1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mô hình quản lý rác thải sinh hoạt vùng nông thôn ven đô ở huyện hòa vang, đà nẵng

109 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chú thích BND Ban nhân dân BVMT Bảo vệ môi trường BXD Bộ Xây dựng CTR Chất thải rắn CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt ISWM Quản lý tổng hợp chất thải

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VÕ QUANG THIỆN

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÙNG NÔNG THÔN VEN

ĐÔ Ở HUYỆN HÒA VANG, ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên nghành: Phát triển nông thôn

Mã số: 60.62.01.06

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS TRƯƠNG VĂN TUYỂN

HUẾ - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực, chưa được sử dụng trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các nguồn tài liệu tham khảo tôi đều trích đầy đủ thông tin của tác giả, năm phát hành và những liên kết

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi

để tôi hoàn thành đề tài này

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trương Văn Tuyển, giảng viên khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài…

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm, đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hòa Vang, cũng như Xí nghiệp môi trường Hòa Vang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu hoàn thành khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 08 năm 2015

Tác giả

Võ Quang Thiện

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục đích/Mục tiêu chung của đề tài 1

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1

4.Điểm mới của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 3

1.1.1 Một số lí luận về rác thải và quản lý chất thải rắn (CTR) 3

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải 6

1.1.3 Quản lý tổng hợp rác thải 7

1.1.4 Vùng ven và vùng ven đô 15

1.1.5 Tổng quan về Quản lý chất thải dựa trên cộng đồng (QLCTDTCĐ) 17

1.1.6 Các yếu tố đảm bảo tính bền vững của sự tham gia cộng đồng dân cư về vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn 21

1.2 Cơ sở pháp lý 21

1.3 Cơ sở thực tiễn 22

1.3.1 Trên thế giới 22

1.3.2 Tại Việt Nam 23

1.4 Quản lý chất thải sinh hoạt theo tiêu chí môi trường 24

1.5 Chính sách, quy định quản lý CTR ở địa bàn nghiên cứu 26

1.6 Định hướng giải pháp cho quản lý chất thải nông thôn 27

1.6.1 Các căn cứ chung để đề ra định hướng 27

Trang 5

1.6.2 Định hướng về công tác quản lý chất thải trên địa bàn 27

1.7 Giải pháp kỹ thuật, công nghệ 27

1.7.1 Tái chế và tái sử dụng 28

1.7.2 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp vi sinh vật 28

1.7.3 Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh 29

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 33

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33

2.4.2 Phương pháp chọn hộ 34

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin 34

2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 38

3.1.1 Địa bàn huyện Hòa Vang và phân bố các vùng nông thôn 38

3.1.2 Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu 38

3.1.3 Đặc điểm hộ gia đình ven đô 44

3.2 Tình hình phát thải rắn và quản lý CTR trên địa bàn huyện Hòa Vang, Đà Nẵng 47

3.2.1 Thực trạng chất thải rắn (CTR) trên địa bàn huyện Hòa Vang 47

3.2.2 Khối lượng CTR trên địa bàn huyện 49

3.2.3 Quản lý CTR trên địa bàn huyện 49

3.3 Thực trạng CTR ở các xã nông thôn ven đô 52

3.3.1 Khối lượng và thành phần chất thải 52

3.3.2 Tình hình phát thải CTR các hộ ven đô 53

3.4 Quản lý CTR tại các xã ven đô 54

3.4.1 Tổ chức và trang thiết bị quản lý CTR ở các xã 54

3.4.2 Công tác thu gom CTR do Xí nghiệp môi trường Hòa Vang thực hiện 55

Trang 6

3.4.3 Công tác thu gom CTR do Tổ đội thu gom rác dựa vào cộng đồng 57

3.4.4 Hiện trạng quản lý CTR vùng nông thôn ven đô ở huyện Hòa Vang 58

3.5 Thực hành quản lý chất thải của hộ gia đình 65

3.5.1 Nhận thức của hộ về quản lý chất thải 65

3.5.2 Phương thức quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại hộ gia đình 67

3.6 Đề xuất mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt dựa vào cộng đồng cho vùng nông thôn ven đô 69

3.6.1 Nguyên tắc 69

3.6.2 Đề xuất mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải 69

3.6.3 Giải pháp để nâng cao hiệu quả mô hình 73

3.7 Kết quả quản lý chất thải tại các xã và ý kiến đánh giá của người dân về kết quả quản lý CTR 74

3.7.1 Kết quả quản lý chất thải tại các xã 74

3.7.2 Ý kiến đánh giá của người dân về kết quả quản lý CTR 74

3.8 Sự tham gia của người dân thị trấn trong các chương trình, hoạt động bảo vệ môi trường của chính quyền địa phương 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

KẾT LUẬN 80

KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 85

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chú thích

BND Ban nhân dân

BVMT Bảo vệ môi trường

BXD Bộ Xây dựng

CTR Chất thải rắn

CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

ISWM Quản lý tổng hợp chất thải rắn

PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng

QĐ Quyết định

QLCTDTCĐ Quản lý chất thải dựa trên cộng đồng

TCVN Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam

TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

THT Tổ hợp tác

TVSMTTQ Tổ vệ sinh môi trường tự quản

UBND Ủy ban nhân dân

VSMT Vệ sinh môi trường

WHO Tổ chức Y tế thế giới

XN Xí nghiệp

XNMT Xí nghiệp môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại bãi chôn lấp theo diện tích 30

Bảng 1.2 Khoảng cách tối thiểu từ vành đai công trình tới các bãi chôn lấp (m) 31

Bảng 3.1 Thông tin nhân khẩu hộ khảo sát 45

Bảng 3.2 Tình hình sản xuất và thu nhập của hộ 46

Bảng 3.3 Tài sản và trang thiết bị quản lý rác thải của hộ 47

Bảng 3.4 Bảng phân bố các cơ sở phát thải chất thải rắn (CTR) trên địa bàn huyện Hòa Vang và các xã nghiên cứu 47

Bảng 3.5 Khối lượng chất thải phát sinh từ các khối xóm năm 2014 49

Bảng 3.6 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị quản lý chất thải trên địa bàn huyện 50

Bảng 3.7 Khối lượng và thành phần chất thải rắn thu gom ở các xã ven đô 52

Bảng 3.8 Khối lượng và thành phần chất thải rắn tại hộ gia đình 53

Bảng 3.9 Các tổ chức quản lý và nhân lực, vật lực 54

Bảng 3.10 Tổng quát hoạt động thu gom chất thải của XN 55

Bảng 3.11 Hoạt động thu gom chất thải của các tổ đội vệ sinh 57

Bảng 3.12 Đánh giá nhận thức của hộ về quản lý chất thải 65

Bảng 3.13 Tình hình phân loại chất thải trong hộ gia đình ở huyện Hòa Vang 66

Bảng 3.14 Phương thức quản lý CTRSH tại hộ gia đình 67

Bảng 3.15 Các hình thức xử lý rác tại hộ 68

Bảng 3.16 Tổng hợp ý kiến đánh giá của người dân về công tác thu gom rác của mô hình 74

Bảng 3.17 Kết quả quản lý chất thải đạt được khi áp dụng mô hình tại các xã nghiên cứu 75

Bảng 3.18 Các chương trình vận động sự tham gia của người dân 78

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Thành phần chất thải rắn tại các hộ nghiên cứu 53 Biểu đồ 3.2 Ý kiến đánh giá mức phí vệ sinh của các hộ dân 56 Biểu đồ 3.3 Ý kiến đánh giá công tác thu gom rác thải của Xí Nghiệp 56 Biểu đồ 3.4 Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân 67

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quá trình xử lý chất thải 28

Hình 1.2 Quy trình công nghệ xử lý chất thải rắnbằng phương pháp vi sinh vật 29

Hình 1.3 Quy trình quản lý, vận hành khu chôn lấp hợp vệ sinh 32

Hình 3.1 Bản đồ tổng quan huyện Hòa Vang và các xã trực thuộc 38

Hình 3.2 Quy trình thu gom CTR trên địa bàn huyện 50

Hình 3.3 Hiện trạng vận hành quản lý CTR có sự tham gia của cộng đồng 58

Hình 3.4 Mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý rác dựa vào cộng đồng 70

Hình 3.5 Sơ đồ tổ chức quản lý đội VSMT tự quản 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Khi nói đến rác, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của các thành phố lớn Điều đó đúng nhưng chưa đủ Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là

kỹ thuật sản xuất, nhiều loại giấy, hộp đóng gói được làm chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc…rất tiện lợi, góp phần làm thay đổi phong cách, tập quán sinh hoạt của người dân từ nông thôn đến thành thị Song bên cạnh những mặt tích cực ấy là lượng rác thải

ra môi trường ngày càng lớn, ngày càng thay đổi về số lượng, thành phần, không chỉ ở các đô thị mà còn ở các vùng nông thôn Đặc biệt là các vùng nông thôn ven đô, những đống rác được hình thành ở nhiều nơi, từ đường làng, ngõ xóm đến các trục đường công cộng, ngoài cánh đồng, trong vườn nhà…làm mất dần không khí trong lành, ô nhiễm môi trường sống Tuy nhiên công tác thu gom và xử lý rác thải hiện nay vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả Quản lý rác thải sinh hoạt khá khó khăn và phức tạp bởi tính đặc thù của nó, do rác thải bao gồm nhiều thành phần, chủng loại, có một lượng lớn chất hữu cơ dễ phân hủy nhưng lại thải ra một cách không tập trung và không thể thu gom thường xuyên Tất cả các những điều trên đều dẫn đến một kết cục là cảnh quan nông thôn bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực và nghiêm trọng hơn là người nông dân đã tác động xấu tới môi trường sống của chính mình, trực tiếp phá hủy môi trường trong lànhcủa làng quê Ở Việt Nam, thực tế việc quản lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi

Huyện Hòa Vang là một khu vực có tiến độ đô thị hóa diễn ra mạnh và có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh Đây là nơi có mật

độ dân cư tập trung đông, các cơ quan, trường học, xí nghiệp tư nhân, nhà hàng, dịch vụ phát triển Gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, quản lý rác thải là vấn đề nan giải đặt ra trước mắt mà chưa có một giải pháp triệt

để tại địa bàn nông thôn ven đô huyện Hòa Vang Bởi vậy vấn đề rác thải phải được quan tâm đúng mực Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề

tài: ‘‘Nghiên cứu mô hình quản lý rác thải sinh hoạt vùng nông thôn ven đô ở

huyện Hòa Vang, Đà Nẵng’’

2.Mục đích/Mục tiêu chung của đề tài

Nghiên cứu tình hình quản lý và mô hình quản lý rác thải sinh hoạt tại vùng nông thôn ven đô trên địa bàn huyện Hòa Vang, Đà Nẵng

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Bổ sung cơ sở khoa học cho việc quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn nông

Trang 12

thôn của huyện Hòa Vang nói riêng và các vùng có nguy cơ ô nhiễm cao do rác thải sinh hoạt nói chung

- Đánh giá những mặt còn hạn chế trong công tác rác thải sinh hoạt Cung cấp

cơ sở để lựa chọn các hình thức quản lý rác thải phù hợp giúp cho địa phương định hướng phương pháp quản lý rác thải sinh hoạt trong thời gian tới

4.Điểm mới của đề tài

- Luận văn cho thấy được tình hình phát thải tăng nhanh cùng tốc độ đô thị hóa làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường, thực trạng công tác quản lý rác thải của địa phương chưa triệt để và đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường Bên cạnh đó còn cho thấy

sự hạn chế trong nhận thức, thờ ơ của đa số người dân đối với việc quản lý rác thải sinh hoạt

- Cung cấp một số giải pháp về quản lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện địa phương, nơi có hoạt động sản xuất mạnh và phát thải lớn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Một số lí luận về rác thải và quản lý chất thải rắn (CTR)

1.1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển và quản lý chất thải rắn

Chất thải rắn (CTR) hay còn gọi là rác thải xuất hiện kể từ khi con người có mặt trên trái đất Con người đã khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ cho đời sống của mình, đồng thời thải ra chất thải rắn Khi đó, sự thải bỏ các chất thải từ hoạt động của con người không gây ra các vấn đề ô nhiễm môi trường trầm trọng do số lượng dân cư còn thấp Đồng thời, diện tích đất tự nhiên còn rộng lớn, nên khả năng đồng hóa CTR tốt, do đó không gây tổn hại đến môi trường

Khi xã hội phát triển, con người sống tập hợp thành các nhóm, bộ lạc, cụm dân cư,… thì sự tích lũy CTR trở thành một trong những vấn đề nghiêm trọng đối với cuộc sống của con người thực phẩm thừa và các chất thải khác bị thải bỏ bừa bãi ở khắp nơi trong các thị trấn, trên các đường phố, trục lộ giao thông, các khu đất trống,… đã tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của các loài gặm nhấm như chuột, Các loài gặm nhấm là điểm tựa cho các sinh vật ký sinh, như bọ chét sinh sống

và phát triển Chúng là nguyên nhâ gây nên bệnh dịch hạch Do không có kế hoạch quản lý nên các mầm bệnh phát sinh từ chất thải rắn đã lan truyền trầm trọng ở Châu

Âu vào giữa thế kỷ 14

Mãi đến thế kỷ 19, việc kiểm soát dịch bệnh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng mới được quan tâm Người ta nhận thấy rằng CTR, như thực phẩm thừa,… phải được thu gom và tiêu hủy hợp vệ sinh thì mới có thể kiểm soát các loài gặm nhấm, ruồi, muỗi, cũng như các nguy cơ truyền bệnh

Mối quan hệ giữ sức khỏe cộng đồng với việc lưu trữ, thu gom và vận chuyển các chất thải không hợp lý đã thể hiện rõ ràng Có nhiều bằng chứng cho thấy các bãi rác không hợp vệ sinh, các căn nhà ổ chuột, các nơi chứa thực phẩm thừa… là môi trường thuận lợi cho chuột, ruồi, muỗi, các vi sinh vật truyền bệnh sinh sản, phát triển Thực tế cho thấy, việc quản lý CTR không hợp lý là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí…) Ví dụ, các bãi rác không hợp vệ sinh đã gây nhiễm bản các nguồn nước mặt, nước ngầm (nước rỉ rác) và gây ô nhiễm không khí (mùi hôi) Kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới đã cho thấy, gần 22 căn bệnh của con người phát sinh do môi trường bị ô nhiễm, là kết quả của việc quản lý CTR không hợp lý

Các phương pháp phổ biến nhất được sử dụng để xử lý CTR từ đầu thế kỷ 20 là: + Thải bỏ trên các khu đất trống

Trang 14

+ Thải bỏ vào môi trường nước ( sông, hồ, biển…)

+ Chôn lấp

+ Giảm thiểu và đốt

Hiện nay, hệ thống quản lý CTR không ngừng phát triển, đặc biệt là ở Mỹ và các nước công nghiệp tiên tiến Nhiều hệ thống quản lý CTR đạt hiệu quả cao nhờ sự kết hợp đúng đắn giữa các thành phần sau đây:

+ Luật pháp và quy định quản lý CTR

1.1.1.2 Các khái niệm về chất thải rắn

“Chất thải là tất cả mọi thứ mà con người, thiên nhiên, quá trình mà con người tác động vào thiên nhiên thải ra” Chất thải là chất hoặc vật liệu mà chủ hoặc người tạo

ra chúng hiện tại không sử dụng hoặc chúng bị thải bỏ

Chất thải thường bị phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao thông vận tải tại hộ gia đình, các cơ quan trường học, nhà hàng, khách sạn

Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như các loại vật liệu, đồ vật bị loại thải từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt nào đó của con người

Phần lớn chất thải là ở thể rắn và ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta như: gạch, đá, xi măng, vôi, vữa, giấy, mảnh sành, mảnh chai, sắt vụn, xỉ than

Chất thải rắn bao gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy, bìa các tông, nhựa, vải, cao xu, lá rụng sân vườn…Các chất vô cơ như: thuỷ tinh, lon, thiếc, nhôm, kim loại

khác, đất cát…[9]

1.1.1.3 Khái niệm về rác thải

Chất thải rắn – CTR (còn gọi là rác thải) là các chất rắn loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật Chất thải rắn sinh hoạt

là rác thải sinh ra trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trong quá trình duy trì hoạt động sống của con người [13]

Rác thải phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, bến xe, khu thương mại,

Trang 15

khu bệnh viện, khu xây dựng, khu xử lý chất thải…Trong đó, rác thải sinh hoạt chiếm

tỉ lệ cao nhất Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật [13]

Bất kì một hoạt động sống nào của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phần chủ yếu của chúng

là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống

1.1.1.4 Khái niệm rác thải sinh hoạt

CTR sinh hoạt (hay rác thải sinh hoạt ) là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại cho môi trường sống [1]

1.1.1.5 Phân loại chât thải rắn

Các loại chất rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách:

+ Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt rác hay chất thải rắn sinh hoạt

trong hộ gia đình, ngoài hộ gia đình, trên đường phố, chợ, công viên, khu dịch vụ, khu công nghiệp…

+ Theo thành phần hóa học và vật lý: Người ta phân biệt theo các thành phần

hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo…

+ Theo bản chất nguồn tạo thành:

- Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, rạ, vỏ rau quả…

Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau:

- Chất thải thực vật bao gồm các thức ăn thừa, rau quả…loại này mang bản chất

dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra mùi khó chịu, đặc biệt trong thời tiết nóng ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ hộ gia đình còn có thức ăn dư thừa các nhà hàng, nhà ăn tập thể, ký túc xá, chợ…

- Chất thải từ con người và động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các động vật khác

- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh, là các chất thải từ các khu vực sinh hoạt của khu dân cư

Trang 16

- Tro và các chất dư thừa thải bỏ bao gồm: các loại vật liệu sau khi đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các loại xỉ than

- Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:

Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện Các phế thải phục vụ cho sản xuất Bao bì đóng gói sản phẩm

- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình…chất thải xây dựng

- Chất thải nông nghiệp: Là những chất thải và những mẩu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như: Trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ…

+ Theo mức độ nguy hại:

- Chất thải nguy hại: Bao gồm các loại hóa chất dễ phản ứng, độc hại, chất sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan…có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe người, động vật, cây cỏ

- Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

Các loại băng bông, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật và các chất thải trong bệnh viện bao gồm:

Các loại kim tiêm, ống tiêm

Các phần cơ thể cắt bỏ, chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân

Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thủy ngân, Cadimi, Arsen, Xianua…

- Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần với các chất khác [13]

1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải

- Từ các khu dân cư

- Từ các công sở trường học, công trình công cộng

- Từ các dịch vụ đô thị

- Từ các hoạt động công nghiệp

- Từ các hoạt động nông nghiệp

Trang 17

- Từ các hoạt động xây dựng

- Từ các trạm xử lý nước thải và các đường cống dẫn thoát nước [13]

