Với yêu cầu đặt ra trên đây, được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Huế, với sự giúp đỡ và hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS.Trương Văn Tuyển, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình, luận văn nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Lê Thị Hằng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp là thành quả và tâm huyết của tôi trong suốt khoá học Để hoàn thành khóa học và đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và sự đóng góp ý kiến từ nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Huế, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Khuyến Nông, cùng toàn thể các thầy, cô đã trực tiếp và gián tiếp truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt khoá học cũng như những ý kiến đóng góp để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Trương Văn Tuyển, người hướng dẫn khoá học, đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể và cá nhân: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình, UBND huyện Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quảng Ninh, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Quảng Ninh, Hội đồng GPMB huyện Quảng Ninh, Chi cục Thống kê huyện Quảng Ninh, Phòng Kinh tế
- Hạ tầng, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Quảng Ninh, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Quảng Ninh, UBND các xã: Hải Ninh, Thị trấn Quán Hàu, các hộ gia đình, cá nhân thuộc nhóm hộ điều tra trên địa bàn các xã: Hải Ninh, thị trấn Quán Hàu đã giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đông đảo bạn bè và các đồng nghiệp đã góp ý, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo, cùng những người quan tâm để đề tài được hoàn thiện tốt hơn Tôi xin chân thành cảm ơn./
Huế, ngày 30 tháng 6 năm 2017
Học viên thực hiện
Lê Thị Hằng
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu chung của đề tài 2
1.3Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3
1.1 Khái niệm về thảm hoạ: 3
1.2 Khả năng (ứng phó và thích nghi) 7
1.3 Ứng phó với thảm hoạ 7
1.3.1 Thích ứng với biến đổi khí hậu 7
1.3.2 Giảm nhẹ biến đổi khí hậu 10
1.3.3 Quan hệ giữa thích ứng và giảm nhẹ 11
1.4 Sinh kế 13
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.3.1 Điều tra, đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, điều kịên kinh tế, xã hội huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình 16
Trang 52.3.2 Đánh giá tác động của sự cố môi trường biển tại huyện Quảng ninh, tỉnh Quảng
bình 16
2.3.3 Phân tích đặc điểm hoạt động sinh kế của cộng đồng ngư dân thuỷ sản ven bờ 17
2.3.4 Đánh giá những giải pháp thích ứng của hộ khai thác thuỷ sản ven bờ sau sự cố môi trường biển 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 17
2.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 17
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 17
2.4.3 Phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu 18
2.4.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và hình ảnh 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quảng Ninh 19
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 19
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội 28
3.1.4 Tác động của sự cố môi trường biển đến huyện Quảng ninh 30
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
Kết luận 64
Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT CÓ NGHĨA LÀ
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
LĐTB &XH Lao động thương binh và xã hội
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất, cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2013- 2016 22
Bảng 3.2 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật huyện Quảng Ninh năm 2016 26
Bảng 3.3 Tình hình lao động của huyện Quảng Ninh giai đoạn 2013-2016 28
Bảng 3.4 Tình hình Giá trị kinh tế của huyện Quảng Ninh giai đoạn 2013-2016 35
Bảng 3.5 Lao động làm việc trong các ngành kinh tế giai đoạn 2013-2016 36
Bảng 3.6 Lực lượng lao động của các hộ điều tra 39
Bảng 3.7 Tổng hợp độ tuổi lao động của hộ điều tra 40
Bảng 3.8 Trình độ học vấn của lao động các hộ điều tra 40
Bảng 3.9 Một số kênh vay vốn của hộ gia đình khai thác thuỷ sản ven bờ 44
Bảng 3.10 Tác động của sự cố môi trường biển đến sản lượng khai thác thuỷ sản trước và sau sự cố môi trường biển 48
Bảng 3.11 Tổng thu nhập khai thác thuỷ sản trước và sau sự cố môi trường biển 52
Bảng 3.12 Xu hướng chuyển đổi, đa dạng hoá ngành nghề mới của cộng đồng khai thác thuỷ sản gần bờ 53
Bảng 3.13 Lựa chọn của hộ gia đình ngư dân để giảm tiêu thụ lương thực thực phẩm 56
Bảng 3.14 Thay đổi chi tiêu của cộng đồng ngư dân khai thác thuỷ sản ven bờ 57
Bảng 3.15 Khó khăn chung của cộng đồng ngư dân khai thác thuỷ sản ven bờ 58
Bảng 3.16 Đánh giá của ngư dân về việc phục hồi sau sự cố môi trường biển 62
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 15
Biểu đồ 3.1 Dân số lao động trong các ngành kinh tế 36
Biểu đồ 3.2 Tài sản sinh hoạt của cộng đồng ngư dân khai thác ven bờ 41
Biểu đồ 3.3 Tài sản phục vụ sản xuất của hộ gia đình khai thác thuỷ sản ven bờ 42
Biểu đồ 3.4 Tài sản phục vụ đánh bắt khai thác thuỷ sản của cộng đồng ngư dân đánh bắt thuỷ sản ven bờ 43
Biểu đồ 3.5 Cơ cấu sản lượng khai thác thuỷ sản năm 2016 51
Biểu đồ 3.6 Xu hướng chuyển đổi, đa dạng hoá ngành nghề, của cộng đồng khai thác thuỷ sản gần bờ 54
Biểu đồ 3.7 Lựa chọn của hộ ngư dân để giảm tiêu thụ lương thực thực phẩm 56
Biểu đồ 3.8 Mức độ khó khăn của ngư dân hai xã Hải Ninh và Lương Ninh 58
Biểu đồ 3.9 Đánh giá của ngư dân về việc phục hồi sau sự cố môi trường biển 63
Trang 9MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống và sự phát triển của con người, của mỗi quốc gia, của toàn nhân loại Sự sống của con người gắn bó rất chặt chẽ với thiên nhiên và phụ thuộc rất nhiều vào môi trường Nếu môi trường sống được bảo vệ, giữ gìn thì sự sống của con người được bảo đảm Ngược lại, nếu môi trường sống bị tàn phá thì đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn Vai trò to lớn của môi trường là không thể phủ nhận Chính vì vậy, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuôc sống đã trở thành vấn đề cấp thiết, được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm
Tuy nhiên, thực tế gần đây, lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam đối diện với thảm họa môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người Gây hậu quả nghiêm trọng, hủy hoại môi trường biển, không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống ngư dân mà còn tác động xấu đến phát triển các ngành sản xuất khác, đến xuất khẩu, du lịch…Thảm họa môi trường biển miền Trung xảy ra từ đầu tháng 4 năm
2016, khởi nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) với hiện tượng
cá biển chết hàng loạt tại 4 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế và lan ra suốt một dải 200km dọc theo bờ biển miền Trung Hơn 2 tháng, cả hệ thống chính trị vào cuộc truy tìm nguyên nhân Thủ phạm được chỉ ra là chất thải của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh Lãnh đạo công ty đã cúi đầu xin lỗi và bồi thường thiệt hại 500 triệu USD Chính phủ sau đó đã tiến hành nhiều biện pháp quản
lý các nguồn ô nhiễm biển, hỗ trợ người dân khôi phục sinh kế
Tính toán sơ bộ cho thấy sự cố ô nhiễm môi trường do công ty Formosa gây ra
đã ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 100.000 người do không có việc làm ổn định, thu nhập thấp và 176.285 người phụ thuộc Thiệt hại sản lượng hải sản khai thác ven bờ và vùng lộng ước tính khoảng 1.600 tấn/tháng; diện tích nuôi tôm bị chết hoàn toàn là 5,7 ha tương đương 9 triệu tôm giống và khoảng 7 tấn tôm thương phẩm sắp đến kỳ thu hoạch; có trên 3.000 ha nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đã thả giống bị nhiễm
độ mặn cao, môi trường suy giảm nên tôm chậm lớn, xuất hiện bệnh và có trên 350 ha nuôi tôm bị chết rải rác Ngành khai thác thủy sản giảm 20% sản lượng, khiến GDP cả nước tăng dưới 6% sau 9 tháng.Tuy nhiên, “Bao giờ biển miền Trung phục hồi?” vẫn
là câu hỏi nhức nhối khi 154 loại hải sản trong vòng 13,5 hải lý gần 4 tỉnh miền Trung chưa an toàn Các nhà khoa học đánh giá phải mất hàng trăm năm để khắc phục hoàn toàn ô nhiễm
Trang 10Tỉnh Quảng Bình nói chung, và huyện Quảng Ninh nói riêng là một trong 4 tỉnh
bị ảnh hưởng và thiệt hại nặng nề, ước tính tổng thiệt hại trong năm 2016 do Fomosa lên đến 4000 tỷ Bà con ngư dân tỉnh rất phẫn nộ trước hành động xả thải huỷ hoại môi trường, cũng như mang tâm lý hoang mang lo lắng Mặc dù tỉnh, trung ương đã có nhiều phương án đền bù, hỗ trợ, giải quyết việc làm, cho ngư dân, song cuộc sống vẫn không mấy biến chuyển
Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu nhằm đánh giá và tổng kết lại các giải pháp thích ứng sau sự cố mố môi trường biển, những khó khăn của cộng đồng ngư dân
để đưa ra những khuyến nghị hữu ích thực hiện việc thích ứng, khắc phục hậu quả, và cải thiện đời sống của ngư dân Với yêu cầu đặt ra trên đây, được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Huế, với sự giúp đỡ và hướng dẫn của thầy giáo
PGS.TS.Trương Văn Tuyển, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu giải pháp thích ứng với sự cố môi trường biển năm 2016 của cộng đồng ngư dân khai thác thuỷ sản ven bờ tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình "
1.2 Mục tiêu chung của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu khả năng thích ứng của cộng đồng khai thác thuỷ sản ven biển sau sự cố môi trường để thấy được những đặc điểm về sinh kế nhằm kến nghị những giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của ngư dân trên địa bàn nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a) Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần đánh giá tầm quan trọng của nguồn tài nguyên môi trường biển đối với đời sống của người dân nói chung và cộng đồng ngư dân nói riêng
b) Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, sẽ cung cấp các dữ liệu và đánh giá về tác động của sự
cố môi trường biển đến đời sống của cộng đồng ngư dân từ đó nắm bắt được những hoạt động thích ứng và phục hồi sinh kế của họ
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
1.1 Khái niệm về thảm hoạ:
Trong những tác động xấu của môi trường, có những tác động chỉ ảnh hưởng đến số ít cá thể, trong một phạm vi hẹp mà cộng động có thể tự phòng chống được nhưng cũng có những tác động ảnh hưởng đến nhiều người, trên phạm vi rộng, cần đến
sự phối hợp của toàn thể cộng đồng, đôi khi còn cần phải kết hợp nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương, nhiều quốc gia mới có thể khắc phục được Đó chính là các loại thảm họa
Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc về thập kỷ thế giới giảm nhẹ thiên tai: “Thảm họa là các tác động nghiêm trọng đến chức năng hoạt động của xã hội, gây ra các thiệt hại to lớn về môi trường, nhân lực, vật lực, vượt quá khả năng khắc phục của con người bằng chính nguồn lực của bản thân họ” Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Thảm họa là sự phá vỡ môi trường sinh thái, vượt quá khả năng chịu đựng của từng cộng đồng mà cần phải kêu gọi sự hỗ trợ từ bên ngoài’’
Khái niệm “hỗ trợ từ bên ngoài” của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có nghĩa là vượt quá khả năng tự khắc phục của bản thân mỗi người, mỗi địa phương nhỏ và cần phải có sự hỗ trợ của một cộng đồng lớn hơn ở các địa phương, các quốc gia khác Nếu một trận mưa to làm vỡ một con mương nhỏ trên đồng ruộng, nhân dân sống chung quanh đó có thể tự hàn gắn được, không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái thì không phải là thảm họa Một một đợt lũ lớn gây vỡ đê, nước ngập tràn trên diện rộng và dài ngày làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái; nhân dân sống tại chỗ không tự khắc phục được mà cần có sự hỗ trợ của toàn huyện, toàn tỉnh, toàn quốc mới
có thể khắc phục được thì đó là “thảm họa” Có những thảm họa xảy ra rất lớn như động đất, núi lửa phun gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng, cần phải phối hợp hành động của nhiều quốc gia mới khắc phục được Một loại thản họa tồi tệ nhất do con người gây ra là chiến tranh
❖ Phân loại thảm họa và hướng xử trí
Thảm họa được phân loại theo nguyên nhân hay hậu quả về môi trường do thảm họa gây nên
Về nguyên nhân:
Các thảm họa do thiên nhiên gây ra, còn gọi là thiên tai do những biến đổi bất thường của thiên nhiên về thời tiết, khí hậu có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, cho đời sống của con người như cơn bão, lốc tố, vòi rồng, ngập
Trang 12lụt, động đất, núi lửa phun, mưa đá, bão tuyết, sóng thần, khô hạn Các loại thiên tai thường xảy ra đột ngột, ngoài khả năng cảnh báo hoặc có cảnh báo được thì cũng chỉ phòng tránh nhằm giảm bớt thiệt hại về người và tài sản Ngày nay, mặc dù khoa học
kỹ thuật đã phát triển tới mức độ khá cao nhưng con người chỉ mới có khả năng phá hủy được các cơn mưa đá trên diện hẹp, làm mưa nhân tạo chống khô hạn trên một vùng có quy mô nhỏ nhưng chưa có cách nào để di chuyển được một cơn bão lớn ra khỏi khu vực đông dân cư hoặc chống được động đất, núi lửa Một vấn đề khác cũng cần quan tâm là đôi khi do phát triển quá mức của khoa học kỹ thuật nhưng không tính toán kỹ đến yếu tố môi trường lại tác động xấu đến môi trường, làm cho thiên tai có thể xảy ra nhiều hơn như do thủng tầng ozone, do hiệu ứng nhà kính đã làm cho trái đất nóng lên, dẫn đến áp suất khí quyển tăng, khả năng bão, lốc nhiều hơn; do nhiệt độ nước biển tăng đã làm tan các tảng băng tại hai cực của trái đất, làm tăng mực nước biển và có thể gây nên ngập lụt ở nhiều nơi Việc chặt phá cây rừng bừa bãi đã làm tăng sự xói mòn, cạn kiệt nguồn nước ngầm gây khô hạn, hiện tượng sa mạc hóa Khi
có mưa lớn, do không còn lớp thảm thực vật che phủ nên lượng nước đổ dồn nhanh xuống vùng thấp trũng hơn gây nên lũ quét, ngập lụt nhiều nơi trên diện rộng
Các thảm họa do con người gây ra do trong quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, vì một lý do nào đó không kiểm tra, chủ động khống chế được độ an toàn và có thể gây ra thảm họa như nổ lò phản ứng hạt nhân nhà máy điện nguyên tử, rò rỉ hóa chất độc hại, tai nạn giao thông đường bộ, đường biển và đường hàng không Ngoài
ra, các thảm họa do cháy, nổ cũng ngày càng phổ biến như cháy rừng và khói bụi do cháy rừng; cháy nhà, cháy chợ Ngày nay, các công trình xây dựng nhà cao tầng ngày càng nhiều thì nguy cơ cháy, nổ cũng có thể xảy ra gây nên những thảm họa không thể lường trước được Một vấn đề cần chú ý là việc khai thác, vận chuyển dầu, khí không bảo đảm an toàn có thể gây ra các vụ cháy lớn, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Khác với thảm họa do thiên nhiên gây ra như thiên tai, các thảm họa
do con người gây nên có thể dự báo và phòng tránh được, kể cả loại thảm họa chiến tranh tồi tệ nhất
❖ Về hậu quả môi trường:
Thảm họa do hậu quả môi trường gồm các loại thảm họa gây nên tác động ngay tới môi trường, thảm họa gây nên tác động lâu dài tới môi trường và thảm họa vừa gây nên tác động ngay vừa gây nên tác động lâu dài tới môi trường
Loại thảm họa gây nên tác động ngay tới môi trường là các loại thảm họa có tác động ngay tức khắc tới môi trường, gây thiệt hại nặng cho con người và môi trường nhưng tác động xấu về môi trường không kéo dài như cháy nhà gây thiệt hại nặng về người và tài sản nhưng khi đã dập tắt được đám cháy thì không tiếp tục gây tai họa nữa Các loại thiên tai như lũ quét, lốc tố, vòi rồng, sóng thần cũng gây thiệt hại ngay
Trang 13tức khắc nhưng không tiếp tục tác động nhiều tới môi trường khi đã chấm dứt đợt thiên tai Cần phòng tránh những thiệt hại về người và tài sản ngay khi thảm họa xảy ra, việc khắc phục hậu quả về môi trường thì không phải là vấn đề lớn
Loại thảm họa gây nên tác động lâu dài tới môi trường với đặc điểm làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, dễ làm phát sinh dịch bệnh với các yêu cầu cần can thiệp như chủ động khống chế dịch bệnh không để phát sinh và lan rộng, thanh khiết môi trường, phục hồi lại sức khỏe của nhân dân sau thảm họa, đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, nơi ở tạm thời của người dân Sau các trận lũ lụt lớn, hạn hán kéo dài, ngành y tế tổ chức các hoạt động nhằm khắc phục hậu quả tương đối lâu dài và trên phạm vi rộng Hoạt động này sẽ không đạt được kết quả tốt nếu không có
sự hỗ trợ của chính quyền các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể và sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn thể nhân dân
Loại thảm họa vừa tác động ngay, vừa tác động lâu dài tới môi trường phần lớn là các loại thảm họa thường hay xảy ra tại nước ta như bão, lụt lớn, lốc tố, mưa đá với nhiều đặc điểm khác nhau Với yêu cầu cấp cứu hàng loạt nạn nhân đòi hỏi các cơ
sở y tế phải hoạt động tối đa, có chi viện tốt cả về nhân lực, phương tiện, thuốc men và
sự phối hợp tốt với lực lượng công an, quân đội, người tình nguyện trong việc tìm kiếm, cứu nạn, sơ cứu nạn nhân bước đầu ngay tại hiện trường trước khi chuyển đến các cơ sở y tế Việc phổ biến các kỹ thuật cấp cứu ban đầu cho cộng đồng và các lực lượng tham gia cứu hộ rất quan trọng vì trên thực tế cho thấy trên 90% nạn nhân do cộng đồng và các lực lượng cứu hộ phát hiện, sơ cứu trước khi chuyển đến các cơ sở y
tế Vấn đề phát hiện sớm, sơ cứu đúng kỹ thuật đã góp phần tích cực làm giảm số tử vong, giúp cho việc điều trị đạt kết quả tốt, giảm được các di chứng sau điều trị Khi môi trường bị ô nhiễm nặng do thiên tai, thảm họa, các loại dịch bệnh có nguy cơ phát sinh và phát triển, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng người dân
Đối với ngành y tế, việc can thiệp biện pháp còn căn cứ vào các loại thảm họa xảy ra Khi bị bão, lốc tố, mưa đá, động đất, núi lửa phun yêu cầu phải tìm kiếm nạn nhân trước, sau đó mới đến công tác thanh khiết môi trường, phòng chống dịch bệnh Nếu lụt úng chủ yếu gây tác động đến môi trường, số nạn nhân nếu có cũng xuất hiện dần theo thời gian; vì vậy cần tổ chức chăm sóc sức khỏe nhân dân tại nơi xảy ra thảm họa và phải đặc biệt lưu ý đến công tác vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh Trường hợp gặp tai nạn giao thông, hỏa hoạn thì ưu tiên trước hết là tìm kiếm, cấp cứu nạn nhân, sau đó mới đến các công tác vệ sinh môi trường Việc ổn định tinh thần, động viên gia đình nạn nhân, tìm cách tạo cho họ điều kiện ổn định được cuộc sống sau khi có những mất mát, thiệt hại lớn về người thân, nguồn sống phải là trách nhiệm của cộng đồng, của lãnh đạo chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp
Trang 14Trong khi thảm họa xảy ra, ngành y tế cũng chịu những thiệt hại nặng Vì vậy sau thảm họa, phải tìm mọi cách nhanh chóng đưa các hoạt động y tế trở lại bình thường Chính quyền các cấp cần ưu tiên các phương tiện vật tư cho các cơ sở y tế như vật liệu xây dựng, cung cấp điện, nước cho các cơ sở y tế Trường hợp thảm họa xảy ra gây thiệt hại quá sức tự giải quyết của ngành y tế địa phương, phải báo cáp kịp thời với
