LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài:“Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp để phát triển kinh tế trang trại tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu củ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài:“Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp để phát triển kinh tế trang trại tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn được thu thập, điều tra, khảo
sát thực tế một cách trung thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên
cứu và các thông tin trích trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Huế, ngày 07 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Cha mẹ sinh thành, dưỡng dục, thầy cô cho tôi kiến thức đã giúp tôi trưởng thành, hoà nhập với cuộc sống Xin bày tỏ lòng biết ơn, cầu chúc cho mẹ, thầy cô luôn mạnh khỏe và hạnh phúc
Tôi chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành và tạo điều kiện thuận lợi của quý Thầy, Cô giáo trong Trường Đại học Nông Lâm Huế, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường nông nghiệp, quý thầy cô Phòng Đào tạo Sau đại học đã cho tôi cơ hội để được học tập nâng cao trình độ cũng như giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Đặc biệt ghi ơn PGS.TS Hoàng Thị Thái Hòa, người Cô trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, đã dành nhiều sự quan tâm, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn anh Huỳnh Hùng (Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã An Nhơn), anh Đoàn Tuấn Sỹ (Phòng Kinh tế thị xã An Nhơn), chú Nguyễn Xuân Thành (Chi cục Thống kê thị xã An Nhơn) đã có sự quan tâm, giúp đỡ và cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn
Để tôi thực hiện và hoàn thành luận văn của mình, tôi nhận được sự tạo điều kiện giúp đỡ tận tình của quý lãnh đạo, anh chị em Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã An Nhơn; Phòng Kinh tế thị xã An Nhơn; sự quan tâm, giúp đỡ cung cấp thông tin của 68 chủ trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn Xin chân thành cảm ơn
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được sự chia sẻ, động viên của người thân trong gia đình, anh chị em đồng nghiệp và nhiều bạn bè giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành khóa học và luận văn
Xin tỏ lòng ghi ơn sâu sắc
Huế, ngày 07 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Minh Thẩm
Trang 3TÓM TẮT
Thị xã An Nhơn nằm về phía Tây Nam của tỉnh Bình Định, với diện tích đồi núi chiếm phần lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên, lực lượng lao động ở nông thôn dồi dào, công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay đã và đang có bước chuyển mình tích cực Trong quá trình đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp ở thị xã đã xuất hiện một
bộ phận nông dân có ý chí, kinh nghiệm làm ăn, hướng đến sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường, xoá được đói, giảm được nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
đã tạo tiền đề và mở ra con đường phát triển loại hình kinh tế trang trại trên địa bàn thị
xã Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp cho phát triển kinh tế trang trại, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả trong phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn nghiên cứu
Để làm rõ nội dung trên, bằng phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tổng hợp phân tích tài liệu, sử dụng phương pháp so sánh, đã xác định mô hình trang trại trên địa bàn thị xã dao động từ 49 trang trại năm 2010 đến 68 trang trại năm 2014 (10 trang trại trồng trọt, 23 trang trại chăn nuôi, 2 trang trại lâm nghiệp, 06 trang trại nuôi trồng thủy sản và 27 trang trại tổng hợp) Tổng diện tích sử dụng đất của 68 trang trại là 323,56 ha, lợi nhuận hàng năm mà các trang trại mang lại đạt gần 251,7 triệu đồng/trang trại, tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng không nhỏ người lao động (539 lao động, trong đó có 139 lao động được thuê cố định) Về mặt môi trường, các
mô hình trang trại trồng trọt và lâm nghiệp giúp tăng diện tích cây xanh, tăng độ che phủ đất Do vậy, kinh tế trang trại được coi là một loại hình tổ chức sản xuất phù hợp với đặc thù của nền kinh tế nông nghiệp ở thị xã An Nhơn
Mặc dù vậy, việc sử dụng quỹ đất để phát triển trang trại vẫn còn nhiều hạn chế Kinh tế trang trại ở thị xã hiện nay còn manh mún, các mô hình liên kết sản xuất thiếu bền vững, chưa có định hướng phát triển, và chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thị xã, chưa tạo bước đột phá trong đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả diện
tích đất tự nhiên sẵn có của thị xã (tổng diện tích sử dụng đất của 68 trang trại chỉ
chiếm 1,86% diện tích đất nông, lâm nghiệp toàn thị xã), dẫn đến diện tích đất bằng chưa sử dụng đến năm 2014 còn 687,59 ha nhưng chưa có giải pháp sử dụng phát triển kinh tế trang trại Mô hình trang trại lâm nghiệp phát triển chưa tương xứng với diện tích đất trồng rừng sản xuất hiện có 4.331,22 ha Trong năm 2014, toàn thị xã có 68
mô hình kinh tế trang trại, nhưng chỉ có 14 trang trại đạt tiêu chí theo qui định phân loại năm 2011, còn lại 54 trang trại chưa đạt tiêu chí
Vì vậy, cần có những nghiên cứu để đánh giá thực trạng, tìm hiểu các vấn đề còn vướng mắc, từ đó đề ra những giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả quỹ đất nông lâm nghiệp cho phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn mang lại hiệu quả cao và có tính bền vững
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích, mục tiêu đề tài 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 3
1.1.1 Khái niệm về đất đai 3
1.1.2 Khái niệm về trang trại và đất trang trại 3
1.1.3 Những đặc trưng của trang trại 5
1.1.3.1 Trang trại là một loại hình kinh tế trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hàng hóa lớn, hoạt động theo cơ chế thị trường 5
1.1.3.2 Các yếu tố sản xuất của trang trại trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định 5
1.1.3.3 Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập 6
1.1.3.4 Phương thức khai thác đất đai bằng chính sức lao động trực tiếp và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của gia đình 6
1.1.3.5 Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ dựa trên sự chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện hoạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường 7
1.1.4 Những tiêu chí của kinh tế trang trại và phân loại trang trại 8
1.1.4.1 Tiêu chí để nhận dạng kinh tế trang trại 8
Trang 51.1.4.2 Phân loại trang trại 10
1.1.5 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả 12
1.1.5.1 Các khái niệm 12
1.1.5.2 Phân loại và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả 13
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 17
1.2.1 Tác động của phát triển trang trại đến sự phát triển kinh tế - xã hội 17
1.2.1.1 Về kinh tế 17
1.2.1.2 Về xã hội 17
1.2.1.3 Về môi trường 18
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển trang trại 18
1.2.2.1 Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình sản xuất trang trại ở các nước tư bản phát triển châu Âu và châu Mỹ 18
1.2.2.2 Lịch sử và điều kiện ra đời của các loại hình sản xuất trang trại ở các nước châu Á 20
1.2.3 Tình hình phát triển của các mô hình sản xuất trang trại tại một số nước trên thế giới 21
1.2.3.1 Tình hình phát triển trang trại tại Pháp 21
1.2.3.2 Tình hình phát triển trang trại tại Mỹ 22
1.2.3.3 Tình hình phát triển trang trại tại Nhật Bản 24
1.2.3.4 Tình hình phát triển trang trại tại Đài Loan 25
1.2.3.5 Tình hình phát triển trang trại tại Thái Lan 26
1.2.4 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam trong thời gian qua 27
1.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 30
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 32
2.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 32
2.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 33
2.3.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu 33
Trang 62.3.3 Phương pháp chuyên gia 33
2.3.4 Phương pháp so sánh 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ XÃ AN NHƠN 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 36
3.1.1.3 Nguồn nước 36
3.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 36
3.1.2.1 Về kinh tế 36
3.1.2.2 Về xã hội 37
3.1.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 38
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 40
3.1.3.1 Những thuận lợi 40
3.1.3.2 Những khó khăn, thách thức 41
3.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất của các mô hình trang trại ở thị xã An Nhơn 42
3.1.4.1 Yếu tố tự nhiên 42
3.1.4.2 Yếu tố kinh tế-xã hội 44
3.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG LÂM NGHIỆP CỦA THỊ XÃ AN NHƠN 46
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của thị xã An Nhơn 46
3.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp của thị xã An Nhơn 47
3.2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp của thị xã An Nhơn 47
