“Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, khách sạn, nhà hàng trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, ngành Du lịch Quảng Bình bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tác động lớn đến
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ĐẠM THỦY
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHỤC HỒI SINH KẾ CỦA HỘ DỊCH VỤ
DU LỊCH BIỂN BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN 2016
TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
HUẾ- 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ ĐẠM THỦY
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHỤC HỒI SINH KẾ CỦA HỘ DỊCH VỤ
DU LỊCH BIỂN BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN 2016
TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận do tôi tự tìm hiểu, số liệu được phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn địa phương Các kết quả nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào
Giáo viên hướng dẫn
Trương Văn Tuyển
Học viên
Nguyễn Thị Đạm Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian dài dành thời gian công sức và tâm huyết nghiêm túc làm việc, khóa luận của tôi đã hoàn thành đúng tiến độ Và để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, không thể không có sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, đồng nghiệp, sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương và người dân trên địa bàn nghiên cứu Đó là động lực giúp bản thân tôi hoàn thành khóa luận ngày hôm nay
Để hoàn thành được luận văn thạc sĩ Phát triển nông thôn này, trước tiên tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Trương Văn Tuyển đã tận tâm hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đồng thời, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến các cơ quan trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Bình, cán bộ, người dân địa phương thực hiện nghiên cứu là xã Bảo Ninh và xã Quang Phú đã tận tình cung cấp mọi thông tin có thể để tôi có đủ căn cứ thực hiện nghiên cứu này Cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi vừa học tập vừa làm việc để hoàn thành một lúc nhiều nhiệm vụ được giao
Chính nhờ sự giúp đỡ của những người quan tâm đến tôi mà bản thân vượt qua
sự hạn chế về sự hiểu biết, kiến thức, kỹ năng làm nghiên cứu để có được kết qủa ngày hôm nay Tuy đã cố gắng hết sức nhưng khóa luận còn nhiều hạn chế, rất mong nhận được sự phản biện để tôi hoàn thiện khóa luận này
Thừa Thiên Huế, tháng 11 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Đạm Thủy
Trang 5TÓM TẮT
Từ tháng 6/2016 khi sự cố môi trường biển xảy ra, tỉnh Quảng Bình gặp phải thiệt hại nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến 65 xã/phường/thị trấn thuộc 07 huyện/thành phố/thị xã của tỉnh với 8.050 tàu cá, 1.472 ha nuôi trồng thủy sản, 48.338 m3 nuôi lồng bè, 76,9 ha sản xuất muối, 138.000 lao động bị ảnh hưởng Giá trị thiệt hại theo theo Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 29/9/2016 và Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 09/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ là 3.124,785 tỷ đồng Sau 2 năm sự cố xảy ra, tình hình hoạt động sinh kế của người dân đi vào ổn định nhưng trên thực tế, trước và sau sự cố môi trường biển xảy ra, nhóm hộ DVDL đã gặp phải những thiệt hại, khó khăn gì, những lao động này đã làm gì để vượt qua giai đoạn này, những hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các bên liên quan đã giúp đỡ gì cho nhóm lao động trên và người dân cần làm gì tiếp theo để phát triển sinh kế hộ một cách bền vững Đó
là những nguyên nhân tôi chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp phục hồi sinh kế của hộ
dịch vụ du lịch biển bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển 2016 tại thành phố
Phát triển nông thôn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
+ Tìm hiểu tác động sinh kế của sự cố môi trường biển 2016 do Fomusa gây ra đối với hộ dịch vụ du lịch biển tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
+ Nghiên cứu giải pháp phục hồi sinh kế của hộ dịch vụ du lịch biển bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển 2016
+ Đánh giá quá trình và kết quả phục hồi sinh kế của hộ dịch vụ du lịch biển chịu tác động của sự cố môi trường biển năm 2016
Đề tài nhằm thống kê thiệt hại của hộ lao động DVDL biển và đề xuất các hình thức sinh kế phù hợp và bền vững cho người lao động
Sau khi tham khảo các tài liệu tham khảo có liên quan và sử dung nhiều phương pháp nghiên cứu phù hợp, nghiên cứu chỉ ra rằng:
Hoạt động DVDL biển tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình dựa nhiều vào tính truyền thống và kinh nghiệm làm du lịch cũ, ít có hoạt động dịch vụ mới lạ hấp dẫn khách du lịch, và tập trung vào các hoạt động ăn uống, cho thuê đồ tắm biển, trông dữ
xe, bán một số đồ chơi trẻ em, nghỉ dưỡng Hoạt động dịch vụ du lịch cũ thu hút nhiều người sử dụng dịch vụ nhưng giá trị mang lại không cao Một số hoạt động dịch vụ du lịch mới như dù lượn, xe lội nước, lặn biển tuy mới nhưng không thu hút được nhiều người sử dụng dịch vụ do giá thành cao không phù hợp với phần đông khách du lịch Chủ và ngay cả người làm thuê trong mảng DVDL thiếu đào tạo bài bản về dịch
vụ, trung bình 5 lao động làm dịch vụ chỉ có 1 lao động được đào tạo trên trung cấp
Trang 6Tài sản và trang thiết bi sản xuất kinh doanh của hộ là vốn sinh kế có giá trị nhất của hộ,theo quan sát những vốn vật chất này khó quy ra vốn tài chính bởi giá trị sử dụng thấp và thời hạn sử dụng còn rất ngắn Tại cả 2 xã người làm dịch vụ cần tân trang, thay mới các phương tiện sản xuất kinh doanh; nhưng nhìn chung tổng giá trị vật chất tại Bảo Ninh lớn hơn Quang Phú
Ngay sau khi sự cố môi trường biển xảy ra, dù ngắn hoặc dài, tất cả các hoạt động DVDL bị ngừng hoạt động, thời gian phục hồi tùy vào sự vận dụng các vốn sinh
kế của hộ
Cho đến nay, trung bình 78,40% lao động DVDL đã khôi phục hoạt động làm việc DVDL của mình và các lao động tốn 21 tháng để khôi phục mọi hoạt động Còn lại các lao động đã chuyển hẳn sang mảng ngành nghề khác không liên quan DVDL
Về thiệt hại tài chính, bình quân mỗi lao động DVDL thiệt hại 36,84 triệu đồng trong thời gian bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển, cao gấp đôi theo phương pháp thống kê quy định Nhà nước
Trong tình trạng thiệt hại về dịch vụ lẫn ngành nghề khác, hộ đã áp dụng nhiều giải pháp để phục hồi sinh kế, trung bình mối hộ áp dụng từ 2-4 giải pháp và mức độ hiệu quả tùy hộ nhưng nghiên cứu đã thống kê được các giải pháp có hiệu quả cao Giải pháp được áp dụng nhiều nhất là thay đổi thực đơn và chủng loại hàng hóa buôn bán với 36,36% các hộ áp dụng, chuyển sang hoạt động buôn bán khác với 13,33% số
hộ, trong thời kì khó khăn, 21,67% hộ phải vay mượn hoặc bán tài sản để phục hồi sinh kế Hoạt động quảng bá du lịch được địa phương khuyến khích không những không mang lại hiệu quả mà còn mang lại những phản ứng trái chiều từ dư luận Tỷ lệ
áp dụng các biện pháp với tỉ lệ đánh giá tính hiệu quả của giải pháp
Sau thời kì suy thoái và phục hồi của hoạt động DVDL thì sinh kế của người dân được hồi phục dần và cho đến nay thu nhập đã khôi phục đến 98,99% ( chưa tính các khoản nợ phát sinh để phục hồi sinh kế), thời gian cần để phục hồi 100% hoạt động sinh
kế và trả hết các khoản nợ phát sinh trung bình là 34 tháng tại điểm nghiên cứu
Cho đến nay các hoạt động sinh kế DVDL đã khôi phục cơ bản nhưng vấn đề về phát triển du lịch bền vững vẫn là bài toán khó đối với hộ DVDL
Nghiên cứu đề xuất các hoạt động phát triển sinh kế bền vững dựa vào cộng đồng, duy trì những nét đẹp du lịch cũ của thành phố Đồng Hới, phát triển các hoạt động dịch vụ du lịch như câu mực, câu cá biển đêm, thực đơn đa dạng hấp dẫn,quản lý
vệ sinh bãi biễn tốt hơn, phát triển các sản phẩm lưu niệm phù hợp với thị hiếu khách
du lịch Cần tham gia các lớp tập huấn nâng cao năng lực phục vụ khách
Đối với chính quyền càn tập trung xây dựng chính sách phát triển du lịch tạo cơ chế thu hút nhà đầu tư, ngoài các khu nghĩ dưỡng chất lượng cao cũng cần chú ý đến các hoạt động nghĩ dưỡng dành cho khách tầm trung
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 SINH KẾ 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Các nguồn vốn sinh kế 4
1.1.3 Kết quả sinh kế 5
1.2 HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN 5
1.2.1 Khái niệm dịch vụ du lịch biển 5
1.2.2 Phân loại dịch vụ du lịch 6
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động 7
1.2.4 Đặc điểm của hộ dịch vụ du lịch biển 7
1.3 NĂNG LỰC CHỐNG CHỊU 8
1.3.1 Khái niệm năng lực chống chịu 8
1.3.2 Ý nghĩa 9
1.3.3 Cách đánh giá năng lực chống chịu 9
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực chống chịu 10
1.3.5 Giải pháp chống chịu 10
Trang 81.4 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CHỐNG CHỊU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM 11
1.4.1 Các nghiên cứu về năng lực chống chịu trên thế giới 11
1.4.2 Các nghiên cứu về năng lực chống chịu ở Việt Nam 16
1.5 VỀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN 16
1.5.1 Quá trình ảnh hưởng của sự cố môi trưởng đến người dân tỉnh Quảng Bình 16
1.5.2 Mức độ ảnh hưởng của sự cố môi trường biển đến người dân tỉnh Quảng Bình 18
1.5.3 Các chính sách liên quan đến sự cố môi trường biển 19
1.6 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỰ CỐ 22
1.7 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP PHỤC HỒI SINH KẾ CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG BỊ ẢNH HƯỞNG KHÁC 23
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 28
2.3.1 Phương pháp chọn điểm 28
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN TẠI TP ĐỒNG HỚI VÀ CỦA HỘ NGHIÊN CỨU 29
3.1.1 Đặc điểm và tiềm năng du lịch biển TP Đồng Hới 29
3.1.2 Đặc điểm nhân khẩu, lao động của hộ dịch vụ du lịch 31
3.1.3 Tài sản và phương tiện SXKD của hộ DVDL 32
