Mục tiêu chung của đề tài là khảo sát tình hình bệnh do Salmonella gây ra trên vịt, xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vịt nghi mắc bệnh do Salmo
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực với sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn TS Trần Quang Vui
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Hồ Văn Lợi
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi - Thú
y, phòng Đào tạo sau Đại học, trường Đại học Nông Lâm Huế đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn: TS Trần Quang Vui đã tận tình giúp đỡ, nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Xuân Hòa - Trưởng bộ môn Vi trùng - Truyền nhiễm, phòng Thí nghiệm Vi trùng – Truyền nhiễm, Khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Huế đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan và giúp tôi xử lý mẫu, xử lý số liệu trong phòng Thí nghiệm để tôi hoàn thành số liệu nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Chi cục Chăn nuôi và Thú y Bình Định đã tạo điều kiện về thời gian và công việc để tôi được học tập trong suốt
02 năm qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo và cán bộ nhân viên Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Hoài Nhơn, toàn thể cán bộ mạng lưới Thú y cơ sở 17 xã, thị trấn của huyện Hoài Nhơn đã tạo điều kiện về công việc điều tra, lấy mẫu, thu thập số liệu trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian 02 năm học tập
Mặc dù đã có cố gắng, song với kiến thức và năng lực còn nhiều hạn chế, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô và ý kiến đóng góp của bạn bè để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, tháng 7 năm 2016
Học viên
Hồ Văn Lợi
Trang 3có nước là môi trường thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại bệnh truyền nhiễm
do vi khuẩn gây ra, trong đó Salmonella có vai trò quan trọng về dịch tể, là một cản
trở lớn trong việc phát triển chăn nuôi vịt
Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella gây bệnh trên vịt nuôi tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” Mục tiêu chung
của đề tài là khảo sát tình hình bệnh do Salmonella gây ra trên vịt, xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vịt nghi mắc bệnh do Salmonella, đánh giá mức độ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn làm cơ sở cho việc
xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả trên vịt nuôi tại địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Đề tài nghiên cứu đã triển khai điều tra phòng vấn 198 hộ chăn nuôi vịt trên địa bàn 6 xã, chia thành 3 vùng theo dõi, vùng ven sông có xã Hoài Đức, Hoài Thanh; vùng ngập nước có xã Tam Quan Nam, Hoài Mỹ; vùng khô có xã Hoài
Sơn, Hoài Phú, đã thu thập được mẫu bệnh phẩm vịt nghi mắc bệnh do Salmonella
để phân lập vi khuẩn xác định một số đặc điểm sinh học, đánh giá mức độ mẫn cảm kháng sinh, xây dựng phác đồ điều trị thử nghiệm
Kết quả đề tài đã điều tra 54.050 con vịt của 198 đàn, cho thấy tỷ lệ vịt nhiễm bệnh là 23,11% so với tổng đàn điều tra, đề tài cũng đã thu thập được 90 mẫu bệnh
phẩm lách vịt mắc bệnh nghi nhiễm Salmonella để phân lập vị khuẩn, kết quả có 54 mẫu phân lập được vi khuẩn Salmonella, chiếm tỷ lệ 59,96% Kết quả cũng cho thấy Salmonella xảy ra hầu hết ở các xã thuộc các vùng theo dõi
Tất cả các chủng vi khuẩn phân lập được đều có các đặc tính vi sinh vật học
của vi khuẩn Salmonella như các tài liệu trong và ngoài nước đã công bố
Các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được đều có độc lực cao, có khả
năng gây chết động vật thí nghiệm với tỷ lệ lớn Khi mổ khám động vật thí nghiệm
Trang 4thấy có những triệu chứng bệnh tích điển hình của bệnh ở các cơ quan: tim, gan, lách, ruột, xoang bụng
Các chủng vi khuẩn được phân lập đã kháng với hầu hết các loại kháng sinh
phổ biến hiện nay như: Streptomycin, Cefoxitin, Tetracycline, Gentamicin
Phác đồ điều trị sử dụng kháng sinh Colistin và Ampicillin có tỷ lệ vịt khỏi bệnh (85%) cao hơn và thời gian điều trị (4,76 ngày) ngắn hơn so với phác đồ điều trị thường dùng của thú y cơ sở
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài đề xuất được một số biện pháp
phòng và điều trị bệnh hiểu quả đối với bệnh do Salmonella gây ra trên vịt nuôi tại
địa phương huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa 4
1.1.2 Cảm nhiễm 5
1.1.3 Tính gây bệnh của vi khuẩn 6
1.1.4 Vi khuẩn Salmonella 7
1.1.5 Salmonella và bệnh truyền nhiễm 16
1.1.6 Salmonella và trúng độc thực phẩm 17
1.1.7 Salmonella và bệnh phó thương hàn vịt 21
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh do Salmonella gây ra ở vịt ngoài nước 17
1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh do Salmonella gây ra ở vịt trong nước Error!
Bookmark not defined
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 28
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.3.1.Vật liệu nghiên cứu 29
2.3.2 Phương pháp điều tra 30
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm 30
2.3.4 Phương pháp phân lập vi khuẩn Salmonella 30
2.3.5 Phương pháp đánh giá độc lực của vi khuẩn Salmonella trên động vật thí nghiệm 34
2.3.6 Phương pháp kháng sinh đồ 34
2.3.7 Phương pháp điều trị thử nghiệm trên vịt 36
2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 TÌNH HÌNH BỆNH DO SALMONELLA TRÊN VỊT NUÔI TẠI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 37
3.2 KẾT QUẢ PHÂN LẬP VI KHUẨN SALMONELLA TỪ MẪU VỊT BỆNH 41
3.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN SALMONELLA GÂY BỆNH TRÊN VỊT 43
3.3.1 Kết quả kiểm tra hình thái vi khuẩn và khuẩn lạc 43
3.3.2 Kết quả kiểm tra đặc tính sinh hóa của vi khuẩn 46
3.3.3 Kết quả kiểm tra độc lực vi khuẩn Salmonella trên động vật thí nghiệm 51
3.4 KẾT QUẢ LÀM KHÁNG SINH ĐỒ 53
3.5 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TRÊN VỊT 56
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
4.1 KẾT LUẬN 58
4.2 KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 8phân lập được 46
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn Salmonella trên chuột nhắt trắng
51
Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm của vi khuẩn Salmonella đối với một
số loại thuốc kháng sinh 54
Bảng 3.8 Kết quả điều trị trên vịt bệnh do Salmonella 57
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Quy trình phân lập Salmonella “ISO 6579:2002” 31
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ vịt mắc bệnh do Salmonella tại các xã nghiên cứu 38
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ chết ở vịt mắc bệnh do Salmonella tại các xã nghiên cứu 39
Hình 3.3 Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết do Salmonella theo tuổi vịt 41
Hình 3.4 Tỷ lệ mẫu vịt bệnh phân lập được vi khuẩn Salmonella theo xã 43
Hình 3.5 Hình thái của vi khuẩn Salmonella sau khi nhuộm Gram 44
Hình 3.6 Đặc điểm của Salmonella trên môi trường tăng sinh 45
Hình 3.7 Khuẩn lạc Salmonella trên môi trường SS 45
Hình 3.8 Đặc điểm của các môi trường khi chưa nuôi cấy vi khuẩn Salmonella 47
Hình 3.9 Kiểm tra đặc tính sinh hóa của vi khuẩn Salmonella 48
Hình 3.10 Đặc điểm của Salmonella trên môi trường KIA 49
Hình 3.11 Đặc điểm của Salmonella trên môi trường MUI 50
Hình 3.12 Khuẩn lạc Salmonella trên môi trường thạch máu 50
Hình 3.13 Mổ khám chuột 53
Hình 3.14 Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn
Salmonella 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nước ta chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
và trong cơ cấu kinh tế đất nước Chăn nuôi với nhiều hình thức khác nhau đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo nguồn sản phẩm có giá trị, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước
Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển chăn nuôi của Việt Nam đến năm 2020 cần đạt: Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp chiếm 42%, trong đó sản lượng thịt xẻ các loại đạt khoảng 5.500 ngàn tấn; thịt lợn 63%; thịt gia cầm 32%, thịt bò 4%: sản lượng trứng, sữa đạt khoảng 14 tỷ quả trứng và trên 1.000 ngàn tấn sữa Định hướng phát triển chăn nuôi gia cầm đến năm 2020, phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, công nghiệp và chăn nuôi chăn thả có kiểm soát (Cục chăn nuôi, 2014)
Để đạt được những mục tiêu đó cần phải đầu tư cho công tác giống, quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng thức ăn, công tác quản lý, đồng thời chú trọng hơn nữa công tác thú y, tăng cường áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán làm cơ sở cho công tác phòng, chống dịch bệnh ở vật nuôi có hiệu quả
Vịt là loài thuỷ cầm có tính thích nghi cao với các điều kiện sinh thái, thích hợp cho việc chăn thả ở những nơi có nguồn nước để tìm kiếm thuỷ động vật và thóc lúa rơi vãi sau thu hoạch Những năm gần đây, chăn nuôi vịt thịt phát triển mạnh, tuy nhiên, điều kiện nuôi vịt cần có nước là môi trường
thuận lợi cho việc phát triển bệnh do vi khuẩn gây ra, trong đó Salmonella
có vai trò quan trọng về dịch tễ, là một cản trở đáng kể trong việc phát triển
đàn thủy cầm Bệnh do Salmonella là một bệnh gây thiệt hại lớn, hay gặp và phổ
biến ở vịt còn gọi là bệnh phó thương hàn ở vịt, với những đặc điểm dịch tễ phức tạp, đã gây nên những thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Tỷ lệ chết của bệnh khá cao, đặc biệt ở vịt con tỷ lệ chết có thể lên đến 60-70% Việc ngăn chặn và
giảm thiểu được bệnh do Salmonella gây ra ở gia cầm là điều kiện thuận lợi để
chăn nuôi thủy cầm phát triển mạnh
Hoài Nhơn là huyện nằm phía bắc của tỉnh Bình Định, có diện tích đất tự nhiên khoảng 412,95 km2, dân số 228.000 người, mật độ dân số 550,7 người/km²,
Trang 11được đánh giá là một trong những huyện phát triển chăn nuôi tương đối lớn của tỉnh Bình Định Theo số liệu thống kê tính đến ngày 01 tháng 10 năm 2015, sản lượng chăn nuôi toàn huyện ước đạt: tổng đàn trâu bò 27 ngàn con; đàn heo 130 ngàn con, đàn gia cầm lên đến 530 ngàn con (trong đó đàn thủy cầm 450 ngàn con) Cũng như những địa phương khác trong toàn tỉnh, chăn nuôi vịt ở huyện Hoài
Nhơn đang bị đe dọa bởi bệnh do Salmonella gây ra Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về đặc tính sinh học tiêu biểu của vi khuẩn Salmonella gây
bệnh trên đàn vịt nuôi tại địa bàn huyện Hoài Nhơn Vì vậy việc nghiên cứu phân
lập vi khuẩn Salmonella, xác định các đặc tính sinh học, kiểm tra độc lực, mức độ
mẫn cảm kháng sinh để đưa ra những nhận định khoa học về các vấn đề nêu trên là rất cần thiết Xuất phát từ tình hình thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella gây bệnh trên vịt nuôi tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài là xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn
Salmonella phân lập được từ vịt nghi mắc bệnh do Salmonella, đánh giá mức độ
mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn làm cơ sở cho việc xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả trên vịt nuôi tại địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
- Xây dựng được phác đồ điều trị thử nghiệm hiệu quả trên vịt bệnh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin và bằng chứng cụ thể về đặc tính sinh
học của vi khuẩn Salmonella gây bệnh trên vịt nuôi tại địa phương nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá mức độ ảnh hưởng của
bệnh do vi khuẩn Salmonella đến tình hình chăn nuôi vịt tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định
Trang 12Kết quả nghiên cứu xác định được những đặc tính sinh vật học đặc trưng của
vi khuẩn, chứng minh được khả năng gây bệnh, khả năng kháng một số loại thuốc
kháng sinh và sự mẫn cảm với một số loại kháng sinh của vi khuẩn Salmonella
phân lập được từ vịt bị bệnh tại địa phương nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài phần nào đánh giá được những đặc tính gây
bệnh và những nguyên nhân gây bệnh của vi khuẩn Salmonella trên vịt nuôi tại địa
phương, Làm cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng và chống bệnh, hạn chế những ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, từ đó có thể giảm được thiệt hại trong
chăn nuôi vịt
Kết quả xác định khả năng kháng thuốc kháng sinh và sự mẫn cảm với một số
loại kháng sinh thông dụng trên thị trường của Salmonella được phân lập từ đàn vịt
nuôi mắc bệnh làm cơ sở xây dựng phác đồ điều trị bệnh phù hợp và có hiệu quả cao cho đàn vịt nuôi, nhằm giảm tỷ lệ chết ở vịt con và tỷ lệ mang trùng của vịt trưởng thành, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa
Đường tiêu hóa là một ống thông hai phía kéo dài từ miệng đến hậu môn
Do nguồn dinh dưỡng phong phú, phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm của thức ăn mà ống tiêu hóa là nơi vi sinh vật rất đa dạng và với số lượng lớn
Xoang miệng là bộ phận đầu tiên của cơ thể động vật tiếp xúc với nhiều loại thức ăn, nước uống từ bên ngoài do đó không tránh khỏi sự xâm nhập của các loại
vi sinh vật Bên cạnh đó biểu bì bong tróc và thức ăn được nhai ở đây là nguồn dinh dưỡng phong phú, nhiều hốc lưu giữ, nhiệt độ thích hợp nên nhiều loại vi sinh vật
có thể phát triển tốt
Dạ dày là nơi chứa và tiêu hóa thức ăn Trong dạ dày đơn có lượng lớn acid chlohydric (HCL, đến 0,2% thể tích chất chứa), đặc biệt nhiều trước khi cho ăn Acid trong dạ dày có tác dụng ức chế và tiêu diệt vi sinh vật Vì vậy các vi sinh vật theo thức ăn và nước uống vào dạ dày thường bị tiêu diệt Tuy nhiên, hiệu quả tiêu diệt thường hạn chế do vi sinh vật thường được bao bọc trong thức ăn và không bị tác động trực tiếp của dịch dạ dày ở nồng độ lớn, do dịch dạ dày bị nước có trong thức ăn pha loãng và sau đó đưa xuống ruột non với dịch tiết có tính kiềm Hơn nữa, một số vị sinh vật có khả năng đề kháng với acid và phát triển tốt trong môi trường acid
Ruột non có khả năng tự khử trùng mạnh vì vậy lượng vi sinh vật ở đây rất
ít, chủ yếu các vi sinh vật đề kháng với acid dạ dày, ngẫu nhiên và không thường trực ở ruột non Nguyên nhân của khả năng kháng khuẩn của ruột non là dịch dạ dày vẫn còn phát huy, dịch ruột non đặc biệt là dịch niêm mạc không tràng, có tác dụng diệt khuẩn, dịch mật và dịch tụy có khả năng ức chế vi sinh vật Sự tự khử trùng của ruột non có tác dụng ngăn cản vi sinh vật phát triển, dưỡng chất vì vậy không bị tiêu hao và được hấp thu vào ruột non, ngăn cản sự xâm nhập của vi sinh vật từ phía ruột già và bảo đảm sự an toàn cho ruột non Tuy vậy ở phần cuối của ruột non dù có van hồi manh tràng trợ lực khi độ kiềm của môi trường giảm có thể
có các vi khuẩn lactic có tác dụng ngăn cản vi sinh vật lên men thối, một số cầu khuẩn, trực khuẩn yếm khí sinh nha bào sinh hơi, trực khuẩn có giáp mô sinh hơi
Trang 14và E.coli tồn tại Số lượng và chủng loại vi sinh vật ruột non phụ thuộc nhiều vào
điều kiện ngoại cảnh và tình trạng sinh lý sinh hóa của cơ thể con vật
Ruột già là đoạn cuối của ống tiêu hóa, bắt đầu từ manh tràng, qua kết tràng đến trực tràng với điểm kết thúc là hậu môn Đây là nơi có chức năng hấp thu nước
bổ sung, hình thành khuôn phân và có thể hấp thu các acid béo bay hơi và các chất dinh dưỡng khác nhưng thường ở mức độ thấp Số lượng vi sinh vật ở đây lớn chiếm tỷ trọng lớn trong phân khô và chủng loại vi sinh vật cũng rất phong phú
Vi sinh vật ruột già có mối quan hệ mật thiết với quá trình phân giải chất cặn
bả của thức ăn còn sót lại sau tiêu hóa Trong ruột già quá trình này khá phức tạp và
có thể phân thành 2 nhóm: lên men và thối rữa Sản phẩm của quá trình phân giải chất cặn bả có thể là chất độc như H2S, NH3, CO2, cadaverin, histamin, indol, scatol, phenol khi được hấp thu vào cơ thể với lượng lớn chúng có thể gây độc cho các cơ năng giải độc của cơ thể (chủ yếu là tế bào gan) chuyển hóa giải độc và làm trở ngại các quá trình đào thải
1.1.2 Cảm nhiễm