1.1.3 Quản lý tổng hợp rác thải

Sự lựa chọn kết hợp giữa công nghệ, kỹ thuật và chương trình quản lý phù hợp

để đạt mục tiêu quản lý CTR, được gọi là quản lý tổng hợp CTR (Integrated solid waste management, ISWM) [15]

1.1.3.1 Nguyên tắc chung

Nguyên tắc chung của hệ thống quản lý tổng hợp CTR là ưu tiên các biện pháp giảm thiểu tại nguồn, sau đó mới đến các biện pháp khác Với việc ưu tiên giảm thiểu tại nguồn, lợi nhuận thu được tăng lên trên từng tấn chất thải được giảm thiểu thông qua việc giảm chi phí vận chuyển, giảm chi phí xử lý và giảm tác động xấu đến môi trường [15]

1.1.3.2 Thứ bậc ưu tiên trong quản lý tổng hợp CTR

Thứ bậc hành động ưu tiên trong quản lý tổng hợp CTR là:

1) Giảm thiểu tại nguồn

2) Tái chế

3) Chế biến chất thải: sản xuất phân bón, khí sinh học, đốt tận dụng nhiệt, tiêu hủy 4) Chôn lấp hợp vệ sinh [15]

• Giảm thiểu tại nguồn:

Là phương pháp hiệu quả nhất nhằm giảm lượng CTR, giảm chi phí phân loại và những tác động bất lợi gây ra đối với môi trường

Trong sản xuất, giảm thiểu tại nguồn được thực hiện xuyên suốt từ khâu thiết kế, sản xuất và đóng gói sản phẩm nhằm tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm thành phần độc hại, giảm thể tích bao bì và tạo sản phẩm bền hơn

Giảm thiểu tại nguồn có thể thực hiện ngay tại các hộ gia đình, khu thương mại, nhà máy… từ việc lựa chọn hàng hóa cho đến việc tái sử dụng các sản phẩm và vật liệu

• Tái chế:

Là yếu tố quan trọng trong việc giảm nhu cầu sử dụng tài nguyên và giảm đáng

kể khối lượng CTR phải chôn lấp Tái chế bao gổm 3 giai đoạn: 1) phân loại và thu gom chất thải rắn; 2) chuẩn bị nguyên liệu cho việc tái sử dụng, tái chế; 3) tái sử dụng

và tái chế

• Chế biến chất thải:

Là quá trình biến đổi lý, hóa, sinh của CTR nhằm: 1) nâng cao hiệu quả của hệ thống

Trang 18

quản lý CTR, 2) tái sinh và tái sử dụng, 3) sử dụng sản phấm tái chế (ví dụ: phân compost) và thu hồi năng lượng dưới dạng nhiệt và khí sinh học

Sự chuyển hóa CTR sẽ giảm đáng kể dung tích các bĩa chôn lấp Giảm thể tích CTR bằng cách đốt là một ví dụ điển hình

• Chôn lấp:

Phương pháp chôn lấp áp dụng với CTR không có khả năng tái chế, tái sử dụng, hoặc phần còn lại sau khi chế biến và đốt Thông thường có hai hướng chôn lấp CTR: 1) thải bỏ trên mặt đất hay chôn lấp vào đất; và 2) thải bỏ xuống biển

Chôn lấp bằng cách thải bỏ có kiểm soát trên mặt đất hay chôn vào đất là phương pháp phổ biến trong việc thải bỏ CTR, nhưng lại bị xếp ở hàng cuối cùng trong thứ tự

ưu tiên của chương trình quản lý tổng hợp CTR, vì nó không giải quyết triệt để các vấn

đề về môi trường phát sinh từ CTR Theo TS Paul A Oliver, đến tháng 8 năm 2000 tại

Mỹ có khoảng 2500 bãi chôn lấp CTR đang hoạt động, mỗi bãi tiếp nhận khoản 80.000 tấn CTR đô thị hàng năm, tiêu hao khoảng 6 tỉ USD cho công tác chon lấp Bên cạnh đó, trong các bãi chôn CTR diễn ra hàng loạt các chuỗi phản ứng sinh – hóa với sự tham gia của hàng ngàn chất độc hại , có thể tạo thành chất độc hại nguy hiểm chết người theo cách thức mà con người chưa từng biết đến Do đó chúng ta không thể lường được các nguy hại tiềm ẩn liên quan đến CTR trong các bãi chôn lấp Vấn đề gì

sẽ có thể xảy ra sau 50, 100, hay 200 năn nữa từ các bãi chôn lấp? [15]

1.1.3.3 Các thành phần của hệ thống quản lý tổng hợp chất thải rắn

Hệ thống quản lý tổng hợp CTR bao gồm: cơ cấu chính sách, cơ cấu luật, cơ cấu hành chánh, giáo dục cộng đồng, cơ cấu kinh tế, hệ thống kỹ thuật, thị trường và tiếp thị các sản phẩm tái chế, hệ thống thông tin chất thải [15]

Trang 19

2) Cơ cấu luật:

Mục đích: cung cấp luật an toàn và sức khỏe cộng đồng, môi trường có tính khả thi và công bằng

Công cụ:

• Luật bảo vệ môi trường

• Luật bảo vệ sức khỏe cộng đồng

• Giấy phép cho các hoạt động liên quan đến rác

• Nghị định bảo vệ tầng ozon, khí nhà kính một cách bắt buộc trên toàn cầu

3) Cơ cấu hành chánh:

Mục đích: thực hiện và hỗ trợ việc thi hành luật và chính sách

Công cụ:

• Cấp giấy phép cho các đơn vị quản lý chất thải rắn

• Thanh tra viên sức khỏe cộng đồng và môi trường

• Cấp phép cho thanh tra viên theo luật định

• Ràng buộc, xử phạt và thu hồi giấy phép

• Chiến dịch truyền thông chung

• Phân biệt các loại sản phẩm

• Ngày làm vệ sinh môi trường cả nước

• Chương trình giảng dạy ở Trường học

• Giáo dục thế hệ trẻ

• Thùng rác công cộng

• Chương trình truyền hình về môi trường

Trang 20

5) Cơ cấu kinh tế

Mục đích: đạt được sự ổn đinh kinh tế

• Tái sinh năng lượng

7) Tạo thị trường và tiếp thị các sản phẩm tái chế

Mục đích: khép kín vòng tuần hoàn của vật liệu trong xã hội

Công cụ:

• Khuyến khích các sản phẩm có chứa các vật liệu tái chế

• Giáo dục người tiêu dùng

• Khuyến khích sử dụng các vật liệu tái chế trong sản xuất

• Trợ cấp cho các nghiên cứu và phát triển các công nghệ tái chế

• Khuyến khích các công nghiệp tái chế

8) Hệ thống thông tin CTR:

Mục đích: thu thập thông tin một cách chính xác về hệ thống quản lý CTR để giám sát, đánh giá, phát triển kế hoạch chiến lược và hỗ trợ việc ra quyết định

Công cụ:

Trang 21

+ Nội dung quản lý thu gom chất thải rắn (*)

- Điều tra đánh giá, dự báo các nguồn phát thải, thành phần, tính chất và tổng khối lượng các chất thải rắn thông thường và nguy hại

- Đánh giá khả năng phân loại tại nguồn và khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải rắn

- Xác định vị trí, quy mô các điểm thu gom, trung chuyển, cơ sở xử lý và chôn lấp chất thải rắn

- Đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu cần đạt được khi lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn

- Xây dựng kế hoạch và nguồn lực thực hiện để đảm bảo thống kê đầy đủ và xử

lý triệt để tất cả các loại chất thải rắn

+ Các phương pháp xử lý chất thải hiện nay (**)

Xử lý chất thải là công đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường đô thị Đây là công đoạn cần thiết góp phần chống ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước mặt và nước ngầm Trong việc xử lý chất thải rắn nói chung và chất thải sinh hoạt nói riêng phải dựa trên những phân tích cụ thể của địa phương và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật để lựa chọn công nghệ Bên cạnh đó cần phải quan tâm đến các chỉ tiêu như:

- Không ảnh hưởng đến sức khỏe con người

- Không ảnh hưởng đến các hệ động vật, thực vật

- Không ảnh hưởng đến các nguồn nước và đất

- Không ảnh hưởng tới môi trường không khí

- Không xâm phạm tới trật tự không gian, quy hoạch đất đai, các khu bảo tồn thiên nhiên, các vùng rừng cấm…

Hiện nay người ta thường sử dụng các biện pháp sau đây để xử lý và chế biến rác: Xử lý sinh học, chôn rác, đốt rác

Trang 22

* Phương pháp sinh học

Rác thải sinh hoạt có hàm lượng chất hữu cơ cao và nhiệt độ cao, đây là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hoạt động và phát triển Trong rác có rất nhiều vi sinh vật, trong đó có các loài vi sinh vật có khả năng phân hủy chất thải Phần lớn chúng là những vi khuẩn hoại sinh có bào tử, phân giải các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy như tinh bột, đường, protein, lipit,…và các chất hữu cơ khó phân hủy như Xenluloza Một

số loại vi sinh vật thường gặp trong rác thải là các nhóm vi sinh vật kị khí, nhóm vi sinh vật hiếu khí, nhóm xạ khuẩn, nấm mốc Xử lý rác thải sinh hoạt bằng con đường sinh học chủ yếu là ủ rác kị khí và ủ rác hiếu khí