3.2.2.2 Biến động diện tích đất nông lâm nghiệp của thị xã An Nhơn giai đoạn 2010-2014 48
3.2.3 Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất của thị xã An Nhơn 49
3.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN NHƠN 52
3.3.1 Quá trình hình thành phát triển trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn 52
3.3.1.1 Quá trình hình thành các mô hình trang trại 52
3.3.1.2 Thực trạng phát triển mô hình trang trại 52
3.3.2 Phân loại trang trại 54
3.3.2.1 Phân loại theo quy mô diện tích 55
3.3.2.2 Phân loại theo lĩnh vực sản xuất 56
Trang 73.3.3 Thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp của trang trại 58
3.3.3.1 Diện tích, cơ cấu một số loại cây trồng, loại hình chăn nuôi chính trong các trang trại 58
3.3.3.2 Tỉ lệ sử dụng đất nông nghiệp cho trang trại so với cơ cấu sử dụng đất thị xã An Nhơn 61
3.4 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC MÔ HÌNH TRANG TRẠI 62
3.4.1 Tỷ lệ sử dụng đất nông lâm nghiệp cho các mô hình trang trại 62
3.4.2 Hiệu quả sử dụng đất của các mô hình trang trại 63
3.4.2.1 Hiệu quả kinh tế 64
3.4.2.2 Hiệu quả xã hội 68
3.4.2.3 Hiệu quả môi trường 71
3.4.3 Đánh giá chung về tình hình phát triển sản xuất của các mô hình trang trại của thị xã An Nhơn 73
3.5 ĐỀ XUẤT HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT TRANG TRẠI CỦA THỊ XÃ AN NHƠN 75
3.5.1 Đề xuất hướng, mô hình phát triển hiệu quả 75
3.5.2 Những giải pháp chủ yếu về sử dụng đất nông lâm nghiệp cho phát triển các mô hình trang trại của thị xã An Nhơn 79
3.5.2.1 Giải pháp về chính sách 79
3.5.2.2 Giải pháp về kỹ thuật 82
3.5.2.3 Giải pháp về môi trường 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
1 KẾT LUẬN 87
2 KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 92
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1 Quy mô các loại hình trang trại 9
Bảng 1.2 Tình hình phát triển trang trại của nước Pháp qua các năm 21
Bảng 1.3 Tình hình phát triển trang trại của nước Mỹ qua các năm 23
Bảng 1.4 Tình hình phát triển trang trại của Nhật Bản qua các năm 24
Bảng 1.5 Tình hình phát triển trang trại của Đài Loan qua các năm 25
Bảng 1.6 Tình hình phát triển trang trại của Thái Lan qua các năm 27
Bảng 3.1 Biến động diện tích đất nông lâm nghiệp của thị xã An Nhơn giai đoạn 2010-2014 48
Bảng 3.2 Số lượng trang trại tại thị xã An Nhơn phân bố theo các đơn vị hành chính giai đoạn 2010-2014* 52
Bảng 3.3 Số lượng các trang trại thị xã năm 2014 phân theo loại hình sản xuất và quy mô diện tích 54
Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng đất trong trang trại 59
Bảng 3.5 Tỷ lệ sử dụng đất nông nghiệp cho trang trại so với cơ cấu sử dụng đất thị xã An Nhơn năm 2014 61
Bảng 3.6 Tỷ lệ sử dụng đất nông lâm nghiệp cho phát triển trang trại 62
Bảng 3.7 Giá trị sản xuất của các mô hình trang trại trong năm 2014 64
Bảng 3.8 Lợi nhuận của các mô hình trang trại trong năm 2014 66
Bảng 3.9 Hiệu quả chi phí đầu tư sản xuất của các mô hình trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn năm 2014 67
Bảng 3.10 Tình hình lao động năm 2014 tại các trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn 68
Bảng 3.11 Cơ cấu lao động trong các trang trại năm 2014 69
Bảng 3.12 Hiệu quả sử dụng lao động của các mô hình trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn năm 2014 70
Bảng 3.13 Độ che phủ của các mô hình trang trại thị xã An Nhơn 71
Bảng 3.14 Hạch toán chi phí, thu nhập, lợi nhuận tính trung bình năm 2014 của các mô hình sản xuất tại các trang trại trên địa bàn thị xã An Nhơn 75
Bảng 3.15 Giá trị trung bình của chi phí, thu nhập, lợi nhuận trên 01 ha đất của các mô hình trong trang trại trung bình năm 2014 76
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Số lượng trang trại ở Pháp qua các năm 22
Hình 1.2 Số lượng trang trại Mỹ qua các năm 23
Hình 1.3 Số lượng trang trại Nhật Bản qua các năm 24
Hình 1.4 Biểu đồ về số lượng trang trại Đài Loan qua các năm 26
Hình 1.5 Số lượng trang trại Thái Lan qua các năm 27
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí thị xã An Nhơn 35
Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất thị xã An Nhơn năm 2014 46
Hình 3.3 Tỉ lệ sử dụng đất nông nghiệp cho phát triển trang trại 63
Hình 3.4 Giá trị sản xuất các mô hình trang trại 64
Hình 3.5 Biểu đồ giá trị sản lượng hàng hóa và lợi nhuận của các trang trại trên địa bàn năm 2014 67
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện độ che phủ các trang trại 72
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan Phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ có những đóng góp to lớn khối lượng nông sản, sản phẩm chăn nuôi đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng đến xuất khẩu ra các nước trên thế giới Sự đóng góp của kinh tế trang trại là không thể phủ nhận, không những đem lại lợi nhuận cho chủ trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của người lao động, người nông dân
Thị xã An Nhơn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bình Định, với diện tích đồi núi chiếm phần lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên, lực lượng lao động ở nông thôn dồi dào, công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay đã và đang có bước chuyển mình tích cực Tuy nhiên, công tác xóa đói giảm nghèo chưa triệt để, số hộ nghèo và tái nghèo còn cao Thực trạng đó đặt ra cho thị xã An Nhơn những nhiệm vụ nặng nề trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và xây dựng nông thôn mới Dựa vào thực tế điều kiện tự nhiên, xác định vai trò, thế mạnh của nông nghiệp, tập trung khai thác tiềm năng kinh
tế nông nghiệp làm mũi đột phá để phát triển toàn diện, bền vững Trong quá trình đầu
tư phát triển sản xuất nông nghiệp ở thị xã đã xuất hiện một bộ phận nông dân có ý chí, kinh nghiệm làm ăn, hướng đến sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường, xoá được đói, giảm được nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng đã tạo tiền đề và mở ra con đường phát triển loại hình kinh tế trang trại trên địa bàn thị xã Kinh tế trang trại được coi là một loại hình tổ chức sản xuất phù hợp với đặc thù của nền kinh tế nông nghiệp ở thị xã An Nhơn, là hướng đi đúng đắn của quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở thị xã An Nhơn hiện nay
Mặc dù vậy, việc sử dụng quỹ đất để phát triển trang trại vẫn còn nhiều hạn chế Kinh tế trang trại ở thị xã hiện nay còn manh mún, các mô hình liên kết sản xuất kinh
tế trang trại thiếu bền vững, chưa có định hướng phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thị xã và chưa tạo bước đột phá trong đầu tư khai thác và sử dụng
có hiệu quả diện tích đất tự nhiên sẵn có của thị xã Vì lý do đó nên số lượng mô hình đạt tiêu chuẩn trang trại theo tiêu chí mới còn ít Tiềm năng đất đai trên địa bàn thị xã cho phát triển trang trại còn nhiều, đòi hỏi việc khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả
là góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa cần được quan tâm Vì vậy, cần có những nghiên cứu để đánh giá thực trạng, tìm hiểu các vấn đề còn vướng mắc, từ đó đề ra những giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại mang lại hiệu quả cao và có tính bền vững
Trang 12Xuất phát từ thực tế nêu trên, với mong muốn góp phần vào việc phát triển
kinh tế thị xã nhà, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sử
dụng đất nông lâm nghiệp để phát triển kinh tế trang trại tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”
2 Mục đích, mục tiêu đề tài
2.1 Mục đích
Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp cho phát triển kinh tế trang trại, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp sử dụng đất nông lâm nghiệp có hiệu quả trong phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả luận văn góp phần bổ sung cơ sở lý luận về nghiên cứu sử dụng đất nông lâm nghiệp cho phát triển kinh tế trang trại, làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất này
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta đưa ra cái nhìn cụ thể hơn về thực trạng sử dụng đất cho phát triển kinh tế trang trại tại thị xã An Nhơn Từ đó thấy được hiệu quả sản xuất của các mô hình trang trại trên địa bàn cũng như tầm quan trọng của nó trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thị xã
- Kết quả của đề tài đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp ở các trang trại tại địa bàn nghiên cứu
- Làm tài liệu tham khảo cho các địa phương có điều kiện tương tự
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái niệm về đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho nhân loại, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa
về đất Học giả người Nga, Docutraiep cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của các yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” [12] Về sau các học giả khác nghiên cứu, bổ sung các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh như nước ngầm và vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất đai Học giả người Anh, Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất như “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây” [18] Bàn về vấn đề này, C.Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” [20]
