1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa địa phương tại tỉnh quảng bình

102 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 20,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài được tiến hành để nghiên cứu đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa địa phương tại tỉnh Quảng Bình nhằm chọn ra được 1 - 2 giống lúa địa phương

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ THANH TÂM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA

ĐỊA PHƯƠNG TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

HUẾ - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ THANH TÂM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA

ĐỊA PHƯƠNG TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 86.20.110

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TIẾN LONG

HUẾ - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc Nếu có

gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Huế, ngày 28 tháng 09 năm 2018

Tác giả luận văn

Lê Thị Thanh Tâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi luôn nhận được sự giúp nhiệt tình về nhiều mặt của các thầy cô giáo, lãnh đạo của đơn vị công tác, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới TS Nguyễn Tiến Long, là thầy giáo hướng dẫn khoa học luôn tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu để đi đến hoàn thành luận văn này;

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban đào tạo, Đại học Huế; Lãnh đạo Trường Đại học Nông Lâm Huế, Phòng Đào tạo cùng các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế, Khoa Nông học đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu;

Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến lãnh đạo và đồng nghiệp thuộc Sở Khoa học

và Công nghệ tỉnh Quảng Bình và bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên và đóng góp nhiều

ý kiến quý báu để tôi thực hiện hoàn thành đề tài nghiên cứu luận văn;

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình của tôi đã động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian, trình độ chuyên môn và kiến thức thực tế nên không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong thầy cô giáo cùng các bạn đóng góp nhiều ý kiến quý báu để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Huế, ngày 28 tháng 09 năm 2018

Học viên

Lê Thị Thanh Tâm

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài được tiến hành để nghiên cứu đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa địa phương tại tỉnh Quảng Bình nhằm chọn ra được 1 - 2 giống lúa địa phương, chất lượng cao và có thời gian sinh trưởng phù hợp, có khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất phù hợp, thích ứng với điều kiện khí hậu, đất đai của địa phương để ứng dụng vào sản xuất lúa góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiệu quả trên địa bàn tỉnh Nghiên cứu sử dụng 6 giống lúa địa phương (A Ri, A Ham, A Suôm, Kay Nọi, Tre, Đầu Đỏ) trong vụ Đông Xuân 2017 - 2018 trên chân đất thiếu nước tại huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình Trong đó giống A Ri trồng phổ biến ở địa phương được sử dụng làm đối chứng Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 6 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20 m2 Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các giống lúa có tổng thời gian sinh trưởng từ 108 -124 ngày, thuộc nhóm ngắn ngày Chiều cao cây của các giống dao động từ 90,48 - 113,51

cm Số lá/cây dao động từ 11,20 - 12,40 lá Màu sắc lá từ xanh nhạt đến xanh đậm, lá thẳng đến cong đầu Dạng thân từ xòe trung bình đến mọc tập trung Độ thuần đồng ruộng tốt (điểm 1-3), thoát cổ bông hoàn toàn (điểm 1 - 5) và có độ tàn lá chậm đến trung bình Đây là những đặc điểm tốt cho đầu tư thâm canh Năng suất thực thu dao động từ 24,99 - 33,32 tạ/ha Các giống có năng suất cao hơn giống đối chứng gồm Kay Nọi (33,32 tạ/ha), Tre (31,90 tạ/ha) và A Ham (27,95 tạ/ha), đều có khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đỗ ngã (ngoại trừ giống Kay Nọi) Các giống có hình dạng hạt gạo từ bán thon đến thon dài, phẩm chất gạo trung bình, hàm lượng amylose

từ rất thấp đến trung bình, hàm lượng protein rất cao, chất lượng cơm tương đối phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ viii

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2.Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1.1 Giới thiệu chung về cây lúa 4

1.1.2 Những căn cứ để xây dựng đề tài 8

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 9

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Quảng Bình 15

1.2.3 Tình hình sử dụng giống lúa tại tỉnh Quảng Bình 19

1.2.4 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lúa trên thế giới 19

1.2.5 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lúa ở Việt Nam 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

Trang 7

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 30

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31

2.3.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng 31

2.3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá 32

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 42

2.4 ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU THỜI TIẾT TẠI QUẢNG BÌNH 42

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC GIỐNG LÚA THÍ NGHIỆM 44

3.1.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển qua các giai đoạn của các giống lúa thí nghiệm 44

3.1.2 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 46

3.1.3 Một số đặc trưng hình thái của các giống thí nghiệm 49

3.2 TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÁC GIỐNG LÚA THÍ NGHIỆM 53

3.3 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÁC GIỐNG LÚA THÍ NGHIỆM 54

3.3.1 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thí nghiệm 54

3.3.2 Năng suất của các giống lúa thí nghiệm 57

3.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CƠM GẠO CỦA CÁC GIỐNG LÚA THÍ NGHIỆM 58

3.4.1 Chất lượng xay xát gạo của các giống lúa thí nghiệm 58

3.4.2 Chất lượng thương phẩm của các giống lúa thí nghiệm 60

3.4.3 Chất lượng cảm quan cơm của các giống lúa thí nghiệm 62

3.4.4 Một số chỉ tiêu về chất lượng dinh dưỡng 63

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

KẾT LUẬN 65

ĐỀ NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 72

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới từ năm 1961 - 2016 10

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam từ năm 2008 đến 2017 12

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa của Quảng Bình năm 2010-2016 16

Bảng 1.4 Kế hoạch sản xuất lúa năm 2017 của các huyện 17

Bảng 1.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của tỉnh Quảng Bình năm 2017 17

Bảng 1.6 Kế hoạch sản xuất lúa bản địa năm 2017 của các huyện 18

Bảng 2.1 Danh sách và nguồn gốc các giống giống lúa tham gia thí nghiệm 30

Bảng 2.2 Thời tiết, khí hậu trong vụ Đông Xuân 2017 - 2018 tại tỉnh Quảng Bình 42

Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển qua các giai đoạn của các giống lúa thí nghiệm 44

Bảng 3.2 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 47

Bảng 3.3: Khả năng đẻ nhánh và tỉ lệ nhánh hữu hiệu của các giống lúa thí nghiệm 48

Bảng 3.4 Một số đặc trưng hình thái của các giống lúa thí nghiệm 51

Bảng 3.5 Tình hình sâu hại trên các giống lúa thí nghiệm 54

Bảng 3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thí nghiệm 55

Bảng 3.7 Năng suất của các giống lúa thí nghiệm 57

Bảng 3.8 Chất lượng xay xát của các giống thí nghiệm 59

Bảng 3.9 Chất lượng thương phẩm của các giống thí nghiệm 60

Bảng 3.10 Các chỉ tiêu chất lượng cảm quan cơm của các giống thí nghiệm 62

Bảng 3.11 Chất lượng dinh dưỡng của các giống thí nghiệm 63

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1.1 Sự phân bố lúa trồng trên thế giới Hakim MA và cs (2013) 5

Biểu đồ 1.1 Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008-2015 13Biểu đồ 3.1: Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 47Biểu đồ 3.2: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 57

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng, là nguồn cung cấp năng

lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/người/năm tại các nước châu Á, khoảng 10 kg/người/năm tại các nước châu Mỹ Trên thế giới, cây lúa được

250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo trên thế giới, sinh

kế chủ yếu của nông dân [43] Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) thì diện tích trồng lúa trên thế giới không ngừng tăng lên Năm

2014 tổng diện tích lúa trên thế giới 162,72 triệu ha, sản lượng đạt 741,5 triệu tấn, năng suất bình quân 45,6 tạ/ha Sản lượng gạo đạt khoảng 490 triệu tấn, góp phần nuôi sống khoảng 3,5 tỉ người trên toàn thế giới [64]

Ở Việt Nam, với dân số trên 90 triệu dân với khoảng 60% dân số sống bằng nghề nông và có nền văn minh lúa nước từ lâu đời Trong đó, trên 80% dân số sống nhờ vào cây lúa và 100% người dân sử dụng lúa gạo làm lương thực chính cung cấp năng lượng và nguồn dinh dưỡng quan trọng trong đời sống hằng ngày Năm 2015, diện tích đất trồng lúa ở Việt Nam là 7,82 triệu ha, tổng sản lượng lúa đạt 45,2 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 57,7 tạ/ha [39] Tốc độ tăng năng suất lúa gạo Việt Nam (1975-2014) vượt 1,7 lần so với tốc độ tăng năng suất lúa gạo bình quân chung của toàn thế giới [2] Vì vậy cây lúa có một vai trò quan trọng đối với đời sống nhân dân

và vấn đề an ninh lương thực quốc gia

Tuy nhiên ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là trong việc tìm kiếm bạn hàng Năm 2016, xuất khẩu gạo của Việt Nam bị sụt giảm, chỉ đạt mức gần 4,9 triệu tấn, trị giá đạt gần 2,2 tỷ USD, giảm tới gần 26,5% về

số lượng và giảm 22,4% về trị giá so với năm 2015 Giá xuất khẩu gạo Việt Nam thấp hơn của Thái Lan khoảng 5 - 10 USD/tấn Trong cơ cấu gạo xuất khẩu, gạo cao cấp chiếm 21,6%; gạo cấp trung bình chiếm 13,4%; gạo cấp thấp chiếm 7,2%; gạo thơm các loại chiếm 28,5%; gạo Japonica chiếm 3,2%; gạo nếp chiếm 20,8%; gạo tấm chiếm 3,58%; gạo đồ chiếm 0,8% [1] Qua đó cho thấy chất lượng gạo Việt Nam chưa

cao, các giống lúa thơm, lúa đặc sản được sản xuất, xuất khẩu còn rất hạn chế

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam với 85% tổng diện tích tự nhiên là đồi núi, có 6 huyện và 2 thành phố, thị xã, 75% dân số sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất lúa Năm 2016, tỉnh Quảng Bình có tỷ trọng sản xuất nông nghiệp chiếm 22,9% trong cơ cấu các ngành kinh tế Trong đó, lúa là cây trồng chủ đạo với tổng diện tích lúa cả năm là 54.810,6 ha, sản lượng đạt 280.638 tấn, chiếm 91,8% tổng sản lượng lương thực (305.635 tấn) [61]

Trang 12

Tỉnh Quảng Bình có điều kiện khí hậu gió mùa, thời tiết khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra gió bão, gió phơn Tây Nam (gió Lào), lũ lụt, hạn hán, mưa rét làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Quảng Bình chỉ sản xuất được hai vụ lúa trong năm, cơ cấu bộ giống chủ yếu là lúa thuần chiếm 95%, lúa lai 5% diện tích Bộ giống lúa thuần gồm giống lúa ngắn ngày, trung và dài ngày Giống lúa ngắn ngày sản xuất cho cả hai vụ Đông xuân và Hè thu gồm các giống PC6, HT1, IR50404, KD18, DV108, có thời gian sinh trưởng từ 85 đến dưới 100 ngày Giống lúa trung và dài ngày sản xuất trong vụ Đông xuân chủ yếu là các giống Xi23, X21, NX30, P6, IR353-66, có thời gian sinh trưởng từ 135 - 150 ngày [61]