Cảm nhiễm hay thường gọi là nhiễm trùng là một trạng thái, quá trình hay hiện tượng mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể động vật mẫn cảm, là một hiện tượng sinh học phức tạp xảy ra khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể động vật, trong những điều kiện nhất định của ngoại cảnh Sau khi xâm nhập và phát triển trong cơ thể, mầm bệnh tác động nhiều mặt vào cơ thể Để phản ứng lại, cơ thể chiến đấu với mầm bệnh trong quá trình cảm nhiễm tiến triển Kết quả của cảm nhiễm có thể dẫn đến phát bệnh hay không phát bệnh tùy thuộc vào nhiều yếu tố Nếu phát bệnh do cảm nhiễm một mầm bệnh nào đó thì những biểu hiện thường đặc trưng cho bệnh
đó Cùng với sự hình thành và phát triển học thuyết mầm bệnh của Koch và Pasteur Khi phân tích nguyên nhân và phương pháp phòng bệnh truyền nhiễm, nhiều người đã nhấn mạnh vai trò to lớn của sức đề kháng của cơ thể Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh vai trò chủ động của cơ thể trong quá trình nhiễm trùng
và đã tìm mọi biện pháp làm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật Tạo điều kiện thuận lợi cho cơ thể và bất lợi đối với mầm bệnh là biện pháp ngăn chặn nhiễm trùng hoặc làm giảm nhẹ sự tiến triển của quá trình đó Metchnicov đã đưa
ra một khái niệm cảm nhiễm là một cuộc đấu tranh giữa hai sinh thể hữu cơ Hiện tượng đấu tranh giữa cơ thể và mầm bệnh lại xảy ra trong điều kiện nhất định của ngoại cảnh nên còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố ngoại cảnh Trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng qua lại của các nhân tố đó đã dẫn đến kết quả là hiện tượng
Trang 15cảm nhiễm, phát bệnh hoặc mầm bệnh không thiết lập được sự tồn tại của nó trong
cơ thể động vật Học thuyết stress được coi là thuyết đáng giá đúng tầm quan trọng của cơ thể và môi trường Học thuyết này đã chứng minh trong thực tiễn rằng khi
cơ thể bị kích thích bởi mầm bệnh hoặc yếu tố ngoại cảnh bất kỳ, thần kinh trung ương tiếp nhận và xử lý kích thích để bảo vệ cơ thể Tuy vậy khả năng chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh phụ thuộc vào trạng thái thần kinh, sự tích lũy của cơ thể (tình trạng sức khỏe) và thể trạng của cơ thể
1.1.3 Tính gây bệnh của vi khuẩn
Những thuộc tính chi phối độc tính của vi khuẩn bao gồm: Tính bám dính, tính xâm nhập và sản sinh độc tố
Bám dính là đặc tính thiết yếu đối với vi khuẩn và là tiền đề để phát huy tính gây bệnh Trong trường hợp không thể bám dính vi khuẩn sẽ bị bài khử khỏi tổ chức ký chủ bởi lớp dày niêm dịch và thể dịch Sau khi bám dính vi khuẩn hình thành khuẩn lạc nhỏ và bắt đầu giai đoạn tiếp theo của quá trình cảm nhiễm Vi khuẩn trong quá trình bám dính phải có giai đoạn thiết yếu khi thụ thể của vi khuẩn kết hợp với tính kỵ thủy bề mặt, tính tích điện bề mặt và thụ thể bề mặt tế bào Tuy nhiên tế bào ký chủ cũng như tế bào vi khuẩn đều có bề mặt tích điện âm nên có tác dụng đẩy nhau Lực đẩy này bị suy giảm nhờ lực kỵ thủy giữa bề mặt tế bào với vi khuẩn Bề mặt vi khuẩn càng kỵ thủy thì càng dễ bám dính lên bề mặt tế bào Nhưng quan trọng hơn, trên bề mặt tế bào cũng như bề mặt vi khuẩn có những phần
tử bề mặt phản ứng tương hỗ một cách đặc hiệu Đa số vi khuẩn có cấu trúc lồi ra
bề mặt là khí quan bám dính có dạng lông rung
Xâm nhập: Đối với vi khuẩn mầm bệnh, sự xâm nhập của nó vào tế bào
thượng bì ký chủ là giai đoạn trọng yếu trong quá trình cảm nhiễm Các Salmonella
đi qua khoảng gian cách giữa các tế bào thượng bì, còn Yessinia và Chlamydia thì
xâm nhập vào trong tế bào thượng bì rồi từ đó đi vào tổ chức Tế bào vi khuẩn có thể bị đóng kín trong không bào của tế bào chất ký chủ và bị tiêu diệt ở trạng thái này, hoặc không bào dung hợp với lysosome chứa các enzym có tác dụng phân giải mạnh, hình thành các phagolysome trong đó diễn ra quá trình phân hủy vi khuẩn Nhưng cũng có khi màng không bào bị phân giải, vi khuẩn đi vào tế bào chất và có thể phát triển ở trong đó Tính sinh độc tố của vi khuẩn thường không liên quan đến tính xâm nhập của chúng, các vi khuẩn không sinh độc tố cũng có thể xâm nhập vào tế bào thượng bì Tính xâm nhập được chi phối bởi một gene duy nhất của
Trang 16nhiễm sắc thể và độc lập với những gen cần thiết cho việc phát huy tính gây bệnh của vi khuẩn do plasmid chi phối
Sinh độc tố: các độc tố do vi khuẩn sản sinh ra được chia thành 2 loại ngoại độc tố và nội độc tố
Ngoại độc tố: các vi khuẩn Gram dương cũng như vi khuẩn Gram âm đều sản sinh độc tố thiết yếu để trở thành nguyên nhân gây bệnh Độc tố bị làm mất độc tính được goi là giảm độc tố (toxoid) dùng để chế vắc xin phòng bệnh Các ngoại độc tố cấu thành từ hai bộ phận: phần hấp phụ lên tế bào và phần phát huy độc lực
Enterotoxin là một dạng ngoại độc tố gây tiêu chảy, tiêu chảy có thể do độc
tố ruột hoặc do vi khuẩn xâm nhập vào tế bào ruột gây ra Độc tố gây tiêu chảy gọi
là enterotoxin Enterotoxin do các vi khuẩn sản sinh ra có những thuộc tính lý hóa
và sinh học khác nhau nên thường được gọi kèm theo tên loài vi khuẩn
Nội độc tố là phức chất lipopolysacharide của vách tế bào vi khuẩn Gram
âm, bài xuất ra môi trường khi tế bào bị dung giải Các chất này chịu nhiệt, có phân
tử lượng 5 – 9.000kDa, có thể chiết xuất bằng phenol Có thể trắc định nội độc tố bằng trắc nghiệm litmus chất dịch chiết từ tế bào dạng amip của con sam, có khả năng hóa keo khi tiếp xúc với một lượng rất nhỏ nội độc tố vi khuẩn (0,0001g/ml) Tác dụng sinh lý bệnh của các nội độc tố tương tự nhau không phụ thuộc vào loại
vi khuẩn, chỉ trừ Bacteroides Trong bệnh lâm sàng cũng như bệnh thực nghiệm,
nội độc tố thường gây sốt, bạch cầu giảm, đường huyết giảm, huyết áp hạ và sốc, lưu dẫn các cơ quan trung khu như não, tim, thận bị trở ngại, bổ thể hoạt hóa theo con đường nhánh, đông máu nội huyết quản tràn lan, gây chết
Như vậy, vi khuẩn ảnh hưởng đến cơ thể nhiều mặt Nhưng sự phát triển và tác động của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố về bản chất của chúng cũng như phụ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể vật chủ Mầm bệnh có thể bị tiêu diệt hoặc
có thể phát triển gây nên bệnh truyền nhiễm (Phạm Hồng Sơn, 2012)
1.1.4 Vi khuẩn Salmonella
Vi khuẩn Salmonella là một chi vi khuẩn lớn thuộc họ trực khuẩn đường ruột
được Samon và Smith phát hiện vào năm 1886 Hiện nay việc phân loại chi vi khuẩn này không thống nhất giữa các nhà vi sinh vật học khác nhau giữa các khu vực khác nhau Ở Việt Nam kết quả nghiên cứu bước đầu của (Lê Văn Tạo và
cs,1997) cho thấy, S cholerasuis chiếm 50%, S typhimurium chiếm 6,25%, S enteritidis chiếm 12,5% và 31,25% thuộc các loại serotype khác
Trang 171.1.4.1 Đặc điểm của Salmonella
Trực khuẩn Salmonella thuộc bộ Eubacteriales, họ Enterobacteriaceae Giống Salmonella gồm 2 loài: S enterica và S bongori đã được phân chia thành
trên 2000 serotype theo bảng phân loại Kauffmann-White trên cơ sở cấu trúc của kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và đôi khi kháng nguyên vỏ (kháng
nguyên K) Gần đây, loài S enterica đã được phân thành 6 phân loài đó là: S enterica subsp enterica, S enterica subsp salamae, S enterica subsp arizonae, S enterica subsp diarizinae, S enterica subsp houtenae, S enterica subsp indica Theo (Cù Hữu Phú và cs, 2000), phân loài S enterica subsp enterica gồm phần lớn các chủng Salmonella là những tác nhân gây bệnh cho người và động vật
Salmonella spp được gọi là trực khuẩn đường ruột quan trọng về các khía
cạnh bệnh học, dịch tễ học, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm Theo
(Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng, 1986), vi khuẩn Salmonella spp phân bố
rộng khắp trong tự nhiên, có thể xâm nhiễm và gây bệnh cho người, động vật Sự
xâm nhiễm Salmonella spp vào cơ thể vật chủ và gây bệnh được thực hiện chủ yếu