3.2 QUÁ TRÌNH ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ CỐ FORMOSA ĐỐI VỚI CÁC HỘ DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN 34
3.2.1 Quá trình ảnh hưởng HĐ dịch vụ du lich của hộ 35
3.2.2 Thiệt hại của hộ dịch vụ du lich do ảnh hưởng của sự cố 36
Trang 93.3 GIẢI PHÁP PHỤC HỒI SINH KẾ CỦA HỘ 38
3.3.1 Giải pháp giúp phục hồi sinh kế của chính quyền địa phương 38
3.3.2 Tình hình thực hiện các giải pháp phục hồi 40
3.3.3 Tiếp cận hỗ trợ nguồn lực thực hiện các giải pháp phục hồi 44
3.4 ĐÁNH GIÁ PHỤC HỒI SINH KẾ CỦA HỘ VÀ CỘNG ĐỒNG SAU SỰ CỐ 47
3.4.1 Hiện trạng phục hồi HĐ DVDL của hộ (thời điểm NC- Tháng 4/2018) 48
3.4.2 Hiện trạng phục hồi Thu nhập của hộ (thời điểm NC- Tháng 4/2018) 50
3.4.3 Hiện trạng phục hồi HĐ DVDL của cộng đồng (thời điểm NC- Tháng 4/2018) 51
3.5 PHỤC HỒI CHI TIÊU ĐỜI SỐNG (THỜI ĐIỂM NC- THÁNG 4/2018) 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
KẾT LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 62
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DVDL Dịch vụ du lịch UBND Ủy ban nhân dân BQC Bình quân chung BTC Bộ tài chính
CS Chính sách
CT Chương trình ĐVT Đơn vị tính
HĐ - DVDL Hoạt động dịch vụ du lich HTX Hợp tác xã
LK Liên kết
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về nhân khẩu hộ gia đình được nghiên cứu 31
Bảng 3.2: Tài sản và trang thiết bị sản xuất kinh doanh của hộ 33
Bảng 3.3: Quá trình ảnh hưởng thời gian hoạt động dịch vụ du lịch của hộ 35
Bảng 3.4: Thiệt hại của hộ DVDL do ảnh hưởng của sự cố 37
Bảng 3.5: Giải pháp phục hồi sinh kế của hộ 41
Bảng 3.6: Mức độ quan trọng của từng giải pháp đối với phục hồi sinh kế hộ 42
Bảng 3.7: Xếp hạng đánh giá tính khả thi của các giải pháp phục hồi 43
Bảng 3.8: Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giải pháp phục hồi 44
Bảng 3.9: Tỷ lệ hộ tiếp cận hỗ trợ 45
Bảng 3.10: Mức độ tiếp cận hỗ trợ 46
Bảng 3.11: Hiện trạng phục hồi hoạt động DVDL 49
Bảng 3.12: Hiện trạng phục hồi thu nhập của hộ 51
Bảng 3.13: Hiện trạng phục hồi hoạt động DVDL của cộng đồng 52
Bảng 3.14: Mức độ phục hồi trong chi tiêu đời sống hộ tại thời điểm nghiên cứu 53
Trang 12DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.2: Khung phân tích “khả năng chống chịu – đời sống” 9
Sơ đồ 1.2: Ứng phó với sự cố môi trường biển 10 Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Đồng Hới 29
Trang 13MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Quảng Bình có chiều dài bờ biển 116,04 km với 05 cửa sông đổ ra biển và 06 huyện/thành phố/thị xã tiếp giáp biển Sự cố ô nhiễm môi trường biển đã ảnh hưởng trực tiếp đến 65 xã/phường/thị trấn thuộc 07 huyện/thành phố/thị xã của tỉnh với 8.050 tàu cá, 1.472 ha nuôi trồng thủy sản, 48.338 m3 nuôi lồng bè, 76,9 ha sản xuất muối, 138.000 lao động bị ảnh hưởng Giá trị thiệt hại theo theo Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 29/9/2016 và Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 09/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ là 3.124,785 tỷ đồng
Trong 6 tháng đầu năm 2016, do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển ở miền Trung, lượng khách du lịch đến Quảng Bình sụt giảm nghiêm trọng “Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, khách sạn, nhà hàng trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, ngành Du lịch Quảng Bình bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tác động lớn đến đời sống của hơn 4.000 lao động trực tiếp và 7.300 lao động gián tiếp”
Do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển, năm 2017, GRDP của tỉnh chỉ đạt 5,5% năm, chủ yếu giảm tăng trưởng trong 02 lĩnh vực như nông, lâm nghiệp, thủy sản
và dịch vụ; 8.050 tàu cá, trong đó có 1.294 tàu có công suất máy chính từ 90cv trở lên khai thác xa bờ bị ảnh hưởng; toàn tỉnh có khoảng 6.756 tàu cá dưới 90cv động cơ trong khu vực từ 20 hải lý trở vào phải nằm bờ, nhiều thuyền viên không có việc làm; tàu trên 90cv vẫn hoạt động khai thác hải sản bình thường tại các vùng biển xa bờ và vùng biển xa bị giảm nhiều so với năm trước Ngoài ra, hơn 1.472 ha nuôi trồng thủy sản; 48.338 m3 nuôi lồng bè, trong đó có trên 1.060 ha nuôi trồng thủy sản, 34.800 m3 nuôi cá lồng có đối tượng nuôi bị chết hoàn toàn hoặc chết từ 70% trở lên; số còn lại bị ảnh hưởng do không thả nuôi môi trường nuôi suy giảm do chất lượng nước bị ô nhiễm nên tôm chậm lớn, xuất hiện dịch bệnh; 76,9 ha sản xuất muối và nhiều lao động làm việc trong lĩnh vực nghề muối bị ảnh hưởng Việc tiêu thụ sản phẩm thủy sản bị ảnh hưởng nên giá bán các sản phẩm hải sản giảm trung bình so với cùng kỳ Đặc biệt, việc tiêu thụ sản phẩm hải sản trên thị trường của tỉnh bị ảnh hưởng giảm sút nghiêm trọng, khó tiêu thụ
Sau 2 năm sự cố môi trường biển xảy ra, cuộc sống của người dân dần ổn định theo một mức nào đó Từ khi sự cố xảy ra, sinh kế của người dân bị xáo trộn và có nhiều thay đổi, đối với nhóm hộ dịch vụ du lịch biển, họ có thể ngừng hoạt động kinh doanh hoặc chuyển đổi hoạt động ngành nghề, phối hợp và sử dụng các vốn sinh kế khác trước đây để phát triển hoạt động tạo thu nhập của hộ; vấn đề đặt ra là: trong quá trình sự cố môi trường biển xảy ra, nhóm hộ thuộc hộ dịch vụ du lịch biển gặp sự cố như thế nào, họ mất những khoản thu nhập nào đồng thời, trong quá trình đó, nhóm hộ
Trang 14được hỗ trợ từ ai, bằng hình thức nào, tác động của sự hỗ trợ này đến sinh kế của hộ như thế nào Đối với nhóm hộ dịch vụ du lịch phải ngừng hoạt động dịch vụ du lịch thì
họ đã là gì để khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh
Nghiên cứu cho thấy tình hình của hoạt động sinh kế của các hộ hoạt động dịch vụ
du lịch của hộ trước và sau thời điểm sự cố môi trường biển như thế nào và kiến nghị những giải pháp phù hợp để khôi phục và phát triển hoạt động sinh kế hộ DVDL biển
Đó chính là những nguyên nhân tôi chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp phục hồi
sinh kế của hộ dịch vụ du lịch biển bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển 2016 tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ nông nghiệp
chuyên ngành Phát triển nông thôn
2 MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
*Mục đích nghiên cứu
Xác định được ảnh hưởng của sự cố môi trường biển đến đời sống và việc làm của lao động dịch vụ, du lịch biển, từ đó đề xuất được giải pháp thích ứng nhằm cải thiện phục hồi đời sống và việc làm của ngư dân bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển năm
2016 tại ven biển miền Trung đối với người dân ven biển thành phố Đồng Hới
*Mục tiêu nghiên cứu
+ Tìm hiểu tác động sinh kế của sự cố môi trường biển 2016 do Fomosa gây ra đối với hộ dịch vụ du lịch biển tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
+ Nghiên cứu giải pháp phục hồi sinh kế của hộ dịch vụ du lịch biển bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển 2016
+ Đánh giá quá trình và kết quả phục hồi sinh kế của hộ dịch vụ du lịch biển chịu tác động của sự cố môi trường biển năm 2016
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1 Ý nghĩa khoa học
Thống kê và đánh giá mức thiệt hại của hộ có lao động dịch vụ du lịch biển thông qua các phương pháp phù hợp và thiết thực đối với người dân Đánh giá được mức độ quay trở lại của các hoạt động sinh kế của người dân sau sự cố môi trường biển
2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các hình thức sinh kế phù hợp cho người lao động và các hộ dịch
vụ du lịch biển sau sự cố môi trường biển
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 SINH KẾ
1.1.1 Khái niệm
Có khá nhiều khái niệm về sinh kế Đề tài này sử dụng khái niệm về sinh kế theo
Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh và tác giả Chambers & Conway(1992)
Tác giả Chambers & Conway (1992) cho rằng: “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh
kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở
cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn”
Chiến lược sinh kế là cách mà hộ gia đình, nhằm sử dụng các tài sản sẵn có để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống
Một hộ gia đình có thể có nhiều nguồn cung cấp thực phẩm hoặc thu nhập, do một số thành viên nào đó đảm nhiệm Các hoạt động có thể thay đổi theo mùa, theo thời gian hoặc bị tác động bởi những sự kiện như bão lũ hoặc những thời kỳ thiếu đói (giáp hạt) Tất cả các hoạt động này cấu thành nên phương thức kiếm sống Cần hiểu rằng các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng cũng có những đặc trưng riêng biệt
về mặt kinh tế - xã hội và quyền tài sản Do vậy, họ cũng có những vấn đề, sự lựa chọn
và chiến lược sinh kế khác nhau
Các hoạt động tạo thu nhập bổ sung hoặc thay thế thường được định nghĩa là các hoạt động có thể thay thế, hoặc bổ sung cho những hoạt động tạo thu nhập truyền thống được coi là không bền vững ở các mức độ hiện tại: “Ý tưởng về sinh kế thay thế
là các hoạt động này có thể tạo ra động lực cho người dân để họ chấm dứt những họat động sinh kế thiếu bền vững đang được áp dụng, và theo đuổi những loại hình khác có tính bền vững hơn Để đạt kết quả, phương án thay thế cần phải đem lại lợi ích kinh tế Tuy nhiên… khả năng sinh lợi không phải là một nhân tố duy nhất Thái độ đối với việc giải quyết rủi ro, việc tiếp cận quyền tài sản, bối cảnh gây thương tổn và những ảnh hưởng về thể chế sẽ tạo ra những tác động tới quá trình ra quyết định của người dân Do vậy, khái niệm về các phương án thay thế trở nên phức tạp hơn nhiều Mục đích của sinh kê thay thế không chỉ là tìm ra hoạt động thay thế mà trên lý thuyết có thể đưa ra một sự lựa chọn nào đó và dự kiến sẽ thúc đẩy tính bền vững… Trên thực
tế, mục đích đó là tìm ra các giải pháp phù hợp với các chiến lược sinh kế hiện tại của người dân, và nhờ đó sẽ tạo ra tác động tích cực đến sinh kế của họ cũng như đến việc khai thác - sử dụng tài nguyên thiên nhiên”
Trang 161.1.2 Các nguồn vốn sinh kế
Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản), tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà
con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn cơ chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên
- Vốn nhân lực (Human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức
làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác
- Vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà
người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau
- Vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên
nhiên như đất, nước,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng
sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui và chất lượng nguồn nước, qui mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy sản
và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu
tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự đa dạng sinh học
- Vốn vật chất (Physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và
hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường, trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy
Trang 17móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình
- Vốn xã hội (Social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm
trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể
mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai
- Tiến trình và cấu trúc (Structure and processes) Đây là yếu tố thể chế, tổ chức,
chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế Chính
vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc (Adger, 2006)
cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau
Cuối cùng là ngữ cảnh dễ bị tổn thương Đó chính là những thay đổi, những xu
hướng, tính mùa vụ Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển được trong ngắn hạn Vì vậy trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnh người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà phải đề cập được ngữ cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chống chọi đối với những thay đổi trên hay phục hồi dưới những tác động trên
1.2 HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN
1.2.1 Khái niệm dịch vụ du lịch biển
Du lịch biển là một trong những loại hình du lịch diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu
về với thiên nhiên của con người Thiên nhiên ở đây là các cảnh quan vùng biển đảo, các bãi tắm và bãi cát, các hệ sinh thái biển, khí hậu và thế giới sinh vật trong lòng đại dương như: các loại san hô, tảo, hải quỳ, các loại cá, sinh vật phù du…
Trang 18Du lịch biển đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng mong muốn quay về với tự nhiên gần gũi với thiên nhiên của con người Mục đích chính của du lịch biển là để thỏa mãn nhu cầu nghi ngơi thư giãn vui chơi giải trí, tìm hiểu khám phá làm cho cuộc sống thêm phong phú lấy lại cảm giác vui vẻ thoải mái cho con người sau những ngày làm việc căng thẳng
Du lịch nghỉ biển rất phù hợp cho việc nghỉ cuối tuần và được nhiều du khách lựa chọn vì đây là loại hình mang tính tổng hợp đa dạng về các hoạt động vui chơi giải trí, phong phú về sản phẩm dịch vụ Lựa chọn du lịch biển, du khách sẽ được tham quan cảnh biển và tham gia các hoạt động thể thao biển như: tắm biển, lăn biển, khám phá lòng đại dương, lướt ván… và các loại hình giải trí khác
Khai thác du lịch biển sẽ khai thác được lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên
Du lịch biển kết hợp với du lịch văn hóa vùng ven biển tạo ra sự đa dạng về sản phẩm
du lịch đáp ứng được nhu cầu của khách Do vậy du lịch biển có tốc độ phát triển nhanh và là một trong những loại hình thu hút được đông nhất số lượng khách tham gia so với loại hình du lịch khác
1.2.2 Phân loại dịch vụ du lịch
Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa trong giáo trình kinh tế du lịch ( 2014)
đã phân loại dịch vụ du lịch như sau:
Phân loại tổng quát
Du lịch sinh thái, còn có nhiều tên gọi khác nhau:
Trang 19Phân loại cụ thể các loại hình du lịch
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách
Căn cứ vào phương tiện giao thông
Căn cứ theo phương tiện lưu trú
Căn cứ vào thời gian đi du lịch
Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch
Căn cứ vào thành phần của du khách
Căn cứ vào phương thức ký kết hợp đồng đi du lịch[13]
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động
Có tính thời vụ: Đối với những vùng biển có khí hậu 4 mùa rõ rệt thì du lịch biển
thường phát triển mạnh mẽ nhất vào mùa hè, thời điểm này lượng khách đến với du lịch biển rất đông, dẫn đến sự quá tải, gây ô nhiễm môi trường, chất lượng dịch vụ không đảm bảo, không thỏa mẵn được nhu cầu tiêu dùng của khách du lịch Ngược lại
về mùa đông khách đến với loại hình du lịch này không nhiều, nguồn nhân lực phục
vụ lao động không có việc làm, các cơ sở vật chất kỹ thuật bị bỏ không một thời gian dài Gây nên tình trạng lẵng phí nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các cơ sở vật chất khỹ thuật
Phụ thuộc rất lớn vào khí hậu, thời tiết: Du lịch biển gắn với tự nhiên, cảnh
quan vùng biển đảo, các bãi biển Do vậy các hiện tượng thời tiết bất thường có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động du lịch như: gió bão, sóng thần, hạn hán…làm ảnh hưởng đến tâm lý khách du lịch, kìm hãm sự phát triển du lịch, gây ra những tổn thất nặng nề về cơ sở vật chất kỹ thuật đây là kết luận của Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa ( 2004)
1.2.4 Đặc điểm của hộ dịch vụ du lịch biển
Các cộng đồng cư dân ven biển của các quốc gia có bờ biển dài nói chung có tỷ
lệ người sống dưới mức nghèo cao hơn so với mức trung bình quốc gia (Whittingham
et al., 2003) Sự phụ thuộc cao vào tài nguyên thiên nhiên khiến các cộng đồng này
Trang 20đặc biệt dễ bị tổn thương trước những thay đổi của các điều kiện nguồn lực (Pomeroy
et al., 2006) Tác động tiêu cực của thiên tai và những cú sốc lớn nhất đối với người sống phụ thuộc vào tài nguyên, đặc biệt là người nghèo sống ven biển, vì họ có ít tài nguyên nhất và khả năng phục hồi của họ là yếu nhất (Birkmann & Fernando, 2008) Trong khi một số người đã có thể thích ứng và chuyển sang các sinh kế khác sau những cú sốc đó, thì nhiều người tình hình của họ trở nên tồi tệ hơn Những nghiên cứu gần đây trong cộng đồng ven biển ở các nước Đông Nam Á cho rằng, đặc điểm sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển bao gồm đa dạng, thích ứng, ưu đãi và dễ bị tổn thương (Plummer & Armitage, 2007; Pomeroy et al., 2006) Bên cạnh đó, hạn chế
về các nguồn vốn sinh kế cũng được xem là một trong những đặc điểm rõ ràng tại cộng đồng cư dân ven biển (Kebe et al., 2009) Do vậy, phục hồi sinh kế ven biển sau những cú sốc cần phải nhìn xa hơn một sự trở lại nguyên trạng và giải quyết nguyên nhân gốc rễ của tính dễ tổn thương của cộng đồng cư dân ven biển (Campbell & Beckford, 2009) Với những đặc điểm sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển đòi hỏi phải xây dựng cả hai khả năng phục hồi để đối phó với mối đe dọa và khả năng khai thác cơ hội trong tương lai (Cinner et al., 2012) Bên cạnh đó, hiểu biết về sự đa dạng trong các hoạt động tạo thu nhập của người dân và cộng đồng ven biển, đặc biệt là trong vấn đề liên quan đến chiến lược sinh kế của họ đòi hỏi phải hiểu các phương tiện
mà các hộ gia đình và cộng đồng ở đó thích ứng và đối phó với những cú sốc và rủi ro của họ, các ưu đã thúc đẩy các quyết định của người dùng tài nguyên và nguồn dễ bị tổn thương của họ trước những căng thẳng và cú sốc (Cinner et al., 2010; Cinner et al., 2012; Maguire & Hagan, 2007; Pomeroy et al., 2006)
1.3 NĂNG LỰC CHỐNG CHỊU
1.3.1 Khái niệm năng lực chống chịu
Khái niệm “khả năng hay năng lực chống chịu” (resilience) được phát triển dựa trên ý tưởng là con người có thể vượt qua “sốc và stress” và phục hồi trở lại (Adger et al., 2005) Khả năng chống chịu phản ánh mức độ mà một hệ thống phức tạp có thể thích nghi, có khả năng tự tổ chức (so với thiếu tổ chức hoặc tổ chức bị ép buộc bởi các yếu tố bên ngoài) và mức độ mà hệ thống có thể xây dựng năng lực cho việc học
và thích nghi (Allenby & Roitz, 2003; Roitz et al., 2005) Khả năng chống chịu là khái niệm giúp hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa cú sốc, ứng phó sốc và phục hồi như là kết quả phát triển Nhiều định nghĩa đã được xây dựng thể hiện nhiều chuyên ngành khác nhau
có thể vận dụng Liên quan đến vấn đề xã hội, khả năng chống chịu xã hội được hiểu
là khả năng của các nhóm xã hội và cộng đồng để phục hồi hoặc phản ứng tích cực với các cuộc khủng hoảng (Maguire & Hagan, 2007) Theo kết quả nghiên cứu của Adger
et al (2002), nhóm tác giả này định nghĩa khả năng chống chịu xã hội là “khả năng cộng đồng hấp phụ, thay đổi do áp lực bên ngoài trong khi vẫn duy trì khả năng bền vững về sinh kế” Khái niệm này có trọng tâm về sinh kế của hộ và đã trở thành nội
Trang 21Kết quả chống chịu, phục hồi sinh kế và đời sống
Tác động gây hại
Kết quả thực hiện ứng phó
Thời điểm
bắt đầu sự cố
Thời điểm quan trắc
Ứng phó:
thích ứng, chuyển đổi
dung trọng tâm trong lập kế hoạch và thực hiện các chương trình phát triển khác nhau, bao gồm hoạt động nhân đạo (DFID, 2011), giảm thiểu thiên tai (Klein et al., 2003), thích ứng biến đổi khí hậu (Boyd et al., 2008), và an sinh xã hội (World Bank, 2011) Nghiên cứu “khả năng chống chịu” đã cụ thể hóa và xác định ba loại hình hay chiến lược ứng phó được cộng đồng vận dụng khi đối diện với sự cố cực đoan hay khủng hoảng, gồm: (i) chịu đựng; (ii) thích ứng; và (iii) chuyển đổi Nghiên cứu về khả năng chống chịu cũng cho thấy mối liên hệ đến khía cạnh khác, là “đời sống trong quan hệ với người khác” (social wellbeing) Khái niệm này giúp hiểu rõ hơn việc các hộ lựa chọn chiến lược ứng phó và phục hồi như thế nào (Béné et al 2014) Do vậy, nghiên cứu khoa học xã hội cho thấy rằng, khả năng chống chịu xã hội là một phản ứng “tự nhiên nổi lên” với thiên tai Kế hoạch quản lý khẩn cấp phải thừa nhận và xây dựng năng lực cho cá nhân (nông hộ) hay cộng đồng (tổ chức) và xác định các chỉ số cải thiện khả năng chống chịu xã hội sẽ là một lĩnh vực ưu tiên cho nghiên cứu trong tương lai.( DFID, 2001)