- Phương pháp ủ kị khí

Là quá trình phân giải các chất hữu cơ mà không có mặt oxy, sản phẩm cuối là CH4, CO2, NH3, một lượng nhỏ các khí khác, axit hữu cơ và sinh khối vi sinh vật Bản chất của quá trình này là nhờ hoạt động của vi sinh vật, các hợp chất hữu cơ bền vững (xenluloza, hemixenluloza, lignin, tinh bột và các chất hữu cơ cao phân tử khác)

Được chuyển thành các hợp chất đơn giản hơn và các chất khí, trong đó metan chiếm đa số (trên 64%)

Nhược điểm của biện pháp xử lý này là khó áp dụng cho một khối lượng rác thải lớn, mất nhiều thời gian, khó tận thu được hết khí, gây ô nhiễm môi trường Hơn nữa, mùn rác tạo ra để xử lý rác thải ở mức độ công nghiệp, người ta sử dụng phương pháp ủ hiếu khí [19]

- Phương pháp ủ hiếu khí

Trừ các thành phần như chất dẻo, cao su, thủy tinh, sành sứ, còn lại các thành phần hữu cơ khác có chứa protein, lipit, hydratcacbon, xenluloza, lignin, hemixenluloza,…đều được lên men trong quá trình hiếu khí Ủ hiếu khí là quá trình phân giải các hợp chất hữu

cơ với sự có mặt của oxy, tạo ra sản phẩm lên men chính là mùn

Hai phương pháp ủ hiếu khí: Lên men tự nhiên có đảo trộn và lên men có thổi khí cưỡng bức:

- Ủ rác thành đống, lên men tự nhiên có đảo trộn

Là phương pháp ủ cổ điển nhất, rác được chất thành từng đống có chiều cao khoảng từ 1,5 – 2,5 m Hàng tuần đảo trộn 2 lần Nhiệt độ trung bình trong quá trình ủ

là 5ºC, độ ẩm duy trì khoảng 50 – 60% Qúa trình ủ trộn kéo dài 4 tuần Trong giai đoạn này các loài nấm mốc và xạ khuẩn chuyển hóa chất hữu cơ thành mùn

Sau đó, ủ tiếp 3 – 4 tuần không đảo trộn Ưu điểm của phương pháp này là dễ thực hiện, nhưng nhược điểm là mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường xung quanh

- Ủ rác thành đống không đảo trộn có thổi khí

Trang 23

Trong điều kiện xử lý bằng phương pháp này, nếu nhiệt độ lên quá cao hoặc chất ủ bị khô đều hạn chế khả năng phân giải chất ủ, làm quá trình xử lý bị chậm lại

Phương pháp này được thực hiện đầu tiên ở Beltville (Mỹ) Rác được ủ thành

đống cao từ 2 – 2,5m, phía dưới có lắp đặt hệ thống phân phối khí, nhờ hệ thống phân phối khí mà quá trình chuyển hóa được xảy ra nhanh hơn, nhiệt độ đống ủ ổn định và phù hợp với sự phát triển của nhiều nhóm vi sinh vật [19]

* Phương pháp nhiệt (đốt)

Xử lý rác bằng phương pháp đốt là làm giảm đến mức tối thiểu cho chất thải cuối cùng Nếu sử dụng công nghệ tiên tiến thì quá trình đốt rác không hoặc ít gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí Tuy nhiên, phương pháp này rất tốn kém, chi phí có thể cao hơn 10 lần so với chôn lấp rác hợp vệ sinh Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi ở những nước như Đức, Thụy sỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Nhật Bản, đó là những quốc gia có số lượng đất cho các khu rác bị hạn chế và những quốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để cung cấp các chi phí trong quá trình xử lý, từ việc thu hồi rác sinh hoạt (như là một công cụ phúc lợi cho toàn dân), trung chuyển đến việc xử lý Mỗi lò đốt rác phải được trang bị một hệ thống xử

lý rác thải tốn kém, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt rác gây ra Việc đốt rác sinh hoạt sẽ gây ra nhiều khói độc hại như dioxin, giải quyết tốt việc xử lý khói là công đoạn tốn kém nhất trong công nghệ đốt rác Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò sưởi, lò hơi hoặc cho ngành công nghiệp nhiệt và phát điện Hiện nay nhiều nước ở Châu Âu có xu hướng giảm việc đốt rác thải vì nó làm phát sinh hàng loạt vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần giải quyết [19]

và chuyển sang bãi mới

Hiện nay việc chôn lấp chất thải sinh hoạt và rác hữu cơ vẫn được sử dụng ở các nước đang phát triển nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường một cách nghiêm ngặt Các bãi chôn lấp phải xa khu dân cư, không gần nguồn nước ngầm

và nước mặt Nền đất bãi rác phải là đất sét, á sét hoặc được phủ một lớp chống thấm bằng màng địa chất Ở các bãi chôn lấp rác cần phải thiết kế thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường

Trang 24

Ưu điểm của phương pháp này là:

- Công nghệ đơn giản, rẻ và phù hợp với nhiều loại rác thải

- Chi phí cho bãi chôn lấp thấp

Nhược điểm của phương pháp này là:

- Chiếm diện tích đất tương đối lớn

- Không có sự đồng tình của khu dân cư xung quanh

- Tìm kiếm xây dựng bãi rác là việc làm khó khăn

- Nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí…

* Xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở toàn bộ chất thải thu gom vào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, plastic được thu hồi tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải truyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích rác và tạo thành các ép kiện ép với tỷ số nén rất cao Các kiện ép đã được sử dụng vào việc đắp bờ chắn hoặc san lấp các vùng trũng sau khi được phủ lên một lớp đất cái [19]

* Phương pháp ổn định chất thải rắn bằng công nghệ Hydromex

Đây là một phương pháp mới, lần đầu tiên được áp dụng ở Hawai (2/1996) Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (cả rác độc hại) thành các sản phẩm phục

vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và sản phẩm nông nghiệp hữu ích Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polime hóa và sử dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm

Quy trình công nghệ như sau:

- Chất thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) chuyển về nhà máy, rác thải không cần phân loại được đưa vào máy cắt và nghiền nhỏ, sau đó chuyển đến các thiết bị trộn bằng băng tải

- Chất thải lỏng được pha trộn trong bồn phản ứng, các phản ứng trung hòa và khử độc xảy ra trong bồn Sau đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng chất lỏng được đưa vào các thiết bị trộn, chất lỏng và rác thải kết dính với nhau hơn sau khi thành phần polyme được thêm vào Sản phẩm ở dạng bột ướt được một máy ép khuôn và cho ra sản phẩm mới Các sản phẩm này bền, an toàn về mặt môi trường, không độc hại

Công nghệ của Hydromex có những ưu điểm:

- Công nghệ tương đối đơn giản, chi phí đầu tư không lớn

Trang 25

Trong bảng ghi chú thuật ngữ trong State of the environment năm 2001 của Bộ Môi trường Úc có ghi chú: “Khu dân cư có mật độ dân số thấp và có đường sá nằm ở ngoại biên của các vùng đô thị, trong đó vẫn còn sót lại một số khu đất nông thôn nhỏ nằm lọt giữa mạng lưới nhà cửa của vùng ngoại ô” hoặc “khu vực chuyển tiếp, hoặc tương tác trong đó có các hoạt động đô thị và nông thôn xen kẽ nhau, và các đặc điểm cảnh quan có thể thay đổi rất nhanh do hoạt động của con người” [17]

Theo Terry McGee vùng ven là một khái niệm, là vùng có sự tương tác giữa nông thôn và thành thị Tuy nhiên, để có được một định nghĩa chính xác hơn về vùng ven, phải dựa vào tính đặc thù của từng vùng đại đô thị Theo định nghĩa này, vùng ven không cố định về mặt địa lý Còn vùng ngoại vi (ngoại thành) thì cứ tiếp tục mở rộng ra ngoài cùng với các hoạt động xâm chiếm vùng nông thôn Như vậy, mặc dù vùng ven của các vùng đô thị đều bị tác động giống nhau bởi những lực kinh tế - xã hội, nhưng thường giữa các vùng đô thị vẫn có những khác biệt sâu sắc do mức phát triển kinh tế, kinh tế - chính trị và văn hóa của từng quốc gia, từng khu vực trở nên khác nhau [7]

Theo đó, “vùng ven là một vùng nóng đang có chuyển động đô thị hóa Vùng này là điểm quá độ và vùng chuyển tiếp, là khu đệm giữa nông thôn và thành thị, giữa cái yên tĩnh và cái sôi động, giữa cái bảo thủ của nông dân và cái thoáng mở của thành thị, là nơi chuyển đổi nhu cầu của nông dân vào đô thị và ngược lại mang lối sống của

đô thị vào nông dân” Đây là chuyển động cơ bản của mối quan hệ kinh tế, văn hóa,

Trang 26

xã hội và là nơi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phi nông nghiệp, là nơi chuyển hóa của các ngôi nhà chữ đinh, nhà sắp đọi thành những building cao tầng, là của đô thị hóa Ở đó diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng bị thu hẹp [22] Các nhà nghiên cứu đô thị đã đưa ra một số khái niệm khác nhau về vùng ven đô,

có thể tóm tắt các điểm chung thống nhất như sau: về mặt địa lý ven đô có thể được hiểu là khu vực cận kê với thành phố Về tổng thể vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt động nông thôn vừa có các hoạt động đô thị, nghĩa là không hoàn toàn đô thị, cũng không thuần túy là nông nơi chúng kiến sự hóa thân của người nông dân thành người thị dân [21]