Bên cạnh đó, áp lực gia tăng dân số và nghèo đói; biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng nghiêm trọng: tình trạng nắng nóng, khô hạn kéo dài, bão lụt…; quá trình

đô thị hoá ngày càng nhanh; việc tăng mạnh sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hoá học

và tác động của nền kinh tế thị trường đã khiến nền nông nghiệp giảm đáng kể diện tích sản xuất lúa, đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải có các chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích, trong đó chủ yếu tập trung vào số lượng Điều này dẫn đến nguy cơ cao xói mòn nguồn gen nhiều giống lúa quí của Việt Nam có giá trị rất cao trong việc lai tạo giống lúa thơm thương mại Hiện nay có trên 95% các giống lúa mùa địa phương đã bị tiệt chủng và mất đi vĩnh viển như các giống lúa mùa chịu ngập và các giống lúa nổi ở Việt Nam [7], [11]

Trước những sức ép trên, các quốc gia, các tổ chức đã tăng cường đầu tư, nghiên cứu, lai tạo các giống mới và xây dựng các biện pháp canh tác phù hợp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đảm bảo an ninh lương thực Trong

đó, việc nghiên cứu các giống lúa thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu như: giống chịu hạn, chịu mặn, chống chịu sâu bệnh là một hướng đi mới và phù hợp với thực tiễn sản xuất của ngành chọn tạo giống cây trồng Chú trọng phát hiện, bảo tồn và phát triển các giống lúa bản địa có giá trị dinh dưỡng cao, phẩm chất tốt, chịu hạn là một yêu cầu cấp thiết của các nhà chọn giống nhằm lưu giữ, bảo tồn nguồn gen quí, bảo tồn đa dạng sinh học, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Đặc biệt trong thời gian tới, những dự báo về biến đổi khí hậu, nguồn nước tưới trong nông nghiệp sẽ giảm đi, diện tích đất cạn hoặc thiếu nước có thể tăng lên Do vậy, việc nghiên cứu và phát triển các giống lúa cho vùng khô hạn, thiếu nước là hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo cho người nông dân ở những vùng có điều kiện khó khăn

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa địa phương tại tỉnh Quảng Bình”

Trang 13

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại, năng suất và phẩm chất, chất lượng gạo của một số giống lúa địa phương tại tỉnh Quảng Bình

- Xác định được 1 - 2 giống lúa địa phương có triển vọng, năng suất phù hợp, phẩm chất tốt thích hợp với điều kiện canh tác của tỉnh Quảng Bình

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thêm thông tin cho các nhà chọn tạo giống có hướng nghiên cứu chọn tạo để khắc phục những nhược điểm và nâng cao những ưu điểm của giống cần chọn tạo theo hướng thích hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sản xuất của tỉnh Đồng thời, kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo cho các công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, chọn tạo giống lúa đặc sản địa phương tại Quảng Bình

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Giới thiệu chung về cây lúa

1.1.1.1 Nguồn gốc cây lúa

Lúa thuộc chi Oryza sativa, là một trong những cây trồng có lịch sử lâu đời nhất

có từ 130 triệu năm trước, tồn tại như một loại cỏ dại trên đất Gondwana ở siêu lục địa, sau này vỡ thành Châu Á, Châu Mỹ, Châu Úc và Châu Nam Cực Lúa được thuần hóa rất sớm khoảng 10.000 năm trước công nguyên (Khush G S., 2000) [55]

Các nhà khoa học như Haudricourt & Hedin (1944), Werth (1954), Wissmann (1957), Sauer (1952), Barrau (1965, 1974), Soldheim (1969), Gorman (1970) đã lập luận vững chắc và đưa ra những giả thuyết cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng rất sớm của thế giới

Cây lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc, một nhóm các nhà nghiên cứu về gen đã đưa ra kết luận như vậy trong một nghiên cứu lịch sử tiến hóa hàng nghìn năm bằng cách chạy lặp lại chuỗi thứ tự gen ở quy mô rộng Những phát hiện của họ đăng trên

Kỷ yếu Học viện Khoa học Quốc gia (PNAS) số gần đây nhất cho thấy rằng việc thuần hóa cây lúa có thể đã xuất hiện vào thời điểm cách ngày nay 9.000 năm ở lưu vực sông Dương Tử (còn gọi là sông Trường Giang) Những nghiên cứu trước đây giả định việc thuần hóa cây lúa có nguồn gốc là Ấn Độ và Trung Quốc [24]

Theo Chang (1976) nhà di truyền học cây lúa của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), đã tổng kết nhiều tài liệu khác nhau và cho rằng việc thuần hóa loài lúa trồng

có thể được tiến hành một cách độc lập cùng một lúc ở nhiều nơi, dọc theo vành đai trải dài từ đồng bằng sông Ganges dưới chân phía tây của dãy Himalayas - Ấn Độ ngang qua Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Lào và Việt Nam, đến Tây Nam và Nam Trung Quốc [48]

Cây lúa cũng được trồng từ hàng ngàn năm trước đây ở Việt Nam và nơi đây cũng được coi là biểu tượng của nền văn minh lúa nước Vùng đồng bằng Bắc Bộ là một trong những vùng sinh thái của cả nước có các nguồn gen đa dạng và phong phú nhất [15]

Khảo sát về nguồn gen cây lúa ở vùng Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và

Đồng Bằng Sông Cửu Long, đã phát hiện ra 5 loại lúa dại, đó là O granulata, O

nivara, O officilalis, O rufipogon, O ridleyi [21]

Như vậy, tuy có các quan điểm khác nhau về nguồn gốc xuất xứ nhưng những ý kiến trên đều cho rằng nó có xuất xứ từ khu vực nóng ẩm phù hợp với điều kiện trồng lúa nhiệt đới hiện nay

Trang 15

1.1.1.2 Phân loại cây lúa

Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trước đây đã nghiên cứu và xếp lúa trồng ở

châu Á (Oryza sativa) thuộc họ hòa thảo (graminae), có bộ nhiễm sắc thể 2n = 24

Theo Trần Văn Đạt (2005) [37], Kato là người đầu tiên xây dựng các luận cứ khoa học

về phân loại dưới loài của lúa trồng châu Á dựa trên các đặc điểm hình thái Tùy theo các đặc điểm và tiêu chí khác nhau mà các nhà khoa học phân loại cây lúa theo các quan điểm khác nhau, phân loại cây lúa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng nguồn gen để phục vụ cho mục tiêu chọn tạo giống cây trồng:

- Roshevits R.U (1931) chia chi Oryzae ra làm 19 loài

- Chaherjee (1948) chia làm 23 loài

- Richharia R (1960) chia làm 18 loài

- Năm 1963, Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI chia Oryzae làm 19 loài

Nhiều tư liệu đưa ra cơ sở tiến hóa của các loài lúa trồng hiện nay, tuy nhiên theo Khush (1997) [53], sự tiến hóa của hai loại lúa trồng phổ biến hiện nay trên thế giới được thể hiện trong sơ đồ như sau:

Hình 1.1 Sự phân bố lúa trồng trên thế giới Hakim MA và cs (2013) [51]

Trang 16

* Phân loại theo mối quan hệ giữa kiểu gen và kiểu hình của lúa

Theo cách phân loại này (Khush, 1990) [54], người ta phân lúa thành sáu nhóm sau: + Nhóm 1: Lúa Indica điển hình, có ở các nước trên thế giới

+ Nhóm 2: Gồm các loại ngắn ngày, chịu hạn lúa vùng cao phân bố ở tiểu lục địa Ấn Độ

+ Nhóm 3 và 4: Gồm các loài lúa ngập nước của Ấn Độ và Bangladesh

+ Nhóm 5: Gồm các loại lúa thơm có ở tiểu lục địa Ấn Độ như Basmati 370 + Nhóm 6: Bao gồm các loài Japonica và Javanica điển hình

* Phân loại theo nguồn gốc hình thành:

(1) Nhóm quần thể địa phương

(2) Nhóm quần thể lai tạo

(3) Nhóm quần thể đột biến

(4) Nhóm quần thể tạo ra bằng công nghệ sinh học

(5) Nhóm các dòng bất dục đực

* Phân loại theo sinh thái địa lý:

Dựa trên cơ sở kiểu gen và môi trường là một khối thống nhất, các vùng sinh thái địa lý khác nhau với sự tác động của con người tới cây lúa khác nhau thì có các nhóm sinh thái địa lý chứa kiểu gen khác nhau Theo Liakhovkin A.G (1992) cây lúa trồng có 8 nhóm sinh thái địa lý gồm:

(1) Nhóm Đông Á: Bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Bắc Trung Quốc Đặc trưng của nhóm sinh thái địa lý này là chịu lạnh tốt và hạt khó rụng

(2) Nhóm Nam Á: Từ Pakistan sang vùng bờ biển phía Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam Đặc điểm nổi bật của nhóm sinh thái địa lý này là kém chịu lạnh, phần lớn có hạt dài và nhỏ

(3) Nhóm Philipin: Nhóm lúa điển hình nhiệt đới không chịu lạnh Toàn bộ vùng Đông Nam Á, miền nam Việt Nam nằm trong nhóm này

(4) Nhóm Trung Á: Bao gồm toàn bộ các nước Trung Á Đây là nhóm lúa hạt

to, khối lượng 1000 hạt đạt trên 32 gam, chịu lạnh và chịu nóng

(5) Nhóm Iran: Bao gồm toàn bộ các nước Trung Đông xung quanh Iran, đây là nhóm sinh thái địa lý với các loại hình chịu lạnh điển hình, hạt to, đục và gạo dẻo (6) Nhóm Châu Âu: Bao gồm các nước trồng lúa ở Châu Âu như Nga, Italia, Tây Ban Nha, Nam Tư, Bungari,… Đây là nhóm sinh thái địa lý với các loại hình Japonica chịu lạnh, hạt to, cơm dẻo nhưng chịu nóng kém

Trang 17

(7) Nhóm Châu Phi: Nhóm lúa trồng thuộc loại Oryza Glaberrima

(8) Nhóm Châu Mỹ La Tinh: Gồm các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ Nhóm sinh thái này bao gồm các giống lúa cây cao, hạt lúa to, gạo trong và dài, chịu ngập và có khả năng chống đổ ngã tốt [10]

* Phân loại theo thời gian sinh trưởng:

Dựa vào thời gian sinh trưởng, các nhà khoa học đã phân ra các nhóm giống:

- Giống lúa cực ngắn có thời gian sinh trưởng: ≤ 95 ngày

- Giống lúa rất ngắn ngày có thời gian sinh trưởng: 96 - 110 ngày

- Giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng: 111 - 125 ngày

- Giống lúa trung ngày có thời gian sinh trưởng: 126 - 140 ngày

- Giống lúa dài ngày có thời gian sinh trưởng: trên 140 ngày

* Phân loại theo quan điểm canh tác học:

Quan điểm canh tác học chia lúa trồng O.sativa thành 4 loại hình thích ứng có

điều kiện canh tác khác nhau (Trần văn Thủy, 1998) [40]

- Lúa cạn: Lúa được trồng trên đất cao, không có khả năng giữ nước cây lúa nhờ hoàn toàn vào nước trời trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của nó

- Lúa có tưới: lúa được trồng những cánh đồng, có công trình thủy lợi, chủ động

về nước trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của nó

- Lúa nước sâu: Lúa được trồng trên những cánh đồng thấp, không có khả năng rút nước sau mưa hoặc lũ Tuy nhiên, nước không ngập qua 10 ngày và mức nước không cao quá 50cm

- Lúa nổi: Lúa được gieo trồng trước mùa mưa Khi mưa lớn, cây lúa đã đẻ nhánh; khi nước dâng cao lúa vươn lên khỏi mặt nước khoảng 10 cm/ngày để ngoi theo [21]

Lúa trồng hiện nay chủ yếu là Oryza sativa, đây là loại lúa được trồng ở điều

kiện ruộng nước, trong quá trình sống và phát triển chịu sự tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo mà hình thành nên nhiều loài lúa phù hợp với điều kiện sinh thái như: lúa nước, lúa nương, lúa nổi [6]

Tuy nhiên, gần đây, với nghiên cứu bằng isozyme loci, người ta có thể phân

biệt Oryza sativa làm 6 nhóm rõ ràng hơn: Nhóm I (Indica), II, III, IV, V và VI

(Japonica) Nhưng các nhóm II và III gần giống với nhóm I (Indica) và nhóm IV và V gần giống nhóm VI (Japonica) Đa số các giống lúa thơm như Basmati 370, Khaodawkmali 105 và lúa rẫy thiên về nhóm VI [44]

Trang 18

Tại Việt Nam có tồn tại cả 4 nhóm lúa với các đặc trưng nêu trên, nhưng chủ yếu là nhóm lúa nước có tưới, còn 3 nhóm còn lại ngày một giảm đi Nhóm lúa cạn tồn tại nhiều ở vùng núi và Trung du Bắc Bộ, Tây Nguyên Lúa có tưới được canh tác chủ yếu ở vùng đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng ven biển Miền Trung Lúa nước sâu được trồng chủ yếu ở các vùng úng ngập, trũng đồng bằng Bắc Bộ, các thung lũng khó thoát nước thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc và tồn tại rất ít ở vùng Đồng Tháp Mười Theo điều kiện sinh thái và vĩ độ địa lý chia thành: Lúa tiên và lúa cánh Theo thời vụ gieo cấy trong năm và thời gian sinh trưởng: Lúa chiêm và lúa mùa Theo chất lượng và hình dạng hạt: Lúa tẻ và lúa nếp, lúa hạt tròn và lúa hạt dài [10]

Ngoài 4 nhóm lúa trên ở Việt Nam còn có một số nhóm lúa thích nghi với các tiểu vùng sinh thái chuyên biệt khác nhau như: Giống lúa chịu mặn, các giống lúa này được trồng tại các vùng duyên hải Bắc, Nam Trung Bộ

Tuy nhiên sự phân loại nêu trên chỉ có tính tương đối, vì nếu bị ảnh hưởng của nhiệt độ, một số giống lúa sớm có thể trở thành lỡ hoặc muộn Các giống lúa trồng ở miền Nam có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng khi gieo trồng trong vụ Đông Xuân ở miền Bắc thì có thời gian sinh trưởng dài Cùng một giống, nhưng gieo vào thời vụ khác nhau cũng có thời gian sinh trưởng khác nhau Ngoài ra, những giống cảm quang mạnh khi gieo trồng vào bất cứ thời gian nào trong năm cũng chỉ trổ bông vào lúc ngày ngắn

1.1.2 Những căn cứ để xây dựng đề tài

- Đảm bảo được mục tiêu về an ninh lương thực vẫn được coi là lợi ích sống còn của mỗi quốc gia Đặc biệt, nước ta có tới gần 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp thì càng cần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, từng bước cải thiện chất lượng bữa ăn

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), các Viện nghiên cứu nông nghiệp trung ương, các Viện nghiên cứu vùng, các Sở NN&PTNT các tỉnh, các Trung tâm giống trực thuộc các Sở NN&PTNT, đã rất quan tâm đến công tác phục tráng giống đặc sản, giống nhập nội và chọn tạo các giống lúa chất lượng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

- Căn cứ vào những tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) để phát triển nông nghiệp hàng hoá đa dạng, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng

Vì vậy cần bố trí những vùng trồng lúa chất lượng chuyên canh của cả nước

- Việc hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng có không ít thách thức đối với ngành gạo Việt Nam,

do đó cần những giải pháp căn cơ để phát triển bền vững ngành hàng này Trong đó,

Trang 19

chú trọng đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác tiên tiến và cơ giới hóa trong sản xuất Tập trung nghiên cứu chọn tạo và phát triển các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm có giá trị và khả năng cạnh tranh cao, chống chịu tốt với sâu bệnh, điều kiện bất thuận (mặn, hạn, úng) Quan tâm phục tráng giống

và phục hồi sản xuất các giống lúa địa phương, lúa đặc sản để đáp ứng phân khúc thị trường có nhu cầu đặc biệt

- Căn cứ Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 25/4/2011 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nông nghiệp tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 Theo nội dung Quy hoạch, đến năm 2020 diện tích lúa cả năm 48.800 ha, sản lượng 260.000 tấn, diện tích lúa hàng hóa chất lượng cao tập trung đạt 13.200 ha

- Căn cứ Quyết định số 1484/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc ban hành Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2014 - 2020

- Căn cứ Thông báo số 2809/TB-VPUBND ngày 11/8/2017 của Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình về Kết luận của đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Minh Ngân tại buổi làm việc về công tác giống lúa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Trong đó, tiếp tục ưu tiên hỗ trợ các đề tài nghiên cứu, chọn tạo giống lúa mới; các dự án phục tráng giống lúa chất lượng cao chủ lực, bảo tồn nguồn gen lúa bản địa

Khi đưa giống mới vào sản xuất người ta thường quan tâm đến thị hiếu tiêu dùng và việc tiêu thụ sản phẩm đó ra sao Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều

có ưu, nhược điểm song sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian, thời gian nhất định và được người nông dân chấp nhận và mở rộng

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam

1.2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Lúa là cây lương thực quan trọng, là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/người/năm tại các nước châu Á, khoảng 10 kg/người/năm tại các nước châu Mỹ Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo trên thế giới, sinh kế chủ yếu của nông dân [17] Theo thống kê của IRRI, cho đến nay lúa vẫn là cây lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất Chính vì vậy, tổng sản lượng lúa trong vòng

45 năm qua đã tăng lên gấp hơn 2,6 lần, từ 257 triệu tấn năm 1965 lên trên 689 triệu tấn năm 2009 [49], [57]

Trang 20

Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO (2017) [64], cây lúa chiếm một vị trí quan trọng trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á Năm 2016 thế giới có 159,81 triệu ha diện tích trồng lúa, năng suất trung bình 4,64 tấn/ha, sản lượng đưa lại 740,96 triệu tấn Hiện có 114 nước trên thế giới trồng lúa, nhưng chỉ 18 nước có diện tích sản xuất lớn hơn 1.000.000 ha và đều tập trung ở Châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines Đồng thời với việc gia tăng về diện tích thì năng suất lúa cũng không ngừng tăng nhanh nhờ việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chọn giống và thâm canh [27]

Diện tích trồng lúa ở Châu Á dẫn đầu thế giới, nhưng năng suất lúa không cao, đạt trên 5 tấn/ha chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc Từ năm 1990 đến nay, năng suất lúa thế giới vẫn liên tục tăng và trung bình đạt 4,64 tấn/ha năm 2016 Mặc dù năng suất lúa

ở các nước Châu Á còn thấp, nhưng do có diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là khu vực đóng góp lúa gạo chủ yếu và quan trọng trên thế giới (trên 90%)

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới từ năm 1961 - 2016

Năm

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

Trang 21

Bảng 1.1 thể hiện tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 1961-2005 và giai đoạn 2010-2016 Về diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng nhanh rõ rệt từ năm

1961 đến năm 1980, sau đó có xu hướng tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,77 triệu ha) Từ năm 2000 đến 2008 diện tích bắt đầu giảm do sự phát triển mạnh

mẽ của ngành công nghiệp và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở các nước đang phát triển một phần diện tích đất nông nghiệp đã dùng cho nhu cầu này Do vậy, diện tích lúa thế giới trong những năm trở lại đây không tăng nhiều, từ 154,99 triệu ha (2005) lên 161,20 triệu ha (2010) sang năm 2016 thì diện tích giảm xuống 159,81 triệu ha Việc áp dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, từ năm 1961 đến năm 2016 làm cho tình hình sản xuất lúa trên thế giới ngày càng phát triển, năng suất và sản lượng tăng cao Trong 5 năm qua, lượng lúa gạo dự trữ trên thế giới tăng lên mức cao nhất đạt trên 740 triệu tấn

Dân số thế giới hiện nay, trung bình tăng thêm 1 tỷ người sau 14 năm Trong 20 năm tới, cứ trung bình 1 tỷ dân sẽ tiêu thụ 65 triệu tấn gạo (tương đương với 100 triệu tấn lúa) Năm 2035, tổng sản lượng lúa phải tăng thêm so với bây giờ là 144 triệu tấn Năng suất trung bình tăng chậm trong khi đó diện tích canh tác lúa giảm dần do các yếu tố xã hội Đáng lo hơn nữa, chỉ có ít hơn 5% vật liệu di truyền trong ngân hàng gen của IRRI được sử dụng trong các chương trình cải tiến giống lúa [46]

Chính vì vậy vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải tiếp tục duy trì năng suất, lấy chất lượng

bù số lượng, đặc biệt là cải tiến các giống lúa sẵn có, bổ sung thêm các tính trạng chống chịu lại các điều kiện bất thuận của môi trường, rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa để tránh tình trạng hạn hán, lụt lội, sân bệnh, tăng vụ, gối vụ, luân canh cây trồng để cải tạo đất, phát triển nông nghiệp bền vững

1.2.1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp, với trên 75% dân số phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Lúa gạo luôn giữ vai trò trong việc cung cấp lương thực nuôi sống con người và là mặt hàng xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân [56], [32]

Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của cả nước chỉ đạt 4,73 triệu ha, năng suất bình quân là 13 tạ/ha [19] Hiện nay, với việc người dân đã được tiếp cận, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật tiên tiến trong nông nghiệp vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu…, kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý, do vậy sản xuất lúa nước ta đã có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng

và giá trị kinh tế [22] Năm 2015, Việt Nam tiếp tục ở nhóm 3 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, sau Ấn Độ (hơn 10,2 triệu tấn) và Thái Lan (gần 9,6 triệu tấn) Tổng sản lượng xuất khẩu 6,59 triệu tấn, thu về trên 2,8 tỷ USD, giảm 5,13% về kim ngạch so với năm 2014 [34]