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất
là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” [10] Hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu
tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm
và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”[10]
Từ định nghĩa trên, có thể hiểu như sau: Đất đai là một vùng có ranh giới, vị trí
cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của tự nhiên, kinh tế, xã hội như khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, thực vật, động vật và các hoạt động của con người [15]
1.1.2 Khái niệm về trang trại và đất trang trại
Thời gian gần đây, thuật ngữ trang trại được sử dụng nhiều, đặc biệt là trong chương trình xây dựng nông thôn mới Hiện nay, tùy từng quốc gia, từng vùng và từng quan điểm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về trang trại
Theo Wikipedia: ”Trang trại hay nông trại là một khu vực đất đai có diện tích
tương đối rộng lớn (có thể bao gồm cả hồ, sông, đầm, đìa, rạch ), nằm ở vùng đồng quê, thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của cá nhân, tổ chức dùng để sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, ngũ cốc, làm ruộng (gọi là điền trang), sản xuất lương thực, thực
Trang 14phẩm, chăn bò, chăn ngựa, chăn cừu, nuôi gà, dê, heo ), nuôi trồng thuỷ sản, biển, sản xuất sợi, đay, bông hoặc chuyên dụng cung cấp nguyên liệu cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ” [34]
Các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh và một số vùng lãnh thổ ở Châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nơi khác trong khu vực quan niệm: “Trang trại là loại hình sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hoá, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”
Ở Việt Nam, khái niệm về trang trại cũng đã được đưa ra dựa trên những quan điểm cụ thể khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa khái quát như sau: "Trang trại là trại lớn sản xuất nông nghiệp"
Nguyễn Điền và các cộng sự (1993) cho rằng: “Trang trại gia đình là loại hình cơ
sở sản xuất nông nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước Châu Âu” [13]
Ngày 10/01/1998, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Trung Ương số 06/NQ – TW xác định: “Trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả” [2] Tháng 4 năm 2000, hội thảo về kinh tế trang trại trong cả nước được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, qua đó Ban Kinh tế Trung Ương đã đưa ra khái niệm: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông – lâm – ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa ra những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế cao” [3]
Mặc dù nhận thức vẫn còn khác nhau bởi nhiều khía cạnh, nhưng nhìn chung quan điểm và nhận thức về bản chất và đặc trưng của kinh tế trang trại về cơ bản là đã gần gũi, có sự thống nhất và có một số điểm chung như:
- Trang trại là một cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá trong nông, lâm , ngư nghiệp ở nông thôn
- Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế hộ nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hoá cao hơn
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương (như đất đai, vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ) một cách có hiệu quả
Trang 15- Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường
- Nguồn gốc sở hữu trang trại chủ yếu là thành phần kinh tế tư nhân
Từ những điểm chung trên, có thể nhận định về kinh tế trang trại như sau: “Kinh
tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp, được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân có mức tích tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật…nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn hơn, với lợi nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [22]
1.1.3 Những đặc trưng của trang trại
1.1.3.1 Trang trại là một loại hình kinh tế trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hàng hóa lớn, hoạt động theo cơ chế thị trường
Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế từng bước đưa nông dân từ hộ nông nghiệp
tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hoá Vai trò khách quan mang tính lịch sử này của kinh tế trang trại gắn liền với tính hai mặt của hộ nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưu hàng hoá giữa thành thị và nông thôn Nông hộ vừa là gia đình - đơn vị trực tiếp tiêu dùng của xã hội, vừa là cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tối cần thiết cho cuộc sống có thể tiêu dùng trực tiếp Do vậy, sản xuất trực tiếp tự túc là cái vốn có của kinh tế hộ nông dân Các hộ nông dân muốn làm giàu phải thoát khỏi tình trạng sản xuất tự túc và từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá theo phương thức trang trại
Như vậy, các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong nền kinh tế thị trường mặc dù sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất phân tán, song mục đích chủ yếu vẫn là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của những chủ nhân của chúng, còn kinh tế trang trại thì ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hoá và càng ngày tính chất và trình độ sản xuất hàng hoá của nó càng được nâng lên
Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hoá là đặc trưng quan trọng nhất của kinh
tế trang trại, bởi vì mục đích sản xuất hàng hoá chi phối và ảnh hưởng lớn, thậm chí quyết định tới các đặc trưng khác của kinh tế trang trại
Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểu tiểu nông Nó được đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trị sản lượng làm
ra trong một năm hoặc đo bằng tỷ suất hàng hoá của trang trại
1.1.3.2 Các yếu tố sản xuất của trang trại trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung với quy mô nhất định
Trong nông nghiệp cũng như trong ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung tới quy mô nào
Trang 16đó Do đó ở các trang trại, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất được tập trung tới quy mô cần thiết đủ lớn (lớn hơn mức hạn điền cho một hộ nông dân) Đó là kết quả của sự tích tụ, tập trung ruộng đất qua quyền chuyển nhượng hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất của các hộ khác Đặc trưng này được quy định bởi chính đặc trưng về mục đích sản xuất của trang trại Ở các trang trại tư nhân, quy mô tập trung các yếu tố sản xuất lớn hơn hẳn so với các trang trại gia đình, còn các trang trại gia đình mặc dù có quy mô lớn hơn nhiều so với kinh tế hộ tự cấp, tự túc, song nói chung vẫn nằm trong khuôn khổ gia đình, chịu sự giới hạn nhất định của các yếu tố sản xuất nội lực
1.1.3.3 Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập
Chủ trang trại là người lao động tại chỗ (chủ hộ nông dân) hoặc có thể từ nơi khác đến đầu tư Họ là người có ý chí làm giàu, có vốn, có năng lực tổ chức quản lý,
có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh và nắm bắt nhu cầu thị trường Do trang trại hoạt động theo cơ chế thị trường nên có thể huy động cổ phần và tham gia các hình thức liên kết phù hợp
Trong các trang trại mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại trong trường hợp đi thuê hoặc được giao quyền sử dụng thì tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sử dụng của một người chủ độc lập Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Điều đó có nghĩa là ở những hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp dựa trên sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể (nông, lâm trường quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp ) thì không thuộc khái niệm trang trại
1.1.3.4 Phương thức khai thác đất đai bằng chính sức lao động trực tiếp và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của gia đình
Vì kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp, được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân nên lực lượng lao động trong hầu hết các trang trại đều xuất phát từ nguồn lao động tại chỗ Tuy nhiên, thông thường các trang trại trong nông, lâm, ngư nghiệp đều có quy mô sản xuất lớn hơn hẳn so với quy mô sản xuất của hộ nông dân Điều này dẫn đến nhu cầu
về lao động trong các trang trại đều vượt quá khả năng nguồn lao động gia đình và do
đó các trang trại đều có nhu cầu thuê mướn lao động
Quy mô thuê mướn lao động của trang trại trong các loại hình khác nhau và phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang trại và quy mô sản xuất của các trang trại
Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là: thuê lao động
thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ
Trang 171.1.3.5 Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ dựa trên sự chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện hoạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường
- Về trình độ chuyên môn hoá sản xuất trong các trang trại: chuyên môn hoá sản xuất của trang trại là quá trình gắn liền với việc chuyển phương hướng sản xuất của trang trại từ sản xuất đa dạng, đa canh kết hợp trồng trọt với chăn nuôi sang sản xuất chuyên canh, tập trung vào một vài nông sản hàng hoá có lợi thế so sánh và khả năng sinh lời cao Để phản ánh trình độ chuyên môn hoá, có thể sử dụng chỉ tiêu: cơ cấu giá trị sản lượng của trang trại; cơ cấu giá trị sản lượng hàng hoá của trang trại
- Trình độ thâm canh trong các trang trại cũng được nâng dần từ thâm canh truyền thống sang thâm canh kết hợp truyền thống với hiện đại rồi thâm canh hiện đại Những chỉ tiêu chủ yếu có thể sử dụng để biểu hiện trình độ thâm canh là: vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích; vốn đầu tư cho những công nghệ sản xuất tiến bộ trên một đơn vị diện tích; năng suất cây trồng vật nuôi
- Về cách thức điều hành sản xuất: lúc đầu sản xuất hàng hoá còn ít và giản đơn với mục đích là tối đa hoá lợi ích và tăng thêm thu nhập cho gia đình thì chủ trang trại vẫn điều hành sản xuất theo kiểu gia trưởng, song đã bắt đầu đi vào bố trí, tổ chức sản xuất, ghi chép thu chi và hoạch toán đơn giản Khi sản xuất hàng hoá là hướng chính, các phạm trù lợi nhuận, giá cả và cạnh tranh ngày càng lôi cuốn trang trại đi vào kinh doanh nhằm đạt lợi nhuận nhiều hơn thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn thích hợp nữa Sản xuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng, áp dụng công nghệ và quy trình thâm canh
- Về hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại: hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại dần thay đổi Lúc đầu khi mới đi vào sản xuất hàng hoá, chủ trang trại thường ghi nhớ trong đầu hoặc có ghi chép, hoạch toán đơn giản lượng thu, lượng chi và phần thu nhập dôi ra đối với vài cây trồng, vật nuôi chủ yếu Khi sản xuất hàng hoá đã trở thành hướng chính, các trang trại thường thực hiện hoạch toán giá thành và lợi nhuận đối với từng cây, con hàng hoá Đến khi trang trại kinh doanh gần như một doanh nghiệp thì hoạt động tài chính đi vào chiều sâu, bao gồm các nội dung:
kế hoạch tài chính, hoạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh Hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại ngày càng có vai trò quan trọng và ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có kiến thức và nghiệp vụ kế toán, hoạch toán nhất định
- Về tiếp cận thị trường: thái độ và hành động đối với thị trường của trang trại cũng từng bước được thay đổi theo hướng ngày càng tiếp cận và gắn kết với thị trường
Đó là những đặc trưng của trang trại, quy các đặc trưng đó có thể hình dung trang trại như một doanh nghiệp vừa và nhỏ với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần trong nông, lâm, ngư nghiệp khi có đầy đủ điều kiện pháp lý Đây cũng là những đặc trưng để xác định các tiêu chí của trang trại [1]
Trang 181.1.4 Những tiêu chí của kinh tế trang trại và phân loại trang trại
1.1.4.1 Tiêu chí để nhận dạng kinh tế trang trại
❖ Tiêu chí định tính
Tiêu chí định tính dựa trên các đặc trưng cơ bản của trang trại để đánh giá:
- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất các mặt hàng nông nghiệp (nông, lâm, thuỷ sản) theo hình thức hàng hoá với quy mô lớn
- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như: đất đai, số lượng gia súc, lao động, giá trị sản phẩm, mức đầu tư, thu nhập
- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất,
sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, nhờ đó có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
❖ Tiêu chí định lượng
Việc xác định trang trại và phân loại trang trại được lượng hóa với các tiêu chuẩn
cụ thể Ngày 23/6/2000 Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục thống
kê đã ra Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN - TCTK hướng dẫn xác định tiêu chí kinh tế trang trại; được sửa đổi bổ sung bằng Thông tư số 74/TT-BNN ngày 4/7/2003 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc sửa đổi bổ sung mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK Qua đó, các tiêu chí xác định trang trại cụ thể như sau:
* Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét để xác định là kinh tế trang trại
Hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêm nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
* Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại
- Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá bình quân 1 năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
- Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm
Trang 19* Tiêu chí xác định kinh tế trang trại
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí định lượng sau đây:
1 Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân hàng năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2 Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
Quy mô sản xuất của trang trại được xác định như bảng 1.1
Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 27/2011/TT- BNNPTNT quy định về thủ tục cấp cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Trong đó, tiêu chí xác định kinh tế trang trại có một số thay đổi và được quy định như sau:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
Bảng 1 1 Quy mô các loại hình trang trại
2 Cây lâu năm (Chè, cây ăn qủa…)
- Các tỉnh phía Bắc là 3 ha và Duyên hải miền Trung là 5 ha Riêng trang trại trồng hồ tiêu thì chỉ cần từ 0,5 ha trở lên
Trang 20STT Loại hình trang trại Quy mô
3 Lâm nghiệp - Từ 10 ha trở lên đối với tất cả các vùng
trong cả nước
1 Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò…
để sinh sản, lấy sữa Có thường xuyên từ 10 con trở lên
2 Chăn nuôi đại gia súc để lấy thịt Có thường xuyên từ 50 con trở lên
3
Chăn nuôi gia súc: Dê, lợn…
- Chăn nuôi sinh sản
Đối với chăn nuôi tôm thịt theo
kiểu công nghiệp
Diện tích mặt nước từ 2 ha trở lên đối với tất cả các vùng trong cả nước
1.1.4.2 Phân loại trang trại
Có nhiều cách phân loại trang trại khác nhau như:
Trang 21❖ Theo lĩnh vực sản xuất
- Trang trại trồng trọt
- Trang trại chăn nuôi
- Trang trại lâm nghiệp
- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Trang trại tổng hợp
Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản)
là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50%
cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp [5]
❖ Theo quy mô diện tích:
- Trang trại có diện tích dưới 5 ha
- Trang trại có diện tích từ 5-10 ha
- Trang trại có diện tích trên 10 ha
❖ Theo hình thức quản lý
- Trang trại gia đình: toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, hộ gia đình là người tự quyết định tổ chức và sản xuất kinh doanh Loại hình trang trại này sử dụng sức lao động trong gia đình là chính, kết hợp thuê nhân công phụ trong mùa vụ Trang trại gia đình là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới, chiếm tỷ trọng lớn về đất canh tác và khối lượng nông sản so với các loại hình sản xuất khác
- Trang trại hợp tác: là loại hình hợp tác tự nguyện của một số trang trại gia đình với nhau thành một trang trại quy mô lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn, tư liệu sản xuất và công nghệ mới tạo ra ưu thế cạnh tranh
- Trang trại cổ phần: là loại hình hợp tác các trang trại thành một trang trại lớn theo nguyên tắc góp cổ phần và hoạt động giống nguyên tắc của công ty cổ phần
- Nông trại uỷ thác: là loại hình trang trại mà chủ trang trại uỷ thác cho bà con, bạn bè quản lý từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian nhất định khi chủ trang trại đi làm việc khác
❖ Theo hình thức sở hữu
- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất (thường là trang trại gia đình), đây là loại hình phổ biến ở các nước
Trang 22- Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất, phần còn lại đi thuê người khác
- Trang trại thuê toàn bộ tư liệu sản xuất của chủ khác để sản xuất kinh doanh [23]
1.1.5 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả
1.1.5.1 Các khái niệm
❖ Về khái niệm hiệu quả:
- Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý”, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội [4]
- Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc “Khi sản xuất có hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên giới hạn khả năng sản xuất”[4]
- Quan điểm khác lại khẳng định “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [10] Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn lượng chi phí
bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào
❖ Về hiệu quả sử dụng đất:
Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất đai trong hoạt động kinh tế thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị (lợi nhuận) thu được bằng tiền; về mặt xã hội, đây là chỉ số thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm trong việc khai thác đất đai
Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên; trong những hoàn cảnh thực tế nhất định, còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của kinh tế quốc dân, cũng như sản xuất trong nước gắn với thị trường quốc tế… Cùng với các biện pháp kỹ thuật thâm canh truyền thống, phải coi trọng việc vận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, tiến hành mạnh mẽ việc bố trí cơ cấu kinh tế theo hướng khắc phục tính tự cấp tự túc về lương thực từ lâu đời, biến đổi mạnh nông nghiệp thành một ngành kinh tế hàng hoá; chỉ trên cơ sở đó mới có điều kiện thực tế tận dụng các tiềm năng phong phú sẵn có về đất đai và lao động của Việt Nam [33]
Trang 231.1.5.2 Phân loại và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
❖ Hiệu quả kinh tế:
Để đánh giá hiệu quả kinh tế, người ta căn cứ các chỉ tiêu về:
1- Hiệu quả sử dụng đất (H): được phản ánh qua chỉ tiêu giá trị sản xuất bình quân trên một đơn vị canh tác
H = Q / S
Trong đó: Q là giá trị hàng hoá và dịch vụ
S là diện tích canh tác (ha)
2- Hiệu quả sử dụng vốn (Hv): phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại
Hv = Q / V
Trong đó: Q là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
V là vốn bình quân dùng vào sản xuất
3- Hiệu quả chi phí đầu tư (Hc): phản ánh lợi nhuận thu được so với vốn đầu tư
Hc = Q / C
Trong đó: Q là lợi nhuận thu được trong một năm sản xuất
C là tổng số vốn đầu tư trong một năm sản xuât
4- Hiệu quả sử dụng lao động (HLĐ): phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của người lao động
HLĐ = Q / LĐ
Trong đó: Q là giá trị sản xuất kinh doanh đạt được
LĐ là tổng số lao độnghao phí để tạo ra Q
Việc tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế được cụ thể hóa bằng cách tính toán các chỉ số sau:
+ Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo
ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chí phí trung gian (IC): Là khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất + Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất (GO) và chí phí trung gian (IC), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
+ Hiệu quả kinh tế trên một đồng chi phí trung gian (IC): GO/IC; VA/IC
+ Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ): GO/LĐ; VA/LĐ
Trang 24Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị) bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính (phân cấp) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn [15]
Đối với kinh tế trang trại, tác giả Nguyễn Minh Đức (2008) đưa ra phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế khá chi tiết, bao gồm việc tính toán các chỉ tiêu:
* Tính toán chi phí sản xuất
Có 3 cách tính khấu hao khác nhau
Cách 1: Phương pháp tính khấu hao theo đường thẳng (khấu hao đều cho các năm)
Chi phí khấu hao = (giá mua tài sản – giá trị thanh lý tài sản) /số năm sử dụng
Cách 2: Tính khấu hao theo phương pháp giảm dần giá trị
Phương pháp này áp dụng với một tỷ lệ khấu hao nhất định Theo cách tính này, giá trị khấu hao hàng năm giảm dần khi khi giá trị thực tế của tài sản giảm dần
Cách 3: Tính toán khấu hao theo phương pháp tổng các chữ số năm sử dụng
Giá trị khấu hao = (giá mua - giá thanh lý) * (Số năm sử dụng còn lại /Tổng các chữ số năm sử dụng )
- Chi phí biến đổi Là các chi phí sử dụng cho các hoạt động diễn ra trong 1 vụ sản xuất
* Tổng thu nhập:
Tổng thu nhập được xác định bằng tổng giá trị sản phẩm của đơn vị sản xuất trong một giai đoạn sản xuất nhất định, bao gồm:
Doanh thu = Sản lượng bán x Đơn giá
Tiền quy đổi từ lượng sản phẩm tiêu thụ gia đình
Tiền quy đổi từ lượng sản phẩm cho đi
Tiền quy đổi từ lượng sản phẩm trao đổi thay tiền mặt chi phí sử dụng cho các hoạt động diễn ra trong 1 vụ sản xuất
* Phân tích kinh tế
Trang 25Dựa vào các số liệu về chi phí và thu nhập, ta tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế
- Năng suất (hay sản lượng) của một đơn vị đầu tư
+ Năng suất (kg/ha) = sản lượng (kg)/tổng diện tích (ha)
+ Năng suất của lao động (kg/ngày công) = sản lượng (kg)/tổng số ngày công + Năng suất của vốn đầu tư(kg/chi phí sản xuất) = sản lượng (kg)/tổng chi phí sản xuất
Năng suất trên một đơn vị đầu tư cũng được tính theo đơn vị tiền tệ Đó chính là tổng giá trị sản phẩm chia cho tổng số đơn vị đầu tư
Các chỉ số năng suất này được sử dụng để đánh giá mức độ hoạt động của một đơn vị sản xuất Hơn nữa, các chỉ số này cũng được sử dụng để đánh giá mối quan hệ của các loại đầu tư với sản phẩm
- Lượng và chi phí mỗi loại đầu tư cho một đơn vị sản lượng
+ Lao động cần thiết cho một đơn vị sản lượng (giờ, ngày công) = tổng lao động (giờ, ngày)/tổng số đơn vị sản phẩm
+ Số vốn cần thiết cho một đơn vị sản lượng - Tổng chi phí sản xuất/tổng sản lượng Các chỉ số này được sử dụng để đánh giá mức độ đầu tư cần thiết cho một đơn vị sản lượng Mặt khác chúng thể hiện mức độ hoạt động của đơn vị sản xuất
- Lượng và chi phí một số đầu tư chính trên 1 đơn vị diện tích
+ Chi phí sản xuất ($/ha) = tổng chi phí sản xuất($)/tổng diện tích (ha)
+ Lao động cần thiết/ha = tổng đơn vị lao động/tổng diện tích (ha)
+ Thức ăn, phân bón/ha = tổng đơn vị thức ăn, phân bón/tổng diện tích (ha) Các chỉ số này thể hiện cường độ hoạt động của đơn vị sản xuất cũng như các khả năng ảnh hưởng của sản xuất đến thức ăn, phân bón, tín dụng, nghề nghiệp
- Thu nhập ròng (lợi nhuận) = tổng thu nhập - tổng chi phí sản xuất
- Thu nhập do lao động và quản lý = tổng thu nhập – (tổng chi phí sản xuất - chi phí lao động)
- Thu nhập do vốn và quản lý = tổng thu nhập - tổng chi phí + khấu hao + lãi suất
- Tỷ lệ thu nhập trên vốn đầu tư = thu nhập do vốn và quản lý/tổng vốn đầu tư ban đầu
- Tỷ lệ lợi nhuận = lợi nhuận thu được/chi phí sản xuất
- Thời gian thu hồi vốn = tổng vốn đầu tưban đầu/(lợi nhuận + khấu hao)
Trang 26- Mức giá hoà vốn = tổng chi phí sản xuất/tổng sản phẩm
- Sản lượng hoà vốn(mức sản lượng tại đó thu nhập mang lại vừa đủ cho việc mua sắm các loại đầu tư) = tổng chi phí sản xuất/giá sản phẩm [6]
❖ Hiệu quả xã hội:
Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu về mặt xã hội do hoạt động sản xuất đem lại Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội là rất khó khăn, do vậy chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định chổ ở, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư lành mạnh xã hội Một số chỉ tiêu đánh giá như:
- Hệ thống phải phát huy được nội lực của nông hộ và nguồn lực của địa phương
- Hệ thống sử dụng đất phải phù hợp với luật pháp và hương ước cộng đồng
- Mức độ sử dụng lao động, giải quyết việc làm
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật
- Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo, đảm bảo an toàn lương thực
❖ Hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học và đặc biệt là người dân rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động sản xuất đó không có những ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước, không khí, không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học và đảm bảo một mô hình sản xuất phát triển bền vững
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất đòi hỏi phải
có số liệu phân tích kỹ về mẫu đất, nguồn nước và các nông sản trong một thời gian nhất định, cũng như mức độ ảnh hưởng môi trường Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ xin đề cập đến một số ảnh hưởng về mặt môi trường thông qua các chỉ tiêu:
- Độ che phủ của các mô hình trang trại lâm nghiệp và diện tích đất lâm nghiệp trong trang trại so với tổng diện tích đất sử dụng cho trang trại
- Mức đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và ảnh hưởng của nó tới môi trường
- Mức độ ô nhiễm môi trường từ các mô hình trang trại chăn nuôi
Trang 271.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tác động của phát triển trang trại đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Kinh tế trang trại mặc dù mới đang trong quá trình phát triển song đã tỏ ra là một hình thức phù hợp và có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, là một hướng đi đúng đắn để đưa nông nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hóa lớn
Ở nước ta, vai trò của trang trại đã được khẳng định tại Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ: “Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá Một
số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng” [8] Mặc dù kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như mặt xã hội và môi trường
1.2.1.1 Về kinh tế
Nước ta đã đạt được những thành tích lớn về phát triển kinh tế nông nghiệp trong nhiều năm qua Từ tình trạng thiếu lương thực trước những năm 80, chính sách giao đất, giao rừng ổn định lâu dài đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại, các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại trong những năm gần đây góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tăng nhanh cả về năng suất và sản lượng Không những an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm mà nước ta còn bước vào nhóm các nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới Chúng ta không thể phủ nhận phát triển trang trại đã góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đồng thời phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất cũng như các ngành dịch vụ - thương mại