qua đường tiêu hóa và phổ biến nhất là bệnh tiêu chảy Vi khuẩn phát triển tốt trên môi trường thạch thường ở 35-37oC, sau 20-24 giờ hình thành khuẩn lạc tròn đều từ trong suốt không màu đến hơi đục hoặc có dạng giọt sương, bóng láng Theo Nguyễn Như Thanh (1997), để nuôi cấy phân lập thường dùng môi trường tuyển lựa như thạch Macconkey, DHL, SS, EMB,… hoặc sau khi nuôi cấy bồi dưỡng trong môi trường 50% dịch mật (bò, lợn,…) rồi dùng môi trường tuyển lựa để nuôi cấy phân lập
1.1.4.2 Đặc tính về hình thái và tính chất bắt màu
Salmonella là trực khuẩn Gram âm, hình que có kích thước dài 2-4 m; rộng
0,6 m Vi khuẩn không hình thành nha bào và giáp mô, dễ bắt màu với các loại thuốc nhuộm thông thường, khi nhuộm vi khuẩn bắt màu đều toàn thân hoặc hơi đậm ở hai đầu (Đỗ Thị Huyền và Tô Long Thành, 2009)
Hầu hết các chủng Salmonella đều có khả năng di động nhờ flagella dạng lông rung, mỗi vi khuẩn có từ 7 đến 12 lông rung xung quanh thân, ngoại trừ S Gallinarum Trước kia người ta cho rằng S Pullorum cũng không có khả năng di
động Nhờ kính hiển vi điện tử, cấu trúc roi của type huyết thanh này cũng được
phát hiện là dạng sợi rất mảnh và có số lượng ít hơn flagella của S Enteritidis Các chủng Salmonella đều có Fimbriae (Pili hay lông nhung), trừ S paratyphi A
Trang 18Fimbriae có cấu tạo dạng lông bao phủ trên bề mặt vi khuẩn giúp cho vi khuẩn bám dính vào tế bào chủ Fimbriae được tạo thành từ các dưới đơn vị fimbrillin chứa lượng lớn amino acid kị nước (40%) (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)
Với hóa chất, Salmonella tỏ ra có sức chịu đựng cao: dung dịch HgCl2 1%,
formon 0,2%, axit phenic 3% diệt Salmonella trong 15-20 phút Dung dịch muối ăn
19%, ở nhiệt độ 8oC Salmonella tồn tại 4-8 tháng Nhưng đối với một số hóa chất
như Cristal violet, lục Malachite, Natrihyposunfit, Dixitrat, muối mật với những
nồng độ vừa đủ gây độc cho E coli thì không ảnh hưởng đến sự phát triển của Salmonella Dựa vào tính chất này người ta chế tạo những môi trường chọn lọc để kìm hãm sự phát triển của E coli và giúp cho Salmonella phát triển dễ dàng
Salmonella có thể sống trong thịt ướp muối (29%) được 4-8 tháng ở nhiệt độ
từ 6-120C Xử lý miếng thịt nhiễm trùng bằng hơ lửa hay nướng ít có tác dụng diệt
Salmonella ở bên trong (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) Salmonella chủ yếu ký sinh
trong ống tiêu hóa của con người và động vật Ngoài ra vi khuẩn này còn tìm thấy trong nước thải sinh hoạt, sông, các nguồn nước khác và đất Chúng có khả năng sống rất lâu trong nước (hàng tháng) và trong đất (hàng năm) ( Bảng 1.1)
Trang 19Bảng 1.1 Thời gian sống của Salmonella trong các loại môi trường
280 ngày Đất đồng cỏ chăn nuôi
28 tháng Phân của các loài thuộc họ chim
Nguồn: (Đỗ Thị Huyền và Tô Long Thành, 2009)
1.1.4.4 Đặc tính nuôi cấy Salmonella
Vi khuẩn Salmonella là loại vi khuẩn hiếu khí vừa kỵ khí không bắt buộc, dễ
nuôi cấy Nhiệt độ thích hợp là 37oC, nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ từ
6-42oC Nuôi cấy ở 43oC có thể loại trừ được tạp khuẩn mà Salmonella vẫn phát triển
được, pH thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 7,6, tuy nhiên vi khuẩn vẫn phát triển được ở pH từ 6-9
Khi nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường nước thịt: Cấy vài giờ đã đục nhẹ, sau
18 giờ đục đều, nuôi lâu ở đáy ống nghiệm có cặn, trên mặt môi trường có màng mỏng
Trên môi trường thạch thường vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng S (Smooth) tròn, lồi, trơn láng, bờ đều, thường không màu hay màu trắng xám Đôi khi tạo khuẩn lạc dạng R (Rough), kích thước khuẩn lạc thường trong khoảng 2 – 4 mm
Hiện nay có rất nhiều loại môi trường chọn lọc được các nhà vi sinh vật thú y
sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phân lập Salmonella như môi trường thạch XLD (Xylose Lysine Desoxycholate Agar): Salmonella cho khuẩn lạc trong suốt,
không màu hay có màu hơi nhuốm đỏ đôi khi có tâm đen, thường xuất hiện vùng
đỏ hồng xung quanh khi khuẩn lạc Salmonella phát triển mạnh
Trên môi trường Macconkey: Bồi dưỡng trong tủ ấm 35-37oC thời gian 18-24
giờ, Salmonella phát triển thành những khuẩn lạc tròn, trong, không màu, nhẵn bóng và hơi lồi ở giữa Trên môi trường thạch SS (Shigella - Salmonella Agar):
Trang 20Salmonella hình thành những khuẩn lạc tròn, bóng không màu hay có màu hồng và
có tâm đen ở giữa
Trên môi trường thạch BGA (Brilliant Green Agar): Salmonella cho khuẩn
lạc tròn, màu trắng hồng, môi trường xung quanh đỏ hồng
Trên môi trường thạch BSA (Bismuth Sulphite Agar): Salmonella cho khuẩn
lạc có màu nâu xám hay màu đen, thường có ánh kim bao quanh (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)
Trên môi trường BPLS (Brilliant Green Phenol Red Lactose Agar): vi khuẩn không lên men đường lactose và phân hủy peptone nên môi trường chuyển sang
kiềm, khuẩn lạc của Salmonella có màu đỏ
Môi trường Muller Kaffman: Sau 18-24 giờ nuôi cấy vi khuẩn phát triển làm đục môi trường và làm mất màu xanh đặc trưng của môi trường
Môi trường Selenit cystein broth: Sau 18-24 giờ nuôi cấy vi khuẩn phát triển làm đục môi trường và môi trường chuyển sang màu đỏ
Môi trường thạch máu: Sau khi nuôi cấy 24 giờ khuẩn lạc Salmonella có màu
trắng đục, không dung huyết (Nguyễn Phú Quý và cs, 1991)
1.1.4.5 Đặc tính sinh hóa Salmonella
Theo Quinn và cs (1994), giống vi khuẩn Salmonella được chia làm 7 phân
nhóm, mỗi phân nhóm có khả năng lên men một số loại đường nhất định và không
đổi Phần lớn phân loài Salmonella enteritica subsp enteritica gây bệnh cho động
vật máu nóng Chúng lên men và sinh hơi: Glucose, Manit, Mantose, Galactose,
Dulcitol, Arabonose, Sorbitol Cũng ở nhóm này, hầu như các chủng Salmonella
đều không lên men Lactose và Saccharose
Vi khuẩn Salmonella có phản ứng indol âm tính, MR âm tính, VP âm tính, sử
dụng citrat dương tính, di động, lysin decarboxylaza dương tính, adonit âm tính, lên men manit, thường không lên men lactose, saccharose trừ một số ngoại lệ dạng huyết thanh, dạng sinh học nhất định (Nguyễn Như Thanh, 1997)
Trang 21Bảng 1.2 Các biểu hiện sinh hóa của Salmonella
Phản ứng sinh hóa Biểu hiện
Trong quá trình phân lập và giám định vi khuẩn Salmonella thì đặc tính sinh
hóa có ý nghĩa rất quan trọng Đây là bước không thể bỏ qua khi xét nghiệm vi
khuẩn nói chung và vi khuẩn Salmonella nói riêng
1.1.4.6 Đặc điểm biến dị di truyền
Trong khi nuôi cấy Salmonella, đặc biệt là nuôi cấy lâu ngày trong môi trường tổng hợp thì Salmonella có thể biến dị về khuẩn lạc và kháng nguyên Các biến dị
thường gặp là:
Biến dị S - R: Vi khuẩn mới phân lập có khuẩn lạc dạng S (Smouth) trơn, bóng láng, bờ đều, có kháng nguyên O đặc hiệu Qua một thời gian nuôi cấy, vi khuẩn phát sinh biến dị, khuẩn lạc có thể trở nên nhám
Trang 22Biến dị O - H: Trong khi nuôi cấy dưới ảnh hưởng của một số hóa chất trong môi trường như acid fenic… vi khuẩn có thể bị biến dị vì mất lông, do đó chúng sẽ không di động được khi chỉ còn kháng nguyên O
Biến dị của kháng nguyên H: Vi khuẩn có lông có thể biến dị từ phase 1 sang phase 2, có nghĩa là biến dị từ phase đặc hiệu sang phase không đặc hiệu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)
1.1.4.7 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonlla
Salmonella là vi khuẩn sống hoại sinh trong đường tiêu hóa của người và gia súc, gia cầm Quá trình gây bệnh của Salmonella có sự tham gia của độc tố và các
yếu tố không phải là độc tố Kháng nguyên O, yếu tố bám dính, khả năng xâm nhập vào tế bào được coi là các yếu tố không phải là độc tố, chúng gây bệnh gián tiếp bằng cách tác động gây bất lợi cho vật chủ, mặt khác chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và gây bệnh Độc tố của vi khuẩn gồm nội độc tố và ngoại độc tố, trong đó nội độc tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh
1.1.4.7.1 Kháng nguyên O
Kháng nguyên O: Được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nằm ngoài màng tế
bào vi khuẩn, có tác dụng giúp cho vi khuẩn phát triển trong tế bào tổ chức, cơ quan, chống lại sự thực bào của các đại thực bào
1.1.4.7.2 Yếu tố bám dính