1.3.2 Ý nghĩa
1.3.3 Cách đánh giá năng lực chống chịu
Tiến trình đánh giá năng lực chống chịu dựa theo phương pháp tiếp cận “khả năng chống chịu – phục hồi đời sống” (Resilience – wellbeing: Béné et al 2016) và phân tích “vốn sinh kế” (livelihood capitals: DFID) để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài
Sơ đồ 1.2: Khung phân tích “khả năng chống chịu – đời sống”
(Resilience – wellbeing framework: after Béné et al 2016)
Trang 22Xác định chiến lược ứng phó sự cố: Là xác định các giải pháp, thay đổi đã được lựa chọn và áp dụng, trọng tâm nghiên cứu là giải pháp ứng phó, thích ứng (VD: thay đổi trong các hoạt động sinh kế đã có) và chuyển đổi (VD: Đa dạng hóa và phát triển hoạt động sinh kế thay thế) Phân tích giải pháp lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong mối quan hệ với đặc điểm, điều kiện của hộ và tác động của sự cố
Phân tích kết quả thực hiện các giải pháp thích ứng và chuyển đổi: là đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp thích ứng và chuyển đổi, đồng thời xem xét vai trò (ảnh hưởng) của các yếu tố về vốn xã hội và dịch vụ hạ tầng.đối với việc thực hiện các giải pháp thích ứng và chuyển đổi
Phân tích năng lực chống chịu và mức độ phục hồi: là đánh giá quá trình phục hồi sinh kế và đời sống của hộ so với mức độ thiệt hại và tác động sinh kế do sự cố gây ra, đồng thời xem xét vai trò các giải pháp thích ứng và chuyển đổi củng như mối quan hệ giữa khả năng chống chịu với đời sống
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực chống chịu
1.3.5 Giải pháp chống chịu
Thích ứng với sự cố môi trường biển là một quá trình, trong đó có những giải pháp được triển khai và thực hiện nhằm giảm nhẹ hoặc đối phó với các sự kiện thiên nhiên và lợi dụng những mặt thuận lợi của chúng ( IPCC, 2007)
Thích ứng với sự cố môi trường biển là một chiến lược ở tất cả các quy mô, có vai trò bổ trợ quan trọng trong chiến lược giảm nhẹ sự cố môi trường biển Nhiều giải pháp thích ứng cũng góp phần giảm nhẹ sự cố môi trường biển
Sơ đồ 1.2: Ứng phó với sự cố môi trường biển
Đường liền chỉ ảnh hưởng hoặc phản ứng trực tiếp Đường gián đoạn chỉ ảnh hưởng hoặc phản ứng gián tiếp ( Theo Smit 1993) Adapting to Climate Change: An
International Perspective, Springer 1996)
Sự cố môi trường biển
Tác động
Ứng phó
Trang 23Thích ứng với sự cố môi trường biển là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự quan tâm và bền bỉ không ngừng hoàn thiện, đồng thời có mối quan hệ tương hỗ với chiến lược giảm nhẹ sự cố môi trường Không có một chiến lược nào là chung nhất cho tất cả các vùng và lĩnh vực nhằm ứng phó với sự cố môi trường mặc dù nhiều nơi đã áp dụng nhiều biện pháp riêng lẻ và đem lại hiệu quả tích cực
Theo Bộ tài nguyên và Môi trường, các giải pháp thích ứng được phân chia theo phương thức thực hiện Cụ thể:
· Các giải pháp tăng cường năng lực bao gồm: 1) Nâng cao nhận thức, 2) Nâng cao năng lực xã hội, 3) Nâng cao năng lực thể chế
· Các giải pháp mang tính điều chỉnh bao gồm: 1) Can thiệp hoặc điều chỉnh kế hoạch chính sách đang thực hiện
· Các giải pháp công nghệ bao gồm việc đưa ra áp dụng các công nghệ, kỹ thuật
và năng lượng (mới và sạch)
· Các giải pháp về cơ chế chính sách
· Các giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng
· Các giải pháp sinh thái
· Các giải pháp kinh tế
1.4 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CHỐNG CHỊU TRÊN THẾ GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM
1.4.1 Các nghiên cứu về năng lực chống chịu trên thế giới
Hội chữ thập đỏ Úc 2012 đã có nghiên cứu vấn đề quan hệ: áp dụng vốn xã hội vào năng lực chống chịu thảm họa Báo cáo bàn tròn về năng lực chống chịu thảm họa quốc gia đã nêu rõ: Việc thúc đẩy năng lực chống chịu đã trở thành một phần chìa khóa của chính sách quản lý khẩn cấp và thực hành ở Úc trong nhiều thập kỷ qua Giáo sư Daniel Aldrich thuộc đại học Purdue ở Mỹ nêu bật tầm quan trọng của khái niệm vốn xã hội là yếu tố then chốt trong việc giúp mọi người chuẩn bị và chống chịu trong trường hợp khẩn cấp
Ngay từ đầu, áp dụng vốn xã hội vào năng lực chống chịu thảm họa để người dân
và cộng đồng bị ảnh hưởng bởi thiên tai để đảm bao rằng bất kì cuộc thảo luận cũng được căn cứ vào kinh nghiệm của mọi người
Nghiên cứu năng lực chống chịu: vốn xã hội trong khả năng chống chịu sau khủng hoảng của Adger đã chỉ ra: Thảm họa là một trong những sự kiện quan trọng nhát ảnh hưởng đến cư dân và cộng đồng của họ, điều đó khiến nhiều người mất mạng hơn vấn đề nổi bật như khủng bố Không may, các chương trình khắc phục thảm họa
Trang 24do Mỹ và chính phủ nước ngoài điều hành đã không cập nhật những kiến thức mới về bản chất thiết yếu của vốn xã hội và mạng lưới xã hội cần tái định hướng các chương trình chống chịu và chống chịu thảm họa ở tất cả mọi tầng lớp xã hội, tập trung vào cơ
sở hạ tầng đối với tất cả mọi người nhằm tập trung vào cơ sở hạ tầng, và hạ tầng xã hội Các tổ chức xã hội và sự tin tưởng giữa các công dân trong cộng đồng bị ảnh hưởng bởi thiên tai có thể giúp chúng ta hiểu tại sao một số khu phố ở các thành phố như như Kobe, Nhật Bản, Tamil Nadu, Ấn Độ và New Orleans, Louisiana thể hiện khả năng chống chịu Vốn xã hội – động cơ chống chịu – có thể được làm sâu sắc hơn thông qua các sáng kiến địa phương và các can thiệp từ các cơ quan nước ngoài Ayers trong nghiên cứu Thích ứng dựa vào cộng đồng đối với biến đổi khí hậu: Tăng cường chống chịu thông qua phát triển
Các nỗ lực quốc tế để giảm thiểu CO2 và các khí nhà kính khác vẫn chưa làm chậm tốc độ nóng lên toàn cầu Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu dự đoán những thay đổi nhanh chóng về khí hậu ngay cả khi khí phát thải và khí nhà kính giảm nhanh và những phát hiện gần đây cho thấy những
dự báo này đã bị đánh giá thấp Kết quả là những nhu cầu hỗ trợ thích ứng ở các nước đang phát triển cực kỳ cấp bách
Mô tả các thích ứng trong các điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con người
để ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu Cho đến gầy đây, sự thích ứng là một chủ đề gây tranh cãi trong các cuộc tranh luận về chính sách biến đổi khí hậu, nhiều ý kiến cho rằng sự thích nghi với các thích ứng được coi là tập trung tại địa phương, trong thời gian ngắn hạn thì không gây tốn kém có thể làm giảm các nỗ lực giảm thiểu sự tốn kém cho thế giới Thủy triều đang lên do tiến trình giảm nhẹ cùng với các bằng chứng về tác động lớn hơn và nhanh hơn của biến đổi khí hậu so với những dự báo trước đây của IPCC, sự thích nghi là vững chắc trong chương trình nghị
sự của chính sách quốc tế bị thiếu hụt trong biến đổi khí hậu Báo cáo về sự thay đổi này, Gore đã nêu trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tờ Economist “ Tôi từng nghĩ rằng thích ứng được giảm đi trong nỗ lực phòng chống của chúng tôi, chúng tôi đồng ý rằng các nước nghèo rất dễ bị tổn thương và cần sự giúp đỡ của chúng tôi.”
Một số đề xuất phát triển kêu gọi cách tiếp cận dựa vào cộng đồng để thích ứng
sự thích ứng dựa vào cộng đồng hoạt động ở cấp địa phương trong các cộng đồng dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu Nó xác định, hỗ trợ và thực hiện các hoạt động phát triển dựa vào cộng đồng để tăng cường năng lực của người dân địa phương để thích ứng với cộng đồng để tăng cường năng lực của người dân địa phương để thích ứng với cuộc sống trong môi trường ít rủi ro và ít có thê dự đoán trước được Hơn nữa, thích ứng dựa vào cộng đồng tạo ra các chiến lược thích ứng thông qua các chương trình có
sự tham gia, liên quan đến các bên liên quan tại địa phương và các nhân viên phát triển
Trang 25và giảm nhẹ rủi ro thiên tai Điều đó xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn văn hóa hiện có
và giải quyết mối quan tâm phát triển địa phương khiến người dân dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu ngay từ đầu Hội nghị quốc tế về thích ứng dựa vào cộng đồng đã được các tổ chức quốc tế tổ chức và nghĩ tới từ năm 2005, với các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và các tổ chức phát triển trong số những người tham
dự Các dự án thích ứng dựa vào cộng đồng đang hoạt động tại các cộng đồng dễ bị tổn thương trong việc phát triển tại các nước phát triển
Tuy nhiên những thách thức cơ ban và sự không chắc chắn về việc giải thích chính sách thích ứng, từ đó ảnh hương đến việc thực hiện thích ứng dựa vào cộng đồng Thích ứng với biến đổi khí hậu là gì? Ai hoặc điều gì thích nghi và làm thế nào? Việc thích ứng với quy mô lớn hơn như thế nào? Cuộc tranh luận ban đầu về thích ứng dựa vào cộng đồng và thích ứng nói chung đang vật lộn với câu hỏi này Ngoài ra, các
ví dụ ở các cộng đồng dễ bị tổn thương ở Bangladesh giúp làm sáng tỏ vai trò và giá trị thích ứng dựa vào cộng đồng, những hạn chế của nó, và tiềm năng của nó có thể giúp tích hợp những lo ngại về tính dễ bị tổn thương và phát triển vào chính sách biến đổi khí hậu rộng hơn
Trong nghiên cứu của mình vào năm 2012, Béné và cộng sự đưa ra giả thuyết: Khả năng chống chịu là không tưởng trong nghiên cứu “Xác định lại tiềm năng và giới hạn của khái niệm khả năng chống chịu liên quan đến các chương trình giảm lỗ hổng” Khả năng chống chịu đang trở nên có ảnh hưởng trong các lĩnh vực phát triển
và giảm thiểu rủi ro như bảo vệ xã hội, giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Các nhà hoạch định chính sách, các nhà tài trợ và các cơ quan phát triển quốc tế hiện đang ngày càng đề cập đến thuật ngữ này Trong bối cảnh đó, mục tiêu của bài báo này là để đánh giá một cách quan trọng những lợi thế và hạn chế khả năng chống chịu Trong khi đánh giá nêu bật một số yếu tố tích cực - đặc biệt là khả năng của thuật ngữ để thúc đẩy tiếp cận tích hợp giữa các ngành - nó cũng cho thấy khả năng chống chịu có những hạn chế quan trọng Đặc biệt nó không phải là một khái niệm vì người nghèo, và mục tiêu của giảm nghèo không thể đơn giản được thay thế bằng xây dựng khả năng chống chịu