Về mặt hành chính địa giới thì vùng ven không chỉ được định nghĩa bao gồm các khu vực quận/huyện bao quanh nội thành thành phố Vùng ven được xem là các quận mới nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực trung tâm và ngoại thành Theo Viện Quy hoạch TP Hồ Chí Minh, quận ven khác với các quận nội thị hoặc huyện ngoại thành

do có đặc điểm gần như bán thôn, bán thị, với diện tích đất nông nghiệp vẫn còn khá nhiều, chiếm tỷ trọng bình quân từ 10- 30% trên tổng diện tích đất tự nhiên Chính vì quỹ đất còn nhiều để chuyển đổi từ đất nông thôn sang đất đô thị nên trong quá trình phát triển và mở rộng nội thị của thành phố, khu vực vùng ven có thể xem như một vùng "đệm", qua quá trình phát triển, sẽ cùng hòa nhập vào khu vực nội thành (đô thị) hiện hữu Vùng ven là vùng vành đai chuyển tiếp giữa một đô thị lớn và nông thôn xung quanh, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa đô thị đó, nhưng vẫn còn mang trong mình nhiều yếu tố của văn hóa nông thôn, nên không hẳn là nông thôn mà cũng chưa phải là đô thị thực sự [4]

Dù có nhiều định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều có chung một quan điểm vùng ven là vùng đệm, vùng chuyển tiếp đang đô thị hóa

từ vùng nông thôn sang vùng đô thị là vùng giáp ranh với đô thị Như vậy, vùng ven là vùng đang bị đô thị hóa tác động, hình thành nên quận mới từ huyện và đang ngày càng thay đổi do tác động thôn và chịu tác động mạnh của đô thị hóa Nó là sự pha trộn của các hệ thống sinh thái nông nghiệp và đô thị Bởi vậy vùng ven đô không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn – ven đô – đô thị và tạo thành một hệ thống nông thôn – ven đô – đô thị Do đó khó có thể xác dịnh được ranh giới của một vùng ven đô với các tiêu chuẩn cụ thể Thông thường người ta xác định ranh giới của vùng ven đô dựa vào các chính sách quy hoạch đô thị và các biện pháp quản

lý hành chính

Trong quá trình đô thị hóa, vùng ven đô thường phải chịu tác động mạnh của việc

mở rộng không gian đô thị Ở nhiều nước, chính sách phát triển đô thị đã biến vùng ven đô thành đô thị và đô thị hóa vùng nông thôn lân cận thành vùng ven đô mới [20]

Trang 27

1.1.4.2 Các đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội vùng ven đô

Tuy tồn tại trong một hệ thống nông thôn – ven đô – đô thị, nhưng vùng ven đô vẫn còn những đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội riêng của nó

- Về kinh tế: Khác với nông thôn, ven đô là nơi không đồng nhất các hoạt động kinh tế vì nó bao gồm các hoạt động sản xuất công nghiệp,nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ đô thị Tỉ trọng nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong thổng thể thu nhập từ các hoạt động kinh tế của khu vực Ven đô là nơi chịu tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, các hoạt động sản xuất nông nghiệp bị giảm dần và

có thể mất đi do chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp và thay vào đó là các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp

Các mối quan hệ tương tác lần nhau về mặt kinh tế của hệ thống nông thôn – ven

đô - đô thị được thể hiện ở chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài lương thực, thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho đô thị Ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, tạo việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị và cung cấp hàng hóa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

- Về xã hội: Vùng ven đô không thống nhất về thành phần dân cư vì nó bao gồm nông dân, công dân, tri thức, chủ doanh nghiệp, tầng lớp trung lưu, người nghèo, thạm chí cả người dân tộc thiểu số Trình độ dân trí và nhận thức của người dân cao hơn so với nông thôn vì được tiếp xúc với cái hiện đại và được cung cấp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Quan hệ xã hội đa chiều và phức tạp hơn so với khu vực nông thôn, thường có sự xung đột về lợi ích giữa các nhóm dân cư do có sự khác nhau về nhận thức và quyền lợi (trong sủ dụng đất, các dịch vụ xã hội, vệ sinh và môi trường)

- Về văn hóa: Lối sông dân cư ven đô là sự pha trộn giữa lối sống nông thôn và lối sống đô thị do sự đa dạng về thành phần dân cư, trong đó lối sống đô thị chi phối mạnh lối sống nông thôn Thái độ, hành vi và ứng xử giữa các cá nhân với nhau và với môi trường thay đổi theo xu hướng đô thị Các giá trị, chuẩn mực và văn hóa cũng biến đổi theo hướng đô thị [20]

1.1.5 Tổng quan về Quản lý chất thải dựa trên cộng đồng (QLCTDTCĐ)

QLCTDTCĐ là hình thức quản lý chất thải chủ yếu dựa vào sự tham gia và hợp tác của các thành viên trong cộng đồng để: xác định các vấn đề liên quan đến chất thải, quản lý thực hiện các dự án QLCTDTCĐ, thu gom và vận chuyển chất thải…

QLCTDTCĐ có thể là giải pháp thích hợp trong trường hợp chính quyền địa phương không thể hoặc không giải quyết nhu cầu quản lý chất thải của cộng đồng Chính quyền địa phương có thể không có khả năng thu gom chất thải vì lý do tài chính Ngoài ra, việc thiếu cơ sở hạ tầng tại những khu vực đông dân nghèo hoặc khu

Trang 28

ngoại ô (như các khu phố nhỏ hoặc tồi tàn) có thể gây khó khăn cho những người thu gom rác thải tiếp cận được cộng đồng Hơn nữa, chính quyền địa phương có thể từ chối cung cấp dịch vụ nếu cộng đồng đó lại là khu định cư bất hợp pháp

QLCTDTCĐ có thể tạo cơ hội cho việc trao thêm quyền và khả năng tự cải thiện trong việc phát triển cộng đồng, những điều rất cần thiết đối với vấn đề sức khoẻ và

mỹ quan, những vấn đề có liên quan tới lượng rác thải quá mức trong các khu dân cư Nói chung, trong QLCTDTCĐ, chất thải sinh hoạt được thu gom từ các hộ gia đình và tập trung tại một địa điểm để sau đó chuyển đi Hệ thống thu gom có thể sử dụng những người được thuê để làm nhiệm vụ thu gom hoặc có thể là người dân tự mang rác thải nhà mình tới địa điểm tập trung QLCTDTCĐ có thể bao gồm thu gom chất thải, phân loại phế liệu có thể tái chế và/hoặc chất thải hữu cơ ở cộng đồng, tổng vệ sinh đường phố vv Nguyên tắc cơ bản của QLCTDTCĐ là tạo ra giá trị từ chất thải,

có thể là từ việc bán lại nguyên liệu đã được thu gom hoặc là từ phí thu gom (dựa vào nhận thức của cộng đồng về giá trị của việc rác thải của họ được loại bỏ) Trong khi cơ cấu của các dự án QLCTDTCĐ thay đổi tuỳ theo tình hình, một số yếu tố cơ bản dường như không bao giờ thay đổi Ví dụ, những dự án QLCTDTCĐ thường kết hợp

sự tham gia của các tổ chức dựa trên cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ, các đối tác chính quyền và các doanh nghiệp địa phương Trong phạm vi hộ gia đình thì phụ nữ và trẻ em có xu hướng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và thực hiện quản lý chất thải [14]

* Một số mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn dựa vào cộng đồng đã triển khai tại Việt Nam

1.1.5.1 Thành lập Đội thu gom rác dân lập thị xã Cửa Lò, Nghệ An

Đội thu gom rác dân lập thực hiện các hoạt động thu gom chất thải sinh hoạt tại các gia đình và đưa đến địa điểm tập kết để Công ty Môi trường đô thị chở ra bãi rác Nguồn kinh phí thu được của Đội một phần do Công ty Môi trường đô thị chi trả, một phần thu phí của các hộ gia đình Sau một thời gian hoạt động, Đội đã giải quyết được việc thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt trên địa bàn, hạn chế ô nhiễm môi trường, nâng cao nhận thức và sự quan tâm về BVMT của cộng đồng Do tổ chức gọn nhẹ, phương tiện đơn giản, thô sơ nhưng phối hợp với địa bàn dân cư nhỏ và với mức phí thu gom rác thải không cao, lại tận dụng được một đội ngũ lao động dư thừa nên hiệu quả tổng hợp khá tốt [5]

1.1.5.2 Cộng đồng tham gia xử lý chất thải hộ gia đình huyện Từ Liêm, Hà Nội

Mô hình này xuất phát từ một nhánh của đề tài Xây dựng cơ chế, chính sách xã hội hóa trong BVMT, hộ gia đình đã được chọn để áp dụng phương thức xử lý chất thải và nước thải do sản xuất gây ra bằng việc hướng dẫn dung chế phẩm vi sinh EM,

Trang 29

sau đó chuyển giao kỹ thuật xử lý cho xã để tổ chức thực hiện và nhân rộng Kết quả

đã giảm được khối lượng lớn rác hữu cơ do được chế biến thành mùn và phân hữu cơ, khử được mùi hôi thối từ chất thải và nước cống rãnh, môi trường sống được cải thiện

và ý thức BVMT của người dân được nâng lên Với kỹ thuật đơn giản, người dân có thể tự sản xuất ra chế phẩm vi sinh để xử lý rác, đem lại lợi ích thiết thực cho các hộ gia đình, vì vậy nhiều người đã hưởng ứng và tham gia thực hiện mô hình [6]