Trang 22

Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2017 được thể hiện ở bảng 1.2 Nhìn chung sản xuất lúa của Việt Nam không ngừng tăng về diện tích gieo trồng, sản lượng và năng suất nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tổng hòa các yếu tố giống mới, phân bón thủy lợi và kỹ thuật canh tác lúa Tuy nhiên bước sang năm

2014 tổng diện tích trồng lúa có xu hướng giảm do Bộ NN&PTNT đã quyết định chuyển đổi những diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng ngô vì ngô cũng là loại lương thực quan trọng ở Việt nam, đứng sau lúa gạo Sản lượng lúa cả năm 2017 ước tính đạt 42,84 triệu tấn, giảm 318,3 nghìn tấn so với năm 2016 do cả diện tích và năng suất đều giảm

so với năm trước Diện tích lúa cả năm 2017 ước tính đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016; năng suất lúa cả năm đạt 55,5 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha Một nguyên nhân khác nữa là do nắng hạn kéo dài gây thiếu nước, xâm mặn nghiêm trọng và bão làm giảm năng suất trung bình Theo FAO, nhiệt độ trái đất tăng 10C thì sản lượng lúa giảm 10% (thời gian qua, nhiệt độ tăng lên trên toàn cầu đã làm giảm sản lượng thu hoạch từ 20% - 40% ở nhiều khu vực thuộc châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh) [9]

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam từ năm 2008 đến 2017

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 23

Dự định, trong thời gian tới, thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam tiếp tục mở rộng sang Hàn Quốc và các nước Tây Phi [11]

Ngành sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong thời gian qua đã thực sự giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Qua số liệu thống kê, có thể thấy kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2014 có nhiều biến động Tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thế giới liên tục tăng trong giai đoạn 2008-2012, từ 2,66 tỷ USD lên 3,67 tỷ USD Tuy nhiên từ năm 2013 đến nay, xuất khẩu gạo gặp khó khăn

và suy giảm về sản lượng lẫn giá trị Năm 2017, Việt Nam đã xuất khẩu được 5,77 triệu tấn gạo, với trị giá 2,60 tỷ USD Như vậy, có thể thấy tiềm năng xuất khẩu gạo của nước ta rất lớn, tuy nhiên giá gạo xuất khẩu của chúng ta vẫn thua kém nhiều nước Nếu so với Thái Lan - nước xuất khẩu gạo đứng vị trí thứ nhất thế giới thì gạo Việt Nam vẫn còn kém nhiều Hiện nay, giá gạo 5% tấm của Việt Nam có giá bán thấp hơn 60 USD/tấn so với gạo cùng loại của Thái Lan, đây là mức chênh lệch quá lớn mà chúng ta chưa khắc phục được [14]

Biểu đồ 1.1 Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008-2015

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2017)

Theo kế hoạch đến năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 20% sản lượng gạo xuất khẩu chính thức có thương hiệu Nhưng thực tế, vì chính sách thu mua lúa gạo của Việt Nam qua nhiều tầng nấc từ thương lái, cơ sở xay xát rồi mới đến các doanh nghiệp nên chất lượng gạo chưa cao Gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ tính theo gạo 5%, 15% hay 25% tấm chứ không được như thương hiệu gạo Hom Mali của Thái Lan, điều này dẫn đến giá gạo xuất khẩu thấp hơn các nước khác [26]

Tóm lại, nhằm khắc phục những hạn chế trên đây, chúng ta cần có những chính sách hợp lý, xây dựng khung pháp lý, tín dụng, kỹ thuật nhằm tạo ra những sản phẩm gạo chất lượng cao, nhưng cũng không bỏ qua những sản phẩm chất lượng trung bình cho những thị trường không quá khó tính Trong đó vấn đề cần quan tâm nhất chính là công tác nghiên cứu giống vừa duy trì được các tính trạng chất lượng vừa cho năng suất

Trang 24

cao và ổn định đồng thời chống chịu được các điều kiện khí hậu thời tiết bất thuận Đồng thời cần tăng cường công tác phục tráng giống phổ biến, có chất lượng, thích ứng rộng đã sử dụng thời gian dài trong sản xuất Bên cạnh đó, sản xuất cần có quy hoạch tập trung, khắc phục tình trạng manh mún về diện tích canh tác, khắc phục sự yếu kém trong khâu chế biến và bảo quản sản phẩm lúa gạo, sự thiếu đồng bộ trong sản xuất, thu mua, sự kém nhạy bén và thiếu thông tin về nhu cầu của thị trường

 Tình hình sản xuất lúa bản địa ở Việt Nam:

Lúa bản địa là các giống lúa được tìm thấy tại một hệ sinh thái nhất định Tại

đó nó được trồng trong một thời gian dài Các giống lúa bản địa là hỗn hợp nhiều giống, xuất hiện do đột biến và lai giống tự nhiên nhưng có chọn lọc do mục đích trồng trọt [5] Lúa bản địa ở Việt Nam chủ yếu do người đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất, gồm lúa ruộng và lúa nương rẫy

Ở Việt Nam, nguồn giống lúa bản địa rất đa dạng, phân bố trải dài từ Bắc tới Nam, tập trung trọng điểm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng Giống lúa bản địa là nguồn cung cấp vật liệu di truyền quan trọng trong các chương trình lúa lai, chương trình cải tạo giống Theo nghiên cứu của Bùi Chí Dũng, Lưu Ngọc Trình, Nguyễn Thị Lang chứng minh rằng vật liệu gen kháng, gen phẩm

chất trong lúa bản địa là hết sức phong phú [5]

Với đặc trưng của thổ nhưỡng, địa hình lẫn khí hậu cộng với tập quán canh tác cho nên ngày nay ở nước ta đã tồn tại 3 kiểu trồng lúa khác nhau:

- Kiểu trồng lúa nếp ruộng, kết hợp với nếp nương ở các thung lũng miền núi,

có người gọi là kiểu trồng lúa Thái - Tày

- Kiểu trồng lúa tẻ ở đồng bằng Nam Bộ, có người gọi là kiểu trồng lúa Việt - Khơ me

- Kiểu trồng lúa tẻ và lúa nếp ruộng thâm canh ở đồng bằng Bắc Bộ, có người

gọi là kiểu trồng lúa Việt

Lúa cạn được trồng ở nước ta cách đây ít nhất khoảng 6.000 năm và đã ghi lại dấu ấn quan trọng trong đời sống văn hóa các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam [38] Hiện tại lúa cạn ở nước ta chủ yếu được trồng tập trung ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây nguyên Diện tích lúa cạn ở nước ta đang giảm đi nhanh chóng trong hai thập kỷ qua, từ 450.000 ha vào cuối những năm 1990 xuống còn 130.000 ha vào năm 2009 hay giảm tới 72% [47] Có nhiều giống lúa đặc sản địa phương thơm ngon nhưng không duy trì được Nguyên nhân diện tích lúa cạn giảm trong thời gian qua chủ yếu do an ninh lương thực ở nước ta được đảm bảo tốt hơn, vì người dân thiếu hiểu biết trong khâu chọn giống, thêm vào đó Nhà nước đã đề ra một loạt những chính sách hỗ trợ cho các dân tộc miền núi như Chương trình 135, Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, Chương trình Khuyến nông…[7], [12]

Trang 25

Cộng đồng các dân tộc thiểu số nước ta hiện còn lưu trữ nhiều nguồn gen của các giống lúa không những có giá trị về mặt kinh tế mà còn giá trị về mặt văn hóa Ở vùng Tây Bắc, người dân tộc Thái có giống nếp nhoi, nếp tan, la Boong, lúa pe lạnh, lúa chăm kim, lúa tẻ hay ở Quảng Nam và Thừa Thiên Huế, người dân tộc Cơ Tu thường trồng lúa Nhe mùa, ba trăng, nếp đỏ, nếp trăng, lúa tẻ, lúa nhe, nếp than Ngoài ra ở các tỉnh Cao Bằng trong dân còn có lúa Khẩu lai đen, ở vùng Thanh Hóa người Mường có giống lúa Bàn, ở Vĩnh Phúc có giống lúa Bầu, người Cao Lan ở Tuyên Quang có giống lúa Sài Đường, người Thái ở Nghệ An có giống lúa Chăm muộn, ở Phú Yên có giống lúa Thê tráo của người Ê Đê [36]

Trong những năm qua nhờ chính sách đổi mới cùng với việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật đặc biệt là giống mới đã đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới Tuy nhiên ở một số vùng, miền do tính chất đặc thù về sinh thái, khả năng kinh tế và truyền thống canh tác của cộng đồng nhân dân nên việc đưa giống lúa cải tiến chịu thâm canh vào sản xuất đã gặp nhiều khó khăn và làm giảm hiệu quả đầu tư

Thực tiễn sản xuất ở những vùng sinh thái khó khăn trình độ canh tác và đầu tư không cao thì những giống lúa địa phương có khả năng thích nghi cao với điều kiện đất đai, khí hậu và tập quán trồng trọt, văn hóa sử dụng ở địa phương lại tỏ rõ ưu thế

và đóng vai trò chính trong việc đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, xóa đói cho những vùng khó khăn Chính những giống địa phương này, một số giống được coi là đặc sản vì nó là nguồn gen đặc hữu của địa phương có chất lượng cao, tiềm năng về giá trị hàng hóa lớn Những giống này là những nhân tố chính trong việc xây dựng thương hiệu nông sản [18]

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình nằm trong khu vực miền Trung, địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông, 85% tổng diện tích tự nhiên là đồi núi Toàn bộ diện tích được chia thành vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển Tỉnh Quảng Bình ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động, giao thoa bởi khí hậu của 2 miền Bắc và Nam, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300 mm/năm Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11 Mùa khô từ tháng

4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24 - 25oC Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng

6, 7 và 8 [63] Điều kiện thời tiết khí hậu về cơ bản thuận lợi cho sản xuất lúa 02 vụ, tuy nhiên trong thời gian qua, ảnh hưởng của thời tiết cực đoan như gió bão, lũ lụt, hạn hán, mưa rét cùng với diễn biết tiêu cực do biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, trong đó có cây lúa

Là tỉnh đi lên từ sản xuất nông nghiệp, tổng diện tích đất tự nhiên 800.003 ha, năm 2016 đất dành cho sản xuất nông nghiệp đạt 90.197 ha chiếm 11,27% [28] Từ

Trang 26

năm 2000 toàn tỉnh đã chú trọng đưa các giống mới năng suất cao vào sản xuất đại trà tại các huyện Tuyên Hoá, Minh Hoá Đồng thời, tại các huyện là vùng trọng điểm sản xuất lúa của tỉnh như Quảng Trạch, Lệ Thuỷ, Quảng Ninh năng suất, sản lượng lúa chất lượng tăng dần qua từng năm và chiếm tỷ trọng lớn trong thâm canh lúa cao sản của tỉnh