y tế tuyến trên để tiếp nhận chi viện Mọi thông tin cung cấp phải bảo đảm sự chính xác, cụ thể như hiện có bao nhiêu nạn nhân cần cấp cứu, các loại vết thương, chấn thương, bệnh tật; nhu cầu cần chi viện về người, phương tiện vật chất, phương tiện vận chuyển nạn nhân Cần lưu ý theo phương châm “4 tại chỗ”, ý nghĩa chủ yếu là tuyến trên chi viện cho tuyến dưới, chỉ vận chuyển nạn nhân trong điều kiện cho phép, tránh vận chuyển ồ ạt nạn nhân lên các cơ sở y tế tuyến trên gây ùn tắc, quá tải cho tuyến trên Trường hợp có nhiều nạn nhân trong tai nạn, cháy nổ người chỉ huy cần xem xét để ra quyết định phân loại và chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế phù hợp với khả năng chuyên môn để nhanh chóng giải phóng hiện trường Một vấn đề cũng cần được quan tâm thực hiện là công tác thống kê, báo cáo, ghi chép tình trạng nạn nhân cụ thể trước khi chuyển về các cơ sở y tế; đây là điều rất quan trọng để tiếp tục theo dõi, giải đáp những thắc mắc của người nhà nạn nhân khi cần tìm kiếm sau thảm họa
Hướng xử trí
Một địa phương, một khu vực, một đất nước thường xuyên có những nguy cơ
về thiên tai, thảm họa như nước ta thì công tác chủ động phòng, chống, giảm nhẹ và khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa phải là nhiệm vụ thường xuyên của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp và cả cộng đồng nhân dân Các địa phương, đơn
vị phải căn cứ vào đặc điểm tình hình thiên tai, thảm họa có thể xảy ra tại địa phương, đơn vị mình để xây dựng kế hoạch chủ động đối phó với thiên tai, thảm họa nhằm mục đích giảm tới mức thấp nhất các thiệt hại, thực hiện có hiệu quả việc khắc phục hậu quả do thiên tai, thảm họa gây ra
Phục hồi: Phục hồi đề cập đến những hành động được thực hiện sau thảm hoạ nhằm đưa các dịch vụ cơ bản của xã hội hoạt động trở lại, nhằm trợ giúp những người
bị ảnh hưởng tự lực khắc phục thiệt hại vất chất và cơ sở vật chất của cộng đồng, phục hồi các hoạt động kinh tế và hỗ trợ về mặt phúc lợi xã hội cho những người sống sót Trong khi việc khôi phục tập trung vào việc tạo khả năng cho thành phần dân cư bị ảnh hưởng ít nhiều trờ lại nhịp sống bình thường (như trước khi thảm hoạ xảy ra), cũng phải luôn nỗ lực để giảm bớt các yếu tố dễ bị ảnh hưởng và cải thiện điều kiện sống Nó có thể được coi là giai đoạn chuyển tiếp giữa cứu trợ khẩn cấp và tiếp tục phát triển không ngừng./
Trang 151.2 Khả năng (ứng phó và thích nghi)
Khả năng là những nguồn lực, phương tiện và điểm mạnh tại các hộ gia đình
và cộng đồng có thể giúp họ đối phó, chống chịu, phòng ngừa, ngăn ngừa, giảm nhẹ
hoặc nhanh chóng phục hồi sau thảm họa
❖ Khả năng được nhận định ở trên nhiều góc độ:
Khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong thời điểm bình thường, và trong thời điểm bất thường của thiên tai, khí hậu Các nguồn lực này bao gồm:
- Thái độ và động cơ của cá nhân, đơn vị, tổ chức, v.v liên quan đến công tác giảm rủi ro thiên tai, khí hậu…
1.3 Ứng phó với thảm hoạ
Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
1.3.1 Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng là một khái niệm rất rộng, và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó được dùng trong rất nhiều trường hợp
Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại
Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH
Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử
lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã
Trang 16và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước, và
có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau
Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH Trong việc đánh giá những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng Cây cối, động vật, và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình Cây cối, động vật, và các hệ sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư Để giải thích đầy đủ
về tính dễ bị tổn thương do BĐKH, sự đánh giá tác động cần phải tính đến quá trình tất yếu sẽ xảy ra: sự thích ứng của các đối tượng tác động Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH Một lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH
Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực
❖ Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu
Có nhiều biện pháp thích ứng có thể được thực hiện trong việc ứng phó với BĐKH Báo cáo đánh giá lần thứ 2 của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đã đề cập và miêu tả 228 phương pháp thích ứng khác nhau Cách phân loại phổ biến là chia các phương pháp thích ứng ra làm 8 nhóm:
Chấp nhận tổn thất Các phương pháp thích ứng khác có thể được so sánh với cách phản ứng cơ bản là “không làm gì cả”, ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận những
tổn thất Trên lý thuyết, chấp nhận tổn thất xẩy ra khi bên chịu tác động không có khả năng chống chọi lại bằng bất kỳ cách nào (ví dụ như ở những cộng đồng rất nghèo khó, hay ở nơi mà giá phải trả cho các hoạt động thích ứng là cao so với sự rủi ro hay
là các thiệt hại có thể)
Chia sẻ tổn thất Loại phản ứng thích ứng này liên quan đến việc chia sẻ những
tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn Cách thích ứng này thường xảy ra trong một cộng đồng truyền thống và trong xã hội công nghệ cao, phức tạp Trong xã hội truyền thống, nhiều cơ chế tồn tại để chia sẻ những tổn thất giữa cộng đồng mở rộng, như là giữa các hộ gia đình, họ hàng, làng mạc hay là các cộng đồng nhỏ tương tự Mặt khác, các cộng đồng lớn phát triển cao chia sẻ những tổn thất thông qua cứu trợ cộng đồng,
Trang 17phục hồi và tái thiết bằng các quỹ công cộng Chia sẻ tổn thất cũng có thể được thực hiện thông qua bảo hiểm
Làm thay đổi nguy cơ Ở một mức độ nào đó người ta có thể kiểm soát được
những mối nguy hiểm từ môi trường Đối với một số hiện tượng “tự nhiên” như là lũ lụt hay hạn hán, những biện pháp thích hợp là công tác kiểm soát lũ lụt (đập, mương, đê) Đối với BĐKH, có thể điều chỉnh thích hợp làm chậm tốc độ BĐKH bằng cách giảm phát thải khí nhà kính và cuối cùng là ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển Theo hệ thống của UNFCCC, những phương pháp được đề cập đó được coi là
sự giảm nhẹ BĐKH và là phạm trù khác với các biện pháp thích ứng
Ngăn ngừa các tác động Là một hệ thống các phương pháp thường dùng để
thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động của biến đổi và bất ổn của khí hậu Ví
dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, thay đổi trong quản lý mùa vụ như tăng tưới tiêu, chăm bón thêm, kiểm soát côn trùng và sâu bệnh gây hại
Thay đổi cách sử dụng Khi những rủi ro của BĐKH làm cho không thể tiếp tục
các hoạt động kinh tế hoặc rất mạo hiểm, người ta có thể thay đổi cách sử dụng Ví dụ, người nông dân có thể thay thế sang những cây chịu hạn tốt hoặc chuyển sang các giống chịu được độ ẩm thấp hơn Tương tự, đất trồng trọt có thể trở thành đồng cỏ hay rừng, hoặc có những cách sử dụng khác như làm khu giải trí, làm nơi trú ẩn của động vật hoang dã, hay công viên quốc gia
Thay đổi/chuyển địa điểm Một sự đối phó mạnh mẽ hơn là thay đổi/chuyển địa
điểm của các hoạt động kinh tế Có thể tính toán thiệt hơn, ví dụ di chuyển các cây trồng chủ chốt và vùng canh tác ra khỏi khu vực khô hạn đến một khu vực mát mẻ thuận lợi hơn và thích hợp hơn cho các cây trồng trong tương lai
Nghiên cứu Quá trình thích ứng có thể được phát triển bằng cách nghiên cứu
trong lĩnh vực công nghệ mới và phương pháp mới về thích ứng
Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi Một kiểu hoạt động thích
ứng khác là sự phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi Những hoạt động đó trước đây ít được để ý đến và ít được ưu tiên, nhưng tầm quan trọng của chúng tăng lên do cần có sự hợp tác của nhiều cộng đồng, lĩnh vực, khu vực trong việc thích ứng với BĐKH
❖ Dựa vào đặc điểm “quy mô” của thích ứng, các giải pháp thích ứng được đề xuất theo hai nhóm chính:
Nhóm giải pháp vĩ mô: các chính sách, thể chế hoặc những giải pháp mang
tính quốc gia như đầu tư các cơ sở hạ tầng như hệ thống kênh mương phục vụ tưới tiêu đồng thời hạn chế tác động xâm nhập mặn, tiêu thoát lũ; hệ thống đê, kè biển chống lại tác động của sóng biển (đặc biệt trong bão), dâng cao mực nước biển; xây dựng chính
Trang 18sách kết hợp nghiên cứu BĐKH vào chính sách phát triển quốc gia, các kế hoạch, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực;…
Nhóm giải pháp vi mô: mang tính chất và ý nghĩa cục bộ hoặc có nghĩa cho
một nhóm đối tượng tại địa phương như trồng các loại cây phù hợp; xây dựng các sinh
kế bền vững trong hoàn cảnh BĐKH ở địa phương; xây dựng các kế hoạch thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng địa phương; xây dựng các hoạt động, chương trình tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng động địa phương về BĐKH,…
1.3.2 Giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Sự thống nhất về khoa học về vấn đề nhiệt độ nóng lên toàn cầu cùng với các nguyên tắc giảm nhẹ BĐKH làm tăng cường các nỗ lực phát triển các công nghệ mới trong nỗ lực nhằm giảm nhẹ sự nóng lên toàn cầu (Schneider và Stephen, 2004) Nhìn chung, hầu hết các phương kế giảm nhẹ BĐKH dường như chỉ tính đến hiệu hiệu quả đối với việc phòng tránh sự nóng lên hơn nữa mà chưa quan tâm thích đáng đến tình trạng nóng hiện tại (Lowe và nnk, 2009) Các cách giảm nhẹ BĐKH bao gồm giảm đòi hỏi của các mặt hàng và dịch vụ xả thải quá mức, tăng lợi ích hiệu quả, tăng sử dụng và phát triển công nghệ ít carbon và giảm phát thải nguyên liệu hóa thạch (Stern, 2007)