1.1.5.3 Thành lập Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, Bắc Ninh

Được thành lập từ năm 2001, Hợp tác xã (trước đó là tổ vệ sinh môi trường) đã tiến hành thu gom chất thải sinh hoạt hàng ngày của thị trấn và đưa đến địa điểm tập kết, vệ sinh quét dọn nơi công cộng, khơi thông cống rãnh thoát nước, trồng và chăm sóc cây xanh Sau khi thực hiện, lượng rác thải được thu gom tăng gấp đôi, môi trường sạch hơn, qua đó tạo niềm tin trong cộng đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm BVMT của người dân, số dân tự nguyện đóng góp phí vệ sinh ngày càng tăng, từ đó mua sắm thêm được các phương tiện phục vụ công tác vệ sinh môi trường Do tổ chức theo phương thức nhỏ gọn, các phương tiện sử dụng đơn giản, nên hoạt động của Hợp

tác xã rất hiệu quả và dễ áp dụng tại các thị trấn, thị tứ [2]

1.1.5.4 Mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đô thị ở Tam Kỳ, Quảng Nam

Năm 2000, thị xã Tam Kỳ có 127.224 khẩu (40.005 hộ), lượng chất thải sinh hoạt hằng ngày trên 200 khối, khu vực nội thị là 80 khối Chất thải sinh hoạt thị xã Tam Kỳ nhất là khu vực nội thị tăng rất nhanh, dự kiến đến năm 2005 rác thải của cả thị xã khoảng 460 khối/ ngày, trong đó nội thị khoảng 146 khối Để thu gom lượng rác này hàng năm ngân sách địa phương chi khoảng 200 triệu đồng và tiền phí của dân là trên

400 triệu đồng (năm 2001 khoảng 460 triệu đồng) Công ty môi trường đô thị Tam Kỳ không thể bao quát hết việc thu gom và vận chuyển rác của thị xã Hơn nữa, ý thức của dân chúng trong việc quản lý chất thải thấp, ỷ lại cho nhà nước Trước tình hình này,

Uỷ ban nhân dân (UBND) thị xã, với sự tư vấn của công ty môi trường đô thị Tam Kỳ

đã xây dựng mô hình cộng đồng tham gia giữ vệ sinh môi trường và thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn ở những nơi công cộng, đường phố

Đảng uỷ phường ra nghị quyết về nhiệm vụ quản lý chất thải trên địa bàn phường không để tình trạng vứt rác ra đường hay không tập trung để thu gom UBND phường

đề ra chương trình quản lý chất thải rắn trong phường, trong đó có thống kê tình hình rác thải, các điểm thu gom, lập tổ vệ sinh môi trường

UBND phường lập ban vệ sinh do đồng chí chủ tịch phường trực tiếp chỉ huy gồm các thành phần: mặt trận, phụ nữ, thanh niên, y tế, công an, phường đội Giúp việc cho ban có 2 tổ chuyên trách gồm lực lượng công an và dân phòng phường, mỗi

tổ có 4 người

Trang 30

Cộng đồng dân cư tham gia vào chương trình này được tham khảo ý kiến về lượng rác thải ra, giờ thu gom rác, mức phí nộp, đóng góp ý kiến để hoàn thiện cách quản lý chất thải trong phường thông qua các buổi sinh hoạt tổ dân phố

Người dân sống trong địa bàn có tổ chức vệ sinh môi trường hoạt động, được quyền giao rác thải của hộ gia đình mình cho tổ chức vệ sinh môi trường; giám sát hoạt động của tổ vệ sinh môi trường, giám sát việc giải quyết rác thải của các đơn vị đóng trên địa bàn; kiến nghị với các cấp chính quyền về công tác quản lý chất thải, quản lý tại các khuôn viên nhà mình

Song song với các quyền trên người dân địa phương có trách nhiệm không thải

đổ rác ra nơi công cộng; thực hiện phân loại rác, rác chứa trong sọt và để nởi thuận lợi trong nhà, giao rác cho người thu gom đúng thời gian, đúng phương thức; đóng tiền hàng tháng; phát hiện và tố giác hành vi thải đổ rác không đúng nơi quy định

Hội phụ nữ tham gia công tác quản lý bồ rác và thu tiền hàng tháng (được hưởng 4% trên tổng doanh thu) trang bị sọt rác đồng bộ Kết hợp với xí nghiẹp đô thị Tam Kỳ

tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho hội viên một cách thường xuyên; phát động và duy trì hàng tuần làm vệ sinh trước, xung quanh nhà, tham gia tổng dọn vệ sinh nơi công cộng; giám sát hoạt động của tổ vệ sinh môi trường

Mặt trận tổ quốc phường đưa công tác vệ sinh môi trường là một trong các nội dung chính của việc xây dựng tổ văn hoá mới, có kế hoạch thực hiện và kiểm tra đôn đốc thực hiện

Đoàn thanh niên phường tổ chức Đội tình nguyện xanh, hoạt động vào ngày chủ nhật hàng tuần về giải quyết rác công cộng, tổ chức tuyên truyền công tác chất thải và tuần tra, phát giác các trường hợp đổ rác bừa bãi với UBND phường

Công an, y tế phường thực hiện công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định của nhà nước

Tổ chức vệ sinh môi trường địa phương thực hiện việc thu nhận rác từ hộ dân một cách thường xuyên, đúng giờ, khi thu rác phải có kẻng hiệu, hướng dẫn việc tuyển rác hộ nhân dân đảm bảo chất lượng phục vụ, xác định tuyến đường, khu phố cần quét rác hộ dân, để thực hiện theo lịch được duyệt

Kết quả hoạt động của mô hình này là lượng rác quản lý được nhiều hơn, rác công cộng được giải quyết, rác công nghiệp, rác y tế bước đầu đưa vào quản lý đúng theo quy định Công tác thu gom rác tốt sẽ góp phần giảm ô nhiễm môi trường Mặt khác, nhận thức của cộng đồng, các cấp chính quyền, đoàn thể về môi trường được nâng lên và về kinh tế tăng thu từ cộng đồng, giảm chi phí bù ngân sách, việc tuyển loại rác ngay tại hộ gia đình để tận dụng, tái sinh rác là góp phần tạo của cải vật chất

xã hội, giảm bớt lượng rác cần xử lý [3]

Trang 31

1.1.6 Các yếu tố đảm bảo tính bền vững của sự tham gia cộng đồng dân cư về vấn

đề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn

Tính bền vững của sự tham gia cộng đồng thể hiện ở việc nâng cao năng lực của cộng đồng tham gia vào các dự án liên quan đến vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải và sự duy trì phát triển sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động đó sau khi các nhà đầu tư, các nhà tài trợ rút khỏi dự án hoặc cộng đồng đưa ra các sáng kiến xây dựng và thực hiện hoạt động kinh tế chất thải mà không còn có sự đầu tư hoặc chỉ đầu tư một phần của chính phủ hay của nhà tài trợ Ví dụ như các cộng đồng ở phường

tự tổ chức thu gom, vận chuyển rác trong nhiều năm nay mà không cần đến sự hoạt động của các công ty môi trường đô thị địa phương Họ tổ chức các đội thu gom và huy động dân cư đóng góp kinh phí để đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho việc thu gom và vận chuyển Sau một vài năm, độ thu gom của phường đã đảm nhiệm được việc thu gom gần 100% chất thải rắn phát sinh trên địa bàn phường

Các yếu tố đảm bảo tính bền vững cho mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn dựa vào cộng đồng:

- Chiến lược truyền thông tạo ra được nhận thức rộng rãi về các vấn đề chất thải trong cộng đồng và trách nhiệm của các bên liên quan đối với yêu cầu của cộng đồng thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng chất thải

- Lãnh đạo địa phương và các tổ chức công đồng cần khuyến khích và quan tâm đến các nhu cầu của cộng đồng

- Cần có sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương nhất là cấp gần với cộng đồng (thôn, xã, phường) như đưa ra quy định, thể chế trong thôn, xã, phường về quản lý chất thải, hỗ trợ phương tiện truyền thông

- Cần có sự hỗ trợ của các cơ quan tư vấn về chuyên môn, hay các vấn đề khác

có liên quan đến quản lý chất thải [10]

3 Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường

4 Nghị định 175/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ: Hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ môi trường

Trang 32

5 Nghị định 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường

6 Chỉ thị 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các khu đô thị và khu công nghiệp

7 Thông tư số 4527/DTI ngày 8/1/1996 của Bộ y tế: Những hướng dẫn về quản

11 Thông tư số 2433/TT-KCM ngày 3/10/1996: Hướng dẫn thi hành nghị định

số 26/CP ngày 26/4/1996 về quy định xử phạt những hành vi vi phạm luật Bảo vệ môi trường

12 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCMT-BXD: Hướng dẫn các quy định về Bảo vệ môi trường đối với việc chọn địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn

13 Quyết định số 13/2007/QĐ-BXD ngày 23/4/2007 của Bộ Xây dựng về việc

ban hành “ Định mức dự toán thu gom, vận chuyển và xử lý chôn lấp rác thải đô thị.”

