 2 axit H2SO4 đậm đặc và HClO4đậm đặc để công phá các hợp chất của photpho trong đất (TCVN 8563:2010)

- Dùng hỗn hợp axit flohydric và axit pecloric để phá mẫu, chuyển các dạng kali trong đất về dạng hòa tan trong dung dịch Xác định hàm lượng kali trong dung dịch bằng phương pháp quang phổ phát xạ ngọn lửa theo TCVN 8660: 2011 bằng máy hấp phụ nguyên tử của Đức, model AAS analytik Jena 700P

Toàn bộ mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm Môi trường, khoa Sinh – Môi

trường, Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

2.3.4 Phương pháp ươm trồng cây phúc bồn tử in vitro trong giai đoạn vườn ươm

a Phương pháp huấn luyện cây con

Cây in vitro (cao 3 – 5 cm, 5 – 7 lá) được đưa ra vườn ươm để huấn luyện Đưa

cây ra khỏi phòng nuôi cấy và để cây trong bình nuôi cấy ở điều kiện tự nhiên để cây

thích ứng với môi trường bên ngoài phòng thí nghiệm Cây in vitro được lấy ra khỏi

bịch nuôi cấy, tiến hành loại bỏ môi trường nuôi cấy bằng nước sạch Tiếp theo đặt cây

vào khay ươm theo chiều thẳng đứng rồi bổ sung giá thể để lấp rễ Rễ cây in vitro được lấp khoảng 1 cm trong giá thể Sau khi trồng hết cây in vitro vào khay ươm, sắp

xếp theo mô hình nghiên cứu thì tiến hành tưới nước lại bằng hệ thống phun sương của vườn ươm Thí nghiệm được bố trí trên giá thể thích hợp nhất đối với từng loài cây, được khảo sát với thời gian huấn luyện cây khác nhau từ 3, 6, 9 và 12 ngày Theo dõi

tỷ lệ sống và đặc điểm của cây sau 15 ngày trồng ngoài vườn ươm

b Phương pháp tạo giá thể

- Đất sử dụng làm giá thể được lấy tại khu thực nghiệm, loại bỏ đá, sỏi, rễ cây và rác bằng cách rây hoặc nhặt thủ công Đất được lấy vào trời nắng ráo, không bị ướt

Xơ dừa được xé tơi ngâm trong dung dịch javen 1 tiếng, sau đó ngâm nước khoảng một tuần để loại bỏ tanin và mặn, phơi khô, xay mịn Trấu hun Sử dụng tổ hợp 3 công thức giá thể khác nhau: đất, đất : xơ dừa (2 : 1), đất : trấu hun (2 : 1), đất : trấu hun : xơ

Trang 29

dừa (2 :1 :1)

c Phương pháp tạo bầu ươm cây

Sử dụng khay nhựa polyetylen 5 x 10 ô, bầu nhựa polyetylen có kích thước 6 cm

x 13 cm và chậu nhựa cùng kích thước Cho giá thể đã chuẩn bị vào khay nhựa, túi bầu

và chậu nhựa sao cho mặt giá thể cách miệng bầu khoảng 1,5 – 2 cm

d Phương pháp trồng cây phúc bồn tử in vitro vào bầu ươm

Cây in vitro sau khi được huấn luyện sẽ thích ứng với các điều kiện tại vườn ươm Lấy cây in vitro ra khỏi bịch nuôi cấy, nhúng vào nước sạch để loại bỏ môi

trường nuôi cấy rồi làm ướt giá thể bằng bình phun Tiếp theo đặt cây vào bầu ươm theo chiều thẳng đứng rồi bổ sung giá thể để lấp rễ Sau khi trồng hết cây vào bầu ươm, sắp xếp theo mô hình nghiên cứu thì tiến hành tưới nước lại bằng hệ thống phun

sương của vườn ươm

e Phương pháp che sáng

Khảo sát với các điều kiện chiếu sáng khác nhau: Không che sáng, che sáng 25%, che sáng 50% và che sáng 75% Sử dụng lưới nhựa xanh đen Thái Lan che sáng cho các công thức của giá thể và công thức tưới nước, phân bón tại mỗi khu vực khảo sát Các công thức thí nghiệm được thực hiện trên cùng giá thể với điều kiện chăm sóc như nhau, theo dõi sự sinh trưởng của cây sau 4 và 8 tuần ngoài vườn ươm Các thí nghiệm được quan sát, theo dõi thường xuyên 7 ngày/ lần

g Phương pháp tưới nước

Tưới phun bằng hệ thống phun sương tự động của vườn ươm, sử dụng tổ hợp công thức sau: tưới 1 lần/ ngày, 1,5 lít/ 1m2, tưới 1 lần/ ngày, 3 lít/ 1m2, tưới 2 lần/ ngày, 1,5 lít/ 1m2, tưới 2 lần/ ngày, 3 lít/ 1m2 Thời gian tưới: buổi sáng khoảng 6 đến