Còn trong nghiên cứu “Khả năng chống chịu, nghèo đói và phát triển”, ông khẳng định :Khả năng chống chịu đã trở nên nổi bật trong nghiên cứu nơi nó được sử dụng như một khuôn khổ trung tâm trong các lĩnh vực như sinh thái học, thích ứng với biến đổi khí hậu hoặc quy hoạch đô thị Các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan phát triển quốc tế cũng ngày càng đề cập đến nó Mục tiêu của bài viết này là để đánh giá những ưu điểm và giới hạn của khả năng chống chịu trong bối cảnh phát triển Mặc
dù đánh giá nêu bật một số yếu tố tích cực — ví dụ, khả năng thúc đẩy một cách tiếp cận tích hợp — nó cũng cho thấy khả năng chống chịu có những hạn chế quan trọng Đặc biệt, nó không phải là một khái niệm vì người nghèo, theo nghĩa nó không chỉ áp
Trang 26dụng cho, hoặc có lợi cho người nghèo Như vậy, xây dựng khả năng chống chịu không thể thay thế giảm nghèo (Béné, C., Godfrey-Wood, R., Newsham, A., Davies, M., 2012)
Trong nghiên cứu “Thiết kế, giám sát và đánh giá các can thiệp khả năng chống chịu: các cân nhắc mang tính khái niệm và thực nghiệm” đã kết luận rằng: Khi lập trình khả năng chống chịu ngày càng nổi bật hơn như là một cách tiếp cận để giải quyết tính dễ bị tổn thương mãn tính của quần thể tiếp xúc với những cú sốc và những căng thẳng thường xuyên, thực nghiệm bằng chứng là cần thiết để đo lường các hộ gia đình, cộng đồng và hệ thống tốt như thế nào quản lý những cú sốc và căng thẳng và cách can thiệp và chương trình được thiết kế đểtăng cường năng lực, thực hiện Tuy nhiên, bất chấp tiến bộ về mặt khái niệm, các học giả, các nghiên cứu viên và các nhà tài trợ vẫn đang vật lộn với các vấn đề thực dụng - đặc biệt, cách đo lường, giám sát và đánh giá các biện pháp can thiệp khả năng chống chịu Vì vậy, khuôn khổ đo lường khả năng chống chịu và giám sát và đánh giá (M & E) là một sự ưu tiên Mục tiêu của bài viết này là để đóng góp vào chương trình này Sau khi xem xét một số các tiến bộ được thực hiện gần đây liên quan đến đo lường khả năng chống chịu, thông qua một logFram và sử dụng cả hai ví dụ lý thuyết và thực nghiệm để trình bày các thành phần khác nhau mà một dự án M & E cần bao gồm để theo dõi đầy đủ (Béné, C., Evans, L., Mills, D., Ovie, S., Raji, A., Tafida, A., Kodio, A., Sinaba, F., Morand, P., Lemoalle, J., Andrew, N., 2011)
Còn đối với Berkes và cộng sự, từ những năm 1998 ông đã cho xuất bản nghiên cứu “Liên kết các hệ thống xã hội và sinh thái cho khả năng chống chịu và bền vững”.Nghiên cứu của ông chỉ ra rằng : Liên kết thực tiễn quản lý hệ thống xã hội và sinh thái và cơ chế xã hội để xây dựng khả năng chống chịu Clive Ponting (1991) đã
mô tả lịch sử thế giới về quản lý tài nguyên thiên nhiên như là một "tượng đài cho sự thiển cận của con người" Gần đây, thất bại của các hệ sinh thái "được quản lý" quy
mô lớn đã thách thức lý thuyết và thực hành quản lý tài nguyên thiên nhiên Con người
có bị kết án phá hủy hệ sinh thái không? Điều này là do thiếu hiểu biết về các hệ sinh thái? Có phải do những khó khăn trong việc chế tạo các chế độ quản lý tài nguyên thân thiện không? Những vấn đề này có liên quan không?
Berkes và Folke (1998) khám phá những câu hỏi này từ góc độ liên ngành Trong cuốn sách của mình, Liên kết xã hội và sinh thái hệ thống: Thực tiễn quản lý và cơ chế
xã hội cho xây dựng Khả năng chống chịu, họ sử dụng các khái niệm tổ chức của khả năng chống chịu, định nghĩa là khả năng của một hệ thống hấp thụ rối loạn, để thu hẹp khoảng cách truyền thống giữa nghiên cứu xã hội, trong đó tập trung vào các tổ chức,
tổ chức và thực tiễn xã hội, và nghiên cứu sinh thái, tập trung vào các động thái học chéo của các hệ sinh thái
Trang 27Cuốn sách trình bày 12 nghiên cứu điển hình ghi lại mối liên hệ giữa các hệ sinh thái đàn hồi trên một mặt và các hệ sinh thái, con người và công nghệ, kiến thức sinh thái địa phương và quyền sở hữu đối với người khác Các trường hợp được nhóm lại theo ba chủ đề: xung đột giữa các tổ chức quy mô lớn và địa phương, động lực lâu dài của các hệ thống quản lý địa phương và tác động của các kế hoạch bảo tồn khu vực đối với hành động địa phương
Tập hợp các nghiên cứu điển hình đầu tiên đề cập đến sự tương tác giữa các tổ chức được chế tác tại địa phương dựa trên kiến thức sinh thái địa phương và các chế
độ quản lý quốc gia thúc đẩy các hoạt động khai thác khoa học Các chủ đề được đề cập trong các nghiên cứu trường hợp nằm trong khoảng từ vai trò hồi sinh của thực tiễn sinh thái truyền thống, thận trọng sử dụng refugia trong làng Ấn Độ (Gadgil et al.) Thông qua các cuộc đấu tranh giữa người dân địa phương và chính phủ quốc gia trong Dalecarlia, Thụy Điển, qua hệ thống thừa kế quyền sử dụng đất và (Sporrong) để nói chuyện về thực hành đánh bắt cá giữa các nhà khoa học và ngư dân địa phương ở Iceland ( Béné, C., Newsham, A., Davies, M., Ulrichs, M., Godfrey-Wood, R., 2014) Các nghiên cứu trường hợp khám phá các quỹ đạo dài hạn của các hệ thống quản
lý địa phương kiểm tra câu hỏi, "Làm khủng hoảng nuôi dưỡng thể chế học tập?" Berkes điều tra sự khủng hoảng tài nguyên mà Cree đối diện ở Tiểu vùng Canada đã dẫn đến việc học tập thể chế như thế nào Begossi so sánh cách thức mà nhân dân hai nước neotraditional Brazil đã thích nghi với môi trường rừng của họ: các caiçaras trong rừng Đại Tây Dương đã chế tác nguyên tắc chủ yếu dựa vào các mối quan hệ họ hàng, trong khi caboclos ở lưu vực sông Amazon đã thành lập hợp pháp quy định chế quản lý tài sản chung Warren và Pinkston mô tả sự tương tác giữa xã hội Yoruba và rừng mưa tại Ara, Nigeria Hanna theo dõi những cách thức mà việc chế tạo và thực thi quy tắc đã định hình việc quản lý nghề nuôi ngao vỏ ở bang Maine trong hai thế kỷ qua
Tập hợp các nghiên cứu điển hình cuối cùng khám phá xem các hệ thống khu vực sâu sắc được nhúng vào các khuôn khổ pháp lý quốc gia như thế nào Alcorn và Toledo làm nổi bật vai trò của quyền tài sản trong quản lý cộng đồng rừng của Mexico Niamir-Fuller mô tả các cơ chế được phát triển và sử dụng bởi các nhà mục avụ để duy trì môi trường tự nhiên của chúng trong vùng khí hậu khô hạn bán khô hạn của Sahel Jodha thảo luận về sự suy giảm và điều kiện cho việc khôi phục các chế độ quản lý tài nguyên thân thiện ở vùng Himalaya của Hindukush Finlayson và McCay khám phá mối liên hệ giữa chính sách Canada và quốc tế, sự ra đời của các công nghệ đánh cá mới, và sự sụp đổ của nghề cá tuyết ở Newfoundland, Canada, vào đầu những năm 1990 Cuối cùng, Pinkerton mô tả cách Eagle Clan của Gitksan sử dụng một phương pháp kết hợp liên quan đến kiến thức truyền thống và sinh thái cảnh quan phương Tây để tạo ra một kế hoạch khai thác bền vững ở miền bắc British Columbia, Canada.( Béné, C., Waid, J., Jackson-deGraffenried, M., Begum, A., Chowdhury, M., Skarin, V., Rahman, A., Islam, N., Mamnun, N., Mainuddin, K., Shah, M.A., 2015)
Trang 281.4.2 Các nghiên cứu về năng lực chống chịu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, gần đây nhất nghiên cứu của Trương Văn Tuyển, Christophe Béné
và Trương Quang Dũng cho thấy: "Cuộc khủng hoảng thủy sản thế giới" đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách cũng như đặt ra câu hỏi về tính bền vững của nghề cá Khi cố gắng hiểu tác động của cuộc khủng hoảng đối với cuộc sống và sinh kế của các cộng đồng đánh bắt cá, các khái niệm về năng lực chống chịu và phúc lợi cung cấp các khung phân tích đầy hứa hẹn để bắt đầu (Armitage et al 2012) Tuy nhiên, một giả định có liên quan trong nghiên cứu là phúc lợi và năng lực có thể được đặc trưng bởi một số sự cân bằng như khả năng cá nhân hoặc hộ gia đình vượt qua những cú sốc hoặc duy trì những căng thẳng lâu dài đôi khi có thể đạt được một số khía cạnh hoặc khiến họ trở nên tốt đẹp hơn: "Có thể một người thực sự là cả hai đàn hồi và tốt, hoặc làm các yếu tố cũ không tránh khỏi việc giảm, hoặc thỏa hiệp ngay lúc đó hoặc sau này?" Bài viết đã khám phá
sự tồn tại của mối quan hệ tiềm năng giữa việc trở nên tốt hơn và năng lực chống chịu trong bối cảnh của các cộng đồng đánh cá ven biển ở Việt Nam Các hộ gia đình đánh
cá đã được tìm thấy để áp dụng một loạt các phản ứng với một cú sốc phạm vi đa dạng phải đối mặt với họ Thực tế phổ biến là các hộ gia đình áp dụng một loạt các phản ứng đối với nhiều cú sốc và tích lũy Phản ứng và chống chịu không bị ảnh hưởng bởi
sự giàu có của hộ gia đình, sự cân bằng giữa năng lực chống chịu và phúc lợi nói chung vẫn chưa rõ ràng từ dữ liệu này Điều này ngụ ý chính sách phát triển nghề cá phù hợp trong bối cảnh này là nhằm tăng cường khả năng chống chịu thông qua đa dạng hóa nghề cá và sinh kế phi nghề cá ( Trương Văn Tuyển, 2017)
1.5 VỀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.5.1 Quá trình ảnh hưởng của sự cố môi trưởng đến người dân tỉnh Quảng Bình
Sự kiện môi trường biển miền Trung bắt đầu vào ngày 6/4/2016, tại vùng biển Vũng Áng và các xã Kỳ Lợi, Kỳ Hà (TX Kỳ Anh, Hà Tĩnh) xuất hiện hiện tượng cá chết rải rác Từ ngày 10/4, nhiều ngư dân sống ven biển xã Quảng Đông (Quảng Trạch
- Quảng Bình) phát hiện cá chết tấp vào bờ Liên tiếp mấy ngày sau đó ngư dân vùng biển xã Nhân Trạch (huyện Bố Trạch), Bảo Ninh (TP.Đồng Hới) và Ngư Thủy (huyện
Lệ Thủy)… cũng phát hiện nhiều loại cá chết bất thường nổi trên mặt nước và trôi dạt vương vãi khắp bờ biển Hiện tượng cá chết tiếp tục lan vào phía Nam Cụ thể, từ ngày
16 - 19/4, khoảng 20km bờ biển huyện Vĩnh Linh và Gio Linh (Quảng Trị) xuất hiện
cá chết hàng loạt Ở Thừa Thiên - Huế, cá chết bắt đầu từ 15 - 21/4, tại bãi biển các huyện Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc, sau đó lan vào đầm Lập An (thị trấn Lăng Cô)
và xã Lộc Vĩnh (huyện Phú Lộc)…Sau đó, tập đoàn Formosa đã nhận trách nhiệm, xin lỗi Chính phủ, toàn thể nhân dân Việt Nam và bồi thường 500 triệu USD
