Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Định về việc khảo sát tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trong giai đoạn 2011–2015 và xác định các yếu tố nguy cơ đẫn đến dịch bệnh bằng phương
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn này là chính xác
và đã được chỉ rõ nguồn gốc, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Thừa Thiên Huế, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Tôn Nữ Ái Quyên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm Huế đã tạo điều kiện cho tôi được theo học chương trình đào tạo trình
độ Thạc sỹ tại trường
Tập thể Lãnh đạo và cán bộ Trung tâm giống vật nuôi Bình Định, Chi cục Thú
y Bình Định đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Thầy giáo, TS Nguyễn Xuân Hòa, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm Huế là người thầy hướng dẫn khoa học, trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã nổ lực, cố gắng, song do kiến thức và thời gian hạn chế nên không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Vì vậy, kính mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, góp ý từ quí thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp cho các nội dung nghiên cứu
để được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Tôn Nữ Ái Quyên
Trang 3TÓM TẮT
Cúm gia cầm Avian influenza là một loại bệnh truyền nhiễm cấp
tính do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxovirideae gây ra cho gia cầm, bệnh có thể
lây sang người và một số loài thú khác Với mục đích giúp người chăn nuôi nhận thức
rõ và giảm các yếu tố nguy cơ dẫn đến dịch bệnh, nâng cao thu nhập cho người chăn
nuôi và sức khỏe cộng đồng, chúng tôi thực hiện đề tài “Tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn Tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine H5N1”
Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Định về việc khảo sát tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trong giai đoạn 2011–2015 và xác định các yếu tố nguy cơ đẫn đến dịch bệnh bằng phương pháp điều tra và phân tích dịch tể học; về việc đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia cầm sau tiêm phòng 2 loại vaccine cúm gia cầm tái tổ hợp H5N1chủng Re-6 và vaccine cúm gia cầm NAVET – VIFLUVAC chủng NIBRG-14, chúng tôi đã tiến hành lấy 540 mẫu huyết thanh sau tiêm phòng và
90 mẫu huyết thanh không tiêm phòng trên đàn gà thả vườn, gà nuôi nhốt và vịt tại thị
xã An Nhơn, huyện Tây Sơn và Hoài Nhơn, sau đó tiến hành xét nghiệm xác định hàm lượng kháng thể bằng phương pháp ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI) Các số liệu thu được từ kết quả điều tra và nghiên cứu được xử lý bằng phương pháp phân tích dịch tể
và thống kê sinh học trên chương trình Microsoft Office Excel, Minitab 14 và Epicalc
2000 Kết quả cụ thể như sau:
- Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra lần đầu tiên tại tỉnh Bình Định vào ngày 20 tháng 1 năm 2004 và từ đó đến nay dịch vẫn xảy ra rải rác tại tất cả các huyện, thị xã và thành phố Trong giai đoạn 2011 - 2015 có 3 năm xảy ra dịch (năm 2011, 2013 và 2014), năm có số ổ dịch cao nhất là năm 2014, đối tượng mắc bệnh chủ yếu là vịt Dịch thường xảy ra vào khoảng tháng 2 và tháng 3 trong năm
- Tỷ lệ tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm H5N1 tại Bình Định đảm bảo yêu cầu (trên 80% so với tổng đàn trong diện tiêm phòng), tuy nhiên 2 huyện Vân Canh và Vĩnh Thạnh có tỷ lệ tiêm phòng không đạt do người dân ở các địa bàn này chủ yếu chăn nuôi theo phương thức nhỏ lẻ, chăn nuôi tận dụng thả rông không có chuồng trại
để nhốt, không chấp hành tiêm phòng bắt buộc đối với vaccine cúm gia cầm H5N1
- Tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng trên đàn gia cầm của tỉnh Bình Định khá cao đối với cả 3 loại gia cầm là gà thả vườn (88,3%), gà nuôi nhốt (88,3%) và vịt (88,9)% trong đợt tiêm phòng thứ 2 của năm 2015
- Hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng của vaccine NAVET-VIFLUVAC
NIBRG-14 cao hơn so với vaccine H5N1Re-6 trên đàn gia cầm của tỉnh Tuy nhiên sự sai khác
về tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch của 2 loại vaccine trên là không có ý nghĩa về mặt thống kê
- Các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm H5N1 gồm: không tiêm vaccine phòng bệnh cho đàn gia cầm (OR = 20,9); vệ sinh phòng bệnh và sử dụng hóa chất tiêu độc khử trùng (OR = 20); nuôi thả rông gia cầm (OR = 12,1); sử dụng thức
ăn tận dụng cho đàn gia cầm (OR = 7,3)
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm 4
1.1.1 Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 8
1.2 Đặc điểm sinh học của virus cúm type A 11
1.2.1 Đặc điểm về hình thái và cấu trúc của virus 11
1.2.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm type A 15
1.2.3 Thành phần hóa học của virus 16
1.2.4 Quá trình nhân lên của virus 17
1.2.5 Độc lực của virus 18
1.2.6 Sức đề kháng của virus 19
1.2.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus 19
1.3 Dịch tể học bệnh cúm gia cầm 20
1.3.1 Loài vật mang virus 20
Trang 51.3.2 Chất chứa virus 20
1.3.3 Động vật cảm nhiễm 20
1.3.4 Sự truyền lây 21
1.3.5 Cách sinh bệnh 22
1.3.6 Mùa phát bệnh 22
1.4 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm 22
1.4.1 Miễn dịch không đặc hiệu 23
1.4.2 Miễn dịch đặc hiệu 24
1.4.3 Miễn dịch chủ động 25
1.4.4 Miễn dịch thụ động 25
1.5 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm 26
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao 26
1.5.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh do những chủng virus cúm độc lực thấp 27
1.6 Bệnh tích 27
1.6.1 Bệnh tích đại thể 27
1.6.2 Bệnh tích vi thể 28
1.7 Chẩn đoán bệnh 29
1.7.1 Phân lập virus 30
1.7.2 Định danh virus 31
1.7.3 Sử dụng xét nghiệm nhanh BD Dir hoặc Quickvue 31
1.8 Khống chế dịch cúm gia cầm 31
1.8.1 Các biện pháp vệ sinh thú y tổng hợp 31
1.8.2 Phòng bệnh bằng vaccine 32
1.8.3 Điều trị 34
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 35
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.2.1 Khảo sát tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2011 – 2015 36
2.2.2 Đánh giá đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine H5N1 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất 37
2.3.2 Phương pháp sử dụng vaccine 37
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu huyết thanh 38
2.3.4 Phương pháp xét nghiệm xác định hàm lượng kháng thể: 38
2.3.5 Phương pháp điều tra, phân tích dịch tể học 41
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Khái quát về tình hình chăn nuôi gia cầm của tỉnh Bình Định 43
3.2 Kết quả tiêm phòng bệnh cúm gia cầm từ 2011 - 2015 46
3.3 Tổng hợp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bình Định 50
3.4 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể của gia cầm sau tiêm phòng vaccine cúm 52
3.4.1 Đánh giá hiệu giá kháng thể của gà thả vườn sau tiêm phòng 53
3.4.2 Đánh giá hiệu giá kháng thể của gà nuôi nhốt sau tiêm phòng 54
3.4.3 Đánh giá hiệu giá kháng thể của vịt sau tiêm phòng 56
3.4.4 Đánh giá hiệu giá kháng thể của gia cầm không tiêm phòng 57
3.5 So sánh hiệu giá kháng thể của 2 loại vaccin cúm H5N1Re-6 và NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 trên gia cầm 58
3.5.1 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccin cúm H5N1Re-6 và NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 trên gà thả vườn 59
3.5.2 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccin cúm H5N1Re-6 và NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 trên gà nuôi nhốt 61
3.5.3 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccin cúm H5N1Re-6 và NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 trên vịt 62
3.5.4 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccin cúm H5N1Re-6 và NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 trên gia cầm 64
Trang 73.6 Kết quả xác định một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm
trên địa bàn tỉnh Bình Định 66
3.7 Đề xuất các giải pháp nhằm khống chế tái xuất hiện cúm gia cầm 69
3.7.1 Giám sát dịch tễ 69
3.7.2 Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học 69
3.7.3 Thực hiên tốt công tác quản lý nhà nước về công tác thú y 70
3.7.4 Tiêm phòng 70
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
4.1 KẾT LUẬN 72
4.2 ĐỀ NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 79
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations
HA: Haemagglutination test
HI: Haemagglutination inhibitory test
HPAI: Highly Pathogenic Avian Influenza
LPAI: Low Pathogenic Avian Influenza
OIE: Office international des epizooties
RNA : Ribonucleic acid
WHO: World Health Organization
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kế hoạch lấy mẫu huyết thanh trên gia cầm 36
Bảng 3.1 Diễn biến tổng đàn gia cầm (gà, vịt) của tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 - 2015 44
Bảng 3.2 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm năm 2015 48
Bảng 3.3 Tình hình dịch cúm gia cầm tại tỉnh Bình Định giai đoạn 2011- 2015 51
Bảng 3.4 Kháng thể sau tiêm phòng ở gà thả vườn 53
Bảng 3.5 Kháng thể sau tiêm phòng ở gà nuôi nhốt 55
Bảng 3.6 Kháng thể sau tiêm phòng ở vịt 56
Bảng 3.7 Kháng thể trước tiêm phòng ở gia cầm 58
Bảng 3.8 Kháng thể sau tiêm phòng ở gà thả vườn 59
Bảng 3.9 Kháng thể sau tiêm phòng ở gà nuôi nhốt 61
Bảng 3.10 Kháng thể sau tiêm phòng ở vịt 63
Bảng 3.11 Kháng thể sau tiêm phòng ở gia cầm 65
Bảng 3.12 Các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm 67
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc virus cúm A/H5N1 15
Hình 1.2 Hình ảnh bệnh tích cúm gia cầm H5N1 28
Hình 3.1 Diễn biến tổng đàn gia cầm ở gà và vịt giai đoạn 2011 - 2015 44
Hình 3.2 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm 2 đợt trong năm 2015 49
Hình 3.3 Tổng hợp tình hình dịch cúm gia cầm ở gà và vịt giai đoạn 2011 - 2015 52
Hình 3.4 Hiệu giá kháng thể của gà thả vườn sau tiêm phòng 54