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa của Quảng Bình năm 2010-2016

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

2013, kết quả bước đầu cho thấy năng suất lúa tăng cao hơn, giảm được chi phí đầu vào trong sản xuất như giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng giống, nhu cầu nước ít hơn, thích ứng với điều kiện thiếu nước, khô hạn [33]

Năm 2017, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do diễn biến thời tiết bất thường Vụ Đông Xuân mưa rét kéo dài làm hơn 1.000 ha lúa bị chết phải gieo cấy lại, nhiều diện tích ngô, lạc gieo trồng chậm thời vụ Vụ Hè Thu đầu vụ nắng nóng, giữa

vụ mưa nhiều (do ảnh hưởng cơn bão số 2, 4, 10) gây ngập lụt và làm thiệt hại nhiều loại cây trồng Một số giống lúa sử dụng cho sản xuất vụ Hè Thu thường thích ứng với nền nhiệt cao, do đó thời tiết mưa nhiều làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, nhiều trà lúa trổ gặp mưa nên năng suất giảm Mặt khác, với sự tác động thời tiết nêu trên làm tình hình dịch hại diễn biến phức tạp, đặc biệt là bệnh bạc lá, khô vằn, rầy nâu, rầy lưng trắng, chuột và bệnh lùn sọc đen tái xuất hiện gây thiệt hại nhiều diện tích lúa Tuy nhiên, với sự vào cuộc của các cấp, các ngành và được sự chỉ đạo sát đúng, quyết liệt của Lãnh đạo Sở NN& PTNT, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật

đã tập trung chỉ đạo, điều hành sản xuất khá chặt chẽ Theo kết quả tổng kết năm 2017,

Trang 27

tổng diện tích gieo trồng lúa đạt 54.812,5 ha, giảm 109,8 ha (-0,2%) so với cùng kỳ, trong đó có 2.323 ha ở 20 cánh đồng liên kết thực hiện cánh đồng mẫu lớn, 371,59 ha đất trồng lúa chuyển đổi sang cây trồng cạn, 1.733 ha đất trồng lúa chuyển đổi sang

mô hình lúa - cá Năng suất cây lúa đạt 51,8 tạ/ha, tăng 1,17% (+0,6 tạ/ha); sản lượng đạt 283.928 tấn, tăng 1,1% (+3.089,2 tấn) so với cùng kỳ

Bảng 1.4 Kế hoạch sản xuất lúa năm 2017 của các huyện

Đồng Hới

Bố Trạch

Quảng Trạch

Ba Đồn

Tuyên Hóa

Minh Hóa

Tổng cộng

(Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Bình, 2017)

Bảng 1.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của tỉnh Quảng Bình năm 2017

Trang 28

 Tình hình sản xuất lúa bản địa tại tỉnh Quảng Bình

Phục tráng, bảo tồn và hướng tới phát triển các giống cây trồng, vật nuôi bản địa hiện là hướng đi được nhiều người quan tâm Trong bối cảnh tỉnh Quảng Bình đang hướng tới mục tiêu phát triển nền nông nghiệp hữu cơ, thì việc bảo tồn và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi bản địa không chỉ tạo động lực trong việc lưu giữ nguồn gen quý của địa phương, mà còn mở ra hướng đi mới trong việc đưa vào sản xuất quy mô hàng hoá các giống cây, con bản địa giàu tiềm năng phát triển kinh tế Tuy nhiên phần lớn các giống cây, con bản địa này đã bị thoái hóa, phân ly, giảm phẩm cấp và chất lượng vốn có Để từng bước bảo tồn và hướng đến nhân rộng các giống cây, con bản địa này, những năm qua, tỉnh Quảng Bình đã chú trọng đến công tác phục tráng, bảo tồn và phát triển một số giống cây trồng, vật nuôi bản địa truyền thống

Tỉnh Quảng Bình vốn có nhiều giống cây, con được ví như là "đặc sản" nổi tiếng gắn liền với những địa danh cụ thể, trong đó có nhiều giống lúa bản địa nổi tiếng như: nếp Cau, gạo Nước hai hay còn gọi là gạo đỏ (huyện Bố Trạch), Bao Thai, Mành Chành, nếp lá thơm, A Ri (Minh Hóa), đều có khả năng chống chịu tốt, thích nghi với mọi hoàn cảnh, không có nước vẫn sinh trưởng tốt Từ vụ Đông Xuân 2017- 2018, các

xã Vạn Trạch, Phú Trạch (Bố Trạch) đã đưa vào thực hiện gieo trồng được 6 ha giốnglúa Nước Hai và Nếp Cau, năng suất khoảng 20 tạ/ha Hiện nay, tỉnh đã phê duyệt danh mục dự án bảo tồn và phát triển giống lúa bản địa theo chuỗi giá trị giai đoạn từ 2018- 2020 đối với hai giống lúa này Theo người dân địa phương, hiện nay, bình quân

2 loại gạo này có giá khoảng 50 nghìn đồng/kg, cao gấp đôi các giống lúa ngắn ngày.Theo số liệu thống kê năm 2017, bên cạnh những cánh đồng thâm canh, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn còn 500 ha lúa bản địa được trồng vào vụ 10 của đồng bào các dân tộc Chứt, Bru-Vân Kiều, Mường, Tày…

Bảng 1.6 Kế hoạch sản xuất lúa bản địa năm 2017 của các huyện

Thời gian

Quảng Ninh

Bố Trạch

Quảng Trạch

Minh Hóa

Tổng cộng

Trang 29

1.2.3 Tình hình sử dụng giống lúa tại tỉnh Quảng Bình

Theo Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng giai đoạn 2014 - 2020 của ngành Nông nghiệp thì cơ cấu giống gắn với cơ cấu thời vụ, được chuyển dịch theo hướng né tránh những bất thuận của thời tiết, thiên tai Vụ Đông Xuân giảm dần các giống dài ngày, tăng cường giống trung và ngắn ngày để gieo cấy muộn hơn tránh ngập úng và rét vào đầu vụ Vụ Hè Thu tập trung sử dụng các giống ngắn ngày và cực ngắn tránh lũ đến sớm Phấn đấu nâng tỷ lệ sử dụng giống chất lượng cao trên 50% vụ Đông Xuân và trên 80% trong vụ Hè Thu [30]

Xuất phát từ yêu cầu của sản xuất, hiện nay bộ giống lúa tại Quảng Bình bao gồm: Các giống lúa chủ lực năng suất cao: Xi23, X21, NX30, lúa lai Nhị ưu 838 Các giống chất lượng cao: P6, XT28, HT1, SV186, nếp IJ352, IR35366 Các giống tiến bộ

kỹ thuật: SV46, SV181, SVN1… Bộ giống lúa vừa có năng suất vừa có chất lượng như P6, XT28, PC6… đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất Hàng năm đều bổ sung giống mới có tính ưu việt vào cơ cấu sản xuất, từ 2007 - 2013 có 08 giống mới đưa vào sản xuất: P6, P290, XT28, QX2 (94-11), QR1, PC6, P6 đột biến… và một số giống có triển vọng chuẩn bị đưa vào sản xuất đại trà như: QX5, QX4 Một số giống cực ngắn đang sản xuất thử như: Gia Lộc 102, MT18… Hiện các giống có thời gian sinh trưởng trung ngày và ngắn ngày chiếm khoảng 50-55% diện tích gieo cấy toàn tỉnh Tỷ lệ giống lúa xác nhận chiếm 65%, giống chất lượng chiếm 57% diện tích gieo cấy

Trong những năm gần đây (2011 - 2014), được sự hỗ trợ của các tổ chức Phi Chính phủ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cùng với sự khuyến cáo của các đơn vị chức năng Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư, phòng Nông nghiệp các huyện, Công

ty giống cây trồng Quảng Bình đã góp phần chuyển đổi tập quán canh tác của người dân trên địa bàn tỉnh, trong đó chú trọng việc ứng dụng kỹ thuật SRI trong sản xuất lúa, sử dụng giống lúa xác nhận góp phần giảm lượng giống gieo sạ từ 180 - 200 kg/ha xuống còn 90 - 100 kg/ha, kết hợp bón phân cân đối và hợp lý với lượng phân vô cơ (80 - 90 kg) N + (70 - 80 kg) P2O5 + (70 - 80) kg K2O, trên nền bón 10 tấn/ha phân chuồng hoặc 500 kg/ha phân hữu cơ vi sinh trong sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất [33]

1.2.4 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lúa trên thế giới

1.2.4.1 Vai trò của giống mới trong sản xuất nông nghiệp

Trong sản xuất nông nghiệp, giống cây trồng là khâu quan trọng nhất trong sản xuất trồng trọt Giống đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng và chất lượng cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất Đặc tính của giống (kiểu gen), yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác quyết định năng suất của giống Có sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường, kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường Vì vậy đánh giá tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống

Trang 30

Trong sản xuất, giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng chưa bao giờ đáp ứng đầy đủ Hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu về giống Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã có chương trình nghiên cứu lâu dài

về chọn giống, tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, tính chống bệnh, sâu hại, năng suất, chất lượng gạo… Giống lúa mới được coi là giống tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, có năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định

Trước tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay, hạn hán là nguyên nhân chính làm giảm năng suất lúa trên thế giới Các nghiên cứu về cải tạo nguồn gen chịu hạn cho cây lúa ở đây tập trung vào các vấn đề ảnh hưởng đến năng suất lúa như: Chọn tạo các nguồn gen có khả năng chịu hạn cho những vùng đất thiếu nước mà ở đó năng suất lúa có thể bị giảm tới 50%; Chọn tạo các giống lúa có các đặc điểm thích hợp với việc tránh hạn và chịu hạn như tăng khả năng giữ nước của lá, khả năng hình thành hạt trong điều kiện khô hạn, khả năng trỗ muộn để tránh hạn và các kiểu hình thích nghi với điều kiện hạn ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa…

Lúa là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số trên thế giới Dân số ngày càng tăng nhu cầu lương thực ngày càng lớn Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng cao của thế giới, ngoài việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật như: Giống mới, thâm canh, xây dựng cơ sở hạ tầng và hoàn thiện các biện pháp kĩ thuật khác thì việc nghiên cứu, thu nhập, lai tạo và chọn ra giống lúa mới có năng suất cao, ổn định, phẩm chất khá, có khả năng chống chịu lại một số loại sâu bệnh, đồng thời thích ứng với một

số điều kiện sinh thái nhất định thay thế dần các giống lúa cũ đã bị thoái hoá là một vấn đề đang được thế giới quan tâm, đầu tư và giải quyết

Ngày nay các nước sản xuất nông nghiệp đều có cơ quan làm nhiệm vụ thu thập, bảo tồn nghiên cứu, sử dụng các nguồn vật liệu cây trồng để chọn, tạo ra các giống mới phục vụ cho sản xuất Trên thế giới đã hình thành ra nhiều tổ chức và cơ sở nghiên cứu quốc tế, đảm bảo việc thu thập tập đoàn giống và cung cấp nguồn gen để cải tạo các giống cây trồng trong đó có lúa như:

- Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) được thành lập năm 1960 tại Losbanos- Philippin: Viện là trung tâm quốc tế về thu thập, bảo tồn và nghiên cứu để cung cấp các hạt giống lúa

- Trung tâm Quốc tế cải tạo giống ngô và cao lương (CIMY) thành lập năm

1966 tại Mehico: nhiệm vụ là bảo tồn và cung cấp hạt giống ngô, lúa và cao lương

- Trung tâm Quốc tế nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (CIAT) được thành lập năm 1976 tại Mapila-Colombia: Nhiệm vụ của trung tâm là thu thập, bảo tồn và nghiên cứu các giống đậu đỗ, sắn, ngô và lúa nhiệt đới

Trang 31

Nhờ thành tựu của các tổ chức và cơ sở nghiên cứu trên đã tạo ra nhiều giống mới là đòn bẩy để tăng năng suất và sản lượng Tổng sản lượng của 10 nước châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Banglades, Việt Nam, Thái lan, Myanmar, Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc) đạt 488.848 nghìn tấn

1.2.4.2 Một số thành tựu về nghiên cứu và chọn tạo lúa trên thế giới

 Công tác nghiên cứu lúa lai trên thế giới

Thách thức đối với cây trồng đó là phải tìm ra những cách thức hữu hiệu để áp dụng nhằm khai thác chuỗi gen cây lúa để sản xuất ra loại lúa có năng suất cao hơn, giàu dinh dưỡng hơn và có sức đề kháng cao hơn [56]

Các công trình nghiên cứu lúa gạo được triển khai một cách mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Năm 1926 J.W Jones (Mỹ) đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Tiếp đến các nhà tạo giống trên thế giới như: B S Kadem (Ấn Độ, 1937), F B Broun ( Malaysia, 1953), A Alim (Pakistan, 1957), cũng như nhiều nhà khoa học của Trung Quốc, Nhật Bản, Liên Xô, Philippin, đều tập trung nghiên cứu

Việc sản xuất giống lúa lai phải đáp ứng các tiêu chí sau: chất lượng gạo tốt, thích ứng rộng, kháng bệnh, kháng sâu bệnh chính và năng suất vượt quá 8% so với giống đối chứng trong các thử nghiệm cấp quốc gia và cấp tỉnh

Năm 1970 IRRI đã tiến hành 117 công thức lai mới, trong khoảng 1962 - 1970

có 1745 công thức lai (IR1 - IR1745) [26]

Năm 1988 ở các nước khác cũng lai tạo được 178 giống lúa mới có thành phần

di truyền từ IR Ấn Độ đã lai tạo được nhiều tổ hợp lai như: Yet335, CR1006 - CR1014, CR2002 [26]

Các giống lúa mới được trồng khoảng 65% diện tích lúa trên thế giới Ngày nay cây lúa không những được lai tạo để nâng cao năng suất mà còn được quan tâm đến việc nâng cao chất lượng

Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu lúa lai vào những năm đầu thập kỷ 60 và là nước đi đầu trong việc sử dụng ưu thế lai của lúa Đến nay Trung Quốc đã thu thập trên 60 nguồn bất dục tế bào chất khác nhau, từ đó đã chọn tạo ra được 600 dòng đực bất dục và 600 dòng duy trì tương ứng Đồng thời xác định được 3.000 dòng phục hồi

Từ nguồn nguyên liệu trên đã tạo ra được 200 tổ hợp lúa lai 3 dòng các loại Các tổ hợp mới lai tạo cho năng suất cao như giống: Nghi hương 2308, Hoa ưu 108, Phú ưu

số 1, CNR 36, My sơn 2, My sơn 4, các giống lai hai dòng như Nông ưu 28, VQ14, Bồi Ải 49, Bồi Ải 70 cho năng suất cao giúp cho nền sản xuất lúa của Trung Quốc tăng nhanh, xoá được nạn thiếu lương thực cho hàng tỷ dân của Trung Quốc

Trang 32

Ngoài mục tiêu tăng năng suất để đảm bảo an ninh lương thực, Trung Quốc cũng chú trọng đến việc lai tạo ra giống lúa chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xuất khẩu, chủ yếu là giảm hàm lượng amylose và cải tiến dạng hạt của các giống thuộc

loại Indica và Japonica Trung Quốc đã lai tạo ra được một số giống lúa chất lượng

cao được gieo trồng phổ biến như: Sheng tai, Chang Si - han, Zhong Xiang1, Zhong Youzao 3, Fengba Zhan, [50], [60]

Thái Lan nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, diện tích lúa lai chiếm tỷ lệ khá lớn, hiện nay các nhà chọn tạo giống Thái Lan đã chú trọng nghiên cứu chọn tạo

ra nhiều giống chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu Các giống lúa chất lượng cao được trồng phổ biến ở Thái Lan là: Khao Dawk Mali 105, RD15, Hương nhài,

 Công tác nghiên cứu lúa chịu hạn trên thế giới

Hiện nay các nhà khoa học đã nghiên cứu chọn, tạo ra các giống lúa có khả năng sinh trưởng ở vùng đất khô (dry land) nhằm giúp nông dân đối phó với sự thiếu nước Các giống lúa chịu hạn cần ít nước hơn so với các giống lúa cho vùng đất thấp (lowland rice) nhưng năng suất có thể đạt 4,0-6,0 tấn/ha cao hơn so với giống lúa cạn (up land rice)

Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu hạn từ giữa năm 1980

và hiện nay Trung Quốc có khoảng 80.000 ha lúa gieo khô Kết quả nghiên cứu đã tạo được một số giống lúa chịu hạn có năng suất cao trên cơ sở lai giữa giống lúa cho vùng đất thấp với lúa cạn truyền thống Các giống lúa chịu hạn có năng suất cao hiện nay ở Miền Bắc Trung Quốc là: Han Dao 277, Han Dao 297, Han Dao 502 với năng suất tiềm năng 6,5 tấn/ha

Brazin có khoảng 250.000 ha đất không chủ động tưới tiêu Sau 20 năm chương trình giống được triển khai đã tạo được các giống lúa chịu hạn đạt năng suất 5,0-7,0 tấn/ha với tưới nước bằng bình phun trên đồng ruộng nông dân

Năm 1982, Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) đã tiến hành gửi trên 4.000 dòng, giống đến và thí nghiệm tại các nước với mục đích đánh giá và chọn lọc giống lúa chịu hạn Năm 2001 bắt đầu phát triển các giống lúa chịu hạn cho khu vực Châu Á Những giống lúa chịu hạn đầu tiên được phát hiện là: IR55423-01 và UPLRI-5 từ Philippines; dòng B6144-MR-0-6-0-0 từ Indonesia và dòng CT6510-24-1-2 từ Colombia Các giống này phần lớn nhận được từ phép lai giữa Indica và bố mẹ Japonica nhiệt đới

Tại Philippines từ những năm 1950-1960 đã tiến hành thu thập, so sánh và lai tạo các giống lúa cạn địa phương Tới năm 1970, các giống lúa như C22, UPLRi3, UPLRi5 được tạo ra với chiều cao cây vừa phải, đẻ nhánh trung bình, nhưng năng suất khá và chất lượng gạo tốt Tiếp theo là giống UPLRi6 có tiềm năng năng suất khá,

Trang 33

thấp cây, khả năng phục hồi tốt Ở Ấn Độ cũng đã nghiên cứu chọn tạo được các dòng lúa triển vọng chịu hạn, đạt năng suất 4,0 tấn/ha, tiết kiệm 30-40% lượng nước

Năm 1966, Trạm nghiên cứu lúa Yagambi thuộc Viện quốc gia phát triển Congo (nay là INEAL, Zaire) giới thiệu giống R66 và OS6, cho năng suất cao và chống chịu hạn khá hơn Giống OS6 được trồng rộng rãi ở Tây Phi Cũng vào năm

1966, Viện IRAT, IITA và WARDA đã chọn tạo được các giống như TOX 86-1-3-1; TOX 356-1-1; TOX 718-1 và TOX 78-2 (Dasgusta, 1983) Những giống này có khả năng chịu hạn và chống chịu bệnh tốt Kết quả nghiên cứu trong năm 2005 cũng đã xác định được một số giống lúa có khả năng chịu hạn tốt là WAB891SG14; YUNLUNo.7; RR286-1; VANDANA; UPLRI-7; WAB878-6-20 WAB881SG36 Hiện nay trong mạng lưới khảo nghiệm các giống lúa của IRRI, hàng năm có hàng trăm dòng lúa triển vọng cho vùng khô hạn được đánh giá tại nhiều quốc gia ở Châu Á nhằm đáp ứng nhu cầu về giống lúa chịu hạn cho nông dân IRRI đã tạo ra thế

hệ lúa đầu tiên của giống lúa có tên là "aerobic" - giống lúa có khả năng hấp thụ nhiều ôxy trong không khí và có khả năng sinh trưởng tại những vùng đất khô hạn giống như cây ngô Thành công này của IRRI rất có ý nghĩa trong bối cảnh thời tiết khô hạn có khả năng sẽ diễn ra thường xuyên ở châu Á và tiết kiệm rất nhiều nước Năm 2008, IRRI thông báo đã giải mã được bộ gien của cây lúa, qua đó đã xác định được nhiều chủng loại lúa không những có thể cho năng suất cao trong điều kiện thời tiết thuận lợi

mà còn có khả năng đạt năng suất 2 - 3 tấn thóc/ha trong điều kiện khô hạn (chỉ dưới 1 tấn so với những giống khác)

Các nhà khoa học ở IRRI ngoài việc quan tâm đến cải thiện chất lượng nấu nướng đối với các giống lúa lai tạo ra còn rất chú ý vào công tác khôi phục và bảo tồn các giống lúa đặc sản địa phương Viện có hàng loạt các giống lúa có phẩm chất tốt, tiềm năng năng suất cao ra đời như IR64, IR50, IR42 [13]

Ở Ấn Độ có giống lúa bản địa Basmati là một trong những giống lúa bản địa có giá trị cao đứng đầu thế đầu thế giới về chất lượng gạo Giống lúa thơm Basmati, giá bán 1 tấn gạo đến hàng ngàn USD/tấn, thị trường gạo Basmati trên thế giới đạt 10,51 tỷ USD vào năm 2017 và dự kiến sẽ đạt được 17,74 tỷ USD vào năm 2022 [66]

Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu nông nghiệp Ấn Độ, Delhi, đã sử dụng giống cây trồng thông thường để sản xuất cây bán lùn lai có hầu hết các tính năng tốt của Basmati truyền thống (độ giãn hạt, mùi thơm, hàm lượng kiềm) Giống lai này được gọi là Pusa Basmati-1 (PB1); năng suất cây trồng cao gấp đôi so với giống truyền thống Các loại gạo thơm có nguồn gốc từ giống Basmati bao gồm PB2, PB3 và RS-10 [65]