8 giờ, buổi chiều khoảng 4 đến 5 giờ Các công thức thí nghiệm được tiến hành trên giá thể có tỷ lệ sống cao nhất, theo dõi sự sinh trưởng của cây sau 4 và 8 tuần ngoài vườn ươm Các thí nghiệm được quan sát, theo dõi thường xuyên 7 ngày/ lần

h Phương pháp bổ sung dinh dưỡng

Sử dụng tổ hợp công thức phân bón NPK tỉ lệ 20:20:15, bón cách gốc 20cm với hàm lượng bón như sau: 100g/ gốc, 300g/ gốc, 500g/ gốc Các công thức thí nghiệm được tiến hành trên giá thể có tỷ lệ sống cao nhất, theo dõi sự sinh trưởng của cây sau

4 và 8 tuần ngoài vườn ươm Các thí nghiệm được quan sát, theo dõi thường xuyên 7 ngày/ lần

2.3.5 Các phương pháp trồng cây phúc bồn tử ngoài tự nhiên tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

a Phương pháp chuẩn bị đất trồng

Dọn sạch thực bì, cày xới đất thật kỹ, loại bỏ những đá lớn, đánh luống sao cho mỗi luống cao 25 – 30 cm, rộng 45 – 60 cm, rãnh rộng 50 – 60 cm Đóng cọc và dăn dây mỗi hàng để làm giá đỡ cho cây

b Phương pháp trồng cây

Trang 30

Đào hố trồng cây theo hàng, kích thước mỗi hố là 15 x 15 cm, khoảng cách giữa các cây trong hàng là 30 cm Dùng kéo cắt bỏ vỏ bầu nilon, đặt cây vào giữa hố, lấp đất, nén chặt đất, hạn chế làm vỡ bầu, vun đất vừa kín bầu

c Phương pháp trồng cây ngoài tự nhiên

- Phương pháp che sáng

Khảo sát với các điều kiện chiếu sáng khác nhau: Che sáng 25%, che sáng 50%

và che sáng 75% Sử dụng lưới nhựa xanh đen Thái Lan che sáng cho các công thức của giá thể và công thức tưới nước, phân bón tại mỗi khu vực khảo sát Các công thức thí nghiệm được thực hiện trên cùng loại đất với điều kiện chăm sóc như nhau, theo dõi sự sinh trưởng của cây sau 2 và 4 tháng ngoài thực tế Các thí nghiệm được quan sát, theo dõi thường xuyên 10 ngày/ lần

- Phương pháp tưới nước

Tưới phun bằng hệ thống phu sương tự động của vườn ươm, sử dụng tổ hợp công thức sau: tưới 1 lần/ ngày, 2 lít/ 1m2, tưới 1 lần/ ngày, 4 lít/ 1m2, tưới 2 lần/ ngày, 2 lít/ 1m2, tưới 2 lần/ ngày, 4 lít/ 1m2 Các công thức thí nghiệm được tiến hành trên giá thể

có tỷ lệ sống cao nhất, theo dõi sự sinh trưởng của cây sau 2 và 4 tháng ngoài thực tế Các thí nghiệm được quan sát, theo dõi thường xuyên 10 ngày/ lần

- Phương pháp bổ sung dinh dưỡng

Bón cách gốc 20cm với hàm lượng bón như sau: 200g/ gốc, 400g/ gốc, 600g/ gốc

Thành phần hóa học phân Đầu trâu:

2.3.6 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng

- Xác định độ che sáng: Đo cường độ ánh sáng (Lux) khu vực không che và các khu vực thí nghiệm che bằng lưới nhựa xanh - đen Thái Lan sau đó tính %

- Đánh giá khả năng sống sót của cây in vitro thông qua tỷ lệ cây sống, số lá,

chiều cao cây, trồng trong điều kiện tự nhiên bằng phương pháp đo, đếm

- Xác định số lượng lá: đếm số lá được hình thành, trường hợp lá rụng thì dựa vào các vết lá trên cây

- Xác định chiều dài thân: Dùng thước thẳng và thước mét có chia độ đến mm để

đo chiều dài cây con Chiều dài thân cây được đo từ mặt bầu hoặc mặt đất đến đầu mút của đỉnh sinh trưởng

Trang 31

- Xác định số nhánh của cây: Đếm số lượng nhánh các cấp phát sinh

- Đánh giá sự phát triển của cây qua các thông số sau: số nụ, số hoa, tỷ lệ hoa đậu quả

2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu

Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí 50 cây, với 3 lần thí nghiệm lặp lại Tất cả

số liệu nghiên cứu được xử lí bằng phần mềm SPSS 20 với mức ý nghĩa p<0,05

Ngày đăng: 27/06/2021, 11:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w