Hình 3.5 Hiệu giá kháng thể của gà nuôi nhốt sau tiêm phòng 55
Hình 3.6 Hiệu giá kháng thể của vịt sau tiêm phòng 57
Hình 3.7 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccine cúm trên gà thả vườn 60
Hình 3.8 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccine cúm trên gà nuôi nhốt 62
Hình 3.9 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccine cúm trên vịt 64
Hình 3.10 So sánh tỷ lệ bảo hộ giữa 2 loại vaccine cúm trên gia cầm 66
Trang 11Bệnh Cúm gia cầm Avian influenza là một loại bệnh truyền nhiễm cấp
tính do virus cúm type A H5N1 thuộc họ Orthomyxovirideae gây ra cho các loài gia
cầm và có thể gây nhiễm một số loài động vật có vú trong đó có con người Bệnh có thể lây lan trực tiếp do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh hoặc gián tiếp qua phân, thức ăn, nước uống bị nhiễm hoặc qua dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, côn trùng (Alexander D.J., 2000; Tô Long Thành và cộng sự, 2008)
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, từ năm 2003 đến nay đã có 450 người tử vong do cúm gia cầm trong số 851 ca nhiễm H5N1 tại 16 nước, chủ yếu ở châu Á Ở Việt Nam, có 64 ca tử vong trong 127 người nhiễm kể từ năm2003 Từ đầu 2011 đến nay, Việt Nam có 05 bệnh nhân tử vong vì H5N1 trong tổng số 08 người mắc Năm 2015 đến nay không có người bị nhiễm cúm H5N1
Theo báo cáo của USAID ở nước ta tính từ 2003 đến nay đã hơn 300 dịch cúm gia cầm, USAID đã hỗ trợ cho Việt Nam trên 52 triệu USD cho công tác phòng chống dịch cúm gia cầm
Tại Bình Định, dịch cúm gia cầm xảy ra từ ngày 20 tháng 01 năm 2004, tại 80 thôn của 50 xã, phường thuộc 8 huyện, thành phố, với tổng số gia cầm tiêu hủy là 294.934 con và 117.747 quả trứng các loại Đầu năm 2005, Bình Định có xử lý tiêu hủy những đàn gia cầm dương tính kháng thể virus cúm subtype H5N1 theo chỉ đạo của Thủ Tướng Chính Phủ, với số lượng gia cầm là 31.915 con và 46.207 quả trứng vịt Đầu năm 2011, 2013 và 2014 Bình Định xử lý tiêu hủy số lượng gia cầm lần lượt
là 4.153 con, 4.300 con và 17.046 con ở những đàn dương tính kháng thể virus cúm subtype H5N1 (Chi cục thú y tỉnh Bình Định, 2014) Năm 2015 không xảy ra ổ dịch cúm gia cầm nào Mặc dù vậy, nhưng nguy cơ tiềm ẩn vẫn còn cao vì khả năng tiếp xúc với mầm bệnh ngoài môi trường (từ các loài chim hoang dã) rất lớn của gia cầm từ phương thức chăn nuôi vịt chạy đồng cũng như chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ không đảm bảo an toàn sinh học của người chăn nuôi (Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 2005)
Các biện pháp phòng chống dịch được áp dụng triệt để ngay từ đầu như tiêu hủy toàn bộ đàn gia cầm mắc bệnh; cấm buôn bán, vận chuyển gia cầm bệnh và gia cầm trong vùng có dịch; tiêu độc, khử trùng, tăng cường các biện pháp an toàn sinh
Trang 12học…đã góp phần khống chế các đợt dịch, song rất tốn kém, gây ô nhiễm môi trường
và không mang lại hiệu quả mong muốn trong điều kiện chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ như
ở Việt Nam Cho đến nay, bệnh cúm gia cầm chưa được khống chế hoàn toàn và vẫn tái phát lẻ tẻ ở nhiều địa phương trong cả nước Biện pháp chủ động và hữu hiệu để kiểm soát, ngăn chặn sự tái phát dịch cúm gia cầm chủng độc lực cao HPAI (High Pathogenic Avian Influenza) là thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi và tiêm phòng vaccine cúm cho đàn gia cầm Tuy nhiên, khả năng bảo hộ của gia cầm sau khi được tiêm phòng vaccine cúm có thể thay đổi bởi nhiều yếu tố như kỹ thuật tiêm phòng, giống, tuổi, phương thức chăn nuôi, quy mô chăn nuôi, hướng sản xuất, điều kiện vệ sinh thú y (Lê Văn Năm, 2004b)
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố nguy cơ làm phát sinh
và lây lan dịch bệnh và đánh giá đáp ứng miễn dịch của vaccine cúm A trên đàn gia cầm ở Bình Định để đưa ra cảnh báo và các biện pháp phòng, chống dịch cúm và tiến tới thanh toán dịch cúm gia cầm ở Bình Định
Xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài:“Tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn Tỉnh Bình Định giai đoạn
2011-2015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine H5N1”
2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài “Tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn Tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-2015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine H5N1” nhằm:
- Khảo sát tình hình dịch bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2011-2015 Việc xác định được các yếu tố nguy cơ đẫn đến dịch bệnh ở các hộ chăn nuôi là rất quan trọng, từ đó có các biện pháp phòng chống thích hợp nhằm kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả
- Xác định hiệu quả đáp ứng miễn dịch trên gia cầm thông qua kiểm tra kháng thể bảo hộ bằng phương pháp ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI sau khi được tiêm phòng vaccine cúm gia cầm Từ đó đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia cầm được tiêm phòng trên địa bàn nghiên cứu
- So sánh hiệu giá kháng thể sau khi tiêm giữa 2 loại vaccine cúm gia cầm tái tổ hợp H5N1chủng Re-6 và NAVET – VIFLUVAC chủng NIBRG-14
- Khuyến cáo việc sử dụng vaccine phòng bệnh cúm gia cầm cho các hộ chăn nuôi
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở thực tiễn và lý luận cho hiệu quả của chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, và có thể dùng làm tài liệu tham khảo, bổ sung thêm vào số liệu tình hình dịch bệnh cúm của tỉnh cũng như đánh giá hiệu quả của việc tiêm phòng trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
- Chứng minh hiệu quả của việc tiêm phòng vaccine cúm gia cầm Các kết quả thu được là cơ sở định hướng và xây dựng kế hoạch cho chương trình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm trong phạm vi cả nước
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm
Bệnh Cúm gia cầm Avian influenza là một loại bệnh truyền nhiễm cấp
tính do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxovirideae gây ra cho gà, vịt, ngan, ngỗng,
gà tây, chim cút, đà điểu, các loài chim cảnh và chim hoang dã; và nguy hiểm hơn bệnh có thể lây sang người và một số loài thú khác Virus được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến N9) Sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh
Trước đây bệnh được gọi là dịch tả gà (Fowl Plague), nhưng từ hội nghị lần thứ nhất về dịch cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (HPAI) để chỉ virus type A có độc lực mạnh, lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong cao (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004)
Dịch cúm gia cầm do virus cúm A subtype H5N1 thể độc lực cao xuất hiện ở vùng Quảng Đông, Trung Quốc năm 1996 và đã lan ra hơn 60 nước trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi, gây nhiều thiệt hại về kinh tế do gia cầm bị chết hoặc tiêu huỷ nhằm kiểm soát dịch, được chứng minh là có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Bệnh cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào cuối năm 2003, từ đó đến nay dịch bệnh xảy ra liên tục, đang là vấn đề dịch tễ phức tạp do xuất hiện nhiều phân dòng virus mới và là dịch bệnh cần phải giải quyết tại nước ta Virus cúm A/H5N1 đang lưu hành ở nhiều nước, thường xuyên gây bệnh cho gia cầm và người, là nguy cơ gây đại dịch trên toàn thế giới
1.1.1 Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm gia cầm Sau đó vào năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889,
1918, 1957, 1968 (Capua I & Marangon S., 2000) Năm 1918, đại dịch cúm xảy ra ở châu Âu do virus cúm type A/H1N1 gây ra, gọi là dịch cúm Tây Ban Nha, làm khoảng
20 - 40 triệu người chết Năm 1957, virus cúm type A/H2N2 xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc, gây ra bệnh cúm châu Á Năm 1968, virus cúm type A/H3N2 gây bệnh cúm ở Hồng Kông
Bệnh cúm gia cầm đầu tiên được mô tả như bệnh dịch tả gia cầm được Perroncito báo cáo vào năm 1878 ở Ý, đầu tiên bệnh bị nhầm lẫn với dạng nhiễm trùng
Trang 15huyết cấp tính của bệnh tụ huyết trùng gia cầm; cho đến năm 1880, Rivolto và Delprato đã phân biệt hai bệnh này dựa vào đặc điểm lâm sàng và bệnh lý học; đến năm 1901, Centanni và Savonuzzi đã chứng minh bệnh là do “virus có thể qua lọc” (filterable agent) gây ra, nhưng virus không được định danh là virus cúm.; phải đến năm 1995 Schafet mới xác định được virus đó chính là virus thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc
Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004)
Đầu thế kỷ 20, bệnh cúm gia cầm độc lực cao được báo cáo ở Thụy Sĩ, Nga, Hà Lan, Hungary, Anh, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật, Brazin và Argentina
Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập vào đàn gà Cuối thập kỷ 60 phân type H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch gà tây với những biểu hiện đặc trưng là triệu trứng ở đường hô hấp và giảm đẻ Mối liên hệ giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên
về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu về phân type H1N1 đều cho rằng virus cúm type A đã ở lợn và đã truyền lây cho gà tây Ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn Một số chủng virus cúm type A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú (CDC, 2004)
Việc lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm
1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Năm 1971, Bệnh cũng được Beard C.W mô tả tương đối kỹ qua đợt dịch cúm khá lớn trên gà tây
ở Mỹ (Biswas S.K và Nayak D.P., 1996) Những năm tiếp theo dịch cúm gia cầm xẩy ra ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới như: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Viễn Đông, Trung Đông, Châu Âu, Anh và Liên Xô cũ
Những công trình nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công bố tại các nước: ở Úc năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983-1984 Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi trên thế giới và thấy bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh thể độc lực cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983-1984 là H5N2 (Capua
