TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài luận văn Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình với mục tiêu là đánh giá được hiện trạng q
Trang 1TRƯƠNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THẾ ANH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP Ở
HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thừa Thiên Huế, ngày 15 tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Anh
Trang 3đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Lâm nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn và người thân trong gia đình đã động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn các cấp chính quyền, bà con các xã trên địa bàn thực tập
và liên quan đến nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp của hạt Kiểm Lâm huyện
Bố Trạch đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại địa phương Kết quả luận văn thạc sĩ có được ngày hôm nay, một lần nữa xin cảm ơn PGS.TS Dương Viết Tình và người thân gia đình với lòng biết ơn vô hạn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày 15 tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Anh
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài luận văn Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình với mục tiêu là đánh giá được hiện trạng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp và phân tích được một số khó khăn, xung đột trong sử dụng, quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu nhằm đề xuất được một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất lâm nghiệp hợp lý ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Bằng các phương pháp nghiên cứu thông dụng trong lâm nghiệp như khảo sát thực địa, phân tích mô tả thống kê, thảo luận nhóm đề tài luận văn đã thu được một
số kết quả như sau:
Huyện Bố Trạch có tổng diện tích đất tự nhiên là 211.548,88 ha, trong đó đất nông nghiệp: 196.849,53 ha, chiếm 92,39%, đất phi nông nghiệp: 11.178,89 ha, chiếm 5,48%, đất chưa sử dụng: 6.520,46 ha, chiếm 2,13% tổng diện tích tự nhiên Đặc biệt đất lâm nghiệp có 164.992,44 ha chiếm 77% diên tích đất tự nhiên
Tình hình biến động đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Bố Trạch giai đoạn
2008 - 2013 là biến động giảm, diện tích giảm 9.918,06 ha, chủ yếu phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội, du lịch trên địa bàn Từ năm 2013 đến 2018 là biện động tăng, diện tích đất lâm nghiệp biến động khoảng 7.373,44 ha do sự chuyển hóa mục đích sử dụng đất trong nội bộ đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng
Tình hình biến động đất lâm nghiệp tại ba xã Sơn Trạch, Hưng Trạch, Thượng Trạch giai đoạn 2008 - 2013 đất lâm nghiệp phần lớn biến động tăng, diện tích biến động là 250,18 ha Nguyên nhân của biến động tăng là do quy hoạch lại 3 loại rừng vì vậy đất từ vườn quốc gia Phong nha – Kẻ Bàng được chuyển sang rừng sản xuất để giao cho các xã vùng đệm phát triển kinh tế
Giai đoạn 2013 đến 2018 đất lâm nghiệp các xã phần lớn biến động giảm, diện tích giảm là 614, 70 Nguyên nhân do điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và để phù hợp với chỉ tiêu đất quốc gia
Nhờ sự hỗ trợ của Phong Nha – Kẻ Bàng (Dự án đã kết thúc năm 2017) nên công tác quy hoạch đất lâm nghiệp đã thực hiện tốt, nhiều hoạt động quản lý sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả tại các xã điểm nghiên cứu như: Tổng diện tích đất Lâm nghiệp được Quy hoạch: 5.170,5 ha, trong đó: Trồng rừng mới 548,06 ha, Khoanh nuôi tái sinh 654,94 ha, Quản lý rừng cộng đồng 3.967,9 ha Cụ thể, xã Sơn Trạch:
Trang 5trồng mới 151,27 ha, Khoanh nuôi tái sinh 229,4 ha, rừng giao cho cộng đồng 52,23 ha; xã Hưng Trạch: trồng mới 130,26 ha, Khoanh nuôi tái sinh 260,74 ha; xã Thượng Trạch: trồng mới 266,1 ha, Khoanh nuôi tái sinh 164,8 ha, rừng giao cho cộng đồng 3915,7ha
Kết quả sau 8 năm thực hiện (2010-2018) công tác giao đất giao rừng cho các xã vùng đệm ở huyện Bố Trạch đã thực hiện được 1.718,97 ha Cụ thể cho từng hạng mục lâm sinh như sau: Khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung: 945,53 ha; Khoanh nuôi tái sinh có trồng bổ sung: 467,79 ha; Trồng rừng mới cây bản địa: 217,51 ha; Trồng cây bản địa trung tính có Keo lá tràm đến trước: 41,31ha; Trồng cây ưa sáng: 46,83 ha UBND huyện Bố Trạch đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện khẩn trương thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình tham gia dự án, đến nay huyện đã hoàn thành cấp cho 507/743 hộ, các hộ còn lại đã được cấp trước khi có Dự án Về công tác giao đất giao rừng cho cộng đồng quản lý đã hoàn thành công tác giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất cho cộng đồng 15 thôn bản với diện tích 2.257,2 ha
Kết quả nghiên cứu đã xác định được xung đột trong quản lý đất lâm nghiệp chủ yếu tập trung giữa chủ rừng được nhà nước giao đất lâm nghiệp để quản lý (Vườn quốc gia, Công ty Lâm nghiệp/Lâm trường) với một số hộ dân trong cộng đồng sống gần rừng Nguyên nhân chính là người dân ở địa phương các xã vùng đệm thiếu đất canh tác nhằm đảm bảo sinh kế lâu dài cho họ, trong khi đó Công ty Lâm nghiệp/Lâm trường sử dụng đất lâm nghiệp không hiệu quả
Để quản lý tốt đất lâm nghiệp ở vùng đệm có 2 nhóm ảnh hưởng: (1) Nhóm ảnh hưởng trực tiếp gồm Công ty Lâm nghiệp/Lâm trường; Hộ gia đình nhận khoán rừng; Chính quyền các xã, thị trấn, Phòng Tài Nguyên và Môi Trường; Hạt Kiểm lâm và Kiểm lâm địa bàn và (2) Nhóm ảnh hưởng gián tiếp: Gồm Các dự án; Vai trò của cộng đồng thôn ở các xã khác; Vai trò của cộng đồng thôn, sống gần rừng của Công ty và Vai trò các tổ chức đoàn thể, trong đó vài trò rất quan trọng và có tính quyết định là UBND xã, các hộ gia đình nhận khoán rừng và các Dự án hỗ trợ vùng đệm được đánh giá rất cao với tỷ lệ trên 90% số ý kiến đồng ý Như vậy cần một loạt giải pháp tổng hợp và sự hỗ trợ của nhiều bên liên quan thì đất lâm nghiệp mới quản lý tốt và sử dụng
có hiệu quả
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cở sở lý luận 3
1.1.1 Cơ sở pháp lý về quản lý rừng và đất lâm nghiệp 3
1.1.2 Các chính sách liên quan đến quản lý đất lâm nghiệp ở tỉnh Quảng Bình 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 4
1.3 Các nghiên cứu liên quan 5
1.3.1 Tình hình nghiên cứu quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên thế giới 5
1.3.2 Tình hình quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam 11
1.3.3 Một số nghiên cứu về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam 13
1.3.4 Công tác tổ chức quản lý đất lâm nghiệp ở tỉnh Quảng Bình 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tương nghiên cứu: 18
2.1.2.Phạm vi nghiên cứu: 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 19
2.3.2 Chọn điểm nghiên cứu 19
2.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu 20
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bố Trạch 22
Trang 73.1.1 Vị trí địa lý 22
3.1.2 Đặc điểm các nhân tố sinh thái tự nhiên Error! Bookmark not defined 3.1.3 Phát triển kinh tế - xã hội 29
3.2 Tình hình quản lý sử dụng đất ở huyện Bố Trạch 32
3.2.1 Tình hình quản lý đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch 32
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch 34
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất của ba xã Sơn Trạch, Hưng Trạch, Thượng Trạch 39
3.2.4 Công tác giao đất lâm nghiệp cho các xã ở huyện Bố Trạch 40
3.2.5 Phân tích quy mô và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp của các hộ gia đình ở huyện Bố Trạch 41
3.2.6 Công tác giao rừng cho cộng đồng quản lý 45
3.3 Tình hình biến động đất lâm nghiệp tại huyện Bố Trạch 48
3.3.1 Tinh hình biến động đất lâm nghiệp tại huyện Bố Trạch 48
3.3.2 Tình hình biến động đất Lâm nghiệp ở Sơn Trạch, Thượng Trạch, Hưng trạch 49 3.4 Phân tích xung đột và vai trò các bên liên quan trong quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch 50