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Trên thế giới

Tình hình quản lý và xử lý chất thải của các nước trên thế giới: Chính vì sự phức tạp của chất thải mà xử lý chất thải trở thành vấn đề nóng bỏng của các nước, thành phố lớn trên thế giới Tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình khối lượng chất thải của từng nước mà các nước lựa chọn cho mình các giải pháp quản lý thu gom và

xử lý thích hợp

Ở Nhật Bản có chương trình 3R, chương trình 3R là sáng kiến của cựu Thủ tướng Koizumi và đã rất thành công ở Nhật Bản Mục đích cơ bản của dự án 3R là nâng cao ý thức và thay đổi hành vi của người dân với vấn đề chất thải Mục đích này

sẽ được thực hiện thông qua tuyên truyền rộng rãi bằng tờ rơi, khẩu hiệu… trên các phương tiện thông tin đại chúng mà nội dung của nó là khuyến nghị về việc xử lý rác, hướng dẫn thu gom rác Theo đó, mỗi hộ sẽ được cấp hai thùng rác có màu xanh và vàng, trong đó thùng xanh để bỏ chất thải sinh hoạt, thùng vàng để bỏ chất thải rắn như vỏ chai, vỏ hộp và túi nilon Đến giờ thu gom rác, tại các điểm tập kết rác, công

Trang 33

nhân thu gom rác trải tấm nhựa có hai màu xanh và vàng, người dân căn cứ và đó để

bỏ các túi rác màu xanh vào ô xanh, màu vàng vào ô vàng, từ đó các xe gom rác sẽ chở các túi màu xanh về nhà máy xử lý rác hữu cơ, còn các túi vàng chở đi tái chế 3R là viết tắt của các từ tiếng Anh: Reuse – tái sử dụng, Reduce – giảm thiểu và Recycle – tái chế Chương trình này rất thành công ở Nhật Bản và đang được nhân rộng sang các nước khác trong đó có Việt Nam [8]

Ngoài ra, ở một số nước khác người ta có thể áp dụng các biện pháp sinh học để

xử lý chất thải sinh hoạt Phương pháp này mang lại hiệu quả rất lớn và đang được nhân rộng Viện nghiên cứu nông nghiệp thực nghiệm Beltville (Mỹ) đã áp dụng phương pháp ủ thành đống có thổi khí lần đầu tiên

Hiện nay, ở hầu hết các nước Châu Âu, các giải pháp như chôn lấp, đốt rác ít được thực hiện và có xu hướng chấm dứt vì các lý do kinh tế cũng như môi trường sau này Giải pháp chôn lấp chỉ thực hiện đối với những chất thải độc hại không thể xử lý hoặc quá tốn kém (như chất thải hạt nhân) Giải pháp đốt cũng chỉ thực hiện đối với những chất thải khó phân hủy sinh học, chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp, hoá chất bảo vệ thực vật

1.3.2 Tại Việt Nam

Chất thải là vấn đề đang rất được nhiều người quan tâm, đặc biệt là lãnh đạo các cấp chính quyền, các nhà quản lý môi trường chất thải không chỉ là vấn đề của các khu đô thị

mà nó còn vươn tới cả vùng quê xa xôi trên đất nước Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra

số liệu hàng năm có khoảng 5 triệu người (trong đó có khoảng 4 triệu trẻ em) chết vì các bệnh liên quan tới rác trên hành tinh chúng ta Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra còn nguy hại hơn nhiều quốc gia khác, gần 100% số người sống bằng nghề nhặt rác đều mắc các bệnh ngoài da, bệnh viêm đường hô hấp, trong đó 50% là trẻ em Trong khi đó lâu nay tồn tại tâm lý thờ ơ với những nguy hại từ rác Lượng chất thải phát sinh không ngừng tăng lên, song việc thu gom vẫn chưa được thực hiện hoàn toàn, khối lượng xử lý hầu như không đáng kể Theo số liệu ngân hàng thế giới, chỉ có gần ¾ lượng rác ở đô thị được thu gom và 1/5 ở nông thôn Trong số 91 điểm tiêu hủy rác của cả nước chỉ có 17 bãi rác là hợp vệ sinh, số còn lại thường là lộ thiên, gây ô nhiễm nghiêm trọng đất, nước mặt và nước ngầm Các hũ đốt rác thải y tế có công suất đủ để tiêu hủy khoảng một nửa số chất thải y tế nguy hại trên cả nước, song do thiếu kinh phí vận hành và bảo dưỡng, các hũ đốt này được hoạt động không đúng quy trình, làm tăng nguy cơ phát thải các khí dioxin và furan độc hại

Tốc độ phát sinh chất thải ở nước ta cũng tùy thuộc vào từng loại đô thị và dao động từ 0,35 kg/người/ngày đến 0,8 kg/người/ngày [18]

Lượng chất thải tạo thành hay còn gọi là tiêu chuẩn tạo rác được định nghĩa là lượng rác thải phát sinh từ hoạt động của một người trong một ngày đêm (kg/người/ngày đêm)

Trang 34

Một số công trình nghiên cứu về quản lý chất thải ở Việt Nam

+ Rác thải sinh hoạt một phần của cuộc sống, Bài dự thi Đại Sứ Môi Trường BAYER 2006 của Vũ Thị Hoài An, đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh

Trong công trình nghiên cứu này tác giả nhấn mạnh việc chất thải sinh hoạt là một phần của cuộc sống Rác không phải là một thứ bỏ đi nếu con người biết đặt nó vào đúng vị trí Xuất phát từ ý tưởng rác cũng là hàng hóa nên rác có thể được buôn bán và sinh lợi nhuận Rác là một nguồn nguyên liệu, có thể chế tạo làm bê tông lót đường, đê chắn sóng Có thể giảm hao phí tài nguyên khá lớn Đồng thời tác giả đề cập đến khái niệm năng suất xanh trong cộng đồng, khái niệm năng suất xanh được đưa ra bởi tổ chức năng suất Châu Á vào năm 1994, hướng từ sự tổng hợp của hai chiến lược quan trọng là nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường Năng suất xanh kết hợp việc ứng dụng nhiều công nghệ khác nhau, bao gồm phòng tránh phát thải và chất thải, bảo toàn năng lượng, kiểm soát ô nhiễm và hệ thống quản lý ô nhiễm môi trường Đây là một phương pháp kết hợp giữa các biện pháp tăng năng suất với các kỹ thuật quản lý môi trường nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ hài hòa với môi trường để tăng năng suất mà không làm ảnh hưởng đến môi trường Năng suất xanh có thể được áp dụng trong nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp Nhưng thật ra phương pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ môi trường là giảm phát sinh chất thải, năng suất xanh là một trong những biện pháp đó [1]

+ Giáo trình công nghệ vi sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trường, PGS.TS.Nguyễn Xuân Thành, NXB Nông nghiệp 2004

Trong công trình nghiên cứu này tác giả đề cập tới việc xử lý chất thải sinh hoạt, rác thải đô thị bằng công nghệ vi sinh vật Tác giả nêu lên những phương pháp sử dụng vi sinh vật để xử lý chất thải Đồng thời tác giả nêu lên việc sản xuất phân hữu cơ sinh học, một loại sản phẩm được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau như phế thải nông nghiệp, phế thải công nghiệp, phế thải sinh hoạt, trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới tác động của vi sinh vật được chuyển hóa thành mùn Các chế phẩm vi sinh vật không làm hại đến môi trường và con người, chuyển hóa các phế thải làm sạch môi trường Việc áp dụng công nghệ vi sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trường đã và đang được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm, nghiên cứu Mặc dù các biện pháp công nghệ vi sinh ở nước ta còn hạn chế nhưng cũng đem lại lợi ích hàng trăm tỷ đồng/năm Việc áp dụng công nghệ vi sinh vật trong xử lý rác thải nên được nghiên cứu và ứng dụng rộng

rãi vì tính thiết thực của nó [19]

1.4 Quản lý chất thải sinh hoạt theo tiêu chí môi trường

Chất thải rắn sinh hoạt:

Trang 35

+ Hạn chế phát sinh chất thải rắn:

- Khuyến khích người dân thực hiện lối sống thân thiện với môi trường; Thực hiện nguyên tắc “3T: Tiết kiệm – Tận dụng – Tái sinh” (sử dụng tiết kiệm, hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tiêu dùng ít phát sinh rác thải; khuyến khích tái chế, tái

+ Khuyến khích thu gom, phân loại rác tại nguồn:

* Phương thức thu gom, phân loại, xử lý:

- Tận dụng chất thải để sử dụng cho mục đích khác: quần áo cũ có thể cho người khác hoặc làm giẻ lau, sách báo cũ làm giấy gói hoặc đốt lò;

- Đất đá, chất thải rắn từ vật liệu xây dựng (gạch, ngói , vữa, bê tông, vật liệu kết dính quá hạn sử dụng, cát, đá, sỏi, sành sứ vụn) có thể tái chế hoặc tái sử dụng làm vật liệu san lấp cho các cong trình giao thông, xây dựng;

- Bùn, đất hữu cơ từ đào đất, nạo vét lớp mặt đất có thể sử dụng để bồi đắp cho đất trồng cây

- Thu gom và bán cho cơ sở tái chế đối với những phế thải làm từ vật liệu có thể tái chế như kim loại, thủy tinh, nhựa, giấy

- Chất thải hữu cơ dễ phân hủy (các loại cây, lá cây, rau, thực phẩm dư thừa): khuyến khích các hộ gia đình tận dụng cho chăn nuôi gia súc hoặc xử lý bằng cách ủ làm phân bón cho nông nghiệp

- Đối với phân chuồng, thức ăn dư thừa cho vào hầm ủ bioga để tạo thành chất đốt phục vụ thắp sáng, đun nấu

- Chất thải rắn vô cơ không thể tái chế, tái sử dụng: phân loại riêng để các đon vị chức năng thu gom đưa về bãi tập kết rác thải của xã

- Các loại rác độc hại, gồm: pin, bình ắc quy, hóa chất các loại, thuốc trừ sâu, bao

bì chứa hóa chất độc hại hoặc sản phẩm hóa chất đã hết hạn sử dụng phải được lưu giữ vào một thiết bị riêng, có nắp đậy