I & Marangon S., 2000)
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm
1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005c)
Dịch cúm gia cầm bùng nổ liên tục khắp các châu lục trên thế giới đã thúc đẩy các hiệp hội chăn nuôi gia cầm và các nhà khoa học tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề
Trang 16về bệnh Từ đó đến nay, trong các Hội thảo về dịch tễ, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng Điều này cho thấy bệnh cúm gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu Càng đặc biệt nguy hiểm hơn khi virus cúm gia cầm “vượt hàng rào về loài”, thích nghi gây bệnh ở người với tỷ lệ tử vong rất cao (Mary J Pantin Jack Wood
2008)
* Từ năm 2003 đến năm 2005: có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch
cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005a)
- Hàn Quốc: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/12/2003 đến 24/3/2004 với gần 400 nghìn gia cầm tiêu hủy và một ổ dịch cúm gia cầm H5N2 kết thúc ngày 10/12/2004
- Nhật Bản: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/01/2004, đã tiêu hủy hơn 275 nghìn con gà, ổ dịch cuối cùng xảy ra ngày 05/5/2004
- Thái Lan: ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được xác định vào ngày 23/01/2004 ở tỉnh Chiang Mai Đợt thứ nhất có 190 ổ dịch ở 89 huyện thuộc 42 tỉnh; tiêu hủy khoảng 30 triệu gia cầm Đợt dịch thứ 2 phát lại từ 03/7/2004 đến 14/02/2005
có 1.552 điểm phát dịch tại 777 xã của 264 huyện thuộc 51 tỉnh Số gia cầm tiêu hủy là hơn 850 nghìn con gà, hơn 687 nghìn con vịt và khoảng 274 nghìn gia cầm khác
- Campuchia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 24/01/2004
- Lào: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 27/01/2004 đến ngày 13/02/2004
ở 3 tỉnh, đã tiêu hủy hơn 155 nghìn con gà
- Indonesia: dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện vào tháng 01/2004, đến tháng 11/2004 đã có 101 huyện thuộc 16 tỉnh có dịch Ngày 23/3/2005 dịch tiếp tục lây lan ở nam đảo Sulawesi làm khoảng 128 ngàn con gà ở 4 tỉnh mắc bệnh, trong đó ổ dịch lớn nhất ở tỉnh Sidrap làm 101.400 con gà mắc bệnh Tính từ khi có dịch đến nay đã có 16,23 triệu gia cầm bị chết, trong đó có 8,17 triệu con ở trung tâm đảo Java (Indonesia không thực hiện chính sách tiêu hủy đàn mắc bệnh)
- Trung Quốc: ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được phát hiện vào ngày 27/01/2004 ở tỉnh Quảng Tây, sau đó lan ra 15 tỉnh khác đặc biệt các tỉnh có biên giới với Việt Nam đều có dịch Từ ngày 28/7/2004, Trung Quốc không phát hiện thêm ổ dịch mới Số gia cầm tiêu hủy là hơn 5,6 triệu con gà; hơn 1,7 triệu con vịt, 16 nghìn chim cút và các loại chim khác
- Malaysia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 19/8/2004 đến ngày 22/11/2004 ở tỉnh Kalantan, số gia cầm tiêu hủy hơn 18 nghìn con
Trang 17- Hồng Kông: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 26/01/2004 đến ngày 10/02/2005
Ngoài các ổ dịch do virus cúm A/H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm do các chủng virus cúm khác là: Đài Loan xảy ra dịch cúm gia cầm H5N2 từ 20/01/2004 đến 05/3/2004 Pakistanxảy ra dịch cúm do H7N3
và H9N2 trên gà tây từ tháng 11/2003 đến tháng 3/2004, số gia cầm chết và tiêu hủy là 1,7 triệu con Canada xảy ra 2 ổ dịch cúm gia cầm H7N3 (LPAI) trên gà vào các ngày 19/02/2004 và 09/3/2004, ca bệnh cuối cùng được ghi nhận vào ngày 20/4/2004 Hoa
Kỳ xảy ra 01 ổ dịch cúm gia cầm H7N2 (LPAI) duy nhất trên gà vào ngày 11/02/2004 tại bang Delaware Nam Phi xảy ra 01 ổ dịch cúm H6 trên gà công nghiệp, kết thúc ngày 25/3/2004; 01 ổ dịch do H5N2 ngày 06/8/2004 trên đà điểu, kết thúc vào đầu tháng 12/2004 Ai cập đã phát hiện 01 ổ dịch H1N7 trên vịt hoang dã trong năm 2004 Triều Tiênxảy ra dịch cúm gia cầm H7N3 ở Bình Nhưỡng từ ngày 25/02 đến ngày 26/3/2005, đã tiêu hủy khoảng 219 nghìn gà ở 3 trại trong vòng bán kính 5km
Bên cạnh đó, vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng nghìn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm, tuy nhiên không có báo cáo xác định bệnh cúm xảy ra
* Năm 2007: có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới báo cáo xuất hiện
dịch cúm gia cầm do virus cúm A/H5N1, đặc biệt là tại Indonesia, dịch cúm gia cầm xảy ra kéo dài và tại một số quốc gia Châu Phi - nơi được cho là virus cúm gia cầm có nguy cơ biến đổi cũng đã phát dịch Các nước khác trong khu vực như: Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan cũng đã tái phát dịch Các quốc gia khác có ngành chăn nuôi tiên tiến như Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia ở Châu Âu như Nga, Hungari, Rumani, Anh, cũng ghi nhận có các ổ dịch trên gia cầm
* Năm 2008: dịch cúm gia cầm phát ra tại 22 quốc gia và vùng lãnh thổ bao
gồm Israel, Ả-rập Saudi, Thụy Sỹ, Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên bang Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Pakistan, Nigeria, Bangladesh, Togo, Hồng Kông, Ai-cập, Đức, Indonesia, Lào, Thái Lan và Việt Nam
* Năm 2010: dịch cúm trên gia cầm phát ra tại các quốc gia và vùng lãnh thổ
bao gồm Bangladesh, Bhutan, Bungari, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Rumani, Nga, Tây Ban Nha và Việt Nam
* Năm 2011: dịch cúm trên gia cầm phát ra tại các quốc gia và vùng lãnh thổ
bao gồm Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Israel, Nhật Bản, Mông Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Hy Lạp, Hồng Kông và Việt Nam
* Năm 2012: dịch cúm gia cầm xảy ra tại Úc (H7N7), Bangladesh, Nepal,
Bhutan, Campuchia, Trung Quốc (H5N1), Đài Loan(H5N1, H5N2), Hồng Kông
Trang 18(H5N1), Ấn Độ, Iran, Israel, Mexico (H7N3), Myanmar, Nam Phi (H5N2) và Việt Nam (H5N1)
* Năm 2013: dịch cúm gia cầm xảy ra tại Úc (H7N7, H7N2), Bangladesh,
Bhutan, Nepal, Campuchia, Trung Quốc (H5N1), Đài Loan (H5N2), Hồng Kông (H5N1), Ấn Độ, Ý (H7N7), Triều Tiên, Mexico (H7N3), Nam Phi (H5N2) và Việt Nam (H5N1)
* Năm 2014: dịch cúm gia cầm xảy ra tại Úc (H7N7), Campuchia, Lybia, Nepal
(H5N1),Canada (H5N2), Trung Quốc (H5N1, H5N2, H5N3, H5N6, H5N8), Đài Loan (H5N2), Đức, Ý, Nhật, Anh (H5N8), Ấn Độ (H5N1), Triều Tiên (H5N1), Hàn Quốc, Netherlands (H5N8), Lào (H5N6), Mexico (H7N3), Nga (H5N1, H5N8), Mỹ (H5N2, H5N8) và Việt Nam (H5N1, H5N6)
* Năm 2015: dịch cúm gia cầm xảy ra tại Bhutan, Burkina Faso, Bungari,
Campuchia, Côte d’Ivoire, Ghana, Ấn Độ, Iran, Israel, Kazakhstan, Lybia, Myanmar, Niger, Nigeria, Romania, Thổ Nhĩ Kỳ (H5N1), Canada, Mỹ (H5N1, H5N2, H5N8), Trung Quốc (H5N1, H5N2, H5N6), Đài Loan (H5N2, H5N3, H5N8), Pháp (H5N1, H5N2, H5N9), Đức, Anh (H5N8, H7N7), Hồng Kông, Lào (H5N6), Hungary, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Netherands, Thụy Sĩ (H5N8), Mexico (H7N3), Palestinian Auton Territories (H5N1, H5), Nga (H5N1, H5N8) và Việt Nam (H5N1, H5N6)
* Năm 2016 (cập nhật đến 30/6/2016): dịch cúm gia cầm xảy ra tại Bangladesh,
Burkina Faso, Campuchia, Cameroon, Côte d’Ivoire, Ghana, Ấn Độ, Iraq, Lebanon, Myanmar, Niger, Nigeria(H5N1), Canada (H5N8), Trung Quốc (H5N1, H5N2, H5N6), Đài Loan (H5N2, H5N3, H5N8), Pháp (H5N1, H5N2, H5N9), Hồng Kông (H5N6), Ý (H7N7), Hàn Quốc (H5N8), Mexico (H7N3), Palestinian Auton Territories (H5), Nga (H5), Mỹ (H7N8) và Việt Nam (H5N1, H5N6)
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, kể từ năm 2003 đến nay có 851 người nhiễm bệnh tại 16 quốc gia, trong đó 450 người đã tử vong, gồm: Azerbaijan (5 người chết/8 người nhiễm), Bangladesh (1/8), Campuchia (37/56), Canada (1/1), Trung Quốc (31/53), Djibouti (0/1), Ai Cập (117/351), Indonesia (167/199), Iraq (2/3), Lào (2/2), Myanmar (0/1), Nigeria (1/1), Pakistan (1/3), Thái Lan (17/25), Thổ Nhĩ Kỳ (4/12) và Việt Nam (64/127)
1.1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Từ cuối năm 2003 đến nay đã có 5 đợt dịch lớn bùng phát tại Việt Nam
- Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004: lần đầu tiên tại nước ta
dịch cúm gia cầm được phát hiện vào cuối tháng 12 năm 2003 ở tỉnh Hà Tây (cũ), Long An và Tiền Giang Dịch lây lan rất nhanh, chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày 27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6% số xã, phường), 381 huyện, quận, thị xã (60%) thuộc 57 tỉnh, thành phố Các tỉnh xảy ra dịch nặng là Long
Trang 19An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hà Tây (cũ), Hải Dương Tổng số gà và thủy cầm mắc bệnh chết, tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,8% tổng đàn, trong đó gà 30,4 triệu con, thủy cầm 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loài chim khác bị chết và buộc phải tiêu hủy Ba người nhiễm H5N1 xác định đã tử vong
- Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11/2004: trong giai đoạn này, dịch phát
ra rải rác với quy mô nhỏ ở các hộ gia đình chăn nuôi gia cầm; dịch bệnh xuất hiện ở
46 xã, phường tại 32 huyện, quận, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm chết và phải tiêu hủy trong giai đoạn này là 84.078 con, trong đó 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút Có 27 người mắc bệnh và 9 ca tử vong
- Đợt dịch thứ ba từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: trong khoảng thời gian
này dịch đã xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Số gia cầm chết và tiêu hủy là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan
và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, những tỉnh bị dịch nặng là Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu và Đồng Tháp
- Đợt dịch thứ 4 từ tháng 10/2005 đến tháng 01/2006: dịch xảy ra ở cả 3 miền