3.4.1 Những xung đột nảy sinh trong sử dụng đất lâm nghiệp 50
3.4.2 Phân tích vai trò các bên liên quan trong quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch 54
3.5 Đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 59
3.5.1 Phân tích những thuận lợi và khó khăn về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch 59
3.5.2 Các giải pháp cụ thể về quản lý đất sử dụng Lâm nghiệp 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 KẾT LUẬN 65
2 ĐỀ NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND Ủy ban nhân dân
ND-CP Nghị định chính phủ
QĐ-TTG Quyết định thủ tướng
TT-BTNMT Thông tư bô tài nguyên môi trường
TT-BNNPTNT Thông tu bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn QĐ-UBND Quyết định ủy ban nhân dân
BQLRPH Ban quản lý rùng phòng hộ
Cty BQB Công ty Bắc Quảng Bình
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
NN&PTNT Nông nghiệp & phát triển nông thôn
TN&MT Tài nguyên & môi trường
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp phân theo chức năng của các huyện, thành
phố, thị xã trên địa bàn tỉnh 15
Bảng 1.2: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản lý trên địa bàn tỉnh 16
Bảng 3.1: Thống kê các loại đất theo nguồn gốc phát sinh (Đơn vị tính: ha) 28
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất huyện Bố Trạch năm 2018 34
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch năm 2018 36
Bảng 3.4: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý trên 38
địa bàn huyện Bố Trạch 38
Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất LN ở Sơn Trạch, Hưng Trạch, Thượng Trạch 39
Bảng 3.6: Công tác quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp giao cho các xã ở huyện 41
Bố Trạch của Dự án Phong Nha – Kẻ Bàng 41
Bảng 3.7: Quy mô đất Lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình ở 3 xã nghiên cứu 42
Bảng 3.8: Hiệu quả trồng rừng của các nhóm hộ nhận đất lâm nghiệp 44
Bảng 3.9: Diện tích đất Lâm nghiệp đã được cấp sổ đỏ cho người dân ở các thôn/bản trên địa bàn huyện Bố Trạch 47
Bảng 3.10: Biến động đất Lâm nghiệp giai đoạn 2008-2018 ở huyện Bố Trạch 48
Bảng 3.11: Biến động đất Lâm nghiệp của ba xã Sơn Trạch, Hưng Trạch, Thượng Trạch giai đoạn 2008-2018 49
Bảng 3.12: Tóm tắt nguyên nhân gây ra xung đột trong quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch 51
Bảng 3.13: Đánh giá về vai trò các bên liên quan đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn vùng đệm huyện Bố Trạch 58
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Bố Trạch 22
Hình 3.2: Bản đồ Quy hoạch 3 loại rừng huyện Bố Trạch 37
Hình 3.3: Biểu đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Bố Trạch 37
Hình 3.4: Biểu đồ diện rừng và đất LN theo chủ quản lý huyện Bố Trạch 38
Hình 3.5: Biểu đồ diện rừng và đất lâm nghiệp theo mục đích sử dụng của Sơn Trạch, Hưng Trạch, Thượng Trạch 40
Trang 11MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Rừng có vai trò vô cùng quan trọng với chức năng phòng hộ hạn chế thiên tai, điều tiết nguồn nước, điều hoà khí hậu trong điều kiện biến đổi khí hâu hiện nay, ngoài
ra rừng cung cấp lâm sản và nhiều lợi ích khác cho các cộng đồng như phát triển kinh
tế, góp phần tích cực và công cuộc xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay các nguồn tài nguyên (đất, nước, khoáng sản, rừng…) đang bị khai thác có xu hướng cạn kiệt ở đất nước ta, hệ lụy tất yếu là đang có nhiều bất ổn về vấn đề môi trường sinh thái lũ lụt, hạn hán và xã hội
Chính phủ đã bàn hành nhiều chính sách nhằm tăng cường trong quản lý ngăn chặn sự tàn phá tài nguyên rừng, nhưng với hình thức quản lý rừng theo kiểu truyền thống chủ yếu giao cho các Ban quản lý rừng, Công ty lâm nghiệp, Lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã, chính quyền địa phương…tỏ ra thiếu hiệu quả, tài nguyên rừng vẫn giảm về số lượng và chất lượng Có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do các
tổ chức Nhà nước về lâm nghiệp không đủ lực lượng, năng lực kiểm soát và quản lý trên diện tích rừng rộng lớn Hơn nữa với cách quản lý này phần lớn lợi ích từ rừng đều thuộc về cơ quan Nhà nước, còn người dân địa phương được hưởng lợi rất ít, dẫn đến họ không quan tâm vào việc quản lý bảo vệ rừng
Để khắc phục những nhược điểm trên và quản lý rừng có hiệu quả hơn cần phải
có phương thức tiếp cận quản lý đất lâm nghiệp và rừng thích hợp Đứng trước yêu cầu đó Nhà nước và ngành lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành chuyển đổi hình thức quản lý tâm trung (top dow) sang quản lý phi tập trung (có sự tham gia của nhiều bên liên quan), trong đó thay đổi phương thức quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp gắn với tài nguyên rừng là biện pháp nhiều chủ rừng, tổ chức Chính phủ và Phi Chính phủ đang thực hiện và phát triển hiện nay trong ngành Lâm nghiệp
Tỉnh Quảng Bình trong những năm gần đây đã chú trọng đến việc chuyển phương thức quản lý tập trung từ Nhà nước sang phi tập trung như đề cao vai trò các chủ rừng, trong đó chú trọng đến vai trò của các cộng đồng sồng trong công tác quản
lý bảo vệ rừng, giao đất giao rừng cho cộng đồng quản lý và hưởng lợi theo chính sách chi tra dịch vụ môi trường rừng
Huyện Bố Trạch cũng là một trong những huyện có nhiều nguồn tài nguyên rừng và gắn liền với vườn Quốc gia Phong Nhà-Kẻ Bàng, nơi có nguồn tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên đang bị xâm hại đáng kể trong những năm gần đây Để tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm đã được Ủy ban
Trang 12nhân dân (UBND) huyện và Chi cục Kiểm Lâm tỉnh cho phép thử nghiệm các mô hình giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý Tuy nhiên cho đến nay việc quản lý rừng
và đất rừng còn nhiều bất cập Việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất áp dụng các hình thức quản lý rừng và đất rừng phù hợp với thực tiến là rất cần thiết
Vì lý do đó chúng tôi thực hiện Đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và đề
xuất giải pháp quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình"
Mục đích và mục tiêu cụ thể của đề tài
Mục đích: Trên cơ sở đánh giá được thực trạng tình hình phát triển kinh tế xã
hội của địa phương để xác định những khó khăn trong công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá được hiện trạng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp ở huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình
Phân tích được một số khó khăn và xung đột trong quản lý, sử dụng rừng và đất
lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng và
sử dụng đất lâm nghiệp hợp lý ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa Khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến công tác quản lý rừng và sử dụng đất lâm nghiệp ở địa bàn các Huyện miền núi các Tỉnh miền Trung nhằm quản lý
có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá đúng hiệu quả, thực trạng quản lý rừng và sử
dụng đất lâm nghiệp của các bên liên quan làm cơ sở đề xuất hướng đổi mới công tác quản lý đất lâm nghiệp gắn với bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên rừng
và ổn định sinh kế của cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng trên địa bàn huyện
Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cở sở lý luận
1.1.1 Cơ sở pháp lý về quản lý rừng và đất lâm nghiệp
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
Luật Đất đai số 45 /2013/QH 13, ngày 29/11/2013;
Luật Lâm nghiệp 2017, có hiệu lực thi hành năm 2019;
Nghị định số 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ về quy định
về khoán rừng, vườn cây và diện tích mặt nước trong các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông lâm nghiệp nhà nước;
Quyết định số 07/2012/QĐ-TTG, ngày 08/02/2012 của thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác trong bảo vệ rừng;