Yếu tố bám dính: Là một trong những yếu tố quan trọng của vi khuẩn đường
ruột, giúp vi khuẩn bám được vào tế bào vật chủ, yếu tố bám dính còn là kháng nguyên bám dính Khi vi khuẩn cư trú trong đường tiêu hóa, trong quá trình di động xảy ra hiện tượng tiếp xúc giữa vi khuẩn và tế bào nhung mao ruột Sự tiếp xúc này là tình cờ và ngẫu nhiên, nếu gặp điều kiện thuận lợi trên bề mặt tế bào niêm mạc ruột thì sự tiếp xúc này sẽ tăng tính bền vững và vi khuẩn sẽ ở lại lâu trong lớp nhầy Tiếp theo sự tiếp xúc là sự hấp phụ vi khuẩn lên bề mặt niêm mạc ruột và yếu tố bám dính (Fimbriae type I) của vi khuẩn sẽ bám vào điểm tiếp nhận của tế bào nhung mao Quá trình bám dính của vi khuẩn lên tế bào nhung mao được thực hiện có sự phù hợp giữa cấu trúc phân tử của điểm tiếp cận (Nguyễn Như Thanh, 1997)
Trang 231.1.4.7.3 Khả năng xâm nhập
Khả năng xâm nhập: Giúp vi khuẩn xuyên qua lớp màng nhầy của niêm mạc
ruột, xâm nhập vào trong tế bào biểu mô ruột và sản sinh trong tế bào này, những vi khuẩn không có khả năng xâm nhập sẽ bị lớp màng nhầy ngăn cản và bị tiêu diệt bởi tế bào đại thực bào
1.1.4.7.4 Độc tố
Độc tố: Khả năng gây bệnh của Salmonella bằng độc tố, gồm nội độc tố và
ngoại độc tố, trong đó nội độc tố được coi là yếu tố quan trọng nhất của quá trình gây bệnh
Nội độc tố (Endotoxin): thường là Lipopolysaccharide (LPS) được giải phóng
từ vách tế bào vi khuẩn khi bị dung giải Dưới tác động của nội độc tố của vi khuẩn các cơ quan và tế bào của cơ thể vật chủ có các biểu hiện như: tắc mạch máu, giảm trương lực cơ, thiếu oxy, toan huyết, rối loạn tiêu hóa…(Evan D.G và Evan D.J,
1973), khi nghiên cứu về độc tố đường ruột của Salmonella cho thấy độc tố gồm
hai thành phần độc tố thẩm xuất nhanh (Rapid permeability Factor viết tắt là RPF)
và độc tố thẩm xuất chậm (Delayed permeability Factor viết tắt là DPF).Theo
Peterson J.W (1980), độc tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô của ruột, cấu trúc và thành phần giống độc tố chịu nhiệt của E coli, được gọi là độc tố chịu nhiệt của Salmonella (Heat Stable Toxin viết tắt là ST) Độc
tố thẩm xuất chậm có thành phần giống độc tố không chịu nhiệt của vi khuẩn E coli, nên được gọi là độc tố không chịu nhiệt của Salmonella (Heat Lable Toxin
viết tắt là LT)
Ngoại độc tố: chỉ phát hiện được khi lấy vi khuẩn có độc tính cao cho vào túi colodion rồi đặt vào ổ bụng chuột lang để nuôi, sau 4 ngày lấy ra, rồi lại cấy truyền như vậy từ 5 đến 10 lần, sau cùng đem lọc, nước lọc này có khả năng gây bệnh cho động vật thí nghiệm Ngoại độc tố chỉ hình thành trong điều kiện invivo và trong nuôi cấy kỵ khí Ngoại độc tố tác động vào thần kinh và ruột, ngoại độc tố có thể chế thành giải độc tố bằng cách trộn thêm 5% formon để ở 27oC trong 20 ngày Giải độc tố tiêm cho thỏ sẽ tạo ra kháng thể ngưng kết, kháng thể kết tủa và thỏ có khả năng trung hòa với độc tố và vi khuẩn
Như vậy, có thể thấy vi khuẩn Salmonella gây bệnh bằng các yếu tố là độc tố
và không phải là độc tố, kết quả làm biến đổi cấu trúc, chức năng của tế bào biểu
Trang 24mô ruột, làm rối loạn quá trình tiêu hóa hấp thu dẫn đến tiêu chảy là điển hình của
bệnh do vi khuẩn Salmonella gây nên
1.1.4.8 Cơ chế kháng kháng sinh và miễn dịch của vi khuẩn Salmonella
Đối với các vi khuẩn thông thường khác, sau khi tiếp xúc với đại thực bào, màng đại thực bào sẽ bao gói vi khuẩn và nhấn chìm chúng vào trong nội bào Bọng màng chứa vi khuẩn sau đó sẽ dung hợp với lysosome để hình thành phagolysosome Trong phagolysosome vi khuẩn sẽ bị tiêu hủy bởi phản ứng oxy hóa, độ acid, enzyme, bacteriocin, nguồn dinh dưỡng hạn chế trong lysosome
Ngược lại, Salmonella sau khi nhiễm vào đại thực bào, chúng sử dụng nhiều cơ chế
chống lại hiện tượng liên hợp với lysosome Tham gia vào quá trình này có sự đóng góp đắc lực của các gen trong đảo gen gây bệnh 2 (SPI-2) Protein của SPI-2 giúp cho vi khuẩn polymer hóa sợi actin ở xung quanh bọng màng để bảo vệ, ngăn cản quá trình dung hợp với lysosome của tế bào chủ Đồng thời pH trong bọng chứa
Salmonella duy trì ở mức độ không quá thấp (pH>5,0) giúp vi khuẩn sống sót Do
không được dung hợp với lysosome để hình thành phagolysosome nên vi khuẩn không bị tiêu hủy bởi các enzyme trong lysosome và gây ra tình trạng nhiễm trùng
ẩn ở động vật Ở trạng thái này vi khuẩn tránh được sự tấn công của các cơ chế
miễn dịch dịch thể và tránh được tác dụng của thuốc kháng sinh Salmonella có thể
tồn tại trong đại thực bào ngay khi động vật được dùng kháng sinh với liều cao gấp
10 lần liều diệt khuẩn Lý do là vì, kháng sinh trong khi có mặt trong khoảng ngoại bào sẽ đi vào đại thực bào theo cơ chế ẩm bào, cuối cùng là tồn tại trong lysosome Các vi khuẩn ký sinh trong đại thực bào chỉ bị diệt hoặc ức chế phát triển khi đại thực bào được hoạt hóa bởi các lymphokin sinh ra từ đáp ứng miễn dịch tế bào Vì
thế, Salmonella vẫn tồn tại, nhân lên trong đại thực bào và phát triển đi khắp các
nội tạng của động vật bị nhiễm (Nguyễn Như Thanh và cs, 1997)
1.1.4.9 Cơ chế và khả năng xâm nhập của vi khuẩn Salmonella
Quá trình gây bệnh ở đường tiêu hóa của Salmonella lần đầu tiên được mô tả
bởi thí nghiệm trên chuột lang vào năm 1967 (Wilcock và Schwartz.K.J, 1992) Thí
nghiệm cho thấy, qua một quá trình sinh sản trên bề mặt thành ruột, Salmonella sẽ
xuyên qua lớp màng và xâm nhập vào bên trong tế bào biểu mô, đặc biệt ở đoạn hồi
tràng Tại đây nó gây tổn thương các tế bào biểu mô ruột Salmonella lây nhiễm giữa các động vật chủ yếu theo đường miệng và cũng có trường hợp Salmonella lây nhiễm qua đường hô hấp Khả năng nhiễm Salmonella ở các cá thể gia cầm khác
Trang 25nhau là khác nhau phụ thuộc vào tuổi và đặc điểm di truyền Nhìn chung, động vật
càng lớn thì khả năng nhiễm Salmonella càng giảm
Quá trình xâm nhiễm của Salmonella trên tế bào động vật được khởi đầu
bằng sự bám dính của vi khuẩn lên bề mặt màng nhầy tế bào chủ Vi khuẩn thường bám và xâm nhiễm vào tế bào M (micrifold) trên bề mặt biểu mô ruột vì tế bào này không được che phủ bởi lớp màng nhầy hoặc glycocalyx như tế bào biểu mô hình trụ ở ruột non, ngoài ra vi khuẩn còn đi đến các tế bào khác thông qua kẽ hở giữa các tế bào trên niêm mạc ruột Ở chuột, cả tế bào M và tế bào nội mô (enterocyte)
đều bị S Typhimurium xâm nhiễm, nhưng chỉ tế bào M bị phá hủy Để bám dính được vào bề mặt tế bào, Salmonella thường sử dụng lông và roi để bơi đến tế bào
đích và bám dính vào tế bào thông qua thụ thể Fimbriae PE (fimbriae mã hóa từ
plasmid) của S Typhimurium đóng vai trò quan trọng trong quá trình bám dính vào
tế bào ruột của chuột Sau khi bám dính sợi roi đi vào sâu trong nội bào Do có cấu trúc dạng ống như mũi kim tiêm, nhiều protein của vi khuẩn (SipB, SipC, SptP, SopE và AvrA) được tiết vào tế bào chất của tế bào đích Các protein này gây ra sự thay đổi trên protein actin khung tế bào (cytoskeleton) giúp vi khuẩn dễ dàng xâm nhiễm vào tế bào chủ
Ở động vật, máu, phủ tạng đặc biệt là gan, lách, các chất tiết, phân đều chứa
vi khuẩn trong thể bại huyết cấp tính Một số trường hợp động vật khỏe mang mầm bệnh, tỷ lệ này biến đổi tùy theo điều kiện, phương thức chăn nuôi Trong trường
hợp này, Salmonella sống hoại sinh ở ruột, hạch ruột, túi mật, phân, hạch hầu (Tô
Thị Phấn, 2008)
1.1.5 Salmonella và bệnh truyền nhiễm
Cảm nhiễm các Salmonella ngoài S Gallinarum-Pullorum ở gà gọi là phó
thương hàn gia cầm, các loài chim khác ngoài gà cũng mắc Thông thường ở gà trong vòng 1 tháng tuổi xảy ra tiêu chảy Nếu nhiễm các vi khuẩn bệnh nguyên này, thịt gà gây trúng độc thực phẩm Thông thường để chẩn đoán bệnh phó thương hàn gia cầm ngoài việc phân lập và đồng định vi khuẩn mầm bệnh, người ta còn thường dùng các phản ứng ngưng kết để phát hiện gia cầm bệnh hay mang trùng làm nguồn
lây lan Trong đó, phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính với giọt máu nguyên
là phương pháp phổ biến, tiện lợi, đơn giản có thể thực hiện ngay tại cơ sở sản xuất,