với 24 tỉnh, thành phố tái phát Trong đó miền Nam có 3 tỉnh (Bạc Liêu, Đồng Tháp, Long An), miền Trung có 3 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị) và 18 tỉnh, thành phố miền Bắc (HàNội, Bắc Giang, Hòa Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Sơn La, Quảng Ninh, Yên Bái, Thái Nguyên, Ninh Bình, Cao Bằng và Hà Giang) Tổng số gia cầm chết, tiêu hủy là 3.972.763 con, trong đó 1.338.378 gà, 2.135.081 thủy cầm và loài khác
- Năm 2006: ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt
của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007 Tổng số gia cầm mắc, chết và tiêu hủy là 236.582 con Dịch không tập trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và chia thành nhiều đợt
- Năm 2007: từ tháng 12/2006 và năm 2007, toàn quốc có 283 xã, phường thuộc
115 huyện quận của 33 tỉnh, thành phố (18 tỉnh miền Bắc, 10 tỉnh miền Nam, 5 tỉnh miền Trung) có tái phát các ổ dịch cúm Dịch chủ yếu tập trung vào 2 đợt chính (đợt 1
từ 06/12/2006 - 07/3/2007 và đợt 2 từ 01/5/2007 - 23/8/2007) Tổng số gia cầm bệnh, chết và tiêu hủy là 314.268 con, trong đó gà chiếm 16,68%, vịt chiếm 80,82% và ngan chiếm 2,50% Các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên đàn vịt trước, sau đó lây nhiễm cho đàn
gà Theo ghi nhận ban đầu, các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên vịt nhỏ, dưới 3 tháng tuổi, chưa được tiêm phòng vaccine cúm Một số đàn mới tiêm nhưng chưa đủ thời gian
Trang 20sinh kháng thể bảo hộ Các ổ dịch xảy ra trên đàn gia cầm chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ (quy mô dưới 500 con là phổ biến) tại các hộ gia đình
- Năm 2008: dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị
xã của 27 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.508 con (gồm 40.525 gà, 61.027 vịt và 4.506 ngan) Chỉ xuất hiện ở các đàn gia cầm quy mô 100-2000 con, không tiêm phòng vaccine hoặc mới tiêm 1 mũi
- Năm 2009: cả nước đã có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35 huyện,
thị xã thuộc 18 tỉnh, thành phố phát dịch cúm gia cầm là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hà Nội, Vĩnh Long và Cao Bằng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 105.601 con, trong
đó gà 23.733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79.138 con (chiếm 74,94 %) và ngan 2.690 con (chiếm 2,55 %)
Dịch chỉ xuất hiện rải rác, nhỏ lẻ, phân bố ở nhiều tỉnh trong các khoảng thời gian khác nhau Các ổ dịch xuất hiện thường được địa phương bao vây, xử lý ngay nên các ổ dịch đều xảy ra trong phạm vi hẹp, hầu như không có hiện tượng lây lan diện rộng
- Năm 2010: dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 64 xã, phường của 38 huyện, quận
thuộc 23 tỉnh, thành phố là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bến Tre, Cà Mau, Đắc Lắc, Điện Biên, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Kon Tum, Lạng Sơn, Nam Định, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Tuyên Quang và Thái Nguyên Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 147.399 con, trong đó gà là 43.068 con (chiếm 29,2%), vịt là 102.363 con (chiếm 69,5%) và ngan là 1.968 con (chiếm 1,3%)
- Năm 2011: dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 82 xã, 43 huyện, quận thuộc 22 tỉnh,
thành phố là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Cà Mau, Đắc Lắc, Hà Nam, Kon Tum, Lạng Sơn, Long An, Nam Định, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Thái Nguyên, Tiền Giang, Hải Phòng, Vĩnh Long,Vĩnh Phúc Tổng số gia cầm mắc bệnh là 110.311 con gia cầm trong đó có 39,126 con gà, 70,020 con vịt và 1.165 ngan con; tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 151.356 con gia cầm trong đó 60,787 con gà, 89,204 con vịt và 1,365 con ngan
- Năm 2012: dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 296 xã, 121 huyện, quận thuộc 32
tỉnh, thành phố là Bắc Kạn, Bắc Giang, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Đắc Lắc, Điện Biên, Đồng Tháp, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quãng Nam, Quãng Ninh, Quãng Ngãi, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tiền Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Hà Nội và Hải Phòng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 616.109 con gia cầm trong đó 117.946 con gà (chiếm 19,14%), 479.859 con vịt (chiếm 77,89 %) và 18.304 con ngan (chiếm 2,97%)
Trang 21- Năm 2013: dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 104 xã, 64 huyện, quận thuộc 31
tỉnh, thành phố (Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bình Dương, Bình Định, Bình Phước, Cà Mau, Đắc Lắc, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hậu Giang, Hòa Bình, Hưng Yên, Kiên Giang, Kon Tum, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Long An, Nam Định, Ninh Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Quảng Ninh, Quãng Ngãi, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hải Phòng) làm 123.363 con gia cầm mắc bệnh (gà chiếm 17,3%, vịt, ngan chiếm 82,7%); tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 141.687 con (trong đó gà chiếm 23,5%, vịt, ngan là 76,5%) Ngoài ra, phát hiện một số ổ dịch trên chim Trĩ và chim Cút (Tiền Giang) và 01 ổ dịch trên chim Yến (Ninh Thuận) Một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ nhưng đã được tiêu hủy ngay và xử lý triệt để
- Năm 2014: dịch cúm gia cầm H5N1 tại 155 xã, phường của 90 huyện, thị xã
thuộc 36 tỉnh, thành phố (Hoà Bình, Quảng Ngãi, Bắc Ninh, Nam Định, Khánh Hoà, Tây Ninh, Gia Lai, Lào Cai, Cà Mau, Hải Dương, Kon Tum, Long An, Hưng Yên, Đắc Lắc, Bình Dương, Phú Yên, Ninh Thuận, Cần Thơ, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Nghệ
An, Quảng Bình, Đồng Nai, Quảng Trị, Hà Giang, Bình Thuận, Thanh Hóa, Phú Thọ, Lạng Sơn, Trà Vinh, Bình Định, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Vĩnh Long) Số gia cầm mắc bệnh là 141.546 con; trong đó số chết là 47.262 con và tiêu hủy 94.284 con Ngoài ra, một số địa phương có xuất hiện các điểm dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được phát hiện, xử lý kịp thời, không
để dịch lây lan; một số địa phương khác cũng tổ chức tiêu hủy những đàn gia cầm nhỏ
lẻ, nghi nhiễm bệnh ở khu vực xung quanh ổ dịch để ngăn ngừa dịch lây lan
- Năm 2015: dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 41 xã, 37 huyện, quận thuộc 21 tỉnh,
thành phố (Vĩnh Long, Trà vinh, Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, Đắc Lắc, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam, Đắc Nông, Quãng Ngãi, Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Kon tum, Lào Cai, Lai Châu, Nam Định, Quãng ninh, Sơn La, Quãng Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu) làm 107.930 con gia cầm mắc bệnh; tổng số gia cầm chết là 19.291 và tiêu hủy là 88.639 con
- Năm 2016 (đến 30/6/2016): dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 21 xã, 17 huyện,
quận thuộc 14 tỉnh, thành phố (Lào cai, Quãng Ngãi, Lai Châu, Nam Định, Thái Bình, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Quãng Ngãi, Sơn La, Nghệ An, Quãng Nam, Quảng Ninh, Lạng Sơn, KonTum) làm 86.214 con gia cầm mắc bệnh; tổng số gia cầm chết là 12.091 và tiêu hủy là 74.123 con (Tổ chức Thú Y thế giới OIE)
1.2 Đặc điểm sinh học của virus cúm type A
1.2.1 Đặc điểm về hình thái và cấu trúc của virus
Virus cúm A (còn gọi là virus cúm gia cầm, virus cúm gà) có tên khoa học là
Avian Influenza (AI), thuộc họ Orthomyxoviridae Cùng với virus cúm A thuộc họ
Trang 22Orthomyxoviridae còn có 3 nhóm (type) virus khác là: Virus cúm type B chỉ gây bệnh
cho người, virus cúm type C gây bệnh cho người và lợn, virus nhóm Thogoto virus
Đặc tính cấu trúc chung của 4 nhóm virus trong họ Orthomyxoviridae là hệ
gene chứa acid ribonucleic (RNA) một sợi có cấu trúc là sợi âm Tùy loại virus, sợi RNA âm có độ dài từ 10.000 - 15.000 nucleotid Mặc dù được nối với nhau tạo thành một sợi RNA liên tục nhưng thực tế hệ gene của virus lại được phân chia thành 6 - 8 phân đoạn (segment), trong đó mỗi phân đoạn là một gene chịu trách nhiệm mã hóa cho một protein của virus
Khác với các nhóm virus trong họ, virus cúm type A có nhiều biến chủng khác nhau và khả năng thích ứng rộng rãi trên nhiều loại vật chủ, tính kháng nguyên luôn biến đổi, nhờ sự sắp xếp tái tổ hợp các phân đoạn gene nên cúm type A được coi là
nhóm virus nguy hiểm nhất trong họ Orthomyxoviridae Trong lịch sử chính những
virus cúm type A là nguyên nhân gây nên những đợt dịch cúm kinh hoàng ở người và
gia cầm (Luong G và Palese P, 1992)
Các hạt virus cúm A (virion) có hình cầu hoặc hình khối đa diện, đường kính 80-120 nm, đôi khi có dạng hình sợi, khối lượng phân tử khoảng 250 triệu Da Thành phần hóa học: một virion chứa khoảng 0,8-1,1% RNA; 70-75% là protein; 20-24% lipid và 5-8% là carbonhydrate Hạt virus có cấu tạo đơn giản gồm vỏ (capsid), vỏ bọc ngoài (envelope) và lõi là RNA sợi đơn âm (negative single strand) (Muphy B.R và R.G Webter, 1996)
Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền RNA của virus, cấu tạo là màng lipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hóa gắn các protein màng của virus Trên bề mặt có khoảng 500 “gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10-14 nm có đường kính 4-6 nm, đó là những kháng nguyên bề mặt vỏ virus, cấu tạo là glycoprotein gồm: HA, NA, MA (matrix) và các dấu
ấn khác của virus Có sự phân bố không đồng đều giữa các phân tử NA và HA (tỉ lệ khoảng 1NA/4HA), đây là hai loại protein kháng nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus ở tế bào cảm nhiễm Vật chất di truyền của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (viết tắt là (-) ssRNA), gồm 8 phân đoạn riêng biệt (HA, NA, M, NS,
NP, PA, PB1 và PB2) nối với nhau thành một sợi duy nhất bên trong vỏ virus, mã hóa cho 11 protein tương ứng của virus, trong đó phân đoạn M mã hóa cho 2 protein là M1
và M2; phân đoạn NS mã hóa cho 2 protein là NS và NEP, phân đoạn PB1 mã hóa cho
2 protein là PB1 và PB1-F2 (Horimoto T và Kawaoka Y, 2001)
Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzyme trong phức hợp polymerase (RNA transcriptase) của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao, bao gồm:
Trang 23- Phân đoạn 1 (gene PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 84.103 Da (trên thực tế là 87.103 Da) Tính thích nghi nhiệt độ
cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí amino acid 627 ở protein PB2 (ở virus cúm gia cầm vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng
400C, còn ở virus thích nghi trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 370C) (Luong G và Palese P, 1992)
- Phân đoạn 2 (gene PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp enzyme PB1 - tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzym polymerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA (Murphy, Webster, 1996) Gần đây, đã có phát hiện thêm một protein (PB1-F2) được mã hóa bởi một khung đọc mở khác của PB1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis (hiện tượng tế bào chết theo chương trình)
- Phân đoạn 3 (gene PA) có kích thước 2233 bp, là phân đoạn gene bảo tồn cao,
mã hóa tổng hợp protein enzyme PA có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 83.103 Da (trên thực tế là 96.103 Da) PA là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp RNA của virus (Bosch F.X
và cộng sự, 1979)
- Phân đoạn 4 (gene HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm A (ở A/H1N1 là 1778 bp, ở H9N1 là 1714 bp, ở H5N1 là khoảng 1704-1707 bp) Đây là gene chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp protein HA - kháng nguyên bề mặt virus cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2 Vùng nối giữa HA1 và HA2 gồm một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt của enzym protease, và đây là vùng quyết định độc lực của virus Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 63.103 Da (nếu không được glycosyl hóa) và 77.103 Da (nếu được glycosyl hóa, trong đó HA1 là 48.103 Da và HA2 là 29.103 Da) (Buckle White
và B.R Muphy, 1998)
Mô típ của chuỗi nối oligopeptid chứa một số acid amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại subtype H Sự biến đổi thành phần của chuỗi nối sẽ quyết định độc lực của biến chủng virus mới (Horimoto T và Kawaoka Y, 2001)
- Phân đoạn 5 mã hóa cho protein NP (Capua I và Cattoli G., 2007)
- Phân đoạn 6 (gene NA) là một gene kháng nguyên của virus, có chiều dài thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi khoảng
từ 1350-1410 bp) Đây là gene mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 50.103 Da (trên thực tế
là 50-60.103 Da) Các nghiên cứu phân tử gene NA của virus cúm cho thấy phần đầu
Trang 245’- của gene này (hay phần tận cùng N của polypeptide NA) có tính biến đổi cao và phức tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến quá trình thích ứng và gây bệnh của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau Đặc trưng biến đổi của gene NA trong virus cúm A là hiện tượng đột biến trượt-xóa một đoạn gen là
57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho độ dài vốn có trước đây của NA(N1) là 1410 bp còn 1350 bp (Castrucci M R và Y.Kawaoka, 1993)
- Phân đoạn 7 mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (matrix protein) M1 và M2 trong đó M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+, giúp cởi bỏ vỏ protein virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm, M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy chồi của virus (Horimoto T và Kawaoka Y, 1995)
- Phân đoạn 8, với độ dài tương đối ổn định sẽ mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có các chức năng: chuyển RNA từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interferon (CDC, 2004) Về danh pháp, nhóm virus cúm A được phân chia thành nhiều phân type (subtype), các phân type này được phân biệt bởi sự khác nhau ở các đặc tính kháng nguyên bề mặt (NA và HA), cho đáp ứng miễn dịch khác nhau giữa các chủng virus ở cơ thể bị nhiễm Có 16 phân type HA và 9 phân type NA đã được phát hiện, sự tổ hợp giữa các phân type này, về lí thuyết, có thể tạo ra hơn 254 biến chủng khác nhau, trừ chủng ban đầu Hiện nay, dữ liệu gene và hệ gene của virus cúm A có thể được tìm thấy trong Ngân hàng gene, tại Mạng lưới chuyên gia cúm gia cầm của Tố chức Nông lương thế giới (FAO) và Tổ chức Thú y thế giới (OIE); và tại trang web của Trung tâm dữ liệu các gene virus cúm Tổ chức Y
tế thế giới (WHO) đã quy định thống nhất danh pháp theo thứ tự kí hiệu: Tên serotype
- Loài động vật bị nhiễm - Vùng địa lí phân lập - Số hiệu đăng kí chủng virus - Thời gian phân lập - Loại hình phân type [HA(H) và NA(N)]; ví dụ: A/Chicken/Vietnam/ HG4/2005(H5N1) Đối với các virus được phân lập trên người bệnh, thì không cần ghi loài mắc trong danh pháp, ví dụ: A/Vietnam/1194/2004(H5N1) (Suares D L và cộng
sự, 1998)
Khi nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc hệ gene virus cúm type A, tất cả các thành viên của nhóm virus cúm A đều có hệ gene là RNA một sợi có độ dài 13.500 nucleotid chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mang mật mã cho 10 loại protein khác nhau của virus,
8 phân đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di (Muphy B.R và Webter R.G, 1996) Cấu trúc virus cúm A/H5N1 được minh họa bằng Hình 1.1 sau:
Trang 25Hình 1.1 Cấu trúc virus cúm A/H5N1 (Nguồn: www.aht.org.uk) 1.2.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm type A
Yếu tố ngưng kết hồng cầu (Haemagglutinin viết tắt là HA hoặc H) và enzym trung hoà (Neuraminidase, viết tắt là NA hoặc N) là những kháng nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ Có tất cả 16 biến thể HA (ký hiệu từ H1 đến H16)
và 9 biến thể NA (ký hiệu từ N1 đến N9) Hemagglutinin được coi là yếu tố vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus cúm A (Trần Xuân Hạnh, 2004) Mỗi một hợp thể kháng nguyên HA và NA tạo nên một subtype Về huyết thanh học, giữa các subtype không hoặc rất ít có phản ứng chéo Đây là trở ngại cho việc nghiên cứu vaccine phòng bệnh
Kháng nguyên của virus cúm diễn biến hết sức phức tạp do hiện tượng tái tổ hợp các thành phần cấu trúc của chủng này với chủng khác hoặc biến đổi từ chủng vô độc thành chủng có độc lực cao hơn và gây bệnh Sự đột biến của từng thành phần và loại hình kháng nguyên trong từng chủng virus cúm cũng góp phần tạo nên cấu trúc kháng nguyên mới, tạo các loại biến chủng mới với các đặc tính gây bệnh mới
Các loại protein kháng nguyên: protein nhân (NP), protein đệm (matrix protein
- M1), protein HA, protein enzyme cắt thụ thể (NA) là những protein kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất
Một trong đặc tính kháng nguyên quan trọng của virus cúm là khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật mà thực chất là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus với thụ thể có trên bền mặt hồng cầu làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo mạng ngưng kết qua các cầu nối virus Từ đặc tính
Trang 26kháng nguyên này có thể sử dụng các phản ứng ngưng kết hồng cầu HA và ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI trong chẩn đoán cúm gia cầm
Sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên mà virus cúm có được là do sự biến
đổi và trao đổi kháng nguyên trong nội bộ gene và giữa gene hemagglutinin (HA) và gene neutraminidase (NA) (Ito.T và Kawaoka, 1998)
Sự biến đổi chính nội bộ gene hay đột biến ngẫu nhiên (Drift) mà bản chất là sự thay đổi nucleotid trong đoạn gene là biến dị xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus cúm Chính nhờ sự biến đổi này cho phép virus cúm A tạo nên
15 biến thể gene HA (H1 đến H15) và 9 biến thể gene NA (N1 đến N9)
Cũng nhờ hiện tượng Drift của virus cúm có thể lý giải được không phải các H1, H5 hoặc N1, N2 đều giống nhau Sự khác nhau trong chính các H hay N do biến dị ngẫu nhiên tạo nên tính thích ứng với từng loài vật chủ khác nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau ở mỗi loại hình tái tổ hợp HA và NA (Suares D L và cộng sự, 1998)
Bên cạnh hiện tượng Drift, sự biến đổi hệ gene của virus cúm A còn được diễn
ra nhờ hiện tượng tái tổ hợp gene - Shift ít xảy ra hơn, hiện tượng này chỉ xảy ra khi hai hay nhiều virus cúm cùng nhiễm vào tế bào Tuy nhiên chỉ xuất hiện với tần suất rất thấp nhưng khi hiện tượng tái tổ hợp gene xảy ra sẽ gây ra dịch lớn cho người và động vật, với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Hiện tượng Shift ở virus cúm A cho thấy nguy cơ của sự lưu hành đồng thời nhiều loại virus cúm với số lượng lớn trong cùng một không gian và thời gian kéo dài
Một điều không thể không nói đến trong nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm là giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Vì thế đặc điểm này sẽ gây một trở ngại lớn cho các nghiên cứu nhằm tạo ra vaccine cúm cho người và động vật (Kawaoka Y, 1991; Very M và cộng sự, 1992)
Về mặt lý thuyết, khi xâm nhập vào cơ thể động vật, virus cúm A tạo nên sự hình thành của các kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng
HA, chỉ có loại kháng thể này mới có thể trung hòa virus cho bảo hộ miễn dịch Một
số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus: kháng thể kháng NA có tác dụng ngăn cản giải phóng virus, kháng thể kháng M2 có tác dụng ngăn cản chức năng protein M2 không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu X và cộng sự, 1999; Seo S 2001)
1.2.3 Thành phần hóa học của virus
Thành phần hoá học của virus cúm gia cầm đã được các nhà khoa học nghiên cứu rất kỹ, bao gồm: RNA của virus chiếm 0,8-1,1%, hydratcacbon chiếm 5-8%, lipid
Trang 27chiếm 20-24%, protein chiếm 70-75% Protein cấu tạo virus chủ yếu là glycoprotein, còn lipid tập trung chủ yếu ở màng virus là loại lipid có gốc phospho, số còn lại là cholesterol và glucolipid (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Cúm gia cầm, 2005)
1.2.4 Quá trình nhân lên của virus