Nghị định 88/2009/ND-CT của Chính phủ ban hành ngày 19/10/2009 về cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên - Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liến trên đất;
Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ
về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp”;
Thông tư số 02/2015/TT-BNNPTNT ngày 27 tháng 01 năm 2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xây dựng đề án và phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17
Trang 14tháng 12 năm 2014 của Chính phủ
1.1.2 Các chính sách liên quan đến quản lý đất lâm nghiệp ở tỉnh Quảng Bình
Quyết định số 4534/QĐ-UBND ngày 25/12/2018 của UBND tỉnh Quảng Bình
về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rùng tỉnh Quảng Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 25/12/2018 của UBND tỉnh Quảng Bình
về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ phát triển rừng tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2025;
Quyết định số 3727/QĐ-UBND năm 2016 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê kết công bố kết quả kiểm kê rừng tỉnh Quảng Bình;
1.2 Cơ sở thực tiễn
Liên quan đến quản lý rừng và đất lâm nghiệp thì đất lâm nghiệp và rừng phải
có chủ sở hữu, thực tế ở Việt Nam một số hình thức sở hữu rừng và đất lâm nghiệp:
Đất lâm nghiệp được nhà nước giao cho các chủ rừng quản lý như sau:
1 Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng
2 Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất
là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng
3 Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền
sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng
4 Đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng
5 Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng
Hiện nay, thực trạng tài nguyên rừng ngày càng suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Vấn đề được Nhà nước và các ban, ngành quan tâm là làm thế nào để quản lý tốt nguồn tài nguyên này Để nâng cao hiệu quả quản lý rừng thì cần có hình thức quản lý phù hợp Nước ta hiện nay có rất nhiều hình thức quản lý rừng và mỗi hình thức có những điểm mạnh – yếu khác nhau, làm tác động đến sinh kế của các
Trang 15bên liên quan khác nhau, đặc biệt là cư dân sống ở trong và gần rừng
- Công tác quản lý của Nhà nước về đất lâm nghiệp trong địa bàn ở tỉnh Quảng Bình nói chung và ở huyện Bố Trạch nói riêng, còn một số hạn chế trong những năm qua
- Việc quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức và người dân ngày càng phức tạp như: xảy ra lấn, chiếm , tranh chấp giữa tổ chức và hộ gia đình, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa tổ chức và hộ gia đình còn nhiều vướng mắc, bất cập do xảy ra tranh chấp về ranh giới sử dụng, làm khó khăn cho Nhà nước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Việc xử lý vi phạm đối với trường hợp tranh chấp, lấn, chiếm đất rừng của chính quyền địa phương và các cơ quan ban ngành chưa thật sự quan tâm, giải quyết chưa dứt điểm, thời gian kéo dài, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng của các Công ty lâm nghiệp và các Ban quản lý rừng Vì vậy, chưa đáp ứng được nhu cầu
về tính pháp lý, nhu cầu đầu tư phát triển của các Công ty, các Ban quản lý rừng
- Trong thời gian gần đây thị trường giá gỗ rừng trồng nguyên liệu giấy có giá trị cao, 1,0 tấn giá từ 1.200.000 đồng - 1.300.000 đồng, nên việc trồng rừng và sự tranh chấp đất đai, lấn chiếm trái phép đất lâm nghiệp ngày càng tăng đột biến, phức tạp và khó quản lý
1.3 Các nghiên cứu liên quan
1.3.1 Tình hình nghiên cứu quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên thế giới Tại Thụy Điển, Phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý và sử
dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội Vì vậy, toàn bộ pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất
và lợi ích chung của Nhà nước
Bộ Luật đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ dất đai và hoạt động của toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất, đăng
ký đất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu đất đai và đều được luật hoá Pháp luật và chính sách đất đai ở Thuỵ Điển về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường, có sự giám sát chung của xã hội
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đây gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân Quy định
Trang 16các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất đai và hệ thống đăng ký
Tại Trung Quốc, Đang thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, đó là
chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động Mọi đơn vị, cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng phi pháp đất đai Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở
hữu tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất
Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc sách cơ bản của Trung Quốc
Đất đai ở Trung Quốc được phân thành 3 loại
- Đất dùng cho nông nghiệp là đất trực tiếp sử dụng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm đất canh tác, đất rừng, đồng cỏ, đất dùng cho các công trình thuỷ lợi và đất mặt nước nuôi trồng
- Đất xây dựng gồm đất xây dựng nhà ở đô thị và nông thôn, đất dùng cho mục đích công cộng, đất dùng cho khu công nghiệp, công nghệ, khoáng sản và đất dùng cho công trình quốc phòng
- Đất chưa sử dụng là đất không thuộc hai loại đất trên
Ở Trung Quốc hiện có 250 triệu hộ nông dân sử dụng trên 100 triệu ha đất canh tác, bình quân khoảng 0,4ha/hộ gia đình Vì vậy Nhà nước có chế độ bảo hộ đặc biệt đất canh tác
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục đích
sử dụng đất trưng dụng Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10 lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng Tiêu chuẩn
hỗ trợ định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng từ 4 đến 6 lần giá trị sản lượng bình quân của đất canh tác/đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao nhất không vượt quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm trước đó Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đề bù đất trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng vào mục đích khác
Tại Pháp, Các chính sách quản lý đất đai ở Cộng hoà Pháp được xây dựng trên một
số nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai và hình thành các công cụ quản lý đất đai
Nguyên tắc đầu tiên là phân biệt rõ ràng không gian công cộng và không gian
Trang 17tư nhân Không gian công cộng gồm đất đai, tài sản trên đất thuộc sở hữu Nhà nước và tập thể địa phương Tài sản công cộng được đảm bảo lợi ích công cộng có đặc điểm là không thể chuyển nhượng, tức là không mua, bán được Không gian công cộng gồm các công sở, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, bảo tàng
Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và đảm bảo lợi ích song hành Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường chỗ và trong trường hợp đó, lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường một cách công bằng và tiên quyết với lợi ích tư nhân
Ở Pháp, chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất Sử dụng đất nông nghiệp, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định Nghiêm cấm việc xây dựng nhà trên đất canh tác để bán cho người khác
Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối với một
số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng, đất mới dành cho ươm cây trồng
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm phán với nhau nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn
Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua, muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán Việc bán đất nông nghiệp phải nộp thuế đất và thuế trước bạ Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo ra các thửa đất có diện tích lớn hơn