và khá chính xác Kháng nguyên chuẩn được sử dụng là chủng Salmonella
Gallinarum-Pullorum có cấu tạo kháng nguyên đầy đủ và được nhuộm bằng rose bengal hoặc crystal violet dùng ống hút nhỏ 2 - 3 giọt kháng nguyên lên bề mặt
Trang 26vùng định trước trên một tấm kính sạch, dùng que cấy lấy một khuyên máu nguyên hòa đều vào giọt kháng nguyên, đọc kết quả sau khoảng 45 giây Phản ứng dương tính cho hiện tượng ngưng kết tức là tế bào vi khuẩn kết cụm lại tương phản với nền trong suốt màu hồng nhạt, thấy được bằng mắt thường Trong trường hợp âm tính, hỗn dịch kháng nguyên – máu nguyên không đổi tức có màu đồng nhất Cần đọc kết quả phản ứng chỉ trong vòng 2 phút, mỗi lần chỉ nên làm 4 mẫu để tránh hiện tượng giọt kháng nguyên bị khô ở viền trông như ngưng kết
1.1.6 Salmonella và trúng độc thực phẩm
Ngoài các dạng huyết thanh học vi khuẩn Salmonella gây thương hàn và phó thương hàn là S Typhi (Trực khuẩn thương hàn lợn) S paratyphi A (trực khuẩn phó thương hàn) và S paratyphi B, các dạng huyết thanh học khác có thể là nguyên
nhân gây viêm dạ dày- ruột cấp tính Đau bụng nôn mửa, tiêu chảy và sốt là những triệu chứng chính; thời kỳ nung bệnh từ 18 đến 36 giờ Ngoài ra, còn có trường hợp nhiễm khuẩn huyết, bại huyết, viêm màng tủy, viêm màng xương…
Các vi khuẩn Salmonella gây trúng độc chủ yếu là Salmonella serovar
Typhimurium, Enteritidis, Thompson… Thường gây ô nhiễm từ các loài gia súc gia cầm khác nhau, các động vật cảnh, các động vật hoang dã, chim, bò sát, lưỡng thê,…đến nước sông suối, nước thải, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm thức ăn gia súc, thịt trứng, dụng cụ chế biến sữa…
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1.Lịch sử bệnh do Salmonella gây ra ở vịt
Một nghiên cứu thực hiện ở học viện Metnhicốp (1956 - 1958) đã cho thấy
trong 156 mẫu Salmonella phân lập được từ gia cầm (trong đó có vịt) có 96/156 (52,9%) là do S typhimurium Ở Indonesia, năm 1992 - 1993 đã xác định 26 mẫu huyết thanh vịt, trong đó S typhimurium là 24%, S amsterdam là 10,5%, S virchov
là 7,5% và S thompson là 6,8%
Trong một nghiên cứu của Jiansen Gong và cs (2014) có tổng cộng 323
chủng Salmonella enterica được phân lập từ 3566 mẫu ngoáy hậu môn của 51 trang
trại gia cầm ở bảy vùng của 12 tỉnh của Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2012
Tỷ lệ mắc Salmonella spp ở ngỗng là 12,4% (66/ 533), ở gà tây 10,4% (32/309), ở
gà là 9,8% (167 / 1.706), ở vịt là 6,8% (41/601), và 4,1% ở chim bồ câu (17/417)
Phân lập được 20 serovar, trong đó các phân loài thường gặp nhất là S enterica
Trang 27serovar gallinarum biovar pullorum (17,0%), S enterica serovar typhimurium (15,5%), và S enterica serovar enteritidis (12,1%)
Nhìn chung, S typhimurium là serovar thường được phát hiện nhiều nhất trong tất cả các đối tượng trên, S pullorum được phân lập phổ biến nhất từ gà, S enteritidis phổ biến nhất ở vịt, S typhimurium là phổ biến nhất ở ngỗng và chim bồ câu, và S enterica serovar saintpaul phổ biến nhất là ở gà tây
Tại Đài Loan, một nghiên cứu trên 12 trang trại vịt nhằm mục đích điều tra
mối liên quan giữa tuổi và tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella ở vịt Bắc Kinh và ngỗng La Mã, đã khẳng định tỷ lệ nhiễm Salmonella là khác nhau giữa các loài và
giữa các độ tuổi (ví dụ, nhóm 1 tuần tuổi có 37,5% số vịt nhiễm và 5,2% đối với ngỗng, so với nhóm 4 tuần tuổi thì có 1% vịt nhiễm và 12,1% số ngỗng nhiễm) Kết
quả cho thấy rằng ngỗng nhạy cảm hơn với Salmonella và tỷ lệ nhiễm Salmonella tăng theo độ tuổi Đồng thời, tỷ lệ nhiễm Salmonella của vịt con chiếm tỷ lệ cao
hơn vịt lớn (Yu CY và cs, 2008)
Tương tự như kết quả của nghiên cứu trên, nghiên cứu của Tsai và Hsiang
(2004) cho thấy Salmonella phân lập ở vịt dưới 2 tuần tuổi là cao hơn đáng kể so
với các nhóm tuổi khác (> 2 tuần tuổi) (Frederick Adzitey và cs 2012) Cũng theo
Frederick Adzitey và cs, (2012) tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella cao nhất đối với
môi trường nuôi vịt (chiếm 32,5%), theo sau là thịt vịt và các bộ phận khác (28,4%)
và tỷ lệ nhiễm chung của vịt là 19,9% Nghiên cứu cũng đã xác định tỷ lệ nhiễm vi
khuẩn Salmonella của trứng là thấp nhất (17,5%) Cuộc khảo sát này cũng so sánh
tỷ lệ nhiễm Salmonella trên vịt giữa các quốc gia, trong đó vịt từ Brazil có tỷ lệ nhiễm Salmonella cao nhất, tiếp theo là vịt từ Vương quốc Anh và Hoa Kỳ được
ghi nhận tỷ lệ nhiễm thấp nhất Giữa các quốc gia khác nhau cũng có các type
huyết thanh khác nhau Trong đó, có các type huyết thanh Salmonella: S typhimirium (26,7%), S potsdam (31,9%) và S saintpaul (29,8%) đã được báo cáo
là các type huyết thanh chiếm ưu thế Kết quả so sánh sự phổ biến của vi khuẩn
Salmonella trong một số loài gia cầm cho thấy rằng vịt có tỷ lệ nhiễm cao nhất
(29,9%) so với gà (5,6%) và thịt gia cầm khác (8,6%) Một nghiên cứu kéo dài gần
3 năm trên 100 đàn của 9 trang trại vịt ở Bỉ cho thấy, tỷ lệ nhiễm Salmonella ở vịt
con thay đổi đáng kể theo thời gian với tỷ lệ lây nhiễm là 50%, 3,4%, 6,7%, 2,6%
và 2,9%, tương ứng với các thời điểm 3, 6, 9, 11 và 12 tuần tuổi Trong thời gian
nghiên cứu, 95 chủng vi khuẩn Salmonella đã được phân lập, thuộc 11 type huyết thanh S indiana (42,1%) và S regent (36,8%) là hai type huyết thanh phổ biến
Trang 28nhất, trong khi S typhimurium và S enteritidis đã được tìm thấy chỉ một lần
(1,1%) Tất cả các chủng kháng với ít nhất 2 loại kháng sinh và có 21,6% của tổng
số chủng phân lập được đề kháng với hơn 5 loại kháng sinh (Flament A và cs, 2012)
Có thể thấy rằng thực phẩm ô nhiễm với vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh là một mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng, những yếu tố quyết định kháng kháng sinh có thể được di truyền cho các vi khuẩn gây bệnh khác, có khả năng ảnh hưởng đến việc điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn Tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh giữa các tác nhân gây bệnh truyền qua thực phẩm đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây Sự gia tăng này là do áp lực chọn lọc được tạo ra bằng cách sử dụng thuốc kháng sinh trong sản xuất thực phẩm động vật (Thi Thu Hao Van và cs, 2007)
Hiện nay đa phần vi khuẩn đã kháng với các thuốc kháng sinh thông thường với các tỷ lệ khác nhau Tetracycline (54,2%), Sulfonamide (52,5%), Streptomycin (41,5%), Trimethoprim (36,4%), và Ampicillin (33,1%) Trong số các chủng đã
phân lập, S enterica, S derby và S typhimurium là những type huyết thanh kháng
thuốc kháng sinh phổ biến nhất Chúng có tỷ lệ kháng cao với Tetracycline (77%), Nalidixic acid (41%), Spectinomycin (41%) và hỗn hợp Sulfamethoxazole/Trimethoprim (43%) (Peterson J.W, 1980) Thuốc được lựa chọn
điều trị nhiễm trùng Salmonella ở vịt chủ yếu là Norfloxacin, Cephalexin,
Apramycin, Florfenicol, acid Oxolinic, Cefotaxime và Cephalothin Tuy nhiên, vi khuẩn cũng đã kháng các kháng sinh này đến 5% Vi khuẩn đã kháng khá cao với Augmentin (86,9%), Tetracycline (70,6%), Amoxicillin (43,5%), Josamicin/Trimethoprim (38,5%), acid Nalidixic (38,3%), Carbenicillin (33,3%), Doxycycline (30,7%), Sulfamethoxazol/Trimethoprim (30,3%), Streptomycin (24,0%) và Sulfafurazole (20%) (Federick Adzitey và cs 2012)
Theo nghiên cứu của Ogasawara N và cs, (2008) ở đồng bằng sông Cửu
Long của Việt Nam thì có 230 chủng Salmonella có nguồn gốc từ thực phẩm (thịt
lợn, thịt bò, thịt gà, thịt vịt, tôm), vật nuôi (lợn, gà, vịt), và con người (trẻ em bị tiêu
chảy) đã kháng đến 10 loại thuốc kháng sinh Trong số 230 chủng Salmonella được
kiểm tra, 38 chủng (16,5%) có khả năng kháng Oxytetracycline, 26 chủng (11,3%) kháng với Chloramphenicol, 17 chủng (7,4%) kháng acid Nalidixic, 16 chủng (7,0%) kháng Streptomycin, 5 chủng (2,2%) kháng Kanamycin và 4 chủng (1,7 %) kháng Ampicillin Không có chủng nào cho thấy kháng Gentamycin, Cefazolin,