Kinh tế trang trại đã khai thác tốt hơn nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Do yêu cầu phải mở rộng quy mô và phát triển sản xuất nên chủ trang trại phải tận dụng triệt để nguồn vốn tự có và khai thác nguồn vốn khác Những năm qua, kinh tế trang trại phát triển đã góp phần huy động lượng vốn đầu tư khá lớn trong dân (trên 20.000 tỷ đồng) [24], đưa vào phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và mở rộng thêm ngành nghề ở nông thôn
1.2.1.2 Về xã hội
Kinh tế trang trại phát triển góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn, tận dụng lực lượng lao động dư thừa thuộc mọi lứa tuổi trong nông nghiệp, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân Hoạt động kinh tế trang trại đã tạo việc làm cho 30 vạn lao động của gia đình và còn thuê thêm 10 vạn lao động thường xuyên Ngoài ra,
Trang 28kinh tế trang trại còn góp phần thiết thực vào xóa đói giảm nghèo, làm tăng số hộ giàu ở nông thôn, giảm bớt chênh lệch về phát triển giữa miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị [24]
Kinh tế trang trại phát triển thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn Khuyến khích nhiều hộ gia đình cùng đầu tư vào phát triển trang trại [19]
1.2.1.3 Về môi trường
Kinh tế trang trại phát triển góp phần khai thác thêm diện tích đất trống, đồi trọc
và diện tích đất còn bỏ hoang hóa, đưa quỹ đất bị bỏ lãng phí trước đây vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nhất là vùng trung du, vùng núi
và ven biển Trong các mô hình trang trại hiện nay, mô hình trang trại chăn nuôi có xu hướng tác động tiêu cực đối với môi trường nhiều hơn cả Tuy nhiên, so với các hoạt động sản xuất khác thì vấn đề ô nhiễm môi trường không đến mức nghiêm trọng và hoàn toàn có khả năng kiểm soát Bên cạnh đó, mô hình trang trại lâm nghiệp lại là mô hình có ảnh hưởng tích cực đối với môi trường sinh thái Bởi vì, đây là yếu tố giúp phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, làm tăng đáng kể diện tích đất có rừng che phủ, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất đai, môi trường không khí
Mặt khác, do sản xuất kinh doanh là tự chủ, vì lợi ích thiết thực và lâu dài nên các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường trước hết là trong phạm vi không gian trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển trang trại
1.2.2.1 Lịch sử và điều kiện ra đời của loại hình sản xuất trang trại ở các nước tư bản phát triển châu Âu và châu Mỹ
Khi kinh tế hàng hóa bắt đầu xuất hiện và phát triển ở châu Âu thông qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và cuộc cách mạng tư sản diễn ra lần lượt ở các nước Điển hình nhất, triệt để nhất là cuộc Đại cách mạng Tư sản Pháp 1789 đã kéo theo sự ra đời của hình thức sản xuất trang trại đầu tiên trên thế giới thay thế cho kiểu sản xuất nhỏ của tầng lớp tiểu nông và hình thức điền trang, thái ấp của các thế lực phong kiến quý tộc đương thời Hình thức sản xuất trang trại này ra đời vào cuối chế
độ phong kiến, đầu chế độ tư bản, đã mang lại yếu tố tích cực hơn hẳn hình thức kinh
tế điền trang, thái ấp phong kiến Sự tiến bộ này thể hiện ở số lượng nông sản hàng hóa được tạo ra nhiều hơn, chất lượng nông sản tốt hơn, được xã hội chấp nhận và nhanh chóng được nhà nước tư bản khuyến khích phát triển
Thấy được lợi ích cũng như giá trị mang lại của sản xuất trang trại, các nước tư bản phát triển như Anh, Mĩ, Canada, Úc… đều có xu hướng tích tụ đất đai vào các trang trại lớn để thành lập những đồn điền tư bản và như vậy số lượng các trang trại
Trang 29giảm dần về số lượng nhưng lại tăng về quy mô Khi nghiên cứu kinh tế - chính trị học Anh, C.Mác đã dự báo trong nông nghiệp và nông thôn nước Anh rồi cũng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung như công nghiệp, ông viết: “Ở nước Anh đã hình thành nên một giai cấp fermier tư bản chủ nghĩa… hình thức lĩnh canh đã nhanh chóng nhường chỗ cho các fermier chính cống” Thực tế ở nước Anh lúc đó đã hình thànhhai loại sản xuất trang trại là trang trại tư bản tư nhân và trang trại gia đình Trang trại tư bản tư nhân là xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn được quản lý tập trung và mọi điều hành hoạt động đều giống như một xí nghiệp công nghiệp, tất cả các khâu từ quản lý điều hành đến trực tiếp sản xuất đều được nhà tư bản tổ chức chặt chẽ Việc thuê mướn lao động và trả công lao động như một thứ hàng hóa đặc biệt Tất cả hàng hóa tạo ra từ các trang trại tư bản tư nhân này đều được bán hết ra thị trường Những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhất là thành tựu công nghiệp hóa được áp dụng triệt để nhằm đạt được năng suất lao động cao nhất, tạo ra giá trị thống nhất cho nhà tư bản Trang trại gia đình là những trang trại được hình thành và phát triển từ những hộ gia đình sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ, sở hữu một diện tích đất nhỏ hơn và dùng lao động gia đình là chính Loại trang trại gia đình tỏ ra thích hợp và hiệu quả hơn những đồn điền tư bản có quy mô lớn vì họ chủ động tận dụng được nguồn lực của gia đình, chỉ thuê mướn nhân công trong những công việc cần thiết, lại quản lý điều hành trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình Bên cạnh đó, họ có thể chọn lọc và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ theo ý muốn Do đó, giá trị sản phẩm của trang trại gia đình thấp hơn giá thành sản phẩm cùng loại do đồn điền tư bản
tư nhân và nông dân tự do khác tạo ra trong cùng một thời điểm
Một số nước như Hà Lan, Anh, Pháp… sau khi làm cách mạng tư sản đã phát hiện ra những khía cạnh văn minh, tiến bộ của sản xuất trang trại trong nông, lâm, ngư nghiệp mà nhanh chóng ban hành một số chính sách tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất trang trại thời đó cụ thể là:
- Cho phép chủ trang trại tự do lựa chọn ngành kinh doanh, lựa chọn vật nuôi và
có ưu tiên về cung cấp phân bón
- Khuyến khích các chủ trang trại xuất khẩu nông sản đã tái chế, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Phương châm mà nhà nước Pháp áp dụng cho các chủ trang trại Pháp đương thời là tiêu thụ như thế nào thì sản xuất như thế ấy để xuất khẩu
- Ưu đãi thuế cho nông nghiệp, nông thôn, chủ trang trại… chứ không ưu đãi cho quý tộc, tăng lữ và nhà buôn
- Có chính sách đầu tư cho đường xá, cầu cống ở nông thôn, giúp cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa nông sản được dễ dàng
Ở châu Mỹ, đặc biệt là Bắc Mỹ, kinh tế trang trại phát triển có chậm hơn ở châu
Âu nhưng đến cuối thế kỷ XIX thì gia tăng mạnh mẽ và quy luật phát triển cũng như
Trang 30châu Âu Đó là, từ cuối thế kỷ XIX đến cuối những năm 40 của thế kỷ XX, số lượng trang trại vẫn phát triển nhanh với quy mô diện tích đất đai nhỏ nhằm tạo ra cơ sở ban đầu cho việc tích tụ đất đai để lập ra các xí nghiệp nông nghiệp với quy mô lớn Từ năm 1950 trở lại đây, khi nền công nghiệp phát triển mạnh thì số lượng trang trại giảm nhưng quy mô trang trại lại tăng lên Bình quân diện tích một trang trại ở Mỹ năm
1940 là 70 ha nhưng đến năm 1985 là 180ha Còn số lượng trang trại thì năm 1935 là 6.814.000 nhưng đến năm 1990 chỉ còn 2.140.000 Nếu tính riêng nước Mỹ, kinh tế trang trại đã sản xuất ra một số lượng nông sản chiếm 41% dự trữ lúa mì và 87% dự trữ ngô trên thế giới Loại hình kinh tế mới mẻ này trong nông nghiệp theo thời gian
đã nhanh chóng lan sang các nước tư bản và thuộc địa khác để trở thành một hình thức sản xuất tiến bộ có lực lượng lớn mạnh trên thế giới [14], [22]
1.2.2.2 Lịch sử và điều kiện ra đời của các loại hình sản xuất trang trại ở các nước châu Á
Ở các nước châu Á, nơi mà các phương thức sản xuất còn là một vấn đề gây nhiều trang luận thì hầu như không diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp hay cách mạng tư sản nào mà hầu hết là chịu sự tác động từ thành quả phát triển kinh tế - xã hội phương Tây Chế độ phong kiến mà điển hình là phong kiến Trung Quốc đã khống chế hầu như toàn bộ phương thức sản xuất của châu Á vào những năm châu Âu đang dồn dập nổ ra các cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng tư sản, mở đường cho sự phát triển Vào cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở phương Tây đã bành trướng thế lực của mình vào châu Á bằng nhiều con đường, làm thay đổi dần phương thức sản xuất châu Á, nảy sinh nhiều mầm mống kinh tế hàng hóa ở lục địa này