Có rất nhiều giải pháp giảm nhẹ BĐKH được thực hiện thông qua các cam kết giữa các bên liên quan với UNFCCC và hiệu lực thực thi Nghị định thư Kyoto tháng 2 năm 2005, tuy nhiên điều này vẫn chưa đủ để đảo ngược lại xu thế phát thải khí nhà kính (IPCC, 2007) Kinh nghiệm thực thi ở Châu Âu cho thấy trong khi các chính sách
về BĐKH có thể có hiệu quả thì việc thực thi toàn bộ chính sách và điều phối thường rất khó khăn, đòi hỏi phải bổ sung và cải tiến liên tục (IPCC, 2007)
Nhiều chính sách, chiến lược giảm nhẹ BĐKH được đưa ra trong các lĩnh vực khác nhau (xây dựng công trình và dịch vụ, giao thong, công nghiệp, nông nghiệp và quản lý chất thải, năng lượng) (IPCC, 2007) Nhìn chung giải pháp giảm nhẹ BĐKH bao gồm các nội dung chính như sau:
+ Sử dụng tiết kiệm năng lượng: cùng với khả năng cung ứng năng lượng hạn chế và việc thất thoát, sử dụng lãng phí, giảm nhẹ BĐKH thong qua việc sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng hiện có trở thành vấn đề quan trọng và cấp bách Sử dụng tiết kiệm năng lượng còn bao hàm cả việc những ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm tăng hiệu suất năng lượng hóa thạch, hiệu suất sử dụng điện…
+ Phát triển năng lượng mới: phát triển hợp lý nguồn năng lượng hạt nhân, năng lượng thủy điện và năng lượng tái tạo được là các phương án đóng góp tích cực nhất nhằm giảm nhẹ khí nhà kính
Trang 19+ Quản lý chất thải: tăng cường hiệu quả của công tác quản lý chất thải cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính
+ Bảo vệ và phát triển rừng: làm tăng khả năng hấp thụ các khí nhà kính nhằm giảm nhẹ BĐKH
+ Giáo dục và truyền thông: nâng cao năng lực quản lý nhằm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm giảm nhẹ BĐKH, tăng cường hợp tác quốc tế cùng chung tay giải quyết các vấn đề BĐKH toàn cầu
1.3.3 Quan hệ giữa thích ứng và giảm nhẹ
Các thuật ngữ về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đóng vai trò quan trọng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vấn đề của BĐKH Giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH có một số điểm chung như có thể bổ sung, thay thế, độc lập hoặc cạnh tranh nhau và có những đặc điểm, khung thời gian rất khác nhau
Cả thích ứng và giảm nhẹ đều đòi hỏi năng lực của xã hội có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế - xã hội Sự thích ứng với BĐKH phụ thuộc vào sự hứng chịu những rủi ro về thời tiết, tài sản tự nhiên hay nhân sinh của xã hội, nguồn lực con người, các thể chế và thu nhập Tất cả các yếu tố này sẽ quyết định khả năng giảm nhẹ
và thích ứng của xã hội Những chính sách hỗ trợ sự phát triển và nâng cao khả năng thích ứng và giảm nhẹ có thể có một số điểm chung Các chính có thể được lựa chọn
có một số ảnh hưởng lên hệ thống tự nhiên và kinh tế - xã hội, tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết phải có sự thỏa hiệp Các nhân tố chính quyết định khả năng thực thi kế hoạch giảm nhẹ và thích ứng BĐKH bao gồm: tài nguyên, thị trường, tài chính, thông tin và nhiều các vấn đề điều khiển khác
Các khái niệm về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH cho thấy giảm nhẹ BĐKH sẽ giảm tất cả các tác động (tích cực và tiêu cực) của BĐKH và do đó giảm các cơ hội thích ứng; trong khi đó thích ứng BĐKH có thể phát huy các tác động tích cực và giảm các tác động tiêu cực của BĐKH
Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đều được thực hiện trên cùng một quy mô địa phương hay khu vực và có thể được thúc đẩy bởi những ưu tiên và mối quan tâm của địa phương, khu vực cũng như quan tâm toàn cầu Giảm nhẹ BĐKH mang lại lợi ích toàn cầu, và do đó mang lại lợi ích cho địa phương cũng như khu vực Trong khi đó thích ứng với BĐKH chủ yếu trên quy mô của hệ thống bị ảnh hưởng bởi BĐKH, tốt nhất là quy mô khu vực nhưng hầu hết là quy mô địa phương Việc giảm phát thải khí nhà kính đạt được bởi các hành động giảm nhẹ khác nhau có thể được so sánh, đặc biệt nếu biết được giá thành giảm nhẹ BĐKH thì chi phí – hiệu quả của các hành động giảm nhẹ có thể được xác định và so sánh Tuy nhiên, việc so sánh lợi ích của các hành động thích ứng với BĐKH trở lên khó khăn hơn Hơn nữa, như đã trình bày ở trên, thích ứng
Trang 20với BĐKH ảnh hưởng chủ yếu trên quy mô khu vực và địa phương, do đó những lợi ích của hành động thích ứng với BĐKH được ước tính khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế, xã hội và chính trị của nơi tiến hành các hành động thích ứng
Ngoài ra, trên thực tế, phải mất vài thập kỷ để có thể minh chứng những lợi ích của các hành động giảm nhẹ BĐKH trong hiện tại do thời gian tồn tại dài của các khí nhà kính trong không khí; trong khi đó rất nhiều các giải pháp thích ứng BĐKH có thể
có hiệu quả nhanh chóng và đạt được những lợi ích bằng cách giảm tính dễ bị tổn thương của các dao động khí hậu Do đó có một sự gián đoạn giữa việc gánh chịu chi phí giảm nhẹ BĐKH và nhận thấy những lợi ích này, trong khi đó thời gian này đối với thích ứng lại ngắn hơn nhiều
Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH có liên quan với nhau ở các mức độ khác nhau Những nỗ lực giảm nhẹ có thể thúc đẩy khả năng thích ứng nếu loại trừ những sai sót
và sự thiếu chính xác của thị trường cũng như tiền trợ cấp vô lý …Ở mức độ tổng quan cao, những chi phí giảm nhẹ dường như là hướng tới tài nguyên xã hội hay cá nhân và giảm kinh phí cho thích ứng, tuy nhiên trên thực tế các nguồn kinh phí là khác nhau
Cả 2 sự lựa chọn thay đổi giá trị tương đối, điều này có thể dẫn tới những sự điều chỉnh nhỏ hình thức tiêu thụ và đầu tư, do đó thay đổi phương thức phát triển kinh tế khu vực bị ảnh hưởng Những nỗ lực thích ứng BĐKH có thể gây cả tác động tích cực
và tiêu cực đến giảm nhẹ BĐKH Ví dụ như việc trồng cây gây rừng như là một phần của chiến lược thích ứng BĐKH khu vực có những đóng góp tích cực cho giảm nhẹ Ngược lại, hành động thích ứng đòi hỏi việc sử dụng năng lượng từ nguồn phát thải carbon tăng lên
Các hành động nhằm giảm nhẹ BĐKH chủ yếu liên quan tới các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải (transportation), công nghiệp, dân cư (residential), rừng và nông nghiệp; trong khi đó thích ứng với BĐKH liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, du lịch và giải trí, sức khỏe con người, cung cấp nước, quản lý đới bờ, quy hoạch đô thị và bảo tồn thiên nhiên
Chiến lược giảm nhẹ BĐKH có nội dung chính là chiến lược giảm khí nhà kính, bao gồm giảm nguồn phát thải khí nhà kính đồng thời với tăng bể hấp thụ khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu Trong khi đó, chiến lược thích ứng với BĐKH có mục tiêu là ngăn chặn các tác động của BĐKH, bao gồm cả tác động tự nhiên và nhân sinh đối với
hệ thống tự nhiên - xã hội
Chiến lược giảm nhẹ BĐKH có nội dung chủ yếu là chiến lược giảm khí nhà kính, nghĩa là giảm nguồn phát thải và tăng bể chứa khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu Trong khi đó, chiến lược thích ứng với BĐKH có mục tiêu là ngăn chặn các tác động của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và biến đổi do hoạt động của con người tới
hệ thống tự nhiên và xã hội trên trái đất
Trang 21Nhìn chung, cả chiến lược giảm nhẹ BĐKH và thích ứng với BĐKH đều là những hành động can thiệp trực tiếp tới một chu trình gồm 4 yếu tố:
+ BĐKH: nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng, chế độ mưa, hạn hán, lũ lụt… + Phát triển kinh tế - xã hội: tăng trưởng kinh tế, công nghệ, dân số và quản lý; + Nồng độ khí nhà kính và phát thải khí nhà kính;
+ Hệ thống tự nhiên - xã hội
Giảm nhẹ BĐKH can thiệp vào chu trình từ phát triển kinh tế - xã hội dẫn đến phát thải khí nhà kính Trong khi đó, thích ứng BĐKH can thiệp vào 2 quá trình: tác động của BĐKH đến hệ thống tự nhiên - xã hội và mối tương tác giữa phát triển kinh
tế - xã hội với hệ thống tự nhiên - xã hội
1.4 Sinh kế
Sinh kế (Livelihood) là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ
Trong luận văn này học viên sử dụng định nghĩa sinh kế của Tổ chức Phát triển toàn cầu Vương Quốc Anh (DFID) năm 1999: “ Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất, xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống
❖ Các nguồn lực sinh kế
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà
con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn cơ chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật
chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên (Sơ đồ 1.1)
- Vốn nhân lực: Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức
khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn
nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác
- Vốn tài chính: Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm
đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như
từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau
- Vốn tự nhiên: Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất,
nước,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt
Trang 22động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của
họ Đây có thể là khẳ năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự
đa dạng sinh học
- Vốn vật chất: Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất
nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc
độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và
thiết bị sinh hoạt gia đình
- Vốn xã hội: Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan
hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân
có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế
❖ Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của
họ Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách sinh sống) Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường, việc làm trong nền kinh tế
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sử dụng những gì
mà họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại
Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của
họ về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi Quản lý như thế nào để bảo tồn được các nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các kiến thức, kĩ năng cần thiết để kiếm sống ? Cách sử dụng thời gian và công sức? Cách
họ đối phó với rủi ro
Kết quả sinh kế mang tính chất là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững Kết quả sinh kế là vấn đề thuộc về an sinh xã hội, cuộc sống của người dân ra
Trang 23sao ? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực, khả năng ứng biến sinh kế trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội Đây là kết quả của những thay đổi cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong muốn đạt được
❖ Sinh kế bền bững (Sustainable Livelihoods) (SKBV)
Theo DFID (2001), sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng, nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên Tiêu chí SKBV gồm: An toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điệu kiện môi trường cộng đồng xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ
tránh rủi ro và các cú sóc
Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh
kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình
bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực
Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể Tổ chức phát triển toàn cầu của Vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế bền vững như sau:
Biểu đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: DFID (2001)
Trang 24CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu ảnh hưởng của sự cố nhiễm độc môi trường biển năm 2016 đến ngư dân khai thác thuỷ sản ven bờ tại huyện Quảng ninh, tỉnh Quảng Bình
- Nghiên cứu các giải pháp thích ứng của hộ khai thác thuỷ sản biển ven bờ trước tác động của sự cố nhiễm độc môi trường biển
- Đánh giá kết quả thích ứng của hộ khai thác thuỷ sản biển sau sự cố nhiễm độc môi trường biển
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ gia đình, cá nhân đánh bắt thuỷ sản ven bờ (bị ảnh hướng do sự cố môi trường biển)
Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra, đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, điều kịên kinh tế, xã hội huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu thời tiết, đất đai, địa hình, thuỷ văn;
- Về điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế, cơ cấu nghành, cơ sở hạ tầng,
dân số, lao động, trình độ dân trí
2.3.2 Đánh giá tác động của sự cố môi trường biển tại huyện Quảng ninh, tỉnh Quảng bình
- Về kinh tế - cơ cấu ngành - dịch vụ
- Về văn hoá - xã hội, đời sống, việc làm, thu nhập của người dân
Trang 252.3.3 Phân tích đặc điểm hoạt động sinh kế của cộng đồng ngư dân thuỷ sản ven bờ 2.3.4 Đánh giá những giải pháp thích ứng của hộ khai thác thuỷ sản ven bờ sau sự
cố môi trường biển
2.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện các nội dung trên, tôi sử dụng các phương pháp sau:
2.4.1 Chọn điểm nghiên cứu
Việc chọn điểm nghiên cứu bao gồm chọn vùng, chọn xã và chọn hộ nghiên cứu Các điểm nghiên cứu phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:
Địa điểm nghiên cứu chịu nhiều ảnh hưởng, và thiệt hại nhất so với những vùng khác trên địa bàn huyện sau sự cố môi trường biển
Do điều kiện về nguồn lực và thời gian nghiên cứu hạn chế nên việc nghiên cứu điểm mô hình được thực hiện tại 2 xã đại diện cho các vùng khác nhau của huyện là: Hải Ninh và xã Lương Ninh
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu
- Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp:
Thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan nhà nước như: Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình, UBND huyện Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quảng Ninh, Phòng lao động và xã hội huyện Quảng ninh, phòng Nông Nghiệp huyện Quảng Ninh, Chi cục thống kê huyện, UBND các xã: Hải Ninh, Lương Ninh và thị trấn Quán Hàu Cụ thể:
+ Thu thập các Báo cáo, tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
+ Thu thập những văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trung ương và địa phương về phòng chống thiên tai, chính sách bồi thường, hỗ trợ và giải quyết việc làm của Nhà nước
- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp:
+ Điều tra tình hình ảnh hưởng sau sự cố môi trường biển tại huyện Quảng ninh + Điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình, cá nhân ngư dân bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển: Để thu thập các thông tin liên quan, những giải pháp thích ứng của cộng đồng ngư dân, việc hỗ trợ của Cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương bằng các câu hỏi thông qua phiếu điều tra
Để làm rõ ảnh hưởng của sự cố môi trường biển, tôi tiến hành điều tra 60 hộ dân bị ảnh hưởng
Trang 26+ Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các cơ quan liên quan trong quá trình triển khai: Phòng lao động và xã hội huyện Quảng Ninh, phòng Nông Nghiệp huyện Quảng Ninh, Lãnh đạo và chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường, Lãnh đạo và cán bộ tại 2
xã điều tra
2.4.3 Phương pháp so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu
+ Trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được và kết quả điều tra, tiến hành lựa chọn, phân tích tổng hợp những thông tin liên quan đến đề tài; thống kê và xử lý số liệu theo mục đích, nội dung nghiên cứu
+ Soạn thảo các tập tin bảng hỏi và nhập số liệu vào máy tính
+ Kiểm tra độ chính xác của dữ liệu nhập
+ Phương pháp so sánh: So sánh đời sống của người dân trước và sau khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB
+ Sử dụng phần mềm Excel để thống kê, so sánh
+ Phương pháp phân tích: Phân tích những tác động của sự cố môi trường biển ảnh hưởng đến đời sống của người dân Từ các số liệu được thống kê, xử lý tiến hành phân tích đánh giá cho các kết quả nghiên nghiên cứu
+ Phương pháp này giúp người nghiên cứu có nguồn dữ liệu đồng bộ, thứ tự tránh được việc dư thừa hay thiếu sót dữ liệu đầu vào
2.4.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và hình ảnh
Minh họa bằng các bản đồ, biểu đồ và hình ảnh liên quan đến đề tài nghiên cứu
để làm cho đề tài nghiên cứu sinh động hơn
Trang 27CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quảng Ninh
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Quảng Ninh có vị trí địa lí từ 17004/ đến 17026/ vĩ độ Bắc và từ 106017/đến 106048/ độ kinh Đông, là nơi hẹp nhất nước Việt Nam với chiều dài theo đường chim bay khoảng 50 km, có ranh giới:
- Phía Bắc giáp huyện Bố Trạch và thành phố Đồng Hới;
- Phía Nam giáp huyện Lệ Thủy;
- Phía Đông giáp biển Đông;
- Phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
Là cửa ngõ phía Nam thành phố Đồng Hới có các tuyến giao thông Bắc - Nam gồm đường bộ, đường sắt đi qua nên huyện Quảng Ninh có nhiều cơ hội thuận lợi trong việc phát triển kinh tế
Với vị trí địa lí thuận tiện như vậy, tạo cho huyện có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sản xuất hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, phát triển nhanh những ngành kinh tế mũi nhọn, sớm hòa nhập xu thế chung của cả tỉnh
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quảng Ninh
Trang 283.1.1.2 Khí hậu thủy văn
Huyện Quảng Ninh nằm trong vùng có khí hậu mang tính đặc trưng của các tỉnh bắc trung bộ, nhiệt độ bình quân 24,5-250C, lượng mưa bình quân khoảng 2.100-2.200ml, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa khô thường từ tháng 3 đến hết tháng 8 hàng năm, có nhiệt độ trung bình từ 26,5-270C, nhiệt độ cao nhất có khi đến 400C; mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình 22-230C, thấp nhất vào tháng 1 có khi chỉ 80C [42]
Khí hậu nóng và ẩm thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, có thể làm nhiều vụ trong một năm mà vòng sinh trưởng của cây trồng vẫn có thể đảm bảo Nếu làm thuỷ lợi tốt biết cách giữ điều hoà nước có thể đảm bảo cung cấp nước cho cây trồng trong cả năm
Sông ngòi chính chảy qua huyện này chủ yếu là sông Long Đại, một chi lưu của sông Nhật Lệ (nhánh kia là sông Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy)
Trên địa bàn huyện có 13 công trình hồ chứa nước lớn nhỏ, với tổng dung tích 128,3 triệu m3 Năm 2007 hồ Rào Đá được đầu tư xây dựng, hoàn thành cuối năm
2009, công suất 82 triệu m3 nước đảm bảo nước sản xuất 2.500 ha và nước sinh hoạt cho vùng phía Nam của huyện Hiện nay hồ Tróoc Trâu cũng đang trong quá trình xây dựng, dự kiến khi hoàn thành sẽ có công suất 10 triệu m3 nước đảm bảo cho sản xuất
và sinh hoạt cho vùng các xã phía bắc
3.1.1.3 Địa hình địa mạo