Trang 34

Công tác thu thập, nghiên cứu sự đa dạng sinh học trong các giống lúa địa

phương (Oryza sativa L.) đã được Thái Lan rất quan tâm Từ tháng 5 năm 2011 đến

tháng 3 năm 2013 đã tiến hành khảo sát và thu thập được 89 giống lúa địa phương bao gồm 16 giống ở miền Trung, 12 ở miền Bắc, 23 ở vùng Đông Bắc và 38 ở miền Nam Trong đó có 2 loại: 21 giống lúa nếp và 68 giống lúa tẻ Phân loại sinh thái đề xuất 72 giống lúa đất thấp, 10 giống lúa nương và 7 giống lúa nổi [58]

Giống Khao Dawk Mali 105 (KDML105), thường được gọi là gạo Jasmine, là một giống lúa bản địa có gạo chất lượng cao và rất nổi tiếng trên thị trường thế giới của đất nước Thái Lan (Kongsri et al., 2002) Năng suất tiềm năng của giống này là 2,28 tấn/ha (Sri-aun, 2005; Cục nghiên cứu và phát triển lúa gạo, 2015) [59] Đến nay, những giống lúa thơm đặc sản Basmati, Khaw Dawk Mali đang được phục tráng và nhân rộng để gìn giữ được đặc tính nguyên thủy của giống

Các nhà khoa học Mỹ rất quan tâm đến chọn tạo giống chất lượng cao đặc biệt các giống lúa được cải tạo từ các giống lúa thơm nổi tiếng như Basmati, Jasmine Một

số giống lúa thơm đã được công nhận là giống quốc gia và đang được trồng phổ biến ở

Mỹ hiện nay là Dellmont, Dellrose và A-201 [13]

Tại Indonexia, các chương trình về tài nguyên di truyền cộng đồng đang được thu thập để gìn giữ và khôi phục lại các giống lúa cổ truyền khỏi bị mất và đang trồng thử nghiệm chúng nhằm cải thiện quy trình canh tác của nông dân [13]

1.2.5 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống lúa ở Việt Nam

Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loại cây trồng trong đó có cây lúa Lúa gạo không chỉ là nguồn lương thực chính của người dân Việt Nam mà còn là loại cây trồng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế cho đất nước Để tăng năng suất cây trồng thì công tác giống là biện pháp tối ưu nhất Sử dụng giống tốt có thể nâng năng suất cao hơn so với giống bình thường

từ 10 - 30% hoặc cao hơn nữa Trong khi đó, việc áp dụng các biện pháp khác như kỹ thuật canh tác hay đầu tư phân bón chỉ có thể làm cho năng suất của giống tăng không quá 7% [41]

Nhận thấy tầm quan trọng của giống đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp nên nhà nước ta đã có chính sách đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu, thu thập, chọn lọc, lai tạo và khảo kiểm nghiệm giống Các Viện, Trung tâm nghiên cứu, Trường đại học đã được thành lập và đầu tư về nhân lực, tài chính, khoa học kỹ thuật phục vụ cho công tác nghiên cứu Nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, tuyển chọn ra nhiều giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi để đưa vào sản xuất đại trà

Trang 35

Việc nghiên cứu giống lúa ở Việt nam bắt đầu từ rất sớm gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học Việt Nam Nhà khoa học đầu tiên là Lê Quý Đôn đã mô tả chất lượng của các giống lúa Việt Nam ngay từ thế kỷ XVIII Trong “Vân đài loại ngữ, 1773”, Lê Quý Đôn đã đề cập đến chất lượng của 70 giống lúa có ở nước ta hồi đó Trong số này có 27 giống lúa Chiêm và 29 giống lúa nếp bao gồm cả lúa Nương, lúa Đồi, Nếp củ nâu, Nếp lóc… Sau hơn 200 năm, nhiều địa phương đã trồng một số giống mà Lê Quý Đôn đã ghi lại như: Tám Xoan ở Hà Bắc, Thái Bình; Tám Râu ở Hải Phòng, Hà Bắc; Giống Thông ở Hà Nam, Thanh Hoá; Bái Ngạn ở Nghệ An; Chiêm bầu ở Vĩnh Phúc, Hải Hưng, Thái Bình, Thanh Hoá; Nếp vải ở Thái Bình, Hải Hưng…[45]

Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, chọn tạo, thử nghiệm và đưa vào sản xuất các giống lúa mới cũng như công tác thu thập, phục tráng các giống lúa đặc sản của địa phương đã được đẩy mạnh ở các Viện nghiên cứu, các trường đại học nông nghiệp, các trạm trại trong cả nước trong từng lĩnh vực cụ thể như sau:

 Nghiên cứu lúa lai ở Việt Nam

Khai thác ưu thế lai của lúa là một hướng đi hiệu quả nhất để tăng năng suất và sản lượng lúa Từ năm 1995 đến nay, Viện Cây lương thực và cây thực phẩm đã chọn tạo và đưa vào sản xuất 92 giống cây trồng mới được công nhận là giống quốc gia, giống tiến bộ kỹ thuật, 23 qui trình kỹ thuật được công nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó:

- Chọn tạo 26 giống lúa (P1, P4, P6, Xi23, X20, X19, X21, X22, CH5, U20, M6, MT163, MT6, MT131, M90, BM9603, BM9608, BM9855, BM9820, BM9962, N29, N97, NX30, HT1, ĐS101, Tép lai)

- Lai tạo được các giống lúa lai 3 dòng chất lượng cao được công nhận như: HYT57, HYT83, HYT100, HYT92; giống triển vọng HYT93-2, HYT97 (3 dòng), HYT102, HYT103 (2 dòng)

- Chọn thuần, nhân và cung ứng cho các địa phương bao gồm hạt lai F1 và trên

100 tấn giống bố, mẹ, trong đó có 63 tấn giống BoA + 16 tấn giống bố của các tổ hợp

hệ Bắc ưu, 18 giống mẹ II32A và 5 tấn giống bố của các tổ hợp hệ Nhị ưu đảm bảo chất lượng

- Làm chủ được công nghệ sản xuất hạt giống F1 và chuyển giao đến hầu hết các tỉnh gieo trồng lúa lai trong cả nước như: Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Lào Cai, Điện Biên, Hoà Bình, Yên Bái

- Qui trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa lai F1 tổ hợp Bắc ưu trong vụ Xuân,

áp dụng cho các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Lào Cai, Bắc Ninh… Dòng mẹ BoA-84

và các dòng Bố Trắc 66-5, Quế 99-46 của các tổ hợp Bắc ưu 64, và Bắc ưu 903, áp

Trang 36

dụng cho các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Lào Cai, Hoà Bình…Giống lúa thuần AYT77, áp dụng cho hầu hết các địa phương trồng lúa

- Qui trình sản xuất hạt giống lúa lai F1 tổ hợp lai Nhị ưu 838 trong vụ Xuân, áp dụng cho các tỉnh Thanh Hoá, Kon Tum, Yên Bái, Hà Tĩnh, Điện Biên

- Qui trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa lai F1 tổ hợp Nhị ưu 63 trong vụ Xuân, áp dụng cho Thanh Hóa và một số tỉnh khác [18]

Viện Di truyền nông nghiệp bằng đột biến thực nghiệm kết hợp phương pháp lai tạo chọn lọc và nuôi cấy mô tế bào, một số dòng TGMS mới trên cơ sở của các dòng này và các tổ hợp lai hai dòng đầu tiên được tạo ra: TGMS-VN1/DT21, TGMS-VN1/DT24, DT- 01/ DT118 và VN - 01/212

Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đã lai tạo tạo ra được các giống có năng suất cao và chất lượng như OM997- 6, OM16633;

Tuy nhiên các tổ hợp lúa lai được gieo cấy rộng rãi trong nước chủ yếu được nhập từ nước ngoài, nhất là từ Trung Quốc Năm 2010, Bộ NN&PTNT xây dựng thành chương trình phát triển 1 triệu ha lúa lai Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, trong

số 55 giống lúa lai 3 dòng mà Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương tiến hành khảo nghiệm chỉ vẻn vẹn có 2 giống của Việt Nam, còn là của Trung Quốc

Vì vậy để phát triển lúa lai bền vững và lâu dài, Bộ NN&PTNT đã trình Chính phủ một phương án “dài hơi”, đó là mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực làm công tác nghiên cứu Bên cạnh đó, kêu gọi liên kết hợp tác với các chuyên gia Trung Quốc, hay các chuyên gia nước khác để sản xuất ra giống lúa bố mẹ ngay tại Việt Nam [18]

 Nghiên cứu về lúa chịu hạn ở Việt Nam

Theo Lê Thị Bích Thuỷ và cs (2004), đã phát triển được chỉ thị STSG20 để đánh giá tính chịu hạn ở lúa Với dự án do tổ chức Rockefeller (Mỹ) tài trợ lần đầu tiên

ở Việt Nam, phòng Di truyền tế bào thực vật đã thành công trong việc lập bản đồ di truyền phân tử và định vị một số locus kiểm soát tính chịu hạn ở lúa cạn Việt Nam Bản đồ di truyền phân tử được xây dựng dựa trên sự phân ly các chỉ thị phân tử SSR

và AFLP trong quần thể tự phối giữa hai giống lúa cạn Việt Nam Bản đồ được xây dựng với 239 chỉ thị phân tử (36 chỉ thị SSR và 203 chỉ thị AFLP) phủ trên 3.971,1

cm, với khoảng cách trung bình giữa các chỉ thị là 16,62 cM [35]

Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu (2008), qua đánh giá quần thể lai OM1490/WAB880-1-38-18-20-P1-HB (với 229 cây BC2F2) và quần thể lai OM1490/WAB881 SG9 229 BC2F2 và OM4495 / IR65195-3B-2-2-2-2 (100 F2) Sự thể hiện tính chống chịu khô hạn được quan sát thông qua những tính trạng cụ thể như hình thái rễ cây, lá, chồi thân, phản ứng co nguyên sinh, bao phấn, quá trình trổ bông Khi phân tích quần thể OM1490/WAB880-1-38-18-20-P1-HB ở thế hệ F1, có 86,6%

cá thể nghiêng lệch về bố và 15,3% nghiêng lệch về mẹ OM1490 Tần suất biến thiên

Trang 37

của tính trạng DRR trong phân bố chuẩn Locus RM201 trên nhiễm sắc thể số 9, được xác định liên kết chặt chẽ với tính trạng mục tiêu DRR, với gía trị R2 = 20,73 % Ở tổ hợp lai OM1490/WAB881 SG9, biến thiên của kiểu hình được giải thích bởi quãng giữa RM201-RM238 là 32,28%, rất đáng chú ý Quãng giữa này đều được ghi nhận trong cả hai quần thể của OM1490 / WAB880-1-38-18-20-P1-HB và OM1490/WAB881 SG9 Tổng chiều dài được bao phủ bởi marker đa hình trên nhiễm sắc thể số 9 là 290,4