Trang 29Quảng Bình có 18 xã ven biển sống bằng nghề đánh bắt hải sản, với 15.000 người trực tiếp đánh bắt thủy sản và 45 ngàn người sống bằng dịch vụ nghề cá Theo
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình, trên địa bàn tỉnh có hơn 8.000 tàu cá khai thác thủy hải sản trên biển và các cửa sông lớn, trong đó 1.359 tàu đánh bắt xa bờ Năm 2017, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 71.000 tấn, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2016 (trong đó sản lượng khai thác gần 59.500 tấn; sản lượng nuôi trồng thủy sản trên 11.600 tấn).Theo kết quả kê khai, tổng giá trị thiệt hại của Quảng Bình hơn 2.138 tỷ đồng Trong đó về khai thác thủy sản có 7.584 tàu với gần 14.400 lao động, giá trị thiệt hại là hơn 1.170 tỷ đồng Nuôi trồng thủy sản 1.580ha, giá trị thiệt hại gần 320 tỷ đồng Lao động trực tiếp bị thiệt hại gần 27.000 người, giá trị thiệt hại trên 442 tỷ đồng Lao động gián tiếp bị thiệt hại gần 11.000 người, giá trị thiệt hại trên 186 tỷ đồng
Du lịch Quảng Bình bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng khiến đời sống của hơn 4.000 lao động trực tiếp, 7.300 lao động gián tiếp và hơn 30.000 lao động trong các ngành dịch vụ đi kèm bị ảnh hưởng nặng nề Nhiều cơ sở lưu trú, nhà hàng, các cơ sở kinh doanh du lịch dịch vụ phải giảm lao động, cho nhân viên nghỉ việc đến 50%, đa số là lao động có tay nghề, 12.000 lao động có nguy cơ mất việc làm, nhiều khách sạn ba sao trở lên, nhiều nhà hàng đang triển khai phải dừng thi công; nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch phải đóng cửa, ngừng hoạt động và phải trả lãi vay hằng tháng cho ngân hàng rất lớn, ước tính thiệt hại trên hàng chục ngàn tỉ đồng
Trong đợt chi trả đầu tiên, tỉnh Quảng Bình được Chính phủ giao tạm ứng 1.100
tỷ đồng Trong đó, huyện Lệ Thủy gần 105 tỷ đồng, huyện Quảng Ninh hơn 116 tỷ đồng, thành phố Đồng Hới hơn 141 tỷ đồng, thị xã Ba Đồn gần 108 tỷ đồng, huyện Quảng Trạch hơn 230 tỷ đồng và huyện Bố Trạch là gần 300 tỷ đồng Lãnh đạo tỉnh Quảng Bình lưu ý việc chi trả phải dựa trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương Phải phổ biến cho người dân, công khai danh sách niêm yết bảo đảm dân chủ, minh bạch, đúng đối tượng Theo đó, mức độ thiệt hại cao nhất là những chủ tàu lắp máy công suất trên 400 CV với 30 triệu đồng/tàu mỗi tháng Mức này giảm dần theo công suất tàu, thấp nhất là tàu không lắp máy với mức hơn 5 triệu đồng/tàu mỗi tháng Đối với người lao động trên tàu cá, lao động thủ công liên quan đến nghề cá bị mất thu nhập mức thiệt hại từ 3,5 triệu đồng đến hơn 9 triệu đồng/người/tháng Nghề muối và các hoạt động nuôi trồng thủy hải sản nước mặn và
lợ cũng được xác định thiệt hại với nhiều mức khác nhau Mức thiệt hại này được xây dựng dựa trên số liệu niên giám thống kê điều tra kinh tế năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016 của tỉnh Quảng Bình, từ các chủ tàu khai thác hải sản, người làm nghề nuôi trồng thủy hải sản, số liệu do ngư dân cung cấp Đến nay Quảng Bình đã được chi trả 80% dự toán ban đầu
Trang 30Cho đến nay, cuộc sống của ngư dân dần dần ổn định sau sự cố môi trường biển
và nhận được các mức đền bù khác nhau, sau khi nhận được đền bù từ sự cố môi trường biển, người ngư dân đã dần ổn định lại cuộc sống Tuy nhiên, một số vấn đề vẫn được quan tâm và nên đưa vào thảo luận như sau: sự cố môi trường biển ảnh hưởng như thế nào đối với hộ sống bằng nghề biển; với mức chi trả trung bình mỗi hộ
từ trên 45 đến hơn 200 triệu đồng cho mỗi hộ thì nguồn tiền này được hộ sử dụng như thế nào để đảm bảo khôi phục sinh kế và sử dụng có hiệu quả; sau sự cố môi trường biển người dân có hoạt động sinh kế gì để khôi phục và phát triển kinh tế, những chính sách của địa phương giúp ích gì cho ngư dân
Đối với các hộ dịch vụ và sống nhờ hậu cần nghề cá mức đền bù được xếp thấp nhất thì trong và sau khi sự cố môi trường biển xảy ra, người dân cần làm gì để duy trì cuộc sống, sự e ngại của người dân về chất lượng thủy hải sản, chất lượng nguồn nước vần còn, lượng khách du lịch, khách du lịch nội địa suy giảm nghiêm trọng, người dân
đã và đang làm gì để duy trì và phát triển sinh kế; chuyển đổi ngành nghề khác đối với ngư dân là khó khăn bởi ngư nghiệp hầu như là nghề duy nhất người dân từng làm
1.5.2 Mức độ ảnh hưởng của sự cố môi trường biển đến người dân tỉnh Quảng Bình
Theo Báo cáo tình hình kinh tế xã hội thành phố Đồng Hới năm 2017 ( 2017), trong 6 tháng đầu năm 2016, do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển ở miền Trung, lượng khách du lịch đến Quảng Bình sụt giảm nghiêm trọng “Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, khách sạn, nhà hàng trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, ngành Du lịch Quảng Bình bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tác động lớn đến đời sống của hơn 4.000 lao động trực tiếp và 7.300 lao động gián tiếp”
Còn báo cáo Tình hình kinh tế xã hội thành phố Đồng Hới năm 2016 (2016) đánh giá rằng để khắc phục khó khăn, Quảng Bình đã đưa ra các chương trình kích cầu du lịch, giảm giá các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, giảm 30% vé tham quan cho khách đến động Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường… Tuy nhiên, tổng số khách du lịch đến Quảng Bình chỉ đạt hơn 1,3 triệu lượt khách, giảm 20,3% so với cùng kỳ 2015
Trước tình hình trên, Quảng Bình kiến nghị Chính phủ chỉ đạo giải quyết triệt để
sự cố môi trường biển, tạo điều kiện để khôi phục các ngành kinh tế biển nói chung và
du lịch nói riêng Tỉnh này cũng kiến nghị có giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp về thuế, đất đai, tín dụng và cung cấp gói hỗ trợ cho tỉnh, bù đắp thiệt hại cho doanh nghiệp để khắc phục hậu quả sự cố môi trường biển do Formosa gây ra
Một vấn đề khác nhận được sự quan tâm trong ngành Du lịch là tình trạng xuyên tạc văn hóa, lịch sử của các hướng dẫn viên Phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Nguyễn Xuân Bình cho biết, Hải Phòng đã tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện và
có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn “Không để các doanh nghiệp du lịch nước
Trang 31ngoài núp bóng hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố làm ảnh hướng đến uy tín, chất lượng và thương hiệu du lịch Hải Phòng”, ông Bình nói
Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Nguyễn Ngọc Thiện cho biết, mục tiêu đề ra tại chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Đến năm 2020 sẽ thu hút 14 – 15 triệu lượt khách du lịch quốc tế, đóng góp 9-10% GDP, tổng thu từ khách du lịch đạt 29 – 32,5 tỷ USD, tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 1 triệu việc làm trực tiếp
Để ngành Du lịch cất cánh, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo mục tiêu đề ra, theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, trước tiên cần phải nhận thức như thế nào về du lịch với tư cách là một ngành kinh tế Đây là ngành kinh tế dịch vụ mang nội dung văn hóa, có tính chất tổng hợp liên ngành, liên vùng Đề án cần đưa ra được thước đo cụ thể, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của ngành Du lịch như thế nào chứ không đơn thuần chỉ là thống kê bao nhiêu khách du lịch đến Việt Nam mỗi năm
Để khắc phục khó khăn, Quảng Bình đã đưa ra các chương trình kích cầu du lịch, giảm giá các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, giảm 30% vé tham quan cho khách đến động Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường… Tuy nhiên, tổng số khách du lịch đến Quảng Bình chỉ đạt hơn 1,3 triệu lượt khách, giảm 20,3% so với cùng kỳ 2015 (Báo cáo tình hình kinh tế xã hội thành phố Đồng Hới, 2016)
1.5.3 Các chính sách liên quan đến sự cố môi trường biển
Bộ LĐ-TB&XH ban hành công văn 2687/LĐTBXH-VL( 2014) hướng dẫn hỗ trợ người lao động bị thiệt hại do sự cố môi trường biển thuộc 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Các lĩnh vực hỗ trợ gồm đào tạo nghề nghiệp, việc làm và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Công văn 2687/LĐTBXH-VL nhằm cụ thể hoá việc thực hiện khoản 9 phần E Điều 1 Quyết định số 12/QĐ-TTg ngày 6/1/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án “Xác định thiệt hại, thực hiện bồi thường, hỗ trợ; khôi phục sản xuất và đảm bảo
an sinh xã hội cho người dân bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế”
Bộ LĐ-TB&XH xây dựng chương trình hỗ trợ đào tạo sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng; đào tạo theo trình độ trung cấp, cao đẳng
Về đào tạo nghề sơ cấp và dưới 3 tháng Đối tượng của chương trình là người học thuộc hộ gia đình có cá nhân có tên trong danh sách bị thiệt hại do sự cố môi trường biển được UBND cấp huyện phê duyệt
Mức hỗ trợ tối đa 6 triệu đồng/người/khóa học Trường hợp chi phí đào tạo lớn hơn 6 triệu đồng, người học tự chi trả phần kinh phí chênh lệch cho cơ sở đào tạo
Trang 32Trường hợp chi phí đào tạo bằng hoặc thấp hơn 6 triệu đồng, người học được hỗ trợ chi phí đào tạo theo số chi thực tế
Hỗ trợ tín dụng học sinh, sinh viên
Đối tượng là người học thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển tham gia khóa đào tạo trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp có nhu cầu vay vốn tín dụng học sinh, sinh viên Mức vay, lãi suất vay Mức vay: tối đa 1.500.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên Lãi suất: 0,55%/tháng Trường hợp Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức vay, lãi suất vay vốn tín dụng học sinh, sinh viên thì áp dụng theo quy định mới
Về hỗ trợ đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng:
Mức hỗ trợ tối thiểu bằng mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ cao đẳng, trung cấp tại các cơ sở giáo dục công lập chưa tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư
Mức hỗ trợ tối đa không vượt quá mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ cao đẳng, trung cấp tại các cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 86/2015/NĐ-CP