- Khi cơ thể của động vật hoặc con người hít hay ăn phải các chất có chứa virus, ngay lập tức virus đời bố mẹ sẽ bám vào niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hoá, nhờ chúng có kháng nguyên H và N Kháng nguyên H giúp cho virus bám vào lớp màng nhầy của niêm mạc còn kháng nguyên N có khả năng làm tan lớp màng nhầy Sau đó, virus bám vào màng tế bào và sau đó “chui” qua màng đi vào trong tế bào vật chủ Bộ gen của virus được “cởi vỏ” và thoát ra khỏi vỏ bọc trở nên tự do để hoạt động Khi virus cúm di chuyển được qua màng tế bào, tại đây chúng lợi dụng hệ thống tổng hợp protein của tế bào để tổng hợp nên bộ gen của chúng
- Sự sao chép của virus đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và mô tả khá chi tiết, Fenner và các đồng sự (1998) đã mô tả tóm tắt virus hấp thụ đối với các thụ cảm quan glycoprotein có chứa acid sialic trên bề mặt tế bào, sau đó virus xâm nhập vào tế bào qua receptor mediate endocytocin, nó bao gồm các exposure với nồng độ
PH thấp trong endosome, dẫn đến sự thay đổi trong HA, là sự kết hợp màng trung gian Vì vậy nucleocapsid đi vào trong nguyên sinh chất và di chuyển vào trong nhân Virus cúm dùng cơ chế đơn chất để sao chép trong đó một loại men nội nhân (Viral endonuclease) tách từ đầu 5’ của mARNs tế bào và dùng nó như một cái mồi để sao chép nhờ sự vận chuyển virus Sáu monocistronic mARNs được tạo ra và dịch chuyển thành: HA, NA, NP và ba men polymerases: PB1, PB2, PA Các mARN đối với các gen NS và M được nối với mỗi sản lượng hai mARNs, được dịch trong những khung đọc khác nhau và tạo ra các protein: NS1, NS2, M1, M2, HA, NA, được đường hóa trong mạng lưới võng mạc nội mô và được điều chỉnh trong tiểu thể Golgi, rồi chuyển tới bề mặt tế bào và bắt đầu hình thành virion Một yếu tố quan trọng đối với HA là việc phân ra nhờ men protease của tế bào chủ vào HA1, HA2, mà chúng vẫn gắn kết được nhờ những mối liên kết disulfide, việc phân cắt ra là yêu cầu đối với việc sản suất các virus bị nhiễm sau khi sản xuất và ghép các protein virus và ARN, virus có thể tồn tại trong tế bào là nhờ sự nảy chồi từ màng plasma Mặc dù chưa rõ virus diệt
tế bào cúm như thế nào, nhưng những nghiên cứu gần đây đã cho thấy mô tế bào nuôi cấy bị nhiễm virus trải qua apotosis (quá trình chết theo sinh lý bình thường của tế bào
cơ thể) đã bị đảo lộn, bị phá và lập trình, apotosis trong cúm cũng đã được xác định (Sims L.D., 2003; Schultz-Cherry, 2007)
Như vậy quá trình nhân của virus kết thúc với kết quả từ một hạt virus bố mẹ sẽ
có hàng trăm, hàng ngàn virus đời con được tạo ra Tuy nhiên, người ta đã tính toán rằng, trong quá trình lắp ráp tạo thành hạt virus, hiệu quả của quá trình lắp ráp không
Trang 28cần nhiều năng lượng chỉ vào khoảng 30%, nghĩa là chỉ 30% số lượng virus đời con là những hạt virion hoàn chỉnh có khả năng gây nhiễm, còn lại các virus ở dạng thiếu khuyết
1.2.5 Độc lực của virus
Độc lực của các chủng virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của enzym protease vật chủ đến sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của enzym protease lại phụ thuộc vào số lượng các acid amin kiềm tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzym giống trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử arginin, trong khi đó các enzym protease khác lại cần nhiều acid amin kiềm, vì thế đánh giá độc lực của virus trên cơ sở gây nhiễm cho gia cầm và sau đó phân tích sự sắp xếp các acid amin của các virus (Ilaria capua, 2004)
Để giám định độc lực của virus bên cạnh một số phân tích khác, việc phân tích được trình tự nucleotid của gene HA có vai trò cực kỳ quan trọng
Về lâm sàng, căn cứ vào khả năng gây bệnh, độc lực của virus cúm được chia làm 2 loại: loại có độc lực cao - HPAI và loại có độc lực thấp - LPAI
Với những chủng virus có độc lực cao, phân loại độc lực của virus về mặt lâm sàng dựa trên những thông báo ban đầu của Bankowki và cộng sự tại Hội nghị thế giới lần đầu tiên về cúm gia cầm năm 1981, khi cho rằng những virus cúm có kháng nguyên bề mặt H7 thuộc loại có độc lực cao Tuy nhiên người ta lại thấy rằng có những trận dịch gây chết tới 75% gà nhưng khi phân lập lại lại không thấy kháng nguyên H7 mà lại là H5 Vì thế để giải quyết vấn đề có cơ sở khoa học, các nhà nghiên cứu đã thống nhất các chỉ số đánh giá virus cúm có độc lực cao:
- Sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đã gây nhiễm virus được pha loãng 1/10 cho gà mẫn cảm từ 4 - 6 tuần tuổi, phải làm chết 75 - 100% gà thực nghiệm
- Virus gây bệnh cúm gà (có thể là type phụ) phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà trong môi trường nuôi cấy không
có trypsin
- Trong thực tế những chủng HPAI có thể gây chết 100% gia cầm nhiễm bệnh
Từ 1959 đến 2001, trên thế giới đã ghi nhận 19 chủng virus cúm của loài lông vũ được phân lập thuộc loại HPAI, trong đó một số chủng lây nhiễm và gây bệnh trên người (Holsinger và cộng sự, 1994)
Tuy nhiên, cho đến nay người ta cũng chỉ thừa nhận có hai biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5 và H7 được coi là loại có độc lực cao và gây bệnh ở gia
Trang 29cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gene H5 và H7 đều gây bệnh (Ito.T và cộng sự, 1998)
Với những chủng virus có độc lực thấp (LPAI) thường gây nhiễm ở gia cầm nhưng không có triệu chứng lâm sàng, không có bệnh tích đại thể và tỷ lệ chết rất thấp
Tuy nhiên sự bội nhiễm vi khuẩn đặc biệt là Streptococcus, Staphylococcus… hoặc
các bệnh khác cùng với virus cúm có thể làm cho bệnh gây ra do các virus cúm có độc lực thấp trở nên độc hơn và gây bệnh nghiêm trọng hơn Nguyên nhân là do các vi khuẩn bội nhiễm sản sinh enzyme protesae phá vỡ các liên kết của ngưng kết tố ngay
cả khi không có acid amin cơ bản
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và đàn thủy cầm sẽ có đột biến gene hoặc các đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng HPAI (Luong G và cộng sự, 1992; Holsinger L D và cộng sự, 1994; Kawaoka Y, 1998)
1.2.6 Sức đề kháng của virus
Virus cúm gia cầm có thể tồn tại trong nước cất hơn 100 ngày ở 280C, 200 ngày ở 170C và ở 40C được ước lượng là hơn 1.300 ngày Virus cúm gia cầm tương đối nhạy cảm với các tác nhân vật lý, hoá học, dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao (560C trong 3 giờ, 600C trong 30 phút và 700C virus bị chết ngay) Khả năng lây nhiễm của virus vẫn tồn tại sau khi chịu tác động của nhiệt độ 560C trong 30 phút, nhưng sẽ mất khả năng này sau khi chịu tác động của nhiệt độ 560
C trong 60 phút
Ở nhiệt độ thấp, virus vẫn có thể tồn tại trong phân ít nhất là 3 tháng Trong nước, virus có thể sống tới 4 ngày ở nhiệt độ 300C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00
C, vô hạn định ở nơi nguyên liệu bị đông lạnh Trong phủ tạng gia cầm virus tồn tại 24-39 ngày, ánh sáng chiếu trực tiếp sống được 40 giờ còn chiếu bình thường thì sống được
15 ngày
Những chất tẩy uế có hoạt động chống lại virus cúm gia cầm có thể được phân phối theo nhóm xà phòng và chất tẩy, nhóm chất kiềm, nhóm acid, nhóm clo và hợp chất clo, nhóm chất oxy hóa, nhóm andehyt, nhóm hợp chất phenol, hợp chất amoni bậc bốn và cồn Do virus cúm gia cầm có vỏ bọc ngoài là lipid nên chúng mẫn cảm với các chất trên Người ta thường dùng các chất này như là các chất sát trùng hữu hiệu để tổng tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở chăn nuôi có nguy
cơ bị đe doạ bởi dịch cúm gia cầm (Capua I và Marangon S., 2000)
1.2.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus
Virus cúm gia cầm có thể được nuôi cấy trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi; trên tế
bào xơ phôi gà CEF (Chicken Embryo Fibroblast) và tế bào thận chó MDCK
Trang 30(Madin-Darby-Canine-Kidney) với điều kiện môi trường nuôi cấy không chứa trypsin để tách
các protein HA của virus giúp cho việc hình thành các khuẩn lạc
Virus được bảo quản ở -70oC hoặc đông khô giữ đặc tính gây bệnh rất lâu Beard C W và cộng sự, 1987)
1.3 Dịch tể học bệnh cúm gia cầm
1.3.1 Loài vật mang virus
Virus cúm đã phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dã trên thế giới như: vịt, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, chim thuộc họ sẻ, diều hâu Tại Úc, Israel đã phân lập được virus cúm type A (H7N7) từ chim họ sẻ (sáo đá) tiếp xúc với gia cầm nuôi mắc bệnh và kết luận là những virus cúm gây bệnh cao được lây truyền giữa các loài gia cầm nuôi và chim họ sẻ (P.De Benedictis, M.S.Biato và I.Capua, 2008) Những loài chim nước (waterfowl) là nguồn virus có ý nghĩa quan trọng đối với gà tây được chăn thả tự do dọc theo đường chim thường bay qua ở Minnesota và Witscosin (Alexander D.J., 1993)
Tuy nhiên, tần suất và số lượng virus phân lập được ở loài thuỷ cầm đều cao hơn ở các loài khác Trong các loài thủy cầm thì vịt trời có tỷ lệ nhiễm virus cao hơn
cả Những virus này không gây bệnh cho vật chủ, mà được nhân lên trong đường ruột
và bài thải ra ngoài, trở thành nguồn reo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm (Bùi Quang Anh, 2004)
Trong nghiên cứu thí nghiệm, virus cúm có thể nhiễm cho lợn, chuột cống, thỏ, chuột lang, chuột nhắt, chồn sương, mèo đồng, linh trưởng và người
Virus cúm A/H5N1 lưu hành ở một số nước khu vực Châu Á có độc lực với gà, chuột đã tăng lên và mở rộng phổ gây bệnh của nó trên cả loài mèo Một số động vật
có vú như cầy vằn, chồn hay chó cũng nhiễm bệnh và bài thải virus (Holsinger L D
và cộng sự, 1994; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005a)
1.3.2 Chất chứa virus
Trong cơ thể gia cầm mắc bệnh, sau khi xâm nhập qua đường hô hấp hoặc tiêu hoá, virus nhân lên rất nhanh và xuất hiện trong các chất tiết đường hô hấp như nước mắt, nước mũi hoặc nước bọt, từ đó lây lan cho các con còn lại trong đàn Vì vậy chỉ cần một con mắc bệnh, các con khác sẽ bị lây bệnh rất nhanh Thời gian nung bệnh tùy thuộc vào độc lực của chủng gây bệnh Đối với chủng độc lực cao như H5 hoặc H7, thời gian nung bệnh thường rất ngắn, trung bình khoảng 3 - 14 ngày
1.3.3 Động vật cảm nhiễm