Sau chiến tranh thế giới thứ hai (1939 -1945), nhiều nước châu Á mới tiến hành cải cách ruộng đất theo những nội dung và mức độ khác nhau để chuyển giao quyền sở hữu đất đai cho nông dân trực tiếp sản xuất Việc xúc tiến cải cách ruộng đất đã tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các trang trại gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa Song, do điều kiện thực tế ở châu Á đất chật, người đông, bình quân đất canh tác chỉ có 0,15 ha/người (trong khi đó ở Đài Loan chỉ có 0,047 ha; Hàn Quốc 0,053 ha; Nhật Bản 0,035 ha…) nên các trang trại ở châu Á chủ yếu là trang trại gia đình với quy mô đất đai bình quân trên dưới 1 ha Bên cạnh đó, cũng tồn tại hình thức đồn điền của các chủ tư bản nước ngoài hoặc các quý tộc trong nước quy mô lớn hàng trăm ha Đến thời kỳ hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, một số nước như: Liên
Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan, Trung Quốc, Việt Nam… tổ chức thêm mô hình nông trại, nông lâm trường quốc doanh, sản xuất và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch của nhà nước
Có thể nói, lịch sử ra đời của hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp ở tất
cả các nước trên thế giới châu Âu, châu Mỹ đến châu Á và các châu lục khác là lịch sử tất yếu đi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa ngày càng cao theo quy luật hoạt động của nền kinh tế thị trường [19], [22]
Trang 311.2.3 Tình hình phát triển của các mô hình sản xuất trang trại tại một số nước trên thế giới
1.2.3.1 Tình hình phát triển trang trại tại Pháp
Từ cuối thế kỷ XIX (giai đoạn đầu của công nghiệp hóa), số lượng trang trại ở Pháp tăng từ 5 triệu lên 5,6 triệu với quy mô về đất đai bình quân mỗi trang trại là 11
ha Cuối thế kỷ XX, khi mà nhà nước Pháp đã có nền công nghiệp hiện đại, số trang trại giảm xuống còn 980 nghìn, song quy mô của mỗi trang trại đã lớn hơn nhiều lần
so với trước đây, khoảng 25 – 30 ha/trang trại
Bảng 1.2 Tình hình phát triển trang trại của nước Pháp qua các năm
STT Năm Số lượng trang trại
Diện tích bình quân (ha/trang trại)
70 – 80 nguồn lao động từ nông nghiệp nông thôn bị thu hút vào khu vực sản xuất công nghiệp nên số lượng trang trại giảm dần Mặt khác, do phải áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công nghệ sản xuất tiên tiến, trình độ hiện đại hóa, tự động hóa cao nên các trang trại ngày càng phải mở rộng quy mô diện tích và phạm vi hoạt động kinh doanh không chỉ trồng trọt mà còn chăn nuôi, chế biến Mặc dù, quy mô mỗi trang trại ngày nay ở Pháp bình quân từ 25 – 30 ha nhưng chỉ cần 1 – 2 lao động chính của gia đình và sử dụng thêm vài lao động thuê mướn Nói đến sự phát triển bền vững kinh tế trang trại ở Pháp không thể không nói đến đội ngũ chủ các trang trại, họ phần lớn là những người đã tốt nghiệp ở các trường đào tạo cả về chuyên môn lẫn quản lý, họ không chỉ là một nhà chuyên môn giỏi mà còn là một nhà kinh tế năng động và giàu kinh nghiệm
Trang 321.2.3.2 Tình hình phát triển trang trại tại Mỹ
Mỹ là một quốc gia rộng lớn, phát triển vào loại bậc nhất thế giới cả về kinh tế -
xã hội cũng như quân sự Tuy nhiên từ những năm 20 của thế kỷ XIX, Mỹ đã chú trọng đến việc phát triển sản xuất theo các mô hình trang trại Hiện nay diện tích bình quân một trang trại ở Mỹ là 150 – 250 ha Trong vòng 40 - 50 năm qua tốc độ tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp để hình thành các trang trại tăng 2,5 - 3 lần, trên cơ sở tăng diện tích đất đai bình quân của các trang trại, giảm số lượng các trang trại chủ yếu
là các trang trại nhỏ Năm 1940 số lượng trang trại ở Mỹ là 6.350.000 trang trại nhưng đến năm 1990 số lượng trang trại giảm xuống còn 2.140.000 Tuy nhiên, diện tích mỗi trang trại lại tăng lên đáng kể từ 70 ha/trang trại lên 200ha/trang trại [12]
Trang 33Bảng 1.3.Tình hình phát triển trang trại của nước Mỹ qua các năm
trang trại
Diện tích bình quân (ha/trang trại)
ở Mỹ hiện nay có 87% trang trại gia đình độc lập có tư cách pháp nhân riêng do một người chủ gia đình là chủ quản lý chiếm 65% đất đai và 70% giá trị sản lượng nông sản còn lại là trang trại liên doanh và trang trại hợp doanh
Trang 34Việc sử dụng đất đai của trang trại ở Mỹ cũng như các nước khác trên thế giới phụ thuộc vào đặc điểm của vùng sinh thái và loại hình sản xuất Các trang trại Mỹ đã sản xuất ra một lượng nông sản lớn, hạt ngũ cốc chiếm 41% dự trữ lúa mì và 87% dự trữ ngô trên toàn thế giới
1.2.3.3 Tình hình phát triển trang trại tại Nhật Bản
Từ những năm cuối của thế kỷ XIX ở Nhật Bản bắt đầu chú ý đến việc hình thành các trang trại sản xuất nông nghiệp và phát triển mạnh đến năm 1945-1950 sau
đó số lượng trang trại đã giảm nhanh chóng Cuối thế kỷ XIX, ở Nhật có 3.800.000 trang trại, năm 1950 tăng lên 6.176.000 trang trại và sau đó giảm dần đến năm 1990 chỉ còn 3.739.000 trang trại
Bảng 1.4.Tình hình phát triển trang trại của Nhật Bản qua các năm
Số TT Năm Số lượng trang
trại Diện tích bình quân (ha/trang trại)
Trang 35Một trong những nguyên nhân làm cho số lượng trang trại giảm là do nền công nghiệp Nhật Bản có bước đột phá, những trang trại diện tích nhỏ nhanh chóng bị thay thế bởi những trang trại có diện tích lớn, trình độ công nghiệp hoá trong nông nghiệp diễn ra sâu rộng và mạnh mẽ Diện tích đất bình quân mỗi trang trại chỉ từ 1-2 ha Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã tiến hành cải cách ruộng đất với mục đích nhằm chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp Năm 1946-1949, nhà nước Nhật đã mua 1,95 triệu ha ruộng đất của các chủ ruộng bán lại cho những nông dân thiếu ruộng hoặc không có ruộng trước đây theo thể thức trả tiền dần trong một số năm Về tình hình sở hữu và sử dụng ruộng đất: trước cải cách ruộng đất (1945), 35% số trang trại có ruộng đất riêng; 40% phải lĩnh canh một phần và 25% lĩnh canh hoàn toàn Sau cải cách ruộng đất (1950), 62% trang trại có ruộng đất riêng và chỉ còn lại 5% phải đi thuê hoàn toàn Tình hình này đến nay vẫn chưa thay đổi nhiều Với 4 triệu lao động ở trang trại (3,7% dân số) đã đảm bảo lương thực, thực phẩm cho 125 triệu người (gạo 107%, thịt 81%, trứng 98%, sữa 89%, rau quả 76-95%, đường 84%) [15]
1.2.3.4 Tình hình phát triển trang trại tại Đài Loan
Trong những năm từ 1949-1953, Đài Loan đã tiến hành cải cách ruộng đất và sau
đó tiến hành công nghiệp Trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá (1952-1970), trang trại ở Đài Loan cũng phát triển theo quy luật chung của các nước phát triển, đó là số lượng tăng liên tục, còn quy mô mỗi trang trại thì nhỏ Khi công nghiệp đã phát triển thì số lượng trang trại giảm nhưng quy mô diện tích của mỗi trang trại lại tăng lên rõ rệt
Bảng 1.5.Tình hình phát triển trang trại của Đài Loan qua các năm
trang trại
Diện tích bình quân (ha/trang trại)
Trang 36Qua số liệu trên chúng ta thấy sau cải cách ruộng đất số lượng trang trại là 714.000 và diện tích bình quân một trang trại là 1,12 ha (năm 1955) nhưng sau năm
1970 khi Đài Loan trở thành một trong những nước có nền công nghiệp phát triển thì
số lượng trang trại đã giảm xuống chỉ còn 739.000, nhưng quy mô tích tụ đất đai lại tăng lên, diện tích bình quân mỗi trang trại là 1,2 ha (năm 1988) Quy mô mỗi trang trại ở Đài Loan là nhỏ, thường trên dưới 1 ha Điều này phù hợp với đặc điểm dân số
và diện tích đất đai của Đài Loan
0 200.000
1.2.3.5 Tình hình phát triển trang trại tại Thái Lan
Vấn đề sản xuất trang trại ở đây được hình thành và phát triển muộn hơn so với Pháp, Mỹ cũng như một số nước trong khu vực Tuy nhiên, gần đây nước này cũng bắt đầu chú trọng đến việc phát triển kinh tế trang trại nhằm giải quyết lao động, việc làm cũng như đảm bảo anh ninh lương thực cho quốc gia
Năm 1963 Thái Lan chỉ có 3.124.000 trang trại với diện tích đất đai bình quân là 3,5 ha/trang trại, đến năm 1988 có 5.245.000 trang trại với diện tích bình quân là 4,5 ha/trang trại [15]
Nhìn chung, Thái Lan cũng như các nước khác trong khu vực như Philippines,
Ấn Độ trong các thời kỳ bắt đầu công nghiệp hóa nền kinh tế thì các trang trại có xu hướng gia tăng về số lượng Trong những năm gần đây, lao động trong nông nghiệp lại giảm đi do sự thu hút lao động của các ngành công nghiệp và dịch vụ, dẫn đến sự suy
Trang 37giảm về số lượng trang trại ở Thái Lan vào những năm 1985 - 1990 Bình quân việc
sử dụng lao động ở Thái Lan là 3,7 lao động/trang trại, việc tiến hành cơ giới hoá cũng rất được coi trọng, có 95% số máy kéo lớn và 50% số máy kéo nhỏ chủ yếu được sử dụng vào việc làm thuê cho trang trại
Bảng 1.6 Tình hình phát triển trang trại của Thái Lan qua các năm
trang trại
Diện tích bình quân (ha/trang trại)
1.2.4 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam trong thời gian qua
Trong những năm qua, kinh tế trang trại ở nước ta đã phát triển nhanh chóng cả
về số lượng và quy mô diện tích, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao tỷ
Trang 38suất nông sản hàng hoá, tạo ra nhiều hàng hoá phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Chủ các trang trại đã chủ động đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất; đã tổ chức chuyên môn hoá kết hợp với sản xuất kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài tạo nguồn vốn đầu tư Đặc biệt, chủ trang trại đã biết lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất và phẩm chất tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương mình nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại Các trang trại đã góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nhiều vùng, nhằm làm cho nền nông nghiệp nước ta ngày càng có nhiều thay đổi tích cực hơn, đưa đời sống người nông dân