Huyện Quảng Ninh nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, nghiêng từ Tây sang Đông Toàn huyện có thể phân chia thành bốn dạng địa hình chính:
- Địa hình vùng rừng núi cao: Dạng địa hình này ở sát biên giới Việt - Lào, chiếm 57% diện tích tự nhiên, với nhiều lâm sản quý hiếm Địa hình có đặc điểm là núi cao chạy theo hướng Bắc - Nam, trong đó đan xen một số khối núi đá vôi; độ cao trung bình vùng núi từ 300 - 500 m, có một số đỉnh cao trên 1.000 m như đỉnh U Bò -
Ba Rền Do núi cao nằm gần biển nên sườn dốc và bị chia cắt lớn, nhưng nhờ lớp phủ thực vật còn khá nên hạn chế một phần tốc độ dòng chảy lũ
- Địa hình vùng gò đồi: Là phần tiếp giáp địa hình núi cao từ Bắc vào Nam, gồm các quả đồi hình bát úp liên tục chạy theo hướng Bắc Nam, có độ cao từ 50 – 100
m, độ dốc từ 5 - 25o, sườn đồi ít bị chia cắt Dạng địa hình này chiếm 26,7% diện tích
tự nhiên là nơi có nhiều thuận lợi trong việc trồng rừng lấy gỗ, trồng cây công nghiệp
có giá trị kinh tế cao (cao su, thông, tiêu ), chăn nuôi đại gia súc
- Địa hình vùng đồng bằng: Chiếm 9,5% diện tích, là vùng đồng bằng hẹp nằm giữa vùng đồi và vùng cát ven biển Vùng đồng bằng với đặc điểm có độ cao từ 0,5 – 5
m, tương đối bằng phẳng Do địa hình vùng thấp trũng, hàng năm thường bị ngập lũ và
Trang 29phù sa bồi đắp nên đất có độ phì tự nhiên cao Đây là khu vực sản xuất lương thực trọng điểm của huyện
- Địa hình vùng cát ven biển chiếm 6,7% diện tích tự nhiên và có chiều dài 19,6 km; có độ cao từ 5 - 20 m, thuận lợi cho việc phát triển du lịch Do trong vùng cát có nguồn nước ngầm khá dồi dào nên phù hợp các mô hình trang trại chăn nuôi kết hợp với nuôi trồng thủy sản và trồng rừng [42]
3.1.1.4 Tài nguyên đất đai
Toàn huyện có 5 nhóm đất chủ yếu, gồm:
- Nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 70% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên địa hình vùng núi có độ cao 50 m trở lên Nhóm đất này phát triển trên các loại đá Macmasilic, đá phiến sa, đá phiến sét Do phân bố trên vùng núi, lớp phủ thực vật còn khá nên độ phì tự nhiên còn tốt
- Nhóm đất phù sa cổ chiếm trên 4,6% diện tích tự nhiên, phân bố ở vùng gò đồi và các thung lũng đan xen Nhóm đất này có 2 loại: Đất phù sa không được bồi đắp và đất phù sa được bồi đắp Là nơi trồng cây công nghiệp dài, ngắn ngày, cây ăn quả và đồng cỏ chăn nuôi chính của huyện
- Nhóm đất mặn, đất phèn và glây (lầy thụt) chiếm 3,8% diện tích tự nhiên phân
bố ở vùng đồng bằng ven sông Long Đại và Kiến Giang; hàng năm được phù sa bồi đắp nên khá màu mỡ, nhưng do nước mặn xâm nhập trong mùa khô nên đất bị chua phèn Hiện nay nhờ được đầu tư các công trình thủy lợi ngăn mặn và hồ chứa cung cấp nước cho sản xuất hai vụ, nên đây là vùng lúa có năng suất cao nhất của huyện và tỉnh Quảng Bình
- Nhóm đất cát ven biển chiếm 5,5% diện tích tự nhiên Do cát có lượng SiO2
chiếm từ 97 - 99% nên rất nghèo dinh dưỡng và liên kết yếu, do đó thường xuyên di động, tạo ra hiện tượng cát bay, cát nhảy vào mùa gió Tây - Nam
- Đất khác chiếm 15,3% trong đó núi đá chiếm 13,7%, sông suối chiếm 1,6% Đây là loại đất bạc màu bị rửa trôi nên không phù hợp với trồng cây các loại [42]
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình kinh tế
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế của huyện Quảng Ninh đã có bước phát triển khá Đời sống ngày càng được cải thiện nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, theo hướng tăng giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và phát triển nông nghiệp toàn diện
Trang 30Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 12,05%, về cơ cấu kinh tế ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm khoảng 39,4 %, ngành công nghiệp, xây dựng khoảng 38,12 %, ngành thương mại dịch vụ khoảng 22,42 % [53]
Năm 2016, tình hình phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, thách thức; đặc biệt ảnh hưởng sự cố môi trường biển, thị trường thu hẹp, tăng trưởng tín dụng thấp, những thiệt hại nặng nề do mưa lũ xảy ra trên địa bàn huyện làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Nhưng với sự đoàn kết và quyết tâm cao của Đảng bộ, nhân dân trong huyện; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện; sự quan tâm, giúp đỡ của tỉnh nên tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện được duy trì ổn định và đạt những kết quả tích cực
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất, cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2013- 2016
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Quảng Ninh
Qua bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy giá trị sản xuất ở các ngành kinh tế của huyện Quảng Ninh có sự tăng trưởng rõ rệt Cụ thể, tổng giá trị sản xuất năm 2010 chỉ
đạt 1.333.898 triệu đồng đến năm 2013 đã tăng gấp hơn 1,15 lần (1.529.153 triệu
đồng) Trong 3 ngành kinh tế chính (Ngành NLTS, CN-XD, TM-DV) thì ngành NLTS
có giá trị sản xuất cao nhất bình quân 629.994 triệu đồng/năm, ngành TM-DV có giá
Trang 31trị sản xuất thấp nhất với trung bình 326.937 triệu đồng/năm Như vậy trong cơ cấu sản xuất của huyện Quảng Ninh thì tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên, trong những năm qua ngành TM-DV lại có tốc độ phát triển nhanh nhất với 296.393 triệu đồng (2010) đến năm 2013 đã tăng gần 1,33 lần so với năm 2010 Điều này cho thấy trong chính sách phát triển kinh tế của huyện đã có ưu tiên phát triển ngành TM-
DV ở địa phương
❖ Sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản
- Về trồng trọt: Mặc dù gặp nhiều khó khăn về điều kiện thời tiết, dịch bệnh,
nhưng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và thực hiện các giải pháp đồng bộ cùng với sự cố gắng
nỗ lực của nhân dân nên kết quả sản xuất cây trồng vụ Đông Xuân và Hè Thu đạt khá() Tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm đạt 11.419 ha, bằng 98,45% so cùng kỳ; diện tích cây lúa 8.798 ha (đạt 107,29% kế hoạch, giảm 1,65% so với cùng kỳ), năng suất đạt 55,06 tạ/ha Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 49.234 tấn (lúa 48.440 tấn, ngô 794 tấn), đạt 100,5% kế hoạch, bằng 97,51% so với cùng kỳ (giảm 1.253 tấn) Các loại cây trồng khác cơ bản đạt kế hoạch như cây lấy củ, rau đậu các loại
Tiếp tục thực hiện công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa sang các loại cây trồng khác như: ngô, dưa hấu, mướp đắng, đậu xanh…với diện tích 100,24 ha (vụ Đông Xuân và Xuân Hè 40 ha, vụ Hè Thu 60,24 ha), chủ yếu ở các xã Hàm Ninh, Lương Ninh, Vĩnh Ninh, Vạn Ninh, Hiền Ninh
- Chăn nuôi: Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển trên địa bàn nên
chăn nuôi có bước chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất tập trung và nâng cao chất lượng, hiệu quả Tại thời điểm 01/10/2016: tổng đàn trâu: 4.414 con (tăng 1,42%), tổng đàn bò: 7.630 con (tăng 8,72%), tổng đàn lợn: 28.884 con (tăng 3,41%), tổng đàn gia cầm: 390.016 con (tăng 4,06% so với thời điểm 01/4)
Công tác chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh được chú trọng; đã hoàn thành 02 đợt tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm năm 2016 theo kế hoạch đạt kết quả khá(2) Đặc biệt, UBND huyện tập trung chỉ đạo, thực hiện các biện pháp khoanh vùng kiểm soát và khống chế bệnh dịch tả lợn trên địa bàn xã Vạn Ninh, không để lây lan sang vùng lân cận
Tiếp tục tăng cường kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, triển khai cho các hộ chăn nuôi ký cam kết không sử dụng chất cấm trong chăn nuôi
- Về lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng tập trung đạt 445 ha; khoanh nuôi tái sinh
2.536 ha; rừng được chăm sóc 3.109 ha; diện tích rừng giao khoán bảo vệ 14.675ha Diện tích thu hoạch từ rừng trồng đạt 178,58 ha, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng đạt 15.095,8 m3 Hoàn thành công tác kiểm kê rừng năm 2016, độ che phủ rừng trên địa bàn đạt 71%
Trang 32- Về thuỷ sản: Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác đạt 3.081 tấn, bằng
77,6% cùng kỳ Trong đó:
Về nuôi trồng: Sản lượng đạt 1.361 tấn, bằng 82,14% so với cùng kỳ (cá 835 tấn, bằng 99,05%; Tôm các loại 519 tấn, bằng 64,31%; Cua 7 tấn)
- Về khai thác: Hiện nay trên địa bàn huyện có 01 chiếc tàu công suất 370CV
đang hoạt động đánh bắt xa bờ, số tàu thuyền còn lại ngừng hoạt động do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển Sản lượng khai thác ước đạt 1.720 tấn, bằng 74,36% so với cùng kỳ; trong đó: khai thác biển 1.162 tấn (bằng 64,41), khai thác sông, hồ, đầm 558 tấn, tăng 9,6%
- Dịch vụ nông nghiệp: Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của các
ngành nông nghiệp đã kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ nông nghiệp Giá trị sản xuất của ngành dịch vụ nông nghiệp năm 2013 đạt 13.222 triệu đồng, tăng 3,15 lần so với năm 2010, tăng 1,33 lần so với năm 2012
❖ Sản xuất Công nghiệp - Xây dựng
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 894,646 tỷ đồng, tăng 0,17% so cùng kỳ Trong đó: Công ty cổ phần ước đạt 700,177 tỷ đồng (giảm 3,06%); Công ty TNHH 73,294 tỷ đồng, tăng 23,12%; HTX 11,922 tỷ đồng, tăng 18,27%; cá thể 109,253 tỷ đồng, tăng 7,91%
Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì và có bước phát triển: Nhà máy may S&D đang thực hiện đầu tư mở rộng sản xuất, dự kiến giải quyết việc làm thường xuyên cho gần 670 công nhân; sản xuất áo quần gia công ước đạt 2.102 ngàn sản phẩm, tăng 26,22%; Nhà máy xi măng Áng Sơn II hoạt động cho ra sản phẩm Clinker tiêu thụ đạt khá, sản xuất xi măng đạt 290.974 tấn (tăng 2,83%), xi măng gia công 188.844 tấn (tăng 5,7%), clinker 536.563 tấn (tăng 6,23%); Nhà máy Tuynel Vĩnh Ninh đi vào sản xuất ổn định, sản phẩm bán ra thị trường đạt chất lượng yêu cầu với 5.845 ngàn viên, tăng 203%; Nhà máy tinh bột sắn Long Giang Thịnh sản lượng đạt 5.375 tấn (tăng 5,33%)
Tiểu thủ công nghiệp - ngành nghề nông thôn tiếp tục duy trì với các sản phẩm chủ yếu như nước mắm, khoai deo Hải Ninh, rượu Võ Xá, mộc dân dụng, các cơ sở sản xuất gạch Blốc Một số cơ sở sản xuất ở khu làng nghề thị trấn Quán Hàu hoạt động khá như: HTX mộc mỹ nghệ Phú Quý - gia công chế biến gỗ
Tuy nhiên, sản xuất TTCN còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn vốn, lãi suất
tín dụng và giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao; năng lực của các cơ sở sản xuất còn hạn chế; quy mô nhỏ lẻ, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh chưa cao, thị trường tiêu thụ chưa ổn định Ngành nghề nông thôn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế, sản phẩm nổi bật còn ít, chưa chú trọng xây dựng thương hiệu
Trang 33❖ Các ngành dịch vụ:
Thương mại dịch vụ tiếp tục ổn định và tăng trưởng, lượng hàng hoá phong phú, cung ứng kịp thời cho sản xuất và đời sống của nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Công tác kiểm tra, kiểm soát việc niêm yết giá cả, chất lượng, nguồn gốc hàng hóa, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm tại các hộ cá nhân và các chợ trên địa bàn huyện được chú trọng
Hoạt động du lịch ngày càng được đẩy mạnh; tình hình an ninh trật tự, an toàn
xã hội và chất lượng phục vụ của các điểm tham quan du lịch được đảm bảo Hoạt động giao thông vận tải cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn 1.049,7 tỷ đồng, tăng 5,84% so với cùng kỳ Doanh thu dịch vụ vận tải đạt 60,33 tỷ đồng (tăng 9,5%); trong đó: vận tải hàng hoá đạt 49,99 tỷ đồng (tăng 8,4%); vận tải hành khách đạt 10,34
tỷ đồng (tăng 15,4%).Tuy vậy, hoạt động thương mại, dịch vụ còn nhỏ lẽ, chất lượng
và hiệu quả kinh doanh của các ngành dịch vụ còn thấp, hoạt động du lịch còn mang
tính tự phát, doanh thu của ngành chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh
* Cở sở vật chất kỹ thuật của huyện
- Hệ thống đường giao thông Hệ thống giao thông của huyện khá hoàn chỉnh
đáp ứng nhu cầu của người dân Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố tương đối hợp lý trên địa bàn huyện,Giao thông đường bộ có tuyến Quốc lộ 1, đường Quốc lộ đoạn tránh thành phố Đồng Hới, đường Hồ Chí Minh hai nhánh Đông và Tây, tỉnh lộ
10 và đường 4B, đường bờ biển Hải Ninh, 12 tuyến huyện lộ, đường giao thông đô thị, đường giao thông nông thôn Đến nay toàn bộ 15 xã, thị trấn của huyện đã có đường giao thông nông thôn vào trung tâm xã, xe ô tô đi lại thuận tiện, giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội, phục vụ an ninh quốc phòng của nhân dân và các dân tộc toàn huyện Quảng Ninh Tuy nhiên hệ thống giao thông ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, có 2 Bản của xã Trường Sơn chưa có đường vào là Bản Sắt và Bản Dốc Mây Muốn vào được các Bản này phải đi theo đường rừng hết sức khó khăn, mùa mưa lũ thì hoàn toàn không vào được Bản
Do vậy, trong thời gian tới cần phải có những biện pháp, giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng hệ thống giao thông của huyện, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Thuỷ lợi của huyện: Những năm qua bằng nguồn vốn của tỉnh hỗ trợ và ngân
sách địa phương, huyện đã xây dựng được nhiều công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ Toàn huyện có 13 hồ chứa nước đã đưa vào sử dụng, 1 hồ chứa nước đang trong quá trình thi công; 37 trạm bơm điện và 103,814 km kênh mương nội đồng được xây dựng kiên cố hoá, phân bố đều trên địa bàn huyện
Trang 34Huyện Quảng Ninh hiện nay có 2 Trạm thuỷ nông: Trạm thủy nông Cẩm Ly và Trạm thủy nông Mỹ Trung Công tác quản lý khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi được đảm bảo trong mùa mưa lũ, phục vụ tưới tiêu kịp thời theo yêu cầu sản xuất Tuy nhiên, ở một số xã vùng cao do địa bàn, địa hình chủ yếu là đồi núi nên hệ thống thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn, hầu hết là tưới nhờ nguồn nước tự nhiên, vì vậy hạn chế cho việc luân canh cây trồng nhất là đối với cây trồng vụ Đông - Xuân
- Trường học, Trạm xá: Toàn huyện có 56 trường học, trong đó có 3 trường phổ
thông trung học; 16 trường trung học cơ sở, 22 trường Tiểu học và 15 trường mầm non Đến nay đã có 100% số phòng học được ngói hoá, đã xoá bỏ được chế độ học ba
2 Số km bê tông hóa giao thông nông thôn km 276.268
13 Số máy điện thoại có đến 31/12/2012 máy 9.012
15 Tỷ lệ hộ nghèo
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quảng Ninh năm 2016
Trang 35- Các công trình xây dựng khác: Như vấn đề nước sạch nông thôn, điện đã
được chính quyền huyện quan tâm Tại các xã vùng cao đã ổn định được vấn đề du canh du cư, giải quyết nước sạch ở các vùng xa đô thị, đưa điện lưới quốc gia tới 15/15
xã, thị trấn của huyện; một số Bản của xã Trường Sơn, Trường Xuân điện lưới chưa đến được thì hiện này đang triển khái Dự án cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời đảm bảo cơ bản đời sống của nhân dân những vùng này Lưu vực sông Long Đại có khả năng xây dựng thủy điện với công suất vừa và nhỏ từ 1,5 – 15Kw; Đường dây 500Kv mạch I và mạch II, đường dây 110Kv Đồng Hới – Đông Hà và đường dây
35Kv chạy qua, trạm biến áp 110Kv Áng Sơn
3.1.2.2 Điều kiện xã hội
Dân số toàn huyện Quảng Ninh năm 2016 là 47.478 người Mật độ dân số trung bình năm 2016 là 76 người/km2 và phân bố không đều, nơi có mật độ dân số cao nhất
là thị trấn Quán Hàu 1.267 người/km2, trong khi đó nơi có mật độ dân số thấp là xã Trường Sơn 5 người/km2 Điều này gây ảnh hưởng tới quy hoạch đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của vùng Nơi có mật độ dân số đông, thì vấn đề giải quyết việc làm rất cấp bách nếu không giải quyết được sẽ kéo theo tệ nạn xã hội sẽ tăng Còn nơi có mật
độ dân số thấp thì không có đủ nguồn lực để khai thác tiềm năng tự nhiên Đây chính
là vấn đề cần giải quyết của huyện trong những năm tới Với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
là 11,12 ‰, huyện cần phải làm tốt công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình cho từng vùng, thôn, xóm để ổn định và phát triển kinh tế xã hội
Về tình hình lao động: quan sát bảng 3.3 ta thấy huyện Quảng Ninh là huyện
mà lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Lao động trong huyện tính đến năm
2016 là 47.478 lao động thì lao động nông nghiệp chiếm phần lớn 62,87 Như vậy lực lượng lao động của huyện Quảng Ninh tập trung chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Chi tiết về tình hình lao động của huyện Quảng Ninh giai đoạn 2013-2016 thể hiện tại bảng 3.3,
Trang 36Bảng 3.3 Tình hình lao động của huyện Quảng Ninh giai đoạn 2013-2016
Chỉ tiêu ĐVT
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%) Tổng số
lao động
Lao động 46.047 100 46.627 100 47.139 100 47.478 100
1 Lao động
NLTS
Lao động 30.441 66,07 30.506 65,44 30.355 64,4 29.849 62,87
2 Lao động
CN-XD
Lao động 5.561 12,07 5.728 12,28 5.805 12,3 6.273 13,22
3 Lao động
TM-DV
Lao động 10.072 21,86 10.393 22,28 10.979 23,3 11.356 23,91
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Quảng Ninh
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội
3.1.3.1 Về điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi:
- Quảng Ninh có điều kiện tự nhiên, tài nguyên, cảnh quan môi trường thuận lợi cho việc phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa dạng, bền vững gồm có: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
- Tài nguyên thiên nhiên: Ở phía Tây huyện có núi đá vôi dùng để sản xuất vật liệu xây dựng; có silicat ở các xã ven biển là nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp thủy tinh Bờ biển dài 25 km có một số bãi tắm biển sạch, đẹp, có núi thần Đinh, có thể hình thành các khu du lịch - dịch vụ
- Về tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp có 99.924,03 ha, chiếm 83,85% diện tích đất tự nhiên toàn huyện chiếm tỷ trọng khá lớn trong sản xuất nông lâm nghiệp, với độ che phủ của rừng là 76,66%, có trữ lượng trên 4,3 triệu m3 gỗ Rừng còn có nhiều loại gỗ quí và nhiều lâm sản khác như song, mây…Với tài nguyên rừng nói trên sẽ là nguồn cung cấp phục vụ cho ngành trang trí mỹ nghệ, cung cấp năng lượng, nguyên liệu, vật liệu xây dựng Đây là thế mạnh của huyện Quảng Ninh trong
Trang 37việc phát triển ngành lâm nghiệp Trong tương lai, Quảng Ninh là một trong những huyện có tiềm năng tham gia vào thị trường mua bán CO2 của cả nước
- Trên địa bàn huyện có sông Kiến Giang, sông Long Đại thuận lợi cho việc giao thông đường thủy và phát triển nuôi trồng thủy sản
- Có diện tích đất phù sa lớn là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp đa dạng bền vững
- Ngoài ra huyện Quảng Ninh còn có nguồn tài nguyên nhân văn trí tuệ phong phú, cùng với truyền thống lao động cần cù sáng tạo của nhân dân, sẽ tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của huyện trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
* Khó khăn:
- Khí hậu khắc nghiệt bởi thường xuyên có bão, lụt vào mùa mưa và nắng hạn, gió Tây Nam vào mùa khô gây thiếu nước cho sản xuất