* Dụng cụ thu gom: Các địa phương cần vận động, khuyến khích các hộ gia đình thu gom và phân loại chất thải rắn tại gia đình mình bằng các dụng cụ chứa hợp vệ sinh

Trang 36

+ Phương thức vận chuyển, xử lý:

- Mỗi thôn, xóm, làng, bản phải thành lập tổ, đội vệ sinh môi trường thu gom chất thải rắn; mỗi xã/phường/thị trấn thành lập hợp tác xã vệ sinh môi trường hoặc công ty môi trường có chức năng thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt từ các thôn, xóm tới các trạm tung chuyển và vận chuyển tới khu xử lý chất thải rắn của địa phương

- Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh đăng ký với hợp tác xã, tổ đội vệ sinh, công ty môi trường địa phương để thực hiện thu gom chất thải

- Các hộ gia đình tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa có hệ thống thu gom phải thực hiện xử lý chất thải rắn theo hướng dẫn của chính quyền địa phương, không được đổ chất thải ra đường, ao hồ, sông suối, kênh rạch và các nguồn nước mặt

- Đối với những hộ gia đình không sử dụng dịch vụ thu gom rác thải phải đào hố

xử lý rác hữu cơ để tránh rác thải tràn lan gây mất vệ sinh Mùa khô nên gom đốt rác sạch sẽ, mùa mưa cần có nắp che kín miệng hố không để nước ngập trong hố rác và tràn ra ngoài gây ô nhiễm môi trường

- Đối với chất thải rắn nông nghiệp: Khuyến khích sử dụng các hình thức tổ hợp vườn, ao chuồng, thùng rác, hầm chứa rác, hố rác tự phân hủy, hố ủ phân trát bùn tại các hộ gia đình để xử lý chất thải rắn từ sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi

+ Phương thức xử lý:

- Mỗi xã, phường, thị trấn, huyện, thị xã, thành phố phải quy hoạch xây dựng và

tổ chức thu gom, xử lý chất thải rắn theo quy định

- Việc xây dựng bãi xử lý chất thải rắn phải tuân thủ các tiêu chuẩn theo quy định tại TCVN 6696 – 2000- Bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường và Tiêu chuẩn thiết kế TCXDVN 261 – 2001- Bãi chôn lấp chất thải rắn

1.5 Chính sách, quy định quản lý CTR ở địa bàn nghiên cứu

- Quyết định số 986/QĐ-BXD ngày 17 tháng 11 năm 2011 về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 của Bộ xây dựng và Công văn số 7615/UBND - QLĐTư ngày 28 tháng 11 năm 2011 của UBND thành phố Đà Nẵng về triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình đầu tư

xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020

- Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND ngày 10/8/2010 của UBND thành phố ban hành quy định về bảo vệ môi trường trên thành phố Đà Nẵng;

- Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND ngày 21/8/2008 của UBND thành phố về ban hành Đề án “ Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố Môi trường”;

- Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2011 của UBND

Trang 37

thành phố về quy định mức thu, quản lý và sử dụng phí vệ sinh trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng;

- Quyết định 842/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2011 của UBND huyện về xây dựng Chương trình nông thôn mới của huyện Hoà Vang

1.6 Định hướng giải pháp cho quản lý chất thải nông thôn

1.6.1 Các căn cứ chung để đề ra định hướng

- Căn cứ vào luật bảo vệ môi trường và các chủ trương chính sách của Đảng và chính quyền các cấp về công tác bảo vệ môi trường

- Căn cứ vào thực trạng rác thải và công tác quản lý rác thải ở thị trấn trong thời gian qua

- Căn cứ vào khối lượng rác thải và yêu cầu của việc bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực nghiên cứu

- Căn cứ vào điều kiên, khả năng quản lý rác thải ở địa phương trong thời gian tới [11]

1.6.2 Định hướng về công tác quản lý chất thải trên địa bàn

Nâng cao năng lực cán bộ quản lý, điều hành Tiếp tục rà soát điều chỉnh qui hoạch, kế hoạch đầu tư theo định hướng phát triển hợp lý, đáp ứng nhiệm vụ trong thời

kỳ đổi mới

Nâng cao ý thức của người dân trong vấn đề vệ sinh môi trường Các cấp chính quyền huyện, thôn thường xuyên phối hợp để công tác quản lý rác thải trên địa bàn được tốt hơn

Xem công tác quản lý không chỉ là của riêng các cấp chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi hộ dân, mỗi người dân, phải tuyên truyền sâu rộng nhằm đưa công tác quản lý rác thải đến với từng hộ dân, từng người dân [11]

1.7 Giải pháp kỹ thuật, công nghệ

Trang 38

- Các thành phần chất thải rắn có thể tái chế được phân loại và thu gom để bán cho các cơ sở thu mua để xử lý và tái chế kim loại, nhựa cứng, linon, giấy, các tông, …

- Các chất thải như gỗ vụn, đồ dung từ gỗ được thu hồi để sử dụng làm chất đốt, các loại phế thải xây dựng không được thu gom cùng với rác thải sinh hoạt Các loại chất thải xây dựng nên tận dụng để san nền, san lấp mặt bằng… hạn chế thải ra môi trường

- Các loại chất thải nguy hại được thu gom và xử lý triệt để theo quy trình riêng của xử lý chất thải nguy hại

- Các loại chất thải nguy hại thông thường được thu gom và xử lý tập trung tại bãi xử lý tập trung [12]

1.7.2 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp vi sinh vật

- Ưu điểm: Rẻ tiền, phần mùn rác sau khi lên men có thể tận dụng làm phân bón

- Nhược điểm: là thời gian xử lý lâu hơn, các chất thải vô cơ (thường chứa một lượng tương đối lớn) không xử lý được nên xử lý không triệt để

Trang 39

Hình 1.2 Quy trình công nghệ xử lý chất thải rắnbằng phương pháp vi sinh vật

Rác từ sân tập kết được chuyển lên băng truyền qua nhà phân loại 1

Rác sau khi phân loại lần 1 được băng chuyền chuyển sang sân phối trộn để trộn Tại đây rác được bổ xung các chất cấn thiết khác như rỉ đường N, P, K hoặc phân

bể phốt; cấy vi sinh vật, điều chỉnh độ ẩm và sau đó được băng chuyền hoặc xe chuyển vào bể ủ

Rác sau khi chuyển vào bể ủ lên men ở nhiệt độ cao được chuyển vào nhà ủ chín Quá trình này diễn ra trong thời gian một tuần lễ đến một tháng Đây là giai đoạn ủ trong điều kiện yếm khí

Rác từ nhà ủ kín được băng chuyền chuyển sang nhà phân loại số 2 Sau đó được phân loại tiếp theo hệ thống nam châm điện tách kim loại, thuỷ tinh, gạch ngói, nilon… Mùn rác nhận được chuyển sang nhà thu hồi tận dụng Tại đây mùn rác được

bổ xung thêm các chất dinh dưỡng cần thiết và được sử dụng như nguồn phân bón hữu

cơ chất lượng cao [12]

1.7.3 Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh

Đây là phương pháp phổ biến và chi phí xử lý thấp nhất, phương pháp này phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta hiện nay

Khái niệm chôn lấp hợp vệ sinh (Theo quy định của TCVN 6696 – 2000): Bãi chôn lấp hợp vệ sinh là khu vực được quy hoạch, thiết kế, xây dựng để chôn lấp chất

Trang 40

thải phát sinh từ khu vực dân cư, đô thị và các khu công nghiệp Bãi chôn lấp chất thải rắn bao gồm các ô chôn lấp chất thải, chất đệm, các công trình phụ trợ khác như: Trạm

xử lý nước, trạm xử lý khí thải, trạm cung cấp điện, nước, văn phòng làm việc…

Bảng 1.1 Phân loại bãi chôn lấp theo diện tích

Loại bãi Diện tích (ha)

Vừa Từ 10 đến 30 Lớn Từ 30 đến 50 Rất lớn Bằng và trên 50

(Nguồn: TCVN 6696 – 2000) Khi chọn bãi chôn lấp chúng ta cần phải xem xét đến các yếu tố:

- Quy mô bãi: Quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào quy mô đô thị như: dân số, lượng chất thải phát sinh, đặc điểm chất thải…

- Vị trí bãi chôn lấp: Các vấn đề cần lưu ý khi đặt bãi chôn lấp:

+ Bãi chôn lấp phải gần nơi phát sinh chất thải, ngưng phải có khoảng cách thích hợp với khu dân cư gần nhất

+ Địa điểm bãi rác khu cần phải cách xa sân bay, là nơi có các khu đất trống vắng, tính kinh tế không cao

+ Bãi chôn lấp phải được quy hoạch cách nguồn nước sinh hoạt, nguồn nước sử dụng trong công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm ít nhất là 1000m

+ Bãi chôn lấp hợp vệ sinh không được đặt tại các khu vực ngập lụt

+ Không đặt bãi chôn lấp tại những nơi có tiềm năng nước ngầm lớn

+ Bãi chôn lấp phải có vùng đệm rộng ít nhất 100m cách biệt với bên ngoài Bao bọc bên ngoài hàng rào bãi

+ Khu vực đặt bãi chôn lấp nên có lớp đá nền chắc, đồng nhất tránh khu vực đá vôi và khu vực có các vết nứt kiến tạo, vùng đất rễ bị rạn nứt

Ngày đăng: 27/06/2021, 10:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w