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động mua bán, chuyển nhượng đất đai Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất Văn tự chuyển đổi chủ sở hữu đất đai có Toà án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi
Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì phải nộp 30% chi phí cho các công trình xây dựng hạ tầng, phần còn lại là 70% do kinh phí địa phương chi trả Ngày nay, đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch
Trang 18vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển
Tại Australia, có lịch sử hình thành từ thuộc địa của Anh, nhờ vậy Australia có
được cơ sở và hệ thống pháp luật quản lý xã hội nói chung và quản lý đất đai nói riêng từ rất sớm Trong suốt quá trình lịch sử từ lúc là thuộc địa đến khi trở thành quốc gia độc lập, pháp luật và chính sách đất đai của Australia mang tính kế thừa và phát triển một cách liên tục, không có sự thay đổi và gián đoạn do sự thay đổi về chính trị Đây là điều kiện thuận lợi làm cho pháp luật và chính sách đất đai phát triển nhất quán và ngày càng hoàn thiện, được xếp vào loại hàng đầu của thế giới, vì pháp Luật đất đai của Australia đã tập hợp và vận dụng được hàng chục luật khác nhau của đất nước
Luật đất đai của Australia quy định đất đai của Quốc gia là đất thuộc sở hữu Nhà nước và đất thuộc sở hữu tư nhân Australia công nhận Nhà nước và tư nhân
có quyền sở hữu đất đai và bất động sản trên mặt đất Phạm vi sở hữu đất đai theo luật định là tính từ tâm trái đất trở lên, nhưng thông thường Nhà nước có quyền bảo tồn đất ở từng độ sâu nhất định, nơi có những mỏ khoáng sản quý như vàng, bạc, thiếc, than, dầu mỏ …(theo sắc luật về đất đai khoáng sản năm 1993)
Luật đất đai Australia bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai Tuy nhiên, luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và việc trưng thu đó gắn liền với việc Nhà nước phải thực hiện bồi thường thoả đáng [24]
Tại Thái Lan, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng Bắt đầu từ
năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi, trong rừng
dự trữ Quốc gia, theo chương này mỗi mảnh đất được chia làm hai miền Miền từ phía dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp, miền ở phía trên nguồn nước thì lại hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho canh tác nhưng mà trước đây những người dân đã chiếm dụng (dưới 2,5 ha) thì được cấp cho người dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Đến năm 1976 đã có 600.126 hộ nông dân
có đất được cấp giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi Cùng với chương trình này, đến năm 1975 Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia Thái Lan đã thực hiện chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết cho những hộ gia đình được ở trên đất rừng, quá trình thực hiện chương trình này đã thành lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia
Chương trình làng lâm nghiệp được quy định một cách chặt chẽ, mỗi hộ gia
Trang 19đình trong làng được cấp từ 2 - 4 ha đất và được hưởng quyền sử dụng, thừa kế, nhưng không được bán, mua hay chuyển nhượng diện tích đất đó Quá trình sản xuất của làng được sự hỗ trợ của Nhà nước về điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp thị và đào tạo nghề Đi cùng với chương trình này là việc thành lập các hợp tác xã nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo trợ của ban chỉ đạo HTX Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia sẽ ký hợp đồng giao đất dài hạn cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả đầu tư trên đất được giao đó Thái Lan tiến hành giao được trên 200.000 ha đất gắn liền với rừng cho cộng đồng dân cư sống gần rừng, diện tích mỗi hộ gia đình được nhận trồng rừng từ 0.8 ha đến 8 ha
Bước sang thời kỳ những năm 90, Chính Phủ Thái Lan tiếp tục chính sách ruộng đất theo dự án mới Trên cơ sở đánh giá, xem xét khả năng của nông dân nghèo, giải quyết khâu cung cầu về ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hoá và giải quyết việc làm Dự án này có sự thoả thuận giữa Chính Phủ, chủ đất và nông dân giới đầu tư nhằm chia sẻ quyền lợi trong giới kinh doanh và người sử dụng ruộng đất Theo dự án này Chính Phủ giúp đỡ tiền mua đất, mặt khác khuyến khích đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nông dân nghèo [24]
Tại Philipin, áp dụng chương trình lâm nghiệp xã hội tổng hợp theo đó Chính
phủ giao quyền quản lý đất lâm nghiệp cho cá nhân, các hội quần chúng và cộng đồng địa phương trong 25 năm và gia hạn thêm 25 năm nữa, thiết lập rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý Người được giao đất phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300 ha thì năm đầu tiên phải trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70% diện tích và 7 năm phải hoàn thành trồng rừng trên diện tích được giao
Tại Ghana, Một cơ chế khá cân bằng giữa khuyến khích lợi ích vật chất và qui
luật cung cầu hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa người sử dụng và người quản lý tài nguyên rừng đã được thử nghiệm Cơ chế này đã khuyến khích việc quản lý tài nguyên rừng hướng tới sự bền vững về sinh học, sự công bằng về xã hội và hiệu quả
về mặt kinh tế Cơ chế rừng cộng quản đã được thực hiện đến cấp huyện Các khuyến khích về chính sách có thể được sử dụng để tăng cường hiệu lực cho việc hỗ trợ sự hài hoà và đảm bảo giữa quyền lợi và trách nhiệm cho những nhóm sử dụng đặc biệt trong
hệ thống quản lý sinh học, đặc biệt các địa phương, các loài nhất định[26]
Tại Ấn Độ, Liên kết quản lý rừng đã đem lại những lợi ích nhất định cho cả hai
bên: Chính phủ (cơ quan lâm nghiệp) và cộng đồng địa phương Chính sách lâm nghiệp quốc gia 1988 khẳng định sự tham gia của người dân vào sự phát triển và bảo
vệ rừng và khẳng định một trong những điểm thiết yếu của quản lý rừng chính là các cộng đồng tại rừng phải được khuyến khích để tự nhận biết vai trò của bản thân họ
Trang 20trong phát triển và bảo vệ rừng mà họ được hưởng lợi từ đó[24]
Tại Indonesia, Các nghiên cứu về Lâm nghiệp xã hội do FAO và các trường
Đại học Gadjah Mada và Đại học Wageningen đã làm rõ những thay đổi của chính phủ nhằm hỗ trợ giải pháp lâm nghiệp xã hội thông qua việc vận dụng những kinh nghiệm của các nước khác và thử nghiệm bằng điều kiện thực tế của đất nước mình Nghiên cứu và đào tạo về quản lý rừng có sự tham gia đã rất được coi trọng tại Indonesia[24]
Tại Bangladesh, Lâm nghiệp Cộng đồng được phát triển như là một hợp phần
của giải pháp canh tác và phát triển nông thôn tổng hợp đã đòi hỏi đến việc thay đổi chính sách cũng như luật pháp trong nghành lâm nghiệp, trọng tâm là quản lý rừng có
sự tham gia, đặc biệt coi trọng vai trò của phụ nữ Các giải pháp cung cấp dịch vụ kỹ thuật, hỗ trợ khuyến nông và các nghiên cứu định hướng theo nhu cầu, đơn đặt hàng là những yếu tố thúc đẩy cho sự thành công cho hình thức quản lý đó[26]
Tại SriLanka, Đất nước này cũng đã thử nghiệm hình thức quản lý rừng có sự
tham gia dựa trên kinh nghiệm của các nước lân cận Tuy nhiên, do thiếu sự tham gia thích hợp, do khung pháp lý chưa hoàn thiện nên thử nghiệm đã không thành công trong những năm đầu Các nghiên cứu đã đề xuất có sự thay đổi chính sách và luật cần
có những sự cải cách, đồng thời cũng cần có sự hoàn thiện về việc thực hiện hệ thống cộng quản tài nguyên rừng[24]
Tại Nepal, Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể các khu
rừng cộng đồng ở vùng trung du cho các cộng đồng dân cư địa phương, thông qua sử dụng các tổ chức chính quyền ở cấp cơ sở để quản lý rừng Chính phủ yêu cầu các tổ chức đó phải thành lập một ủy ban về rừng và cam kết quản lý những vùng rừng ở địa phương theo kế hoạch đã thỏa thuận Tuy nhiên sau một thời gian người ta nhận ra các