Bệnh cúm được phát hiện ở tất cả các loài chim thuần dưỡng (gia cầm, thủy cầm) hoặc chim hoang dã Gà, gà tây, chim cút, bồ câu, vịt, ngan đều mắc bệnh
Trang 31Hiện đã phân lập được virus từ vịt bầu, ngỗng, chim cút, gà nhật, gà gô, gà lôi Vịt nuôi nhiễm virus cúm nhưng khó phát hiện triệu chứng do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh, kể cả với chủng có độc lực cao (Lê Thanh Hoà, 2004) Các loài chim hoang cũng có thể bị bệnh nhưng khó có thể phát hiện được do cách sống hoang dã và đặc tính di trú của chúng Đây là nguồn tàng trữ và gieo rắc virus nguy hiểm nhất
Gà, ngan, vịt, chim cút mọi lứa tuổi đều mắc cúm nhưng bệnh thường ở 4-6 tuần tuổi Gia cầm dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao nhất ở nơi bệnh phát ra lần đầu và trong tuổi sắp đẻ hoặc thời kỳ đẻ cao nhất Gia cầm có khả năng sản xuất càng cao thì càng mẫn cảm với virus Gia cầm mái dễ bị nhiễm hơn trống, con non và già mẫn cảm với mầm bệnh hơn con trưởng thành (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004)
Không chỉ đối với loài chim, virus có thể gây bệnh cho các loài động vật có vú khác như lợn, ngựa, chồn, cá voi và cả con người Nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy loài mèo, vốn được coi là không cảm nhiễm với cúm, cũng mắc bệnh và chết (Biswas S.K, 1996)
1.3.4 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm cúm, virus cúm được nhân lên trong đường hô hấp và đường tiêu hoá Sự truyền lây bệnh được thực hiện theo 2 phương thức là trực tiếp và chủ yếu là gián tiếp
- Lây trực tiếp do vật mẫn cảm tiếp xúc với vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm
- Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển, côn trùng
Như vậy, virus cúm dễ dàng truyền tới những vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi Đối với các virus gây bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm thì sự lây chủ yếu qua phân, đường miệng (Garcia A và cộng sự, 1998);
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2005b)
Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là: từ các loài gia cầm nuôi trong cùng trang trại hoặc trang trại liền kề; lây truyền qua trứng; từ gia cầm nhập khẩu; từ chim di trú đặc biệt là các loài chim nước; từ người và các động vật có vú khác (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005c)
Sự truyền lây theo chiều ngang của virus cúm gia cầm thường xảy ra nhưng hiện nay thiếu bằng chứng về truyền lây theo chiều dọc Tuy nhiên, trên gà mái bị nhiễm virus cúm gia cầm, người ta có thể phân lập được virus trên vỏ trứng và các thành phần bên trong trứng Đường gây bệnh thành công trong thí nghiệm bao gồm:
Trang 32khí dung, trong mũi, trong xoang, trong khí quản, miệng, kết mạc, trong cơ, trong xoang bụng, túi khí, mạch máu, lỗ huyệt
Theo các tổ chức WHO và FAO thì con người có nguy cơ lây nhiễm virus cúm gia cầm cao nhất là do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh trong quá trình bắt và giết
mổ
1.3.5 Cách sinh bệnh
Đầu tiên virus xâm nhập qua đường hô hấp hay tiêu hóa và nhân lên trên tế bào niêm mạc, sau đó virus theo hệ thống mạch máu hay bạch huyết để gây nhiễm và nhân lên ở các cơ quan nội tạng, não và da Những biểu hiện triệu trứng lâm sàng và chết xảy ra do hư hoại của các cơ quan Sự tổn hại do virus cúm gây ra là kết quả của một trong 3 tiến trình: việc nhân lên trực tiếp của virus trong tế bào, mô và cơ quan; ảnh hưởng gián tiếp từ sự sản sinh các tế bào trung gian như cytokine; nghẽn mạch cục bộ
do huyết khối Đối với virus có độc lực thấp thì việc nhân lên thường giới hạn ở đường
hô hấp và tiêu hóa Gia cầm có biểu hiện bệnh và chết đa số thường do tổn hại cơ quan
hô hấp đặc biệt khi kèm theo nhiễm trùng thứ phát
1.3.6 Mùa phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm có thể xảy ra ở tất cả các tháng trong năm, nhưng thường xảy ra vào vụ Thu Đông và Xuân Hè (tập trung nhiều vào các tháng 11, 12, 1, 2, 3) khi
có khí hậu lạnh, mưa nhiều, độ ẩm cao, có sự thay đổi đột ngột về thời tiết và các yếu
tố bất lợi khác làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Tuy nhiên với điều kiện thời tiết khô hanh bệnh vẫn có khả năng xảy ra nên chúng ta vẫn phải đề phòng
Những yếu tố bất lợi như stress về thức ăn, nước uống, thời tiết,khí hậu thay đổi bất thường làm cho hệ miễn dịch của cơ thể chưa thích nghi kịp thời và bị tổn thương làm cho bệnh cúm càng dễ phát sinh
1.4 Miễn dịch chống bệnh của gia cầm
Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu tố gây bệnh, trong khi đó các cơ thể khác cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau Những tế bào miễn dịch hiện diện ở các cơ quan lympho sơ cấp hoặc các cơ quan lympho thứ cấp Tuyến ức và túi Fabricius là cơ quan
sơ cấp, tại đó tiền tế bào T và tiền tế bào B biệt hóa và trải qua quá trình chín Giống như trong tuyến ức, các lympho bào được tập trung ở vùng vỏ ngoại vi và ở phần tủy trung tâm
Những tế bào lympho chức năng rời cơ quan lympho sơ cấp và cư trú ở cơ quan lympho thứ cấp, những khu vực diễn ra các phản ứng miễn dịch do kích thích của kháng nguyên Cơ quan lympho thứ cấp, được xác định bởi sự tụ hợp của các lympho bào và các tế bào trình diện kháng nguyên, phân tán rải rác khắp cơ thể Cơ quan
Trang 33lympho thứ cấp bao gồm lách, tuyến harder, hạch phổi, mô lympho ruột (hạch ruột) Túi Fabricius cũng hoạt động như một cơ quan lympho thứ cấp Gia cầm thiếu một số hạch bạch huyết tương đương của động vật có vú nhưng có một số hạch nhỏ dạng bạch huyết dọc theo mạch bạch huyết
Miễn dịch chống bệnh cúm bao gồm 2 loại là miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc hiệu
1.4.1 Miễn dịch không đặc hiệu
Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm rất phát triển bao gồm:
- Hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào hóa học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu
+ Bổ thể: các bổ thể là phần quan trọng và nhạy cảm của hệ thống phòng thủ chống lại mầm bệnh hiện diện trong huyết tương của gia cầm Khi bổ thể kết hợp với kháng thể đặc hiệu tạo thành phức hợp có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa), ngoài ra bổ thể cũng có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể) (CDC, 2004)
+ Interferon (IFN): do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferon được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (antivirus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được
- Hàng rào tế bào, gồm:
+ Tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân tử nhỏ và vi khuẩn ngoài tế bào
60-+ Đại thực bào là các tế bào lớn có khả năng thực bào, khi được hoạt hóa nó sẽ nhận biết và loại bỏ các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL-1 Đại thực bào còn tiết ra Interferon có hoạt tính kháng virus, Lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm
+ Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt
Trang 34với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đã bị nhiễm virus
và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra Interferon làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào
1.4.2 Miễn dịch đặc hiệu
Mầm bệnh vượt qua hàng rào vật lý hoặc cơ chế phòng vệ miễn dịch tự nhiên sẽ kích thích một đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Miễn dịch đặc hiệu có tính đặc hiệu cao đối với tác nhân kích thích đặc hiệu Những tế bào đặc hiệu trung gian giữ một hồi ức với những lần gặp gỡ sau với mầm bệnh, thậm chí cả khi mầm bệnh không còn trong
cơ thể và đáp ứng miễn dịch tương ứng đã tạm thời lắng xuống (Lê Văn Năm, 2004a)
Người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra làm 2 loại: miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào
- Miễn dịch dịch thể:
Do các tế bào lympho B đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tế bào nguồn ở tủy xương đi tới túi Fabricius Ở đây chúng được biệt hóa để trở thành các lympho B, sau đó di tản tới các cơ quan lympho ngoại biên Các tế bào lympho B khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch lâm ba Trong hạch lâm ba các tế bào lympho B có thể gặp một kháng nguyên và nhận biết kháng nguyên đó bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Tế bào B có thể nhận biết được khi nó tương tác với globulin miễn dịch nhô ra trên bề mặt tế bào (Lê Văn Năm, 2004a)
Sau khi đã nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokines do tế bào
T tiết ra, các tế bào lympho B được biệt hóa thành tương bào (plasmosis) để sản sinh kháng thể (Tô Long Thành, 2005b) Chúng tiết ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA trong đó IgG của gia cầm lớn hơn động vật có vú nên thường gọi là IgY Đáp ứng của cơ thể khi gặp kháng nguyên đầu tiên gọi là đáp ứng tiên phát Sau khi xuất hiện vài ngày hàm lượng kháng thể trong máu tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgM Đáp ứng tiên phát cũng có thể có IgG nhưng với hàm lượng thấp
Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó còn ở ngoài tế bào Lớp IgM và IgG kết hợp với virus với sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus Hai lớp kháng thể này còn ngăn virus không cho kết hợp với thụ thể trên bề mặt tế bào vật chủ, ngăn cản sự hòa màng giữa vỏ virus và màng tế bào Kháng thể dịch thể có thể hiện diện trong các loại dịch trong cơ thể nhưng thường được xác định trong huyết thanh Gia cầm có 3 lớp Ig chính đó là IgA, IgG và IgM
Một đáp ứng miễn dịch điển hình của gia cầm bắt đầu bằng việc sản xuất ra IgM, sau vài lần đáp ứng miễn dịch chuyển sang sản xuất IgY IgG là kháng thể chính sinh ra trong miễn dịch thứ phát và chiếm ưu thế trong máu gia cầm Kháng thể IgM
có thể phát hiện ở gia cầm chỉ sau khi bị nhiễm 5 ngày trong khi kháng thể IgG chỉ
Trang 35được phát hiện ở 7 đến 9 ngày sau khi bị nhiễm Kháng thể IgA dường như rất yếu
- Miễn dịch qua trung gian tế bào:
Quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do các tế bào lympho T đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến
ức, tại đó chúng được huấn luyện, biệt hóa thành tiền lympho T, rồi thành lympho T chưa chín, rồi thành lympho T chín Từ tuyến ức chúng di chuyển đến các cơ quan lympho ngoại vi Khi đại thực bào đưa các thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận và biệt hóa trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu gọi là kháng thể tế bào
1.4.3 Miễn dịch chủ động
Là đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ sau khi tiếp xúc với mầm bệnh và các kháng nguyên của chúng Miễn dịch chủ động có đặc điểm là cơ thể phục hồi nhanh hơn và sức đề kháng (miễn dịch) mạnh hơn sau khi tiếp xúc với chính mầm bệnh đó vào những lần sau (trí nhớ miễn dịch)
Miễn dịch chủ động được chia thành:
- Miễn dịch chủ động tự nhiên: là các đáp ứng miễn dịch được hình thành sau khi cơ thể bị nhiễm mầm bệnh, chủ yếu là virus hoặc vi khuẩn
- Miễn dịch chủ động nhân tạo: là các đáp ứng của cơ thể động vật và người được hình thành sau khi dùng vaccine
* Đặc điểm của đáp ứng miễn dịch chủ động
- Khi các tế bào có thẩm quyền miễn dịch lần đầu tiên tiếp xúc với một kháng nguyên, giữa tế bào và kháng nguyên sẽ diễn ra một chuỗi các sự kiện rất phức tạp, trong đó có kháng nguyên sẽ bị “bắt giữ”, được “chế biến” và được trình diện tới các
tế bào lympho bào có các thụ cảm quan nhận biết kháng nguyên tương ứng ở con vật chưa bao giờ tiếp xúc với một kháng nguyên nào Số lượng tế bào có phản ứng với kháng nguyên là rất nhỏ và đáp ứng lần đầu tiên với kháng nguyên diễn ra từ từ với cường độ thấp Đáp ứng đó được gọi là đáp ứng miễn dịch tiên phát
- Khi tiếp xúc với kháng nguyên tương tự lần thứ hai và những lần sau đó, các
tế bào này nhận biết nhanh hơn và quần thể tế bào này cũng trở nên lớn hơn Đáp ứng miễn dịch với kháng nguyên sẽ diễn ra với thời gian nhanh hơn và cường độ lớn hơn
và được gọi là đáp ứng miễn dịch thứ phát
1.4.4 Miễn dịch thụ động
Là trạng thái miễn dịch của một cơ thể nhờ các kháng thể chuyển từ ngoài vào, không phải do cơ thể tự sản xuất được Miễn dịch thụ động cũng gồm có 2 loại:
Trang 36- Miễn dịch thụ động tự nhiên
Khi kháng thể được truyền một cách tự nhiên từ cơ thể này sang cho cơ thể khác Ví dụ như mẹ truyền kháng thể sang cho con qua nhau thai (đối với gia súc) hoặc qua lòng đỏ trứng (đối với gia cầm)
- Miễn dịch thụ động nhân tạo
Khi kháng thể được con người đưa vào cơ thể gia súc, gia cầm, ví dụ khi dùng liệu pháp huyết thanh (serotherapy), tức là tiêm kháng huyết thanh hoặc kháng thể chiết xuất từ kháng huyết thanh hoặc lòng đỏ trứng vào cơ thể để tạo kháng thể thụ động nhằm mục đích phòng và chữa bệnh cho con vật
1.5 Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm
Thời kỳ ủ bệnh thường ngắn, từ vài giờ tới 3 ngày, tùy thuộc số lượng, độc lực của virus, đường nhiễm bệnh, loài cảm nhiễm virus gây bệnh Một số nghiên cứu cho thấy thời gian ủ bệnh trong nhiều trường hợp có thể dài hơn đến 7 ngày và lâu nhất có thể đến 14 ngày (Lê Thanh Hoà, 2004)
Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào các yếu tố: chủng virus,
số lượng virus, loài cảm nhiễm, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, thành phần không khí,…), chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm bệnh, sự bội nhiễm của một số vi sinh vật khác
Nhìn chung, triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm vô cùng phức tạp, đa dạng trong các thể bệnh kể cả ngay trong cùng một loài gia cầm Biểu hiện bệnh có thể
từ không hoặc có rất ít dấu hiệu lâm sàng nhưng chết đột ngột đến biểu hiện lâm sàng điển hình và các thể bệnh nhẹ hoặc ẩn tính
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao
Khi nhiễm các chủng virus độc lực cao (HPAI) gia cầm thường chết đột ngột, tỷ
lệ chết khá cao có khi lên đến 100% trong vài ngày
- Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như ho khẹc, hắt hơi, thở khò khè, vảy mỏ, chảy nhiều nước mắt, nước mũi
- Tiếp theo là mi mắt bị viêm, mặt phù nề, sưng mọng Mào tích dày lên do thủy thủng, tím tái, có nhiều điểm xuất huyết Thịt gà bị bệnh thường thâm xám, dưới da vùng chân có xuất huyết
- Biểu hiện thần kinh: đi lại không bình thường, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụ đống với nhau
- Ngoài ra khi gia cầm mắc cúm thường tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng hoặc xanh, năng suất trứng giảm mạnh
Trang 371.5.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh do những chủng virus cúm độc lực thấp
Gia cầm bị nhiễm các chủng virus có độc lực yếu hơn cũng có những triệu chứng tương tự như ở bệnh do những chủng có độc lực cao gây ra, nhưng mức độ biểu hiện nhẹ hơn và tỷ lệ chết thấp hơn Tuy nhiên, khi có sự cộng thêm với vi khuẩn hoặc virus khác có khả năng gây bệnh hoặc điều kiện môi trường bất lợi thì tỷ lệ tử vong có thể đạt 60 - 70% và các triệu chứng lâm sàng cũng dần nặng hơn
1.6 Bệnh tích
1.6.1 Bệnh tích đại thể
Bệnh tích đại thể phụ thuộc rất nhiều vào độc lực của virus, quá trình diễn biến của bệnh (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004)
- Thể nhẹ, bệnh gây ra do các chủng virus có độc lực thấp thì thấy bệnh tích nhẹ
ở đường hô hấp, viêm ca ta, đôi khi có rỉ ra chất keo nhầy có sợi huyết hoặc mủ Có trường hợp phù khí quản do dịch thẩm xuất, viêm xoang bụng, viêm cata có sợi huyết, dịch thẩm xuất có ở vòi trứng khi gia cầm đang đẻ Buồng trứng bị viêm xuất huyết, trứng non bị dập và ống dẫn trứng bị viêm dịch rỉ đến casein Ruột bị viêm xuất huyết đến viêm fibrin, nặng nhất là vùng ruột non, ruột thừa, van hồi manh tràng và hậu môn
- Thể nặng: trong nhiều trường hợp thấy trong ổ dịch cúm gia cầm một số gà chết quá nhanh không để lại bệnh tích gì, nhưng đại bộ phận các gà khác thì các biến đổi đại thể lại thể hiện quá rõ ràng Mũi bị viêm tịt, mào tích thâm tím, sưng dầy lên, xuất huyết điểm và hoại tử Khi cắt đôi mào hoặc tích có màu vàng xám, óng ánh như gelatin Mí mắt và mặt bị phù nề, đầu sưng to, xuất huyết dưới da chân, kẽ móng chân
và một số vùng khác như lưng, đùi, có thể xuất huyết cơ đùi, cơ ngực, xoang ngực Xác gà chết vẫn béo, nhưng thịt thâm và bị khô do sốt cao mất nước, viêm teo, xuất huyết và gây hoại tử ở gan, lách, thận
Bệnh tích đại thể ở ngan và vịt: các bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm diễn ra trên đàn ngan và vịt về cơ bản cũng giống như ở trên gà Tuy nhiên, tần suất biến đổi chủ yếu tập trung ở các cơ quan như: phổi, tim, buồng trứng, đường ruột Cụ thể một trong hai lá phổi luôn luôn bị viêm xuất huyết nặng, gan hoá, khi bỏ vào nước thì phổi bệnh bị chìm (2/3 lá phổi bị chìm dưới nước), tim bơi trong bao thẩm xuất màu vàng
và bị xuất huyết điểm nặng, cơ tim và vành tim xuất huyết nặng, buồng trứng, ống dẫn trứng xuất huyết điểm hoặc tràn lan, ruột xuất huyết lấm tấm hoặc thành dải tương tự như trong bệnh Newcastle, đường ruột chứa rất ít thức ăn
Trang 38Một số hình ảnh tổn thương đại thể của gà mắc cúm H5N1
Phù keo nhầy dưới da đầu Xuất huyết da chân vùng không lông
Khí quản xuất huyết Phổi viêm, xuất huyết, phù
Mỡ phủ tạng xuất huyết Dạ dày tuyến xuất huyết
Hình 1.2 Hình ảnh bệnh tích cúm gia cầm H5N1 (Nguồn: Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương) 1.6.2 Bệnh tích vi thể
Các biến đổi về tổ chức học bao gồm: phù nề, xung huyết, xuất huyết và thâm nhập lympho đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào tích, gan, thận, mắt và thần kinh Ngoài các tế bào lympho đơn nhân đa hình thái còn có các tế bào lưới đặc trưng cho phản ứng viêm và hoại tử (Capua I., 2000); Lê Văn Năm, 2007; Suares D.L, 2007)
Một số chủng virus gây ra triệu chứng thần kinh ta thấy mạch vành sưng
và hoại tử các tế bào thần kinh Ít thấy tụ huyết, xuất huyết ỏ các mô thần kinh
Trang 39Tế bào ống thận hoại tử, xuất huyết, nang bowman giãn rộng Phổi xuất huyết tràn lan, nhiều vùng phế nang bị bịt kín các tế bào viêm và dịch rỉ viêm Khí quản xuất huyết, niêm mạc bong tróc, có nhiều tế bào viêm xâm nhập Lách hoại tử chứa đầy hồng cầu Gan có nhiều tế bào hoại tử, có nhiều hồng cầu thoát ra khỏi thành mạch tràn lan trong nhu mô gan, có nhiều tế bào viêm tập trung ở thành mạch quản Dạ dày phù, sưng, xuất huyết Niêm mạc ruột hoại tử, xuất huyết, tế bào tuyến tăng tiết dịch Não
có nhiều tế bào viêm xâm nhập, tập trung ở xung quanh và trong lòng mạch quản
Bệnh tích vi thể ở gà giò thường nặng hơn gà đẻ Trong 6 chủng gây bệnh cao
có những bệnh tích chung và riêng như: có nhiều nốt hoại tử ở hệ lâm ba khi nhiễm virus H5N9 nhưng không có bệnh tích này khi nhiễm virus H5N1 hoặc H5N2 Biểu hiện viêm cơ tim khi gà nhiễm virus H5N3, H5N9, H5N2 nhưng không có bệnh tích này khi nhiễm virus H5N1
1.7 Chẩn đoán bệnh
Việc chẩn đoán cúm gia cầm do nhiễm virus type A chủ yếu là phải phân lập và định danh virus kết hợp với chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng, xác định tổn thương đại thể, vi thể, dịch tễ học và một số phản ứng huyết thanh học
Bệnh xảy ra dồn dập, nhanh chóng thành dịch Gà mọi lứa tuổi đều mắc nhưng hay gặp nhất là gà từ 4 đến 6 tuần tuổi Triệu chứng điển hình: thở khó, viêm tịt mũi; sưng đầu, phù mặt; thủy thũng, xuất huyết, hoại tử ở mào, tích; xuất huyết dưới da thành vệt đỏ Bệnh tích điển hình: thịt thâm, viêm dính phúc mạc, cơ quan nội tạng bị teo, viêm xuất huyết và hoại tử Buồng trứng, ống dẫn trứng viêm, vỡ trứng non
Theo chẩn đoán thường quy của Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương - Cục Thú y, sơ đồ chẩn đoán phòng thí nghiệm của bệnh cúm hiện nay như sau:
Trang 40- Phân lập virus trên môi trường tế bào:
Để có thể lây nhiễm bệnh phẩm trên môi trường tế bào, trước hết phải thực hiện nuôi cấy tế bào trên chai T-25 trong môi trường phát triển tế bào với các hóa chất, nguyên vật liệu cần thiết Sau khi thảm tế bào mọc từ trên 90% sau 24 - 72 giờ có thể
sử dụng phân lập virus bằng việc tiêm truyền huyễn dịch bệnh phẩm đã xử lý kháng sinh hoặc qua lọc trên bề mặt tế bào Quá trình lây nhiễm bệnh phẩm được bổ sung