Trang 29Ceftriaxone và Ciprofloxacin Với tình hình vi khuẩn đã kháng phần lớn các loại thuốc kháng sinh như hiện nay, thì việc tìm ra một loại thuốc kháng sinh để điều trị
đặc hiệu bệnh do Salmonella gây ra là một vấn đề nan giải
Để xác định tình hình nhiễm và mức độ kháng thuốc của Salmonella spp trên
vịt nuôi tập trung tại Cần Thơ, Việt Nam, một khảo sát được tiến hành trên 389 mẫu ruột, phân nền chuồng, nước ao nuôi và thức ăn vịt thu thập từ 270 trại chăn
nuôi vịt Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm Salmonella spp chung cho vịt ở vùng khảo sát là 27,0% và từ môi trường nuôi vịt là 9,2%, trong đó serovar Enteritidis chiếm
tỷ lệ 5,9% và Typhimurium là 19,1% Các chủng Salmonella phân lập đã kháng với
phần lớn các loại kháng sinh đang lưu hành, ngoại trừ Marbofloxacine, Oxytetracycline, Fosfomycine, Amikacine và hỗn hợp Doxycycline+Neomycine (Nguyễn Đức Hiền và Phạm thị Như Thảo, 2012)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh và cs (2010), về một số đặc tính của
Salmonella typhimurium và Salmonella enteritidis trên đàn vịt tại Bắc Ninh, Bắc Giang cho thấy mức độ nhiễm Salmonella chung trên vịt tại hai địa bàn Bắc Ninh
và Bắc Giang là 19,02% Tuy nhiên, các loại mẫu khác nhau thì tỷ lệ nhiễm cũng khác nhau, tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở mẫu trứng tắc (23,44%), thấp nhất là ở trứng
thường (0%) Trong nghiên cứu, 100% số chủng vi khuẩn Salmonella phân lập đều
có các đặc tính nuôi cấy, sinh vật hóa học đặc trưng của giống Salmonella Từ 35 chủng Salmonella ngưng kết với kháng huyết thanh Poly OH đã định type 2 chủng
S Enteritidis, chiếm tỷ lệ 5,7% và 9 chủng S typhimurium, chiếm tỷ lệ 25,7% Thử độc lực 2 chủng S enteritidis và 4 chủng S typhimurium, kết quả cho thấy tất cả
các chủng thử đều giết chết chuột trong vòng 12h Điều này chứng tỏ độc lực của các chủng là rất mạnh Tất cả các chủng thử nghiệm đều kháng với các loại kháng sinh thử nghiệm như Ampicillin, Gentamicin, Nitrofurantrin, ngoại trừ Norfloxacin, Trimethoprim và Ceftazidim
Tỷ lệ nhiễm bình quân chung Salmonella trong mẫu xét nghiệm ở vịt CV-
Super M nuôi nhốt trong điều kiện trại giống là 8,88% (dao động từ 3,54% đến
16,19%) Tỷ lệ nhiễm Salmonella khác nhau ở các loại mẫu xét nghiệm, cao nhất là
ở trứng sát 16,19%, giảm dần theo thứ tự ở vịt con, phân vịt con, phân vịt đẻ, phân vịt hậu bị với tỷ lệ nhiễm (%) tương ứng là 12,19; 10,91; 4,65; 3,54 Nếu so sánh tỷ
lệ này ở mẫu phân vịt thì tăng dần từ vịt hậu bị, vịt đẻ, vịt con Tỷ lệ nhiễm
Salmonella ở vịt CV- Super M có sự khác biệt giữa 2 mùa, mùa mưa tỷ lệ nhiễm
(12,96%) cao hơn mùa khô (3,95%) Quy trình sát trùng ảnh hưởng đáng kể đến
Trang 30mức độ nhiễm Salmonella, sát trùng tiêu độc 2 lần/tuần và điều kiện vệ sinh thú y
tốt thì tỷ lệ nhiễm (2,70%) thấp hơn so với sát trùng tiêu độc 1 lần/tháng (12,46%)
Phát hiện 3 chủng serovar Salmonella là S typhimurium, S senftenberg, S amsterdam với tần suất tương ứng là 36,36%, 27,27% và 18,18% Kết quả kháng
sinh đồ cho thấy, dùng Amoxilline và Norfloxacine có hiệu quả cao (100%) đối với
các chủng Salmonella (Tô Thị Phấn, 2008)
Một nghiên cứu về khả năng gây bệnh của các chủng Salmonella phân lập từ
vịt trên động vật thí nghiệm của (Nguyễn Thị Ngọc Liên và cs, 2004) cho thấy, từ
78 chủng vi khuẩn Salmonella đã được xác định, thử nghiệm trên chuột bạch có 61
chủng có khả năng gây chết chuột, chiếm tỷ lệ 78,20% và 17 chủng không có khả
năng gây chết chuột, chiếm tỷ lệ 21,79% Hầu hết các chủng Salmonella được lựa
chọn kiểm tra đặc tính gây bệnh trên động vật đều có khả năng gây bệnh cho vịt con với những biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đặc trưng
Kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi về sự kháng thuốc cũng cho kết quả đáng lo ngại: ngoại trừ Amoxillin và Norfloxacin là những thuốc mới sử dụng gần đây, còn lại các kháng sinh thử nghiệm gồm: Bactrim, Gentamycin, Ampicillin, Neomycin, Kanamycin, Colistin,
Tetracycline, Streptomycin đều bị Salmonella đề kháng ở mức độ khác nhau (từ
5,88 - 17,65% trường hợp)
Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của (Ogasawara N và cs, 2008) đã cho thấy
rằng, có sự kháng thuốc ở các chủng Salmonella tại Đài Loan: Vi khuẩn này đều đã
đề kháng với Amoxillin, Florfenicol, Flumequine, Nalidixic acid, Norfloxacin, Tetracycline Josamicin/Trimethoprim, Sulfamethoxazole/Trimethoprim, Ofloxacin
và Polymyxin B
1.2.2 Salmonella và bệnh phó thương hàn vịt
Bệnh do Salmonella gây ra ở vịt hay còn gọi là bệnh phó thương hàn vịt
Đây là một bệnh truyền nhiễm xảy ra với dạng nhiễm trùng huyết và rối loạn tiêu hóa ở vịt non, dạng mang trùng ẩn tính ở vịt trưởng thành (Trần Văn Bình, 2005) Bệnh phó thương hàn vịt đóng vị trí quan trọng trên hai mặt của vấn đề: Thứ nhất
là bệnh thường xuyên nổ ra, nhất là đối với vịt con, đôi khi gây tỷ lệ chết cao Thứ
hai là bởi các chủng Salmonella xâm nhập, tăng sinh và tiết ra các độc tố rất bền
vững với nhiệt gây nguy hiểm cho sức khỏe con người khi sử dụng các sản phẩm từ vịt, đặc biệt là trứng vịt tươi (Nguyễn Đức Trọng, 2008)
Trang 311.2.2.1 Nguyên nhân bệnh do Salmonella gây ra ở vịt
Ở thủy cầm có 3 serotype Salmonella hay gây bệnh là S anatum, S enteritis
và S typhimurium (Trần Văn Bình, 2005) Nhiều gia cầm chỉ bị nhiễm một chủng Salmonella, nhưng số khác thì có thể bị nhiễm nhiều chủng một lúc Các chủng Salmonella khu trú thường xuyên trong ruột già và manh tràng của vịt Vịt ở mọi lứa tuổi đều mẫn cảm và có thể bị nhiễm Salmonella, nhưng bệnh lâm sàng thường chỉ thấy ở vịt con dưới 3 tuần tuổi Salmonella pullorum và Salmonella gallinarum
là hai tác nhân gây bệnh quan trọng nhất của bệnh thương hàn đối với gia cầm nhưng lại ít có ý nghĩa trong bệnh phó thương hàn vịt Người ta đã ghi nhận vịt con
nhiễm S pullorum khi nhốt chung với gà bị bệnh bạch lỵ nhưng bệnh không biểu hiện khuynh hướng lây truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác S gallinarum được
ghi nhận trong một số trường hợp có thể gây bệnh tự nhiên làm thiệt hại lớn đối với vịt con 1 – 14 ngày tuổi Nhưng nhiều người cho rằng vịt khó mắc bệnh do loại vi
khuẩn này hơn là gà (Nguyễn Đức Trọng, 2008) Salmonell anatum thường gây
chết vịt con đột ngột nhưng đôi khi chuyển sang thể mạn tính trong vài ngày Một ổ dịch vịt nguy hiểm gây thiệt hại tới 30% Trong một ổ bệnh vịt con chết từ lúc mới
nở thiệt hại từ 1-60% (Phạm Quang Hùng, 2009) Các serotype Salmonella khác nguy hiểm và hay gây bệnh cho ngan vịt là S typhimurium, S enteritidis, ít ảnh hưởng hơn là các chủng S panama, S Give (Nguyễn Đức Trọng, 2008)
1.2.2.2 Phương thức truyền lây
Truyền lây từ mẹ sang trứng (khi vịt mẹ đã mang mầm bệnh), mầm bệnh nhiễm từ máu vào buồng trứng Nếu trứng đem ấp, mầm bệnh nhiễm vào phôi, gây chết phôi (vịt sát), sưng rốn, tiêu chảy ngay trong 1-4 ngày tuổi
Truyền lây qua vỏ trứng: Do vi khuẩn có sẵn ở môi trường, ở ổ đẻ nhiễm vào
vỏ trứng Từ vỏ trứng vi khuẩn sẽ xâm nhập qua lớp vỏ vào trong trứng (vì vi khuẩn có lông roi và có thể di động được), vi khuẩn phát triển trong phôi gây chết phôi (nếu nhiễm nặng) Hoặc vịt nở ra bị bệnh ngay
Truyền lây qua thức ăn, nước uống: Đặc biệt thức ăn là bột cá hay cá, tép khô, khi phơi để nhiễm mầm bệnh từ môi trường đất, bụi cát (Nguyễn Xuân Bình
và cs, 2005)
Trang 321.2.2.3 Cách sinh bệnh
Sau khi vào cơ thể thủy cầm, Salmonella xâm nhập qua thành ruột và khu trú
ở trong đại thực bào Ở đây chúng sinh sôi phát triển và dưới tác dụng diệt khuẩn của đại thực bào cũng như bạch cầu chúng sẽ chết và giải phóng ra nội độc tố (Endotoxin), các nội độc tố này tác động ngay tại chỗ hoặc theo đường máu tác
động khắp cơ thể Trong một thời gian Salmonella có thể không có ở trong máu,
lúc đó chúng khu trú với số lượng rất lớn ở trong gan, túi mật, ruột, lách và cả ở trong buồng trứng Vì vậy có những lúc lấy mẫu máu không phân lập được