Thời gian hỗ trợ: Đối với người học nhập học trong thời gian từ tháng 4 năm 2016 đến ngày 31/12/2018, thì được hỗ trợ học phí từ ngày nhập học đến khi kết thúc khóa học Đối với người học nhập học trước tháng 4/2016 thì được hỗ trợ học phí từ tháng 4/2016 đến khi kết thúc khóa học( Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) và Ủy ban Y tế Hà Lan Việt Nam, 2016)
Hỗ trợ tạo việc làm
Về hỗ trợ vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm:
Quyết định 2687/LĐTBXH-VL quy định: Lãi suất vay vốn bằng 50% mức lãi suất cho vay đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định
Về hỗ trợ việc làm, giới thiệu việc làm Người lao động thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, trang thông tin điện
tử đăng ký tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí tại các Trung tâm dịch vụ việc làm Căn cứ nhu cầu của người lao động thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển, Trung tâm dịch vụ việc làm tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động theo các hình thức sau đây: Tư vấn trực tiếp; tư vấn tập trung; các phiên giao dịch việc làm; tư vấn qua điện thoại, trang thông tin điện tử
Trang 33Về hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh nhận người lao động vào làm việc:
Hồ trợ kinh phí đào tạo
Công văn 2687/LĐTBXH-VL quy định, tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, mức
hỗ trợ kinh phí đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng cho người lao động thuộc
hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển, mỗi người một lần, bao gồm: Hỗ trợ chi phí đào tạo: Mức hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học; Hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học; Hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15 km trở lên
Đối tượng là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh tuyển dụng người lao động thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển từ ngày 1/1/2017 - 31/12/2018 vào làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn
Trường hợp người học cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ thì mức hỗ trợ tiền đi lại 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đảo tạo ở xa nơi cư trú từ 5km trở lên
Hỗ trợ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp: hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh tiền đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển
Hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Đối tượng là người lao động thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển có đủ các điều kiện sau đây: Có thị thực và ký hợp đồng với doanh nghiệp dịch
vụ, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc hợp đồng cá nhân ký với chủ sử dụng lao động trong thời gian từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2018
Hỗ trợ vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Người lao động thuộc
hộ gia đình bị thiệt hại do sự cố môi trường biển đã ký hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc hợp đồng cá nhân với chủ sử dụng lao động trong thời gian từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2018
Hỗ trợ chi phí đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết và chi phí khám sức khoẻ cho người lao động; Hỗ trợ các chi phí trước khi đi làm việc ở nước ngoài cho người lao động
Mức vay, lãi suất vay Mức vay tối đa bằng 100% các khoản chi phí người lao động phải đóng góp theo quy định đối với từng thị trường Lãi suất bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định
Trang 341.6 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỰ CỐ
Trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành Du lịch Quảng Bình đã có nhiều dấu hiệu phục hồi so với tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành qua các năm 2011- 2015, trong đó ước thiệt hại 550 tỷ đồng Từ tháng 4 đến hết tháng 6/2017, chỉ tính riêng hoạt động kinh doanh ngành Du lịch của tỉnh bị thiệt hại 2.350 tỷ đồng Năm 2016, tổng lượt khách du lịch đạt 2.029.677 lượt, giảm 26% so với năm 2015 và giảm 40%
so với kế hoạch năm 2016; tổng doanh thu du lịch giảm 26% so với năm 2015 và giảm 45% so với kế hoạch năm 2016 Doanh thu về du lịch thiệt hại khoảng 1.800 tỷ đồng Hình ảnh điểm đến của Du lịch Quảng Bình, đặc biệt là du lịch biển bị ảnh hưởng nặng nề; nhiều dự án đầu tư khách sạn từ 3 sao trở lên, nhà hàng phục vụ khách du lịch đang triển khai phải tạm dừng thi công; một số dự án lớn tạo động lực cho phát triển
du lịch đã tạm dừng hoặc bỏ đầu tư đã gây ảnh hưởng rất lớn về tài chính, lao động của doanh nghiệp và người dân trên địa bàn cũng như sự phát triển của ngành; các cơ
sở lưu trú du lịch, nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch phải cắt giảm lao động, cho nhân viên nghỉ việc đến 50%, nên tình trạng thiếu hụt nhân lực có chất lượng và khó có thể bù đắp trong thời gian tới; các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch đang gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu kinh phí để trả lãi suất vay ngân hàng, tiền thuê đất, điện, nước, trả lương cho người lao động, tuyển dụng mới và đào tạo nhân lực
Cùng với đó, hơn 138.000 lao động làm việc trong các ngành nghề, lĩnh vực khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, hoạt động kinh doanh thủy sản, dịch
vụ hậu cần nghề cá, dịch vụ du lịch, thương mại, thu mua, tạm trữ thủy sản bị ảnh hưởng; nhiều lao động thất nghiệp, đời sống của Nhân dân vùng ven biển gặp khó khăn cả về trước mắt và lâu dài; sự cố môi trường biển đã tác động lớn đến dư luận xã hội, tư tưởng người dân, gây tâm lý bức xúc, bất an trong Nhân dân, tác động tiêu cực
xã hội; ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe của người dân; an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh diễn biến rất phức tạp ( Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2018 thành phố Đồng Hới, 2018)
Bên cạnh đó, sự cố môi trường biển đã làm suy giảm chất lượng môi trường biển,
hệ sinh thái biển và nguồn lợi thủy sản; các rạn san hô, sinh vật phù du, động vật phù
du, cá tự nhiên chết hàng loạt trên diện rộng có nguy cơ làm gián đoạn chuỗi thức ăn
tự nhiên trong hệ sinh thái biển, dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản Nguồn lợi sinh vật không chỉ giảm về số lượng mà còn có thể bị thay đổi cấu trúc
Để khắc phục những thiệt hại do sự cố môi trường biển gây ra, thời gian qua, UBND tỉnh đã tích cực, kịp thời thành lập các Tổ công tác và phân công những đồng chí lãnh đạo phối hợp với tổ chức, đoàn thể, ban Đảng về trực tiếp chỉ đạo công tác
Trang 35vận động, tuyên truyền cho người dân ở các địa bàn nóng; tổ chức nhiều cuộc họp, ban hành văn bản chỉ đạo, lãnh đạo; đồng thời tổ chức đoàn về cơ sở, chỉ đạo đơn vị, địa phương bám sát dân, nắm chắc diễn biến tư tưởng Nhân dân, động viên Nhân dân đoàn kết vượt qua khó khăn Ngoài ra, lực lượng chức năng, địa phương tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn, tăng cường bám sát cơ sở, đặc biệt
là vùng ven biển, vùng giáo dân để nắm chắc tình hình; truyền thông, báo chí trên địa bàn tập trung tuyên truyền, vận động người dân biết và hiểu về các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, không nghe theo những đối tượng xấu, không tụ tập, tuần hành đông người gây mất an ninh trật tự, cản trở giao thông trên địa bàn; đồng thời, triển khai biện pháp nghiệp vụ phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các đối tượng lợi dụng vấn đề cá biển chết kích động nhân dân, gây rối an ninh trật tự; kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để chủ động xử lý, không để đột xuất, bất ngờ; đảm bảo lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cần thiết để ứng phó với tình huống xảy ra; hướng dân người dân kê khai, bồi thường thiệt hại
Vì vậy, đến nay, công tác chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho các đối tượng bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển được thực hiện khẩn trương, công khai, minh bạch, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân; hoạt động khai thác, nuôi trồng, kinh doanh thủy sản, sản xuất muối, du lịch cơ bản trở lại bình thường, tình hình an ninh trật tự xã hội đã ổn định
1.7 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP PHỤC HỒI SINH KẾ CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG BỊ ẢNH HƯỞNG KHÁC
Ngay từ khi bắt đầu có sự cố đến nay, hàng loạt các nghiên cứu được triển khai
để giúp đỡ chính quyền đánh giá tác động của sự cố đồng thời giúp chính quyền địa phương, người dân tìm ra các hướng đi tốt cho hoạt động sinh kế hộ
Nghiên cứu “ Sự cố môi trường biển miền trung và tác động của nó đến việc làm
và thu nhập của lao động: Nghiên cứu trường hợp tại xã Vinh Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” của Nguyễn Quang Phục và Lê Anh Quý chỉ ra rằng sự cố môi trường biển đã làm lao động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đánh bắt xa bờ và kinh doanh dịch vụ rơi vào hoàn cảnh thiếu việc làm, thất nghiệp và giảm thu nhập Tuy nhiên, đa số lao động được hỏi đều không mong muốn chuyển đổi nghề nghiệp, mà tiếp tục duy trì chiến lược sinh kế cũ Vì vậy, hai tác giả cho rằng chính sách hỗ trợ người dân sớm phục hồi sinh kế mà họ đã làm trước đây là ưu tiên hàng đầu
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Quang Phục và Lê Anh Quý, “ Sự cố môi trường biển miền trung và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao động: Nghiên cứu trường hợp tại xã Vinh Hải, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế năm
2017, đánh giá tác động do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) và Ủy ban Y tế Hà Lan Việt Nam (MCNV) thực hiện tại 16 xã, thị trấn của 4