tổ chức đó không phù hợp với việc quản lý và bảo vệ rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có các nhu cầu, sở thích khác nhau Tiếp theo, Nhà nước đã phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng rừng quyền sở hữu rừng chia làm hai loại là sở hữu cá nhân và sở hữu nhà nước Trong sở hữu nhà nước chia rừng thành các quyền sử dụng khác nhau như: rừng cộng đồng theo các nhóm sử dụng, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ, rừng Nhà nước Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng rừng Trong vòng 14 năm, Nhà nước giao khoảng 9000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng Từ năm 1993, chính sách lâm nghiệp mới nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn
và hỗ trợ các nhóm sử dụng rừng, thay đổi chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện
từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn[24]
Trang 211.3.2 Tình hình quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác quản lý tài nguyên đất đã được quan tâm từ rất sớm Những năm đầu của thập kỷ 80, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống chính sách về đất đai phù hợp với tình hình đất nước thể hiện ở chính sách thống nhất quản lý ruộng đất
và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, đồng thời thực hiện công tác
đo đạc phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước Đặc biệt ngày 18/12/1980 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp sửa đổi quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa… đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung” Đây là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để thực thi công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước
Nội dung quản lý đất nông nghiệp có những chuyển biến tích cực khi thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/01/1981 về việc mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng được coi là tiền đề cho những chính sách mang tính cải cách sâu rộng sau này
Ngày 29/12/1987, Quốc hội khoá VIII chính thức thông qua Luật đất đai 1988
và nó chính thức có hiệu lực từ ngày 08/01/1988 Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị về giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài là dấu mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của công tác quản lý sử dụng đất đai trong giai đoạn xây dựng đổi mới đất nước
Cùng với những bước phát triển của cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện chính sách hội nhập với thế giới, Hiến pháp năm 1992 ra đời đánh dấu điểm khởi đầu của công cuộc đổi mới chính trị Tại Điều 17 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật”
Đồng thời Luật đất đai 1988 không còn phù hợp và bộc lộ nhiều điểm bất cập, chính vì vậy ngày 01/07/1993 Luật đất đai 1993 được thông qua, chính thức có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Tiếp đó là Luật đất đai bổ sung một số điều của Luật đất đai
1993, 2001
Hệ thống pháp luật về đất đai thời kỳ này đã đánh dấu một mốc quan trọng về
sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước ta với những thay đổi quan trọng như: Đất đai được khẳng định là có giá trị; ruộng đất nông lâm nghiệp được giao ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân; người sử dụng đất được hưởng các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất và quy định 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 quy định về việc
Trang 22giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp
Đến ngày 29/11/2013 Quốc hội ban hành Luật Đất đai số 45/2013/QH13 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013 đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai Hệ thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là hoàn chỉnh với những nội dung quy định
cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, về thu tiền sử dụng đất, về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 23Tại điều 22 Luật đất đai 2013 quy định 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, bao gồm:
1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
3 Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất, điều tra, đánh giá tài nguyên đất, điều tra xây dựng giá đất
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
7 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
8 Thống kê, kiểm kê đất đai
9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
14 Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai
15 Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
1.3.3 Một số nghiên cứu về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam
Công trình nghiên cứu của GS Nguyễn Xuân Quát, năm 1996 về “sử dụng đất tổng hợp bền vững” đã giải quyết một số vấn đề mấu chốt về đất đai và đưa ra hệ thống sử dụng đất, cách tiếp cận, đồng thời bước đầu xác định được một số tập đoàn cây trồng thích hợp cho mô hình sử dụng đất tổng hợp, bền vững [26]
Nhóm nghiên cứu: Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà, Phạm Tiến Dũng đã nghiên cứu về sử dụng hợp lý đất dốc ở Văn Yên, tỉnh Yên Bái Công trình nghiên cứu hướng
Trang 24vào cải tiến hệ thống canh tác truyền thống: chọn cây trồng, chọn hệ thống canh tác, chọn luân kỳ khai thác, chọn phương thức trồng xen Kết quả cuối cùng là tìm ra hệ thống cây trồng tối ưu có khả năng áp dụng hiệu quả và bảo vệ môi trường [28] Năm 1997, các tác giả Hoàng Hoè, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình
đã tổng kết các mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam Công trình này đã được đánh giá hiệu quả và có khả năng áp dụng trong điều kiện cụ thể của mỗi vùng [9]
Nghiên cứu của Bảo Huy (2005) đã thực hiện nghiên cứu và thử nghiệm Quản
lý rừng cộng đồng và Cơ chế hưởng lợi - Đề xuất những vấn đề về thể chế hóa ở tỉnh Đăk Nông [2]
Theo tác giả Vũ Văn Tuấn (1996) việc quy hoạch sử dụng đất được coi là một nội dung chính và được thực hiện trước khi giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản, chính quyền xã phương pháp quy hoạch sử dụng đất dựa trên PRA, căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất [43]
Nghiên cứu của Hoàng Huy Tuấn đã thực hiện nghiên cứu sự phân quyền trong quản lý rừng ảnh hưởng như thế nào đến quyền sở hữu trong quản lý rừng cộng đồng? Nghiên cứu trường hợp huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tóm lại, trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng rừng và đất rừng, tuy nhiên các nguyên cứu này phần lớn chỉ tập trung vào giải pháp kỹ thuật, vấn
đề về quản lý sử dụng rừng và đất rừng sau khi giao còn ít, đặc biệt là những nghiên cứu đi sâu, trọng tâm, để tìm ra mối liên quan giữa hiệu quả, kết quả sử dụng và quá trình giao nhận
1.3.4 Công tác tổ chức quản lý đất lâm nghiệp ở tỉnh Quảng Bình
Tỉnh Quảng Bình hiện có 615.530,15 ha đất lâm nghiệp, chiếm gần 80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó diện tích có rừng 528.498,08 ha (bao gồm rừng tự nhiên 474.759,09 ha, rừng trồng 53.738,99 ha); đất chưa có rừng 87.032,07 ha
Phân theo chức năng 3 loại rừng toàn tỉnh có 144.310,83 ha rừng đặc dụng; 151.888,88 ha rừng phòng hộ; 319.330,44 ha rừng sản xuất (theo Quyết định số 4534/QĐ-UBND ngày 25/12/2018 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Quảng Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030), độ che phủ
Trang 25Bảng 1.1: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp phân theo chức năng của các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh
Loại rừng Quy hoạch
Phân theo đơn vị hành chính
Đồng Hới Minh Hóa Tuyên Hóa Quảng Trạch Bố Trạch Quảng Ninh Lệ Thủy Ba Đồn
Trang 26Qua bảng 1.1 ta thấy Quảng Bình là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp tương đối lớn Theo quy hoạch ba loại rừng Quảng Bình có đầy đủ các loại rừng gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng
Bảng 1.2: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản lý trên địa bàn tỉnh
Trang 27TT Chủ rừng Tổng Phòng hộ Đặc dụng Sản xuất
(Nguồn: Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch, 2018)
Quảng bảng 1.2 ta thấy diện tích rừng ở Quảng Bình chủ yếu do các tổ chức quản lý,