Salmonella Nếu đảm bảo quy trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt và sức đề kháng của vật chủ cao, trong vòng 1-5 ngày Salmonella sẽ bị chết ở trong đường tiêu hóa của
vật chủ, trong trường hợp này vi khuẩn không thể gây bệnh được (Trần Văn Bình, 2005)
1.2.2.4 Triệu chứng lâm sàng
Khi một trại có tiềm tàng bệnh, triệu chứng đầu tiên là tỷ lệ trứng ung và phôi chết cao, trứng nở không cao (Nguyễn Đức Trọng, 2008)
Thủy cầm non thường bị bệnh ngay từ những ngày tuổi đầu tiên Nếu vịt con
bị nhiễm Salmonella từ trong trứng thì biểu hiện đầu tiên là vị trí gạo mỏ cao và phôi
chết ở giai đoạn gạo mỏ Những con chết trong khi ấp hoặc sau khi nở vài ngày mà không có triệu chứng rõ ràng chứng tỏ trứng đã bị nhiễm trước hoặc trong quá trình
ấp Trong thực tế bệnh có thể xảy ra với thể cấp tính, á cấp tính và mạn tính
Trong thể cấp tính thủy cầm bỏ ăn, yếu, ngại bơi lội Những con ốm đi khập khiễng hoặc đi lảo đảo Kết mạc bị viêm thanh dịch (mắt chảy nước), thở khó, tiếng thở khò khè Tiêu chảy phân lỏng lẫn bọt khí, bởi vậy những con ốm rất khát nước, lông xung quanh hậu môn dính đầy muối urat (lông dính chất muối màu trắng) Trong thể cấp tính một triệu chứng thường gặp là xuất hiện các cơn thần kinh, biểu hiện vịt ốm co giật rồi ngã về một bên hoặc nằm ngửa ra sàn, hai chân bơi trong không khí, khi chết đầu ngoẹo ra đằng sau Nếu không can thiệp kịp thời có thể chết 90% tổng đàn Nếu bị nhiễm qua trứng thì tỷ lệ chết rất cao
Thể á cấp tính kéo dài 7-14 ngày với dạng rối loạn tiêu hóa, thủy cầm còi cọc Các khớp chân, cách bị viêm sưng Kết mạc viêm chảy nước có khi dính hai
mí mắt lại Tỷ lệ chết có thể lên đến 40% tổng đàn
Trang 33Thể mạn tính xảy ra với triệu chứng lâm sàng không điển hình Những thủy cầm trưởng thành mang trùng bên ngoài nhìn vẫn khỏe mạnh, ăn uống bình thường, nhưng có những giai đoạn phúc mạc bị viêm có màu vàng và viêm ở ổ nhớp Bệnh
do Salmonella ở vịt có thể là bệnh thứ phát trên nền của một bệnh nguyên phát
khác Ví dụ người ta thường thấy ở giai đoạn cuối ổ dịch Viêm gan hoặc Dịch tả vịt (Trần Văn Bình, 2005)
1.2.2.5 Bệnh tích
Vịt con chết mổ thấy cục lòng đỏ trong bụng còn to không hấp thụ được hết Màu hơi nhạt
Lách và gan sưng, đôi khi có những đám hoại tử trắng lốm đốm
Bệnh tích điển hình nhất là manh tràng có chứa chất bã đậu trắng Rất nhiều trường hợp trực tràng sưng và có đốm đỏ, sau trắng có bựa
Đôi khi có viêm màng tim, viêm túi khí hoặc viêm khớp (khớp đầu gối) (Nguyễn Xuân Bình và cs, 2005)
Thận bệch màu và chứa muối urat trắng
Ở xác chết thủy cầm non thấy viêm tiết dịch niêm mạc ruột nên niêm mạc ruột bị dày lên Đôi khi xuất huyết tràn lan cả ruột non, ruột già và manh tràng Ở vịt mái tích dịch khoang bụng, trứng dị dạng méo mó Nhiều khi buồng trứng bị tăng sinh Hoại tử từng vùng niêm mạc ruột và quanh gan (do trứng vỡ gây viêm phúc mạc – Peritonitis vitella) (Trần Văn Bình, 2005)
1.2.2.6 Chẩn đoán
Dựa trên đặc điểm dịch tễ bệnh, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mổ khám Nếu cần thiết gửi nguyên cả con vịt đi xét nghiệm tại các cơ sở chẩn đoán chuyên ngành
Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh Viêm gan siêu vi trùng, viêm xoang truyền nhiễm và bệnh virus do chim (Ornithosis)
Trong bệnh Viêm gan siêu vi trùng gan vịt bị tổn thương, dưới vỏ gan xuất huyết nhiều điểm Từ mẫu gan, não phân lập được virus gây bệnh cho phôi gà và phôi vịt
Bệnh viêm xoang truyền nhiễm gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp trên Bệnh thường xảy ra khi vịt bị lạnh quá
Trang 34Bệnh Ornithosis thường xảy ra ở thể mạn tính với triệu chứng viêm kết mạc mắt, viêm mũi, bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi (Trần Văn Bình, 2005)
Bệnh E.coli cũng phân trắng, tiêu chảy và chết nhanh ở vịt con, nhưng có triệu
chứng thần kinh rõ (quay quay đầu)
Bệnh thiếu vitamin, đặc biệt là vitamin A cũng tiêu chảy nhưng chết ít và không sưng lách, gan (Nguyễn Xuân Bình và cs, 2005)
Hiện nay, có một số phương pháp hiện đại để chẩn doán Salmonella như phương pháp multiplex PCR (mPCR) để chẩn đoán phân biệt 4 bệnh Salmonella enterica cùng với Pasteurella multocida, Riemerella anatipestifer và Escherichia coli, đây là những nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế đáng kể trong ngành chăn nuôi
gia cầm Rất khó khăn để phân biệt những tác nhân gây bệnh dựa trên các dấu hiệu lâm sàng bởi vì những tác nhân gây bệnh có thể gây ra triệu chứng lâm sàng tương
tự và có thể bội nhiễm lẫn nhau Vì vậy, phát hiện nhanh chóng và đánh giá độ nhạy cảm của 4 vi khuẩn gây bệnh này là rất quan trọng trong chăn nuôi vịt Các mPCR này không sản xuất bất kỳ sản phẩm khuếch đại không đặc hiệu khi được
thử nghiệm chống lại mầm bệnh khác có liên quan, bao gồm Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes, Clostridium perfringens, Mycoplasma gallinarum, Mycoplasma synoviae và Mycoplasma gallisepticum mà cũng có thể lây nhiễm
sang vịt Phương pháp mPCR đã được áp dụng cho mẫu thực địa và kết quả là giống như kết quả PCR Những kết quả này cho thấy rằng mPCR cho 4 loại vi khuẩn là một kỹ thuật hữu ích và nhanh chóng áp dụng cho chẩn đoán các bệnh
trên vịt, đặc biệt là Salmonella (Wei B và cs, 2013)
Để phát hiện vi khuẩn Salmonella spp trong vịt nghi ngờ nhiễm bệnh, một
phương pháp khác cũng được nghiên cứu Phương pháp khuếch đại đẳng nhiệt qua trung gian (Loop – mediated isothermal Amplification Method – LAMP) khảo nghiệm được phát triển Phương pháp này có thể phát hiện được vi khuẩn
Salmonella enterica serovar Enteriditis và Salmonella enterica serovar Anatis
Trong việc thử nghiệm bằng các mẫu bệnh phẩm thì tổng cộng có 115 mẫu nghi
ngờ nhiễm Salmonella Các mẫu bệnh phẩm nhiễm được phân tích bằng phương
pháp truyền thống, LAMP và PCR Kết quả cho thấy 11 mẫu dương tính bởi LAMP và phương pháp truyền thống, tuy nhiên, chỉ có 8 mẫu dương tính bằng phương pháp PCR Trong việc xem xét mức độ nhạy cảm cao và tốc độ quét nhanh của phương pháp LAMP trong các mẫu kiểm nghiệm Phương pháp này rất phù hợp cho lĩnh vực ứng dụng và điều tra dịch tễ (Tang T và cs, 2012)
Trang 351.2.7.7 Phòng bệnh
Không nên dùng kháng sinh liều cao để phòng vì nếu trộn kháng sinh trong thức ăn với thời gian dài sẽ làm cho vi khuẩn có khả năng kháng thuốc trong ruột vịt (Phạm Quang Hùng, 2009)
Phòng bệnh là một biện pháp cực kỳ quan trọng vì thực hiện tốt bệnh sẽ không gây ra dịch lớn Các nghiên cứu đã chứng minh rằng phó thương hàn là bệnh
do ô nhiễm môi trường Cho nên, công tác vệ sinh, tẩy uế chuồng nuôi, lò ấp là
mấu chốt thành công để phòng bệnh do Salmonella gây ra Để phòng bệnh tốt
chúng ta cần thực hiện:
- Chỉ dùng trứng của những đàn khỏe mạnh để ấp
- Vịt mái đẻ thả với mật độ 200 mái/ha mặt nước
- Sau một đợt nuôi vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, phun tẩy uế chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng
- Trứng trước khi đưa vào ấp phải được xông formol (trong buồng kín hoặc trong lò ấp) Một phương pháp khử trùng đơn giản nữa là ngay trước khi ấp nhúng trứng vào dung dịch iod 0,5 – 1%, hoặc dung dịch thuốc tím 0,05%, dung dịch nước muối 1 – 2%, với thời gian nhúng là 30 giây
- Cần đảm bảo tốt chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Không được cho thủy cầm nhịn đói quá 8 giờ kể từ khi nở
- Nếu trong đàn xuất hiện bệnh do Salmonella, trước hết tách riêng những con
ốm để điều trị, số còn lại cần chia ra nhiều đàn nhỏ (giãn đàn), dùng một trong các thuốc chứa kháng sinh cho uống để hạn chế lây lan (Trần Văn Bình, 2005)
- Nước ao hồ, thức ăn, đặc biệt là bột cá, bột xương, bột thịt, bột ruốc nếu sản
xuất thức ăn viên phải qua xử lý nhiệt (sấy hơi nóng) thì vi khuẩn Salmonella mới
bị tiêu diệt
- Vệ sinh và xử lý máy ấp, nhà ấp (ấp thủ công) sau mỗi đợt ấp để diệt mầm bệnh có trong những phôi chết nhiễm vào máy ấp và các dụng cụ để ấp (Nguyễn Xuân Bình và cs, 2005)
- Không mua vịt giống ở nơi có bệnh, không rõ nguồn gốc
1.1.7.8 Phương pháp điều trị