CM Đa hình của quần thể phân ly tại locus RM201 trên nhiễm sắc thể số 9, với băng của bố ở vị trí 225 bp, và băng của mẹ ở vị trí 210 bp RM201 được đề nghị sử dụng cho nội dung chọn tạo giống lúa chống chịu khô hạn nhờ chỉ thị phân tử [3], [4] Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã chọn được các giống lúa cạn địa phương, chịu hạn tốt từ nguồn INGER như: LC88-66; LC88-67-1; LC90- 4; LC90-5; LC93-1; LC93- 4; LC90-12; Đây là những giống lúa đang được phát triển mạnh ở Tây Nguyên, Miền Đông Nam bộ và một số tỉnh Miền núi và Trung du Bắc

bộ, đạt năng suất cao 28-30 tạ/ha trong điều kiện nước trời Năm 2010, Viện Miền Nam có 2 giống lúa cạn được công nhận sản xuất thử là LC.227 và LC408, năng suất đạt 3,0- 4,5 tấn/ha Kết quả xây dựng mô hình tại Easup- Đăk Lắk năm 2009 cho kết quả giống lúa cạn LC227 đạt từ 3,5-4,5 tạ/ha và giống LC 408 đạt năng suất từ 3,5- 3,8 tấn/ha [42]

Đỗ Việt Anh và CS (2013) nghiên cứu, chọn tạo giống lúa chịu hạn cho vùng đất cạn và vùng có điều kiện khó khăn, đánh giá 343 mẫu dòng/giống, 20/192 mẫu giống lúa có hệ số tương đồng di truyền cao và chứa các alen chịu hạn, 1645 dòng được chọn lọc cho vùng đất cạn nhờ nước trời và 1920 dòng cho vùng bấp bênh nước Các dòng giống nêu trên là những nguồn vật liệu khởi đầu tốt để phục vụ công tác chọn giống lúa chịu hạn mới ở Việt Nam

 Nghiên cứu về lúa bản địa ở Việt Nam

Trong những năm qua, việc thu thập, gìn giữ, đánh giá và sử dụng các giống lúa đặc sản quý hiếm được nhà nước quan tâm đầu tư So với tập đoàn giống lúa mới cao sản thì giống lúa bản địa cho năng suất và chống chịu sâu bệnh kém hơn Tuy nhiên ưu điểm của giống lúa bản địa là chịu được điều kiện đất đai và khí hậu tốt hơn, đặc tính thơm ngon và hấp dẫn người tiêu dùng hơn Nhiều địa phương việc gieo trồng lúa bản địa có hiệu quả kinh tế cao hơn lúa mới cao sản do chi phí đầu tư thấp và giá bán thì cao hơn

Các giống lúa thơm ngon ở Việt Nam khá nhiều như giống lúa Một Bụi, Trắng Tép ở Cà Mau, Nàng Hương ở An Giang, Mằng Tây, Móng Chim ở Tây Ninh, Tám Thơm ở Nam Định, Séng Cù ở Lào Cai và Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà ở miền núi phía Bắc Những giống lúa đặc sản ở miền Bắc đều có độ thơm cao hơn những giống lúa đặc sản ở miền Nam [25]

Trang 38

Công tác chọn lọc, phục tráng các giống lúa bản địa đặc sản ở địa phương đã được tiến hành ở Việt Nam từ rất lâu Các giống lúa có chất lượng giá trị hàng hóa cao nhưng thường cho năng suất thấp 2-3 tấn/ha Hiện tại, Trung tâm Tài nguyên Di truyền thực vật - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đang có trên 5.000 giồng lúa địa phương

Theo Lê Doản Diên và cs (1996) nghiên cứu 650 giống lúa cho rằng ở miền Bắc có các giống lúa cổ truyền như lúa Chiêm, lúa Mùa, lúa Nương, lúa rẫy Các giống lúa đặc sản gồm các giống lúa Tám, các giống Dự, các giống Di, các giống Gíe

Ở Miền Nam có các giống cổ truyền như Miên Trắng, Miên Đen, Châu Hương, Bằng Ngọc, Dốc Trắng và các giống lúa đặc sản như Nàng Hương, Nàng thơm chợ Đào, Nàng thơm Bình Chánh, Tàu Hương, Móng Chim Trắng Các giống lúa này thường

có kích thước và hình dạng nhỏ hơn các giống lúa nhập nội và giống lúa mới cải tiến

Tỷ lệ hạt gạo bạc trắng cũng thấp hơn và lúa đặc sản miền Bắc có tỷ lệ gạo bạc trắng là thấp nhất [16]

Ở bản Nasai (xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An) có nguồn giống lúa bản địa cũng rất đa dạng phong phú Qua điều tra của Viện Nghiên Cứu Sinh thái Chính sách Xã hội, hiện nay 08 giống lúa nếp sớm khác nhau gọi là Nải sớm, 05 giống nếp vụ Mùa gọi là Nải Mùa 05 giống nếp được trồng vụ Chiêm gọi là lúa ruộng Một

số giống lúa như là: Khẩu Lò Lòn, Khấu Lạc, Khấu giàng Lò, Khấu vặn lò, Khấu Bà Lão, Khấu Nòng, Khấu Mồng Ngoài ra còn có 04 loại lúa tẻ như Khấu Chăm To, Khấu Chăm Lương, Khấu Chăm Nanh, Khấu Chăm Nõn [37]

Ở Thừa Thiên Huế có các giống lúa nương rẫy của người dân tộc Ta Ôi Trước đây, người Ta Ôi có 17 giống lúa khác nhau Đến nay, phần lớn các giống lúa này vẫn được lưu giữ như giống Ra dư, Cu da, Pi Nhe, Trừi, A Lia, Ăng Zục, Cu Puash, Tu lục,

A piem, Cu Zawsh, a Tút, Arel, Ará, Améc, A veenh, A lao, Tar ràng Trong đó có 3 giống được được ngành nông nghiệp cho nhân giống là Ra dư, Cuda và Pi Nhe [36] Các hướng nghiên cứu phát triển giống lúa bản địa trong thời gian tới là phục tráng, duy trì và phát triển các giống lúa đặc sản, giống địa phương Từng bước xây dựng thương hiệu cho một số giống lúa có chất lượng tốt Sử dụng nguồn gen của các giống lúa địa phương và nguồn gen của các giống lúa mới để lai tạo ra các giống lúa năng suất, chất lượng cao hơn và sức chống chịu tốt hơn

Tại Phú Yên, Sở Nông nghiệp và PTNT (2011) đã thực hiện đề tài đánh giá thực trạng sản xuất và giải pháp phát triển bền vững giống lúa gạo đỏ trên địa bàn huyện Tuy An- Phú Yên Qua điều tra, diện tích sản xuất các giống lúa gạo đỏ trên địa bàn huyện Tuy An, khoảng 200 ha, năng suất dao động từ 17-30 tạ/ha Tập trung chủ yếu tại 02 xã An Hòa và An Hiệp Cơ cấu giống lúa gạo đỏ là giống Tàu Cúc, Bát Quạt, Đuôi Nai Trong đó, giống Tàu Cúc chiếm 95% diện tích sản xuất giống lúa gạo

đỏ Đề tài góp phần bảo vệ nguồn gen địa phương và cung cấp những lý luận khoa học trong quá trình nghiên cứu, xây dựng qui trình sản xuất giống lúa gạo đỏ

Trang 39

Năm 2013, tỉnh Bắc Cạn đã thực hiện đề tài “Phục tráng và phát triển giống lúa Khẩu nua lếch tại xã Thượng Quang, huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn” và đã phục tráng

thành công giống lúa nếp bản địa này góp phần bảo tồn những đặc điểm trội, nhân giống, cung cấp cho đồng bào dân tộc thiểu số thâm canh, tăng thu nhập

Nguyễn Thị Hảo và cs (2013) đã nghiên cứu nhận biết các dòng, giống lúa địa phương chịu hạn để phát triển vật liệu di truyền và chọn tạo giống lúa thích nghi với điều kiện canh tác nhờ nước trời Thí nghiệm tiến hành đánh giá 42 dòng, giống lúa địa phương bằng các phương pháp xử lý KClO3 hạt, đánh giá khả năng chịu hạn bằng trồng trong ống rễ, thí nghiệm đánh giá trong điều kiện hạn và có tưới, sử dụng marker phân tử SSR liên kết dò tìm gen hoặc QTL kiểm soát tính trạng chiều dài và sinh trưởng của rễ Kết quả đã xác định được 11 mẫu giống có khả năng chịu hạn, trong đó

có 3 mẫu giống chịu hạn tốt nhất là 455 (Khẩu li ón/Q5), 464 (Mùa chua, Điện Biên)

và 487 (Khẩu lếch, Bắk Kạn) để khuyến cáo cho chương trình chọn tạo giống lúa thích ứng với điều kiện canh tác nhờ nước trời [20]

Theo Khuất Hữu Trung, Lê Huy Hàm (2013), Viện Di truyền nông nghiệp bằng nghiên cứu giải mã genome một số giống lúa địa phương đã đánh giá đa dạng di truyền của 6 tập đoàn giống lúa bản địa nghiên cứu, qua đó tuyển chọn được 36 giống lúa điển hình phân bố ở các vùng miền khác nhau, có độ đa dạng cao để phục vụ cho quá trình giải mã genome (07 mẫu giống chất lượng, 06 mẫu giống chịu hạn, 06 mẫu giống chịu mặn, 07 mẫu giống kháng rầy nâu, 05 mẫu giống kháng đạo ôn và 05 mẫu giống kháng bạc lá) Đồng thời đã giải mã thành công genome của 36 giống lúa bản địa ưu tú

Giống CH207 do tác giả Nguyễn Tấn Hinh, Nguyễn Trọng Khanh và cộng sự tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính từ tổ hợp Lúa nương Hà Giang và Nông nghiệp 75-6 và chọn lọc theo phương pháp phả hệ Giống có tiềm năng năng suất đạt 45-55 tạ./ha trong điều kiện nước bấp bênh, điều kiện chủ động nước tưới năng suất đạt 57-

65 tạ/ha [41]

Trang 40

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu 06 giống lúa địa phương (A Ri; A Ham; A Suôm; Tre; Kay Nọi; Đầu Đỏ) do các nhà khoa học của Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Huế điều tra và thu thập, trong đó giống đối chứng là giống lúa A Ri đang được người dân trong tỉnh sản xuất

Bảng 2.1 Danh sách và nguồn gốc các giống giống lúa tham gia thí nghiệm

3 A Suôm Nam Đông, A Lưới- Thừa Thiên Huế; ĐắcKrông - Quảng Trị

ĐắcKrông, Hướng Hóa - Quảng Trị;

Tuyên Hóa, Minh Hóa - Quảng Bình

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và một số chỉ tiêu về hình thái của các giống lúa thí nghiệm

- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại chính của các giống lúa thí nghiệm

- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thí nghiệm

- Đánh giá phẩm chất, một số chỉ tiêu sinh hóa và chất lượng cơm của các giống lúa thí nghiệm

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w