sử dụng, cụ thể: Các Ban quản lý rừng quản lý sử dụng 268.885,55 ha; Các doanh nghiệp quản lý sử dụng 117.568,10 ha; diện tích còn lại do Lực lượng vũ trang, đối tượng chủ rừng khác, UBND xã, cộng đồng và hộ gia đình cá nhân quản lý sử dụng
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tương nghiên cứu:
Đất lâm nghiệp quản lý và sử dụng theo 3 loại rừng
Công tác quản lý đất lâm nghiệp của các bên liên quan
Đất lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình trên địa bàn huyện Bố Trạch
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý, sử dụng đất lâm
nghiệp theo 3 loại rừng ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Nghiên cứu công tác giao đất cho các hộ gia đình đề tài đi sâu tìm hiểu 3 xã điểm đại diện cho vùng của huyện Bố Trạch (xã Sơn Trạch, Hưng Trạch và Thượng Trạch )
Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập số liệu trong 5 năm 2013 - 2018 trên địa
bàn huyện Bố Trạch
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, nghiên cứu, đánh giá các đặc điểm về điều kiện tự nhiên - kinh tế -
xã hội huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
- Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng trên địa bàn huyện Bố Trạch;
- Phân tích kết quả giao đất lâm nghiệp (rừng tự nhiên và đất trồng rừng) cho các hộ gia đình tham gia quản lý ở 3 xã điểm trên địa bàn huyện Bố Trạch;
- Phân tích tình hình biến động đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Bố Trạch và
ba xã được chọn để nghiên cứu;
- Phân tích những khó khăn, xung đột trong quá trình quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
- Đề xuất giải pháp quản lý và vai trò các bên có liên quan đến quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 292.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các tài liệu liên quan đến chính sách giao đất lâm nghiệp ở một số nước trên Thế giới và ở Việt Nam
- Các tài liệu, báo cáo, bản đồ liên quan đến vấn đề giao đất và tình hình sử dụng đất lâm nghiệp ở địa phương
- Thu thấp các số liệu thứ cấp về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp tại các bàn ngành cấp huyện như Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường và các Sở, Ban, Ngành có liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.3.2 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến tính chính xác, khách quan và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu đề tài Việc chọn điểm nghiên cứu trong đề tài bao gồm chọn xã, chọn hộ, được tiến hành theo các bước sau:
* Chọn xã nghiên cứu: Việc chọn xã nghiên cứu phải đảm bảo yêu cầu yêu cầu
đại diện cho hiện trạng sử dụng đất của huyện sau giao đất lâm nghiệp Công tác chọn điểm nghiên cứu trên địa bàn huyện được căn cứ vào các yêu cầu sau:
- Ba xã được chọn có đầy đủ 03 loại rừng phân theo mục đích sử dụng (Đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) Có đầy đủ các loại chủ rừng theo quy định tại Luật Lâm nghiệp Ba xã được sự hỗ trợ của Dự án Phong Nha –Kẻ Bàng
- Chọn các xã có diện tích đất lâm nghiệp lớn và đã giao đất lâm nghiệp (cả rừng tự nhiên và đất trồng rừng) cho các hộ gia đình tham gia quản lý
- Chọn địa bàn nghiên cứu 03 xã đại diện cho các vùng khác nhau của huyện
Bố Trạch
- Chọn địa bàn điều tra có điều kiện kinh tế khác nhau để giúp cho việc phân
tích số liệu tìm nguyên nhân của hiệu quả quản lý, sử dụng đất khác nhau
* Chọn hộ điều tra: Đối tượng được chọn để điều tra là các nông hộ đã được
giao đất lâm nghiệp ở các xã Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ đại diện (hộ khá, trung
bình, nghèo) tổng số 90 hộ điều tra trên 3 xã
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA):
Trực tiếp phỏng vấn nông dân, tạo cơ hội cho họ trao đổi bàn bạc đưa ra những khó khăn, nguyện vọng, những kinh nghiệm sản xuất, kế hoạch và giải pháp để phát triển sản xuất cho gia đình được giao đất lâm nghiệp
Trang 30Thông tin thu thập được chủ yếu dùng cho việc phân tích hiện trạng và đưa ra những định hướng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp thích hợp
- Phương pháp thảo luận nhóm: Phương pháp thảo luận nhóm để xác định xung
đột và vai trò các bên có liên quan trong quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Nhóm thảo luận gồm 5 cán bộ cấp huyện (3 cán bộ hạt Kiểm lâm và 2 cán bộ phòng Tài nguyên môi trường), 3 cán bộ kiểm lâm địa bàn và 3 cán bộ quản lý nông nghiệp và địa chính
ở 3 xã, các hộ dân của 03 xã
- Phương pháp điều tra phỏng vấn hộ nông dân: Phương pháp này sử dụng bộ
câu hỏi để điều tra hộ bao gồm các thông tin về tình hình cơ bản của hộ; thông tin về quy mô, cơ cấu đất lâm nghiêp; tình hình sử dụng các loại đất trước và sau giao đất; hoạt động sản xuất trên đất lâm nghiệp và ý kiến của nông hộ về chính sách giao đất, hiệu quả trồng rừng hiện tại, thu nhập sau khi được giao đất lâm nghiệp, thực trạng về lấn chiếm đất lâm nghiệp, những khó khăn, kiến nghị
2.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu
* Đối với số liệu thứ cấp: Sau khi được thu thập, toàn bộ thông tin được xử lý,
tính toán và trình bày thông qua bảng, biểu hoặc đồ thị
* Đối với số liệu sơ cấp (số liệu mới): Toàn bộ thông tin, số liệu được kiểm tra,
bổ sung, chỉnh lý sau đó nhập vào bảng tính toán Excel
2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
2.3.4.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Đề tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất cho nông hộ có quy mô nhỏ nên chúng tôi sử dụng hệ thống chỉ tiêu sau để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm được tạo ra trong một
thời kỳ nhất định (thường là một năm);
+ Chi phí sản xuất (CPSX): Là toàn bộ chi phí vật chất trực tiếp được sử dụng
trong quá trình sản xuất;
+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH): Thu nhập hỗn hợp = GTSX - Chi phí sản xuất; + Hiệu quả đầu tư (lần): Hiệu quả đầu tư = GTSX/Chi phí sản xuất
+ Hiệu quả tính trên ngày công lao động:
GTSX trên ngày công lao động = GTSX/Công lao động
Thu nhập trên ngày công lao động = TNHH/Công lao động
2.3.4.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Trang 31Mức độ sử dụng lao động, giải quyết việc làm; đời sống vật chất của người dân; trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật; tỷ lệ giảm hộ đói nghèo do thu nhập từ trồng rừng và bảo vệ rừng
2.3.4.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Tỷ lệ che phủ rừng; diện tích đất chưa sử dụng được trồng rừng; diện tích rừng trồng mới trong năm; khả năng bảo vệ và cải tạo đất
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Bố Trạch
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Bố Trạch nằm ngay cửa ngõ phía Bắc thành phố Đồng Hới là một trong
số ít Huyện có chiều từ Tây sang Đông chiếm toàn bộ chiều ngang của Việt Nam Với
vị trí địa lý đặc biệt như vậy Bố Trạch tiếp giáp với cả Biển Đông và biên giới giữa Việt Nam và Lào Lãnh thổ của huyện được giới hạn từ 17014’ đến 17044' vĩ Bắc và từ
105058’ đến 106035’ kinh Đông Địa giới hành chính của huyện được xác định:
- Phía Bắc giáp với các huyện Quảng Trạch và Tuyên Hóa
- Phía Tây Bắc giáp huyện Minh Hóa
- Phía Nam và Đông Nam giáp thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh
- Phía Đông Bắc giáp với Biển Đông
- Phía Tây Nam giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Bố Trạch
Trang 33Diện tích tự nhiên toàn huyện 211.548,88 ha, dân số gần 179.247 người với mật
độ dân số là 84,4người/km2 (năm 2017) Toàn huyện có 28 xã và 2 thị trấn, được phân
bố ở các vùng: Đồng bằng, miền núi, trung du và ven biển
Với 24 km bờ biển và trên 54 km đường biên giới với nước CHDCND Lào là một trong nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Bố Trạch Huyện có nhiều tuyến giao thông quan trọng đi qua, đó là quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt xuyên suốt chiều dài của huyện Về du lịch huyện có các danh thắng nổi tiếng như vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, khu du lịch Đá Nhảy là những lợi thế trong phát triển giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội
Tóm lại vị trí địa lý đã tạo cho huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, có cơ hội tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật để triển khai ứng dụng vào sản xuất và đời sống, thực hiện nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế đi lên những bước vững chắc trên con đường phát triển
3.1.1.2 Đặc điểm địa chất
Theo các kết quả nghiên cứu địa chất cho thấy, trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Bố Trạch nói riêng có các thành tạo địa chất đa dạng
và phong phú, với tuổi từ Paleozoi hạ đến Đệ tứ
Toàn bộ lãnh thổ Quảng Bình nằm trọn trong 2 đới cấu trúc: Long Đại và Hoành Sơn thuộc miền uốn nếp Việt - Lào Trong 2 đới này, lãnh thổ Bố Trạch chủ yếu phân bố trong đới Long Đại Đới cấu trúc này giới hạn bởi phía Bắc là đứt gãy sâu Rào Nậy, phía Nam là đứt gãy Sơn Trà - Anúp, phía Tây kéo sang lãnh thổ Lào Đới được cấu thành bởi các phức hệ kiến tạo Paleozoi hạ - trung, Mezozoi hạ, Kainozoi
3.1.1.3 Đặc điểm địa hình
Bố Trạch nằm trên dải đất hẹp và dốc, núi và gò đồi chiếm trên 80% diện tích
tự nhiên Địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh, có thể chia thành các vùng sau:
- Địa hình đồng bằng (< 10 m), chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên
- Địa hình đồi chiếm 32,7% diện tích tự nhiên, bao gồm:
+ Địa hình đồi thấp từ 10 - 100 m;
+ Địa hình đồi trung bình từ 100 - 200 m;
+ Địa hình đồi cao từ 200 - 300 m
- Địa hình núi thấp (300 - 800 m), chiếm khoảng 22,8% diện tích tự nhiên
Trang 34- Địa hình núi trung bình, có độ cao trên 800 m chiếm khoảng 1,3% Vùng này
có độ dốc lớn, chủ yếu là trên 250, có nhiều nơi địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, có một số đỉnh cao trên 1000m như Ba Rền - 1137m, UBò - 1009m
- Vùng địa hình núi đá vôi chiếm khoảng 38,21% diện tích tự nhiên, được phân
bố ở xã Thượng Trạch, Tân Trạch, Sơn Trạch, Xuân Trạch, Phúc Trạch chiếm hơn 1/3 diện tích tự nhiên của huyện Các khối núi đá vôi ở Bố Trạch được hình thành vào thời
kỳ Devon và Cacbon - Pecmi, thường bị chia cắt thành những dãy liên tục hoặc độc lập, địa hình lỏm chõm, sườn thẳng đứng Khu vực núi đá vôi có dạng địa hình Kasrt trên mặt và ngầm, một số sông suối bị mất do chảy ngầm trong núi đá vôi hàng mấy chục kilomet, điển hình là động Phong Nha
3.1.1.4 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu là thành phần ảnh hưởng rất lớn đến ngành nông - lâm nghiệp Nó quyết định loại cây, con, mùa vụ, năng suất, sản lượng Tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Bố Trạch nói riêng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ hoàn lưu khí quyển nhiệt đới Nằm hoàn toàn về phía sườn Đông của dãy Trường Sơn Bắc, nhưng bị kẹp lại giữa đèo Ngang và đèo Hải Vân nên lãnh thổ nghiên cứu có chế độ khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam
- Nhiệt độ: Tuy có nền nhiệt khá cao nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khối khí cực đới, nên Bố Trạch có mùa đông lạnh và sự phận hoá nhiệt trong năm khá lớn Nhiệt độ trung bình năm từ 24,50C, số giờ nắng trung bình là 1.750 giờ Nhiệt độ có sự phận hoá lớn theo độ cao, do ảnh hưởng của hoàn lưu khí quyển và địa hình nên lượng nhiệt nhận được trong năm không đều nhau theo không gian và thời gian, biên độ nhiệt ngày và đêm khoảng 4 - 70C Trong năm, ngoài hai mùa nóng và lạnh còn có thời kỳ giao thời Khí hậu giao thời giữa hai mùa diễn ra rất phức tạp với sự thay đổi các trạng thái: mưa, nắng, rét, nóng xen kẽ nhau và không tuân theo quy luật nào
- Lượng mưa: Tại huyện Bố Trạch lượng mưa trung bình năm khoảng 2.300
mm Trong năm, mùa mưa kéo dài từ tháng VIII đến tháng XII, tập trung ở 3 tháng: tháng IX, tháng X và tháng XI (lượng mưa trung bình lớn nhất là vào tháng X) và đây cũng là khoảng thời gian thường xuyên xảy ra lũ Tháng có lượng mưa ít nhất
là tháng III
- Độ ẩm: Huyện Bố Trạch có độ ẩm khá cao và tương đối đồng đều trong năm
Độ ẩm trung bình cao nhất là 98% (tháng XI) thấp nhất là 73% (tháng VII) và trung bình năm là 85% Trong những ngày gió Tây Nam hoạt động mạnh, độ ẩm có khi
Trang 35giảm xuống 55% ảnh hưởng đến sản xuất nông - lâm nghiệp và đời sống xã hội
- Tình hình gió, bão: Huyện Bố Trạch trong năm có 2 mùa gió chính tương ứng với mùa nóng và mùa lạnh
+ Gió mùa Tây Nam: Thường xuất hiện từ tháng V đến tháng VIII, có những năm xuất hiện sớm là tháng IV và kết thúc muộn là tháng IX Gió Tây Nam thổi về trong thời gian lượng mưa ít nên gây ra hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến đời sống cây trồng và vật nuôi
+ Gió mùa Đông Bắc: Thường bắt đầu từ tháng X đến tháng III năm sau Mỗi đợt gió Đông Bắc thổi về làm nhiệt độ giảm đột ngột gây hại cho sự sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi
+ Bão: Bão thường xuất hiện từ tháng VIII và kết thúc vào tháng XI, tập trung vào tháng IX và tháng X Khi bão vào đất liền, do ma sát với địa hình và mặt đất lạnh nên năng lượng giảm theo đó tốc độ gió cũng giảm và bão suy yếu dần Tuy nhiên, bão gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân, nhất là cây cao su
3.1.1.5 Chế độ thủy văn
Bố Trạch có nguồn nước khá phong phú do có hệ thống sông, suối, hồ, đập phân bố khá đều và dày đặc ở trong huyện Huyện có con sông chính đó là sông Gianh, mang các đặc điểm: lòng sông hẹp, nhiều khúc uốn quanh co, nước chảy xiết, sông cạn vào mùa khô và lũ vào mùa mưa Ngoài hệ thống sông chính, huyện còn có mạng lưới sông suối khác như: sông Dinh, sông Lý Hoà Đây là điều kiện tốt để đảm bảo cho việc tưới tiêu của huyện Toàn huyện có 50 hồ đập lớn nhỏ phục vụ cho việc sinh hoạt và tưới tiêu cho khoảng 8.000 ha
Nước ngầm ở Bố Trạch đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà chế độ thuỷ văn và cung cấp nước cho cây trồng và phục vụ sinh hoạt hằng ngày vào thời kỳ
ít mưa Nước ngầm ở đây khá phong phú, tuy nhiên phân bố không đều và mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc vào địa hình và lượng mưa trong mùa
3.1.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra, phân loại đất đai huyện Bố Trạch được xây dựng dựa trên
cơ sở tài liệu phúc tra, chỉnh lý bản đồ đất tỉnh Quảng Bình tỉ lệ 1/100.000 do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện năm 2003 thì huyện Bố Trạch có tổng diện tích tự nhiên là 212.417,6 ha Kết quả khảo sát xây dựng bản đồ được tổng hợp cho thấy: Đất huyện Bố Trạch được hình thành trên một địa bàn phức tạp với nhiều loại đá mẹ khác nhau, tạo ra lớp phủ thổ
Trang 36nhưỡng đa dạng, với 12 loại đất khác nhau Cụ thể như sau:
- Đất cát trắng vàng (Cc): Tập trung chủ yếu khu vực ven biển thuộc địa phận các xã: Nhân Trạch, Lý Trạch, Đại Trạch, Trung Trạch, Đức Trạch và Thanh Trạch Hiện nay một phần diện tích đất này đã được sử dụng trồng phi lao, một số lớn còn lại
là hoang hóa Hướng sử dụng chính đối với đất cồn cát trắng vàng là phát triển trồng rừng phòng hộ chống cát bay di động để bảo vệ vùng nội đồng, giữ nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong vùng
- Đất cát biển (C): Loại đất cát biển phân bố tập trung ở địa hình cao và vàn cao thuộc các xã Trung Trạch và Đức Trạch Nhóm đất này được hình thành do sự bồi đắp của phù sa biển, thành phần cơ giới từ trên xuống toàn là cát, càng xuống dưới cát càng thô Lớp mặt do tác động canh tác của con người nên mịn hơn
- Đất mặn (M): Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở các xã Hạ Trạch, Mỹ Trạch,
Bắc Trạch, Thanh Trạch Những địa bàn có nhóm đất này đang dần chuyển qua nuôi
trồng thủy sản hoặc trồng các loại thực vật ưa mặn như sú, vẹt…