ở nông thôn thoát khỏi cảnh đói nghèo
Theo kết quả tổng hợp sơ bộ của Ban chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản Trung ương, năm 2011, cả nước có 20.065 trang trại (tính theo tiêu chí mới) Trong đó, riêng đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ có tới 11.697 trang trại, chiếm 58,3% tổng số trang trại trong cả nước Trung du và miền núi phía Bắc có số trang trại ít nhất, với 587 trang trại, chiếm tỷ lệ 2,9% Ở khu vực này, trang trại chăn nuôi chiếm đa số, với 506 trang trại Do đặc điểm tự nhiên của nước ta không đồng đều nên tỷ lệ các loại hình kinh tế trang trại có sự phát triển khác nhau để tối ưu hoá hiệu quả hoạt động Tính đến năm 2011, cả nước có 8.642 trang trại trồng trọt, chiếm 43% tổng số trang trại; 6.202 trang trại chăn nuôi, chiếm 30,9%; 4.443 trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản, chiếm 22,1%; 737 trang trại tổng hợp, chiếm 3,7% và 51 trang trại lâm nghiệp, chiếm 0,3% Qua số liệu trên cho thấy, số lượng trang trại trồng trọt chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, với 7.089 trang trại, chiếm tới 90,4% số trang trại trồng trọt trong cả nước Số trang trại nuôi trồng thuỷ hải sản chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, với 4.090 trang trại, chiếm 92,3% tổng số trang trại thuỷ sản Số trang trại chăn nuôi chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng, với 4.240 trang trại, chiếm 68,3% tổng số trang trại chăn nuôi
Tính đến năm 2011, diện tích đất nông, lâm nghiệp và diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ hải sản do các trang trại sử dụng là 157,6 nghìn ha, bình quân một trang trại
sử dụng 7,9 ha Trong tổng số diện tích trên, đất trồng cây lâu năm chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 78 nghìn ha (chiếm 49,5%), đất trồng cây hàng năm là 36,7 nghìn ha (chiếm 23,3%), diện tích nuôi trồng thuỷ hải sản là 34,2 nghìn ha (chiếm 21,7%) Điều này cho thấy, đây là cơ sở vững chắc để tạo nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến, tạo sản phẩm hàng hoá để phục vụ tiêu dùng, phục vụ sản xuất và phục vụ xuất khẩu Các loại hình trang trại phát triển đã góp phần quan trọng tạo việc làm cho người lao động nông thôn Các trang trại trong cả nước đã tạo công ăn, việc làm thường xuyên cho gần
100 nghìn lao động và rất nhiều lao động có tính thời vụ, tạm thời ở các địa phương Cùng với việc giải quyết việc làm, kinh tế trang trại đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế Năm 2011, tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và
Trang 39thuỷ sản của các trang trại đạt gần 39 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 6% giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), bình quân 1.942,5 triệu đồng một trang trại Điểm đáng chú ý, tuy vùng trung du miền núi phía Bắc có số trang trại thấp nhất, nhưng tổng thu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bình quân một trang trại ở vùng này lại cao nhất, bình quân 2,868 tỷ đồng, tiếp đến là đồng bằng sông Hồng, với 2,519 tỷ đồng, đồng bằng sông Cửu Long là 1,54 tỷ đồng và thấp nhất là Tây Nguyên, với 1,315 tỷ đồng Một kết quả tích cực khác, đó là trong tổng giá trị sản phẩm và dịch vụ, tỷ suất sản phẩm hàng hoá do các trang trại bán ra chiếm tới 98,1% Như vậy, kinh tế trang trại là một trong những mô hình sản xuất thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hoá lớn [31]
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ để mở đường cho kinh tế trang trại phát triển và thực sự trở thành mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả Những khó khăn trong việc sản xuất trang trại thường gặp là:
- Về đất đai: hầu hết các trang trại có quy mô diện tích dưới mức hạn điền, có nguồn gốc đa dạng, đã gây không ít những bất cập trong việc quản lý, sử dụng diện tích đất để phát triển kinh tế trang trại Mặc dù chủ trang trại đã có nhiều cố gắng tích cực trong việc mở rộng diện tích canh tác, nhưng việc tích tụ tập trung ruộng đất vẫn còn diễn ra rất chậm Một số nơi chủ trang trại đã được phép thuê đất của hợp tác xã, chính quyền, nông - lâm trường để sản xuất nhưng vẫn chưa được hưởng đầy đủ quyền lợi của mình trong việc sử dụng đất Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ trang trại vẫn chưa được giải quyết thoả đáng Vì vậy, các chủ trang trại vẫn chưa thực sự yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh và chưa mạnh dạn áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên hiệu quả sử dụng đất chưa cao
- Về vốn: hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng Vốn vay của các tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng thấp Thực tế cho thấy, vốn đầu tư của các trang trại đang còn ở mức rất thấp, do vậy không đủ vốn để đầu tư vào sản xuất, mua sắm máy móc cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, hạn và lãi suất cho vay của Nhà nước hiện nay chưa phù hợp với việc đầu tư và phát triển kinh tế trang trại; hơn thế nữa thủ tục cho vay còn phức tạp gây khó khăn cho các chủ trang trại
- Về khoa học - kỹ thuật: từ việc thiếu vốn và sự vướng mắc trong chính sách đất đai nên các chủ trang trại chưa thể đầu tư vào khoa học-kỹ thuật, chưa áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, mà chủ yếu theo đường lối thủ công sử dụng nhiều lao động nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm làm ra chưa đạt yêu cầu nhất là đối với xuất khẩu ra nước ngoài Hầu hết các chủ trang trại phải bán sản phẩm ở dạng thô, chưa qua chế biến nên giá thấp chưa thể cạnh tranh được trên thị trường
- Về các chủ trang trại: thực tế các chủ trang trại ở nước ta có trình độ văn hoá không cao cũng như chưa có trình độ chuyên môn Kinh tế trang trại chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình nông dân và gia đình cán bộ, công nhân viên đã nghỉ hưu Sự tham gia của
Trang 40các thành phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa nhiều Mặt khác, các trang trại chủ yếu sử dụng lao động của gia đình; một số trang trại có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công lao động chỉ được thực hiện theo hình thức thoả thuận giữa hai bên, chưa thực sự tạo sự ổn định về giải quyết việc làm Vì vậy, việc nắm bắt những kiến thức khoa học kỹ thuật cũng như thị trường còn nhiều hạn chế và chưa kịp thời Việc điều hành công việc sản xuất kinh doanh của trang trại chủ yếu còn dựa vào kinh nghiệm là chính, sự lựa chọn hướng sản xuất kinh doanh trên cơ sở khoa học, nhất là rất yếu kém trong khâu tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Về Nhà nước: chưa có sự quy hoạch rõ ràng, đồng bộ trong việc phát triển kinh
tế trang trại; việc đưa ra các chỉ tiêu để xác định kinh tế trang trại còn nhiều điểm chưa hợp lý; quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại còn diễn ra chậm gây khó khăn cho các chủ trang trại trong việc sử dụng đất của mình [24]
1.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Tác giả Phan Khoa Cương, Hoàng Quang Thành (2009) nghiên cứu đề tài: “Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” đã đưa ra kết luận: để kinh tế trang trại tiếp tục khẳn định và phát huy các lợi thế của mình so với kinh tế nông hộ và dần trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu trong nền nông nghiệp hiện đại, đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ, có hệ thống tất cả các vấn đề liên quan đến từng yếu tố, từng phân
tử của từng phân hệ cấu thành trang trại Điều đó trước hết đòi hỏi bản thân các chủ trang trại phải nhận thức đúng và nỗ lực không ngừng nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của các yếu tố nội bộ Mặt khác, rất cần sự tác động dưới nhiều hình thức
từ nhiều phía: chính quyền nhà nước các cấp, các nhà khoa học và toàn xã hội [11] Tác giả Trần Lệ Thị Bích Hồng (2007) nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” đã đưa ra kết luận: phát triển kinh tế trang trại là con đường xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống nhân dân tạo ra cách làm ăn mới trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Kinh tế trang trại không những đem lại nguồn thu nhập cho các chủ trang trại mà còn đóng góp đáng kể về nhiều mặt như: hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [17]
Tác giả Nguyễn Trọng Hưng (2008) nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình” đã đưa ra kết luận: kinh tế trang trại đã phát huy được tiềm năng và thế mạnh của vùng, cơ cấu sản xuất bước đầu tiến tới sự hợp lý Phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa đồng thời đây là nhân tố mang lại hiệu quả trên ba mặt: hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm hộ nghèo, cải thiện môi trường sinh thái (Trích dẫn bởi Lê Thị Xuân Vui, 2012)