- Môi trường sinh thái bị chiến tranh và thiên tai tàn phá, mặt khác bị áp lực dân
số tăng nhanh, một số tài nguyên khai thác chưa có kế hoạch nên hiệu quả không cao
3.1.3.2 Về điều kiện kinh tế - xã hội
* Thuận lợi:
- Trong những năm qua huyện Quảng Ninh đã có những nỗ lực phấn đấu vươn lên trong quá trình phát triển kinh tế Nền kinh tế từng bước thích ứng với cơ chế mới, tiếp tục ổn định và có bước tăng trưởng khá Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển đúng hướng, nông - lâm - ngư nghiệp có tỷ trọng giảm dần, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ có tỷ trọng tăng dần Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn từng bước được tập trung đầu tư đúng hướng, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của huyện
- Nông nghiệp bước đầu đã phát triển theo hướng đa dạng, bền vững, sản xuất hàng hoá Cơ cấu cây trồng, mùa vụ được tiếp tục chuyển đổi bố trí, sắp xếp lại một cách hợp lý, bước đầu hình thành các vùng chuyên canh, thâm canh cao sản Năng suất cây trồng tăng, nhất là các giống lúa mới đã đưa vào trên địa bàn sản xuất có hiệu quả Cây công nghiệp, cây ăn quả đã và đang được đầu tư phát triển Tiềm năng vùng gò đồi đã được chú trọng khai thác, mô hình kinh tế vườn, kinh tế trang trại được hình thành Xuất hiện nhiều điển hình kinh tế vườn, kinh tế trang trại, số hộ nông dân sản xuất giỏi ngày càng tăng
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ ngày càng phát triển gắn với quá trình phân công lại lao động nông nghiệp, nông thôn Các phương tiện vận tải, máy móc thiết bị phục vụ cơ giới hoá phát triển nhanh, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Trang 38- Nguồn lao động dồi dào với đức tính cần cù, chịu khó là một nguồn lực quan trọng để xây dựng các ngành kinh tế của huyện ngày càng phát triển
- Hệ thống cơ sở hạ tầng điện - đường - trường - trạm, kênh mương thủy lợi, từng bước được đầu tư phát triển Đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt
* Khó khăn:
- Nền nông nghiệp vẫn chưa thoát ra khỏi phương thức canh tác độc canh, tỷ suất hàng hoá thấp và chưa ổn định Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề còn chậm
- Cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đồng bộ, phát huy hiệu quả chưa cao Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất đang còn chậm
- Công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch khu dân cư đô thị, nông thôn, khu công nghiệp, khu kinh tế, các làng nghề, v.v chưa được quan tâm đầu tư đúng mức
- Phát huy nội lực của nhiều địa phương còn yếu, tư tưởng ỷ lại, trông chờ đầu
tư, hỗ trợ của cấp trên đã làm hạn chế sự phát triển kinh tế trên địa bàn
- Nguồn lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, lao động được qua đào tạo ít nên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của huyện
- Đời sống của người dân đã được cải thiện, song sự phân hoá giàu nghèo vẫn đang còn, trình độ dân trí chưa đồng đều, tỷ lệ hộ đói nghèo và lao động chưa có việc làm còn cao
- Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với quá trình đô thị hóa trong những năm qua diễn ra sôi động trên địa bàn huyện Quảng Ninh tập trung vào các cụm dân cư như: Vùng Dinh Mười, Mỹ Trung xã Gia Ninh; cụm Võ Xá xã Võ Ninh, cụm khu công nghiệp Áng Sơn xã Vạn Ninh; cụm Hiền Ninh, Xuân Ninh; cụm thị trấn
Quán Hàu và xã Lương Ninh
3.1.4 Tác động của sự cố môi trường biển đến huyện Quảng ninh
3.1.4.1 Thực trạng bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do sự cố môi trường biển tại huyện Quảng Ninh
❖ Công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Trên cơ sở các văn bản của cấp trên, UBND huyện đã ban hành các Quyết định thành lập Hội đồng và Tổ giúp việc Hội đồng đánh giá thiệt hại sự cố môi trường biển Phân công trách nhiệm cho các thành viên gắn với việc phụ trách địa bàn để hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát việc triển khai theo đúng quy định các văn bản cấp trên, nhất
là thực hiện kê khai đúng đối tượng và đúng các bước theo quy trình; tham gia các cuộc họp dân (khi cần thiết) để hỗ trợ cán bộ xã trong việc hướng dẫn kê khai Đồng
Trang 39thời ban hành các văn bản đốc thúc các xã, thị trấn tiến hành triển khai, coi đây là nhiệm vụ cấp bách cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện UBND huyện đã gắn trách nhiệm của thành viên UBND huyện vào công tác bồi thường thiệt hại thông qua việc phân công địa bàn phụ trách để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và chịu trách nhiệm trước UBND huyện về những vấn đề phát sinh trên địa bàn được phân công Ngoài ra, đề xuất Huyện ủy thành lập Ban chỉ đạo và Tổ giám sát để cùng với UBND huyện kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện rà soát và thẩm định các đối tượng thuộc diện bồi thường, hỗ trợ theo Quyết định 1880/QĐ-TTg và Quyết định 309/QĐ-TTg; kiên quyết không để nhầm hoặc sót đối tượng theo quy định
Chỉ đạo UBND các xã, thị trấn thành lập Hội đồng và tổ giúp việc Hội đồng đánh giá thiệt hại sự cố môi trường biển của xã, thị trấn; đồng thời hướng dẫn các thôn/xóm thành lập Tổ công tác kê khai, thống kê các đối tượng theo đúng quy định
Đối với các xã, thị trấn còn gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, UBND huyện đã cử đại diện lãnh đạo UBND huyện và các ngành liên quan trực tiếp
về cơ sở, làm việc với các xã, thị trấn để giải quyết, tháo gỡ những vấn đề còn vướng mắc; tham gia đối thoại với các đối tượng còn có kiến nghị để giải thích cho người dân hiểu rõ, tạo sự đồng thuận trong thực hiện chính sách của nhà nước
Riêng xã Hải Ninh là địa phương có đối tượng thuộc diện đền bù, hỗ trợ nhiều nên có số tiền bồi thường lớn, UBND huyện đã thành lập Tổ hỗ trợ việc chi trả tiền bồi thường cho xã Hải Ninh để hỗ trợ xã đẩy nhanh tiến độ chi trả tiền cho các đối tượng theo quy định Đối với Công ty Cổ phần Thanh Hương, do đây là đơn vị có giá trị bồi thường lớn, có tính chất phức tạp nên UBND huyện đã chỉ đạo Công an huyện điều tra, xác minh thêm và đề xuất Huyện ủy thành lập Tổ xác minh hồ sơ trước khi chi trả tiền theo quy định
❖ Kết quả thực hiện
Đến nay, trên địa bàn huyện, các xã, thị trấn bị ảnh hưởng đã cơ bản hoàn thành
rà soát các đối tượng là chủ tàu/thuyền và lao động trên tàu/thuyền, lao động khai thác đơn giản, thường xuyên theo Quyết định 1880/QĐ-TTg (trừ xã Võ Ninh, Hàm Ninh); đồng thời tiếp tục chỉ đạo rà soát các đối tượng nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do sự
cố môi trường biển theo Quyết định 1880/QĐ-TTg và các đối tượng theo Quyết định 309/QĐ-TTg ngày 09/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ Kết quả thực hiện như sau:
Trang 40Kết quả xử lý hải sản tồn kho: trên toàn huyện lượng hải sản tồn kho gồm 34,29 tấn không nằm trong kho lạnh, kho cấp đông theo các văn bản hướng dẫn liên quan quy định nên năm 2016 các hộ không báo cáo huyện Đến ngày 31/01/2017, các
hộ mới kê khai báo cáo xã và huyện, số lượng nước mắm, ruốc đang nằm yên trong chượp, lu, vại; còn số sứa và mực đang nằm trong tủ lạnh, tủ đá, đến nay, tất cả đều chưa tiêu hủy Các hộ có hải sản đề nghị cho lập biên bản, kiểm kê và được tiêu hủy nhưng Huyện không có cơ sở để thực hiện UBND huyện Quảng Ninh đã có Báo cáo
số 80/BC-UBND ngày 25/4/2017 về việc đề xuất bổ sung phạm vi và đối tượng bị thiệt hại do sự cố môi trường biển với Hội đồng đánh giá thiệt hại sự cố môi trường biển tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT và Chi cục Thủy sản và cũng đang chờ ý kiến của Trung ương
Việc xử lý đơn thư, kiến nghị liên quan đến bồi thường sự cố do môi trường biển: từ lúc bắt đầu triển khai kê khai, thống kê, rà soát để chi trả tiền cho các đối tượng bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển đến nay, UBND huyện nhận được gần
300 đơn kiến nghị cá nhân và 13 đơn kiến nghị tập thể có liên quan UBND huyện đã
xử lý và chuyển đơn các đối tượng về các xã, thị trấn để được giải quyết, trả lời theo đúng thẩm quyền
Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong quá trình triển khai kê khai, rà soát các đối tượng được hưởng chính sách đền bù gặp rất nhiều khó khăn Vì những nguyên nhân:
- Trong quá trình thực hiện, do văn bản thay đổi nhiều lần nên việc kê khai phải thực hiện nhiều lần, gây khó khăn và mất nhiều thời gian Một số đối tượng bị thiệt hại nhưng chưa được quy định trong các văn bản
- Theo các văn bản chỉ đạo của Bộ NN&PTNT và của tỉnh, yêu cầu tiến độ thực hiện quá gấp, trong khi quy trình về kê khai, xác nhận thiệt hại phải họp cộng đồng dân cư lấy ý kiến quần chúng nhân dân, niêm yết công khai theo quy chế dân chủ cơ sở nên quá trình thực hiện không thể tránh những thiếu sót
- Việc rà soát, xác định đối tượng khai thác thủy sản đơn giản còn gặp nhiều khó khăn do người dân chưa hiểu rõ hoặc cố tình không hiểu rõ về chính sách đền bù, dẫn đến nhiều người dân (nhất là ở các thôn: Trúc Ly xã Võ Ninh, Tiền Vinh và thôn Dinh Mười xã Gia Ninh) làm đơn kiến nghị, gây áp lực với chính quyền, có ý định trục lợi chính sách
- Việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ đối với các hộ nuôi trồng thủy sản còn gặp nhiều khó khăn, do phần lớn các hộ NTTS có kiến nghị bồi thường đều không có Biên bản xác định đối tượng nuôi chết trên 70% tại thời điểm thủy sản chết Ngoài ra, cơ sở
để tính số lượng lao động mất thu nhập trong cơ sở nuôi trồng thủy sản chưa được quy định rõ ràng nên khó khăn trong việc xác định số lượng người được hỗ trợ