Trang 36huyện bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển là Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng, thì sau 18 tháng kể từ ngày xảy ra sự cố môi trường biển, lao động tham gia các nhóm sinh kế cơ bản hồi phục, tuy nhiên mức độ hồi phục mỗi nhóm là khác nhau Nhóm nghề đơn giản ven bờ với hơn 7.000 lao động được đánh giá phục hồi khoảng 75%, nhóm nghề buôn bán nhỏ với 5.800 lao động nghề buôn bán nhỏ phục hồi khoảng 70%, và nhóm nghề du lịch ven biển với hơn 2.100 lao động phục hồi khoảng 70% Các nhóm sinh kế đánh bắt gần bờ cơ bản phục hồi hoàn toàn, tuy nhiên do sản lượng đánh bắt sụt giảm mạnh nên đang xảy ra xu hướng giảm thời gian đánh bắt và
họ đang tìm thêm công việc lao động phổ thông để kiếm thêm thu nhập Theo ước tính, hiện nay có khoảng 3.000 đến 3.500 lao động mất việc làm, các lao động này đang thất nghiệp hoặc đang lao động phổ thông trong, ngoài tỉnh hoặc đi xuất khẩu lao động
Để kịp thời tháo gỡ khó khăn, tìm hướng phát triển và ngành nghề phù hợp với người dân các xã ven biển, ngay sau khi có sự cố môi trường biển xảy ra, chính quyền các cấp đã huy động 9,1 tỷ đồng từ nhiều nguồn khác nhau để hỗ trợ 77 mô hình chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản cho 1.145 hộ gia đình tại địa bàn 16 xã, thị trấn Mặt khác, đã có nhiều chính sách của Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho phát triển thủy sản
và ngư nghiệp Các chính sách có tác động lớn được ghi nhận như Nghị định số 67/2014/NĐ-CP 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản; Quyết định 48/2010/QĐ-TTg: khuyến khích, hỗ trợ khai thác và nuôi trồng thủy hải sản; Quyết định 21/2016/QĐ- UBND về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay nông nghiệp; Đề
án 1956/QĐ-TTg về việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn… Ngoài ra, Chính phủ
đã kịp thời ban hành các quyết định hỗ trợ khẩn cấp cho người dân, quyết định bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường biển, quyết định hỗ trợ phát triển một số cây con chủ lực… để tạo mọi điều kiện hỗ trợ, tiếp sức cho người dân vùng biển vực dậy sau
sự cố môi trường
Bên cạnh hiệu quả tích cực khi triển khai thực hiện các chính sách, đánh giá này cũng chỉ ra một số vấn đề như nguồn lực hỗ trợ hạn chế so với nhu cầu; một số chính sách vận dụng nguồn lực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia nên chỉ giải quyết một phần vấn đề; một số chính sách không tiếp cận được do vướng mắc khi triển khai tại địa phương như vay vốn sản xuất theo Quyết định 21; vay vốn xuất khẩu lao động theo Quyết định 12 Bên cạnh đó, cần nhìn nhận thực tế là từ con số điều tra chỉ có 38% hộ gia đình có đất nông nghiệp với diện tích bình quân 1.800m2 , còn khoảng 1.700 ha đất vùng cát chưa sử dụng, đất bỏ hoang vụ hè thu khoảng 558 ha và vụ đông xuân khoảng 204 ha; có thể thấy người dân vùng biển không mấy mặn mà với hoạt động sản xuất nông nghiệp và để lãng phí nguồn tài nguyên đất nông nghiệp cho cơ hội chuyển đổi sinh kế
Trang 37Từ các kết quả điều tra, khảo sát, các đơn vị thực hiện đã đề ra các nhóm giải pháp liên quan đến cải thiện tài sản sinh kế của cộng đồng; phục hồi và chuyển đổi sinh kế phù hợp; tiếp cận các cơ hội, hạn chế thách thức và duy trì kết quả sinh kế bền vững Những cách làm cụ thể đã được đề xuất, như cần thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới và các tổ/nhóm phụ nữ nhằm khuyến khích người người dân tham gia các tổ/nhóm, tăng năng lực liên kết thị trường; lồng ghép chương trình mỗi làng mỗi sản phẩm để xây dựng thương hiệu tập thể cho một số sản phẩm như cá khô Gio Việt, nước mắm Hải An … Thành lập Quỹ ủy thác vay vốn vay xuất khẩu lao động để giúp người dân vùng biển có cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu lao động Liên kết với tư nhân và các đơn vị nghiên cứu giới thiệu và nhân rộng các công nghệ sạch như lò hấp
cá hơi nước; lò sấy tiết kiệm năng lượng và đèn LED tàu cá nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả về môi trường…
Trong việc hỗ trợ ngư dân làm nghề đánh bắt thủy sản có phương án khai thác phù hợp, cần thực hiện khảo sát trữ lượng và đa dạng sinh học thủy hải sản trên biển
để người dân có thông tin chính xác về thực trạng sản lượng thủy sản và đa dạng sinh học thủy sản hiện nay Giới thiệu và thí điểm các mô hình nuôi trồng thủy sản công nghệ mới trên biển và trên đất liền Trong bối cảnh có sự giảm sút nguồn lợi thủy sản như hiện nay, cần có sự hỗ trợ chuyển đổi khai thác tầng đáy sang tầng nổi phù hợp với thực trạng nguồn lợi thủy sản; ứng dụng công nghệ đánh bắt cho nhóm khai thác gần bờ và tăng cường đào tạo nghề đánh bắt xa bờ; nhân rộng các công nghệ đánh bắt mới đảm bảo bền vững trong khai thác và phù hợp trong điều kiện hiện tại Đối với sản xuất nông nghiệp trên vùng cát, cần xây dựng dự án để cải tạo 1.700 ha đất vùng cát bằng các phương pháp như than sinh học và phân hữu cơ từ phế phẩm nông nghiệp để tạo thêm nguồn lực tự nhiên cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp Thực hiện phân tích thổ nhưỡng, nguồn nước gắn với điều kiện khí hậu để xây dựng bản đồ về cây trồng cho các xã, thị trấn vùng biển…
Về phương án chuyển đổi sinh kế mới hoặc phát triển sinh kế phụ, cần có sự liên kết với các nhà máy, công ty xây dựng dự án đưa xưởng về nông thôn nhằm tạo cơ hội việc làm cho phụ nữ mất việc làm hoặc đang tìm kiếm công việc lao động phổ thông tại địa phương khác Ngoài ra, trong xu thế ngày càng có nhiều lao động biển muốn tìm kiếm cơ hội việc làm thông qua xuất khẩu lao động, chính quyền các cấp cũng cần đánh giá nhu cầu thị trường và tổ chức đào tạo nghề phù hợp thị trường, đặc biệt quan tâm đến nhóm lao động trẻ dưới 35 tuổi có nhu cầu và khả năng tham gia vào các thị trường lao động trong và ngoài nước để hạn chế rủi ro cho người lao động
Trang 38Cùng với những giải pháp mang tính cụ thể và có định hướng lâu dài, nhóm nghiên cứu cũng đề ra các dự án dự kiến thực hiện từ năm 2018 - 2022 liên quan đến khôi phục sinh kế, chuyển đổi sinh kế, cải thiện sức khỏe cộng đồng và nền tảng, nâng cao năng lực HTX và tổ hợp tác và nhóm phụ nữ nhằm cụ thể hóa các đề xuất ổn định đời sống và cải thiện sinh kế Mục tiêu hướng đến là cùng với chính quyền địa phương giúp nhân dân 16 xã, thị trấn vùng biển thay đổi tập quán, phương thức sản xuất để phát triển bền vững
Trang 39CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là năng lực chống chịu của hộ dịch vụ du lịch biển chịu ảnh hưởng của sự cố môi trường biển tạithành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Để chính xác được đối tượng nào là đối tượng cần nghiên cứu, chúng tôi sử dụng thông tin, số lượng từ thống kê nông nghiệp nông thôn 2016 tỉnh Quảng Bình
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu được thực hiện ở vùng ven biển Tp Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình
- Về thời gian: Thông tin liên quan trong 3 năm từ 2015 đến tháng 5 năm 2018
bao gồm trước và sau khi sự cố xảy ra
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Các nội dung được nghiên cứu và triển khai trong đề tài bao gồm:
Tình hình hoạt động dịch vụ du lịch biển tại TP Đồng Hới, Quảng Bình
Thực trạng HĐ dịch vụ du lịch của hộ tại thành phố Đồng Hới
Đặc điểm nhân khẩu, lao động của hộ DVDL
Tài sản và phương tiện SXKD của hộ DVDL
Quá trình ảnh hưởng của sự cố FORMOSA đối với các hộ dịch vụ du lịch biển Thiệt hại của hộ dịch vụ du lich do ảnh hưởng của sự cố
Giải pháp phục hồi sinh kế của hộ
Tình hình thực hiện các giải pháp phục hồi
Tiếp cận hỗ trợ nguồn lực thực hiện các giải pháp phục hồi
Đánh giá phục hồi sinh kế của hộ và cộng đồng sau sự cố
Hiện trạng phục hồi HĐ DVDL của hộ (thời điểm NC- Tháng 4/2018)
Hiện trạng phục hồi Thu nhập của hộ (thời điểm NC- Tháng 4/2018)
Hiện trạng phục hồi HĐ DVDL của cộng đồng (thời điểm NC- Tháng 4/2018) Phục hồi chi tiêu đời sống (thời điểm NC- Tháng 4/2018)
Trang 402.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.3.1 Phương pháp chọn điểm
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Bảo Ninh và Quang Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình vì đây là xã trọng điểm có đường bờ biển trải dài với hoạt động du lịch biển đặc biệt quan trọng trong đời sống người dân, là những địa phương có bờ biển đẹp và nổi tiếng như biển Bảo Ninh, Nhật Lệ, Quang Phú khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Sun Spa Resort và khu du lịch sinh thái FLC
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên 2 nguồn số liệu sau đây:
Số liệu thứ cấp được sử dụng từ các nguồn chính quy bởi chính từ cấp xã lên đến cấp quốc gia, các bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến sự cố môi trường biển
Đối với số liệu sơ cấp, phương pháp được sử dụng là phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với những lao động trực tiếp trong ngành dịch vu du lịch biển Theo báo cáo Nông nghiệp nông thôn thì 2 xã có tổng 183 hộ có nguồn thu nhập chính là dịch vụ du lịch
Để xác định quy mô mẫu điều tra, chúng tôi áp dụng công thức xác định cỡ mẫu điều tra của Slovin ( 1960) n=N/(1+Ne2)
Trong đó
n là cỡ mẫu điều tra
N là tổng số hộ có thu nhập chính là dịch vụ du lịch và e là sai số kỳ vọng ( e=10%) Theo công thức trên tổng số hộ được phỏng vấn ở 2 xã là 60 hộ, Bảo Ninh 30 hộ và Quang Phú là 30 hộ Tất cả được phỏng vấn trong thời điểm từ 2/2018 đến 5/2018
2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được mã hóa và phân tích trên phần mềm Excecl 2010, phương pháp tổng hợp, thống kê mô tả và phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích tác động của sự cố môi trường biển đến việc làm thu nhập của lao động bị ảnh hưởng, bằng cách so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu ở hai thời điểm : trước và sau sự cố môi trường biển Trước sự cố môi trường biển được hiểu là trước thời điểm 4/2016 Vì vậy thông tin về việc làm thu nhập của lao động sẽ được thu thập tại thời điểm năm
2015 Sau sự cố môi trường biển là sau thời điểm tháng 10 năm 2016 là thời điểm chính phủ công bố biển an toàn cho du lịch và hoạt động đánh bắt