- Đất phù sa (P): Nhóm đất này phân bố hầu hết ở các xã của huyện Bố Trạch nhưng với diện tích không đồng đều Nói chung độ phì của loại đất này phụ thuộc vào bản chất, thành phần bồi đắp phù sa, vị trí hình thành và quá trình sử dụng đất Hiện nay trên loại đất này đều được sử dụng hết để trồng cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày Tuy nhiên diện tích trồng lúa vẫn chiếm chủ đạo
- Đất xám bạc màu (B): Phân bố chủ yếu ở Phú Định, Tây Trạch, Lâm Trạch, Vạn Trạch Loại đất này có chất dinh dưỡng thấp, nhưng có giá trị trong sản xuất nông nghiệp vì nó nằm ở địa hình bằng dễ thoát nước Trên loại đất này hiện đang trồng lúa, màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl): Quá trình hình thành đất chủ đạo là quá trình feralit, nhưng tính chất đất đã bị biến đổi đó chịu ảnh hưởng của quá trình ngập nước, làm cho nó khác hẳn với đất feralit; sự rửa trôi mùn và hạt sét xảy ra mạnh
ở tầng đất mặt, kết cấu đất bị phân tán, có quá trình glây xuất hiện ở tầng dưới Nếu đất đã được trồng lúa lâu ngày thì tầng đất mặt đã trở nên bạc màu, đặc biệt đối với những nơi trồng cả hai vụ lúa trong năm
- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): Đất được hình thành trên đá phiến sét, có màu đỏ vàng điển hình Đất có thành phần cơ giới nhẹ đến thịt trung bình Đất có phản ứng khá chua ở các tầng pHHCL trong khoảng 4,17 - 4,59, tổng lượng cation kiềm trao đổi < 3 meq/100g đất, dung dịch hấp thu CEC chỉ đạt 4.32 - 4.35 meq/100g đất Hàm lượng mùn tầng mặt nghèo 1.53%, các tầng dưới rất nghèo, lân dễ tiêu nghèo <7
Trang 37meq/100g đất, kali dễ tiêu nghèo < 6 meq/100g đất Nhìn chung loại đất này có tầng dày thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây dài ngày
- Đất vàng đỏ trên đá macma Acid (Fa): Phân bố chủ yếu ở xã Tân Trạch, xã
Tân Trạch, Thượng Trạch và thị trấn NT Việt Trung Loại đất này có độ phì tự nhiên khá, nhưng đất ở cao, địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, vì vậy hướng sử dụng loại đất này là khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Phân bố ở các xã Thanh Trạch, Bắc Trạch, Hạ Trạch, Cự Nẫm, Vạn Trạch, Phú Định và Thị trấn Nông trường Việt Trung Loại đất này không thích hợp với sản xuất nông nghiệp, chỉ dành để phát triển lâm nghiệp, trồng cây che phủ đất, cải tạo môi sinh
- Đất Glây (Gl): Đất Glây hình thành và phát triển trong điều kiện yếm khí, sắt
ở điều kiện khử FeO màu xám xanh Đất thường có tầng cơ hữu dày Muốn sử dụng có hiệu quả phải có hệ thống thoát nước toàn vùng Ngoài lúa có thể phát triển thành khu nuôi trồng thủy sản hoặc hệ thống lúa - cá - vịt… Ở lãnh thổ nghiên cứu, trong nhóm đất này chiếm chủ yếu là glây chua
- Đất phèn (S): Loại đất này yếu tố hạn chế chính đối với sản xuất nông nghiệp
là chứa đựng có độc tố Al3+ và SO4
2-, đất rất chua Vì vậy2-, ngoài việc giải quyết nguồn nước ngọt cũng cần đặc biệt chú ý đến biện pháp giảm độc tố và giảm chua cho đất, bón phân lân nung chảy Những nơi có điều kiện cho phép có thể cải tạo để chuyển sang nuôi trồng thủy sản
- Đất mùn vàng đỏ trên đá sét (Hs): Đất này có thành phần cơ giới thịt trung bình, phản ứng chua Hàm lượng mùn và đạm tổng số ở tầng mặt rất giàu Loại đất này
có độ phì tự nhiên khá, nhưng đất ở cao, địa hình hiểm trở, địa hình đi lại khó khăn, nên hướng sử dụng là khoanh nuôi, bảo vệ
Trang 38Bảng 3.1: Thống kê các loại đất theo nguồn gốc phát sinh (Đơn vị tính: ha)
4 Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước Fl 945,56 0,44
Do đặc điểm về khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng tạo nên một thảm thực vật đa dạng và chia ra thành 2 kiểu thảm chính:
Trang 39* Thảm thực vật rừng:
Gồm rừng tự nhiên và rừng trồng với diện tích là 159.939,75 ha [36] Cả 2 loại rừng nói trên đều được phân chia thành 3 loại chức năng sau: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
* Thảm thực vật canh tác:
- Cây trồng hằng năm: Bao gồm hoa màu và cây công nghiệp hàng năm như: ngô, khoai, sắn, lạc tập trung ở vùng đất cao hoặc chân đồi
- Cây trồng lâu năm:
+ Cây công nghiệp dài ngày: Chủ yếu là cây cao su, hồ tiêu, Tuy nhiên, diện tích và sản lượng không đáng kể, phân bố chủ yếu ở vùng gò đồi
+ Cây ăn quả: Gồm các loại cây: bưởi, cam, chanh, được trồng chủ yếu ở vùng đồi nhằm tận dụng đất trống để phát triển kinh tế và che phủ đất
- Thảm thực vật sau nương rẫy: Chủ yếu là trảng cỏ và cây bụi thứ sinh Đất ở đây canh tác sau vài năm thì bị thoái hoá và người dân bỏ hoang Do đó, ở một số xã không có đất canh tác thường làm nghề đốt than, kiếm củi , làm cho diện tích rừng giảm biến thành trảng cỏ, cây bụi thứ sinh
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Tăng trưởng kinh tế của huyện trong giai đoạn này là rất ấn tượng bởi lẽ trong thời kì dài từ 2013 – 2018 toàn bộ nền kinh tế tăng liên tục và ở mức cao hơn trung bình của toàn tỉnh Quảng Bình
Sau những năm thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt trong giai đoạn (2015 2018), cơ cấu kinh tế của huyện đã có bước chuyển dịch theo chiều hướng tích cực Từ một nền kinh tế nông nghiệp với 2 thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần với tỉ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch
-vụ thương mại ngày một tăng, tỉ trọng nông nghiệp giảm dần
Tuy nhiên bước chuyển dịch về cơ cấu kinh tế các ngành kinh tế của huyện Bố Trạch giai đoạn 2008 – 2018 vẫn còn chậm chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và chưa thực sự bền vững Đặc biệt trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế giữa các ngành thì cơ cấu lao động chưa chuyển đổi cho phù hợp với nhu cầu lao động của từng ngành
Trang 40Dân số trung bình năm 2018 của huyện Bố Trạch là 179.247 người, trong đó (90,41% sống ở khu vực nông thôn và 9,59% ở khu vực đô thị ) Với diện tích tự nhiên toàn huyện là 211.548,88 ha, mật độ dân số năm 2018 chỉ có 84,4 người/km2 [27]
Nhờ sự chuyển đổi cơ chế quản lý cùng với sự phát triển chung của đất nước, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế Quảng Bình nói chung và huyện Bố Trạch nói riêng Bố Trạch là huyện có nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong
cơ cấu nền kinh tế, đời sống nhân dân còn thấp Tuy nhiên trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện không ngừng tăng trưởng và đã có những bước tiến đáng kể
3.1.2.2 Dân cư và nguồn lao động
Dân cư: Dân số trung bình năm 2018 của huyện Bố Trạch là 179.247 người,
trong đó 90,5% sống ở khu vực nông thôn và 9,5% ở khu vực đô thị [27] Với diện tích
tự nhiên toàn huyện là 211.548,88 ha, mật độ dân số năm 2018 chỉ có 84,4 người/km2 Đây là một trong những huyện có mật độ dân số thấp của tỉnh Quảng Bình
Lao động: Lao động là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất Mọi mô
hình tăng trưởng kinh tế, yếu tố lao động luôn được đề cập đến Quyết định đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế của một đất nước, một vùng hay một huyện phụ thuộc phần lớn vào tốc độ gia tăng của yếu tố lao động
Năm 2018 theo thống kê dân số trung bình huyện Bố Trạch là 179.247 người
Số người trong độ tuổi lao động là 104.920 người, chiếm tỉ lệ trên 58,1% tổng dân số, trong khi tỉ lệ này năm 2000 là 47,2% Đây là tỉ lệ tương đối cao so với một số vùng khác mà nguyên nhân do huyện Bố Trạch có cơ cấu dân số trẻ chiếm tỉ lệ rất cao (trên 60% dân số là lứa tuổi dưới 34) Tuy nhiên trong độ tuổi lao động chỉ có 80,0% số người đang lao động có việc làm, số còn lại đang đi học, nội trợ, thiếu việc làm hoặc không có khả năng lao động [27]
3.1.2.3 Các ngành kinh tế chủ yếu
a Nông - Lâm - Thủy sản:
- Nông nghiệp: Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp phát triển tương
đối toàn diện, được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất cùng với việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi mới đã làm cho năng suất lao động tăng lên dẫn đến hiệu quả kinh tế của Huyện nhà ngày càng tăng + Về trồng trọt: Trong cơ cấu giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, trồng trọt vẫn giữ một vị trí quan trọng Cụ thể là tổng sản lượng lương thực năm 2018 đạt 155,2 tỷ