Để góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Hanh, cũng như chủ động nguồn giống, hướng được sự sinh sản tự nhiên của cá vào sinh sản nhân tạo, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác; mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn trích dẫn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Kim Hoàng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua 2 năm nghiên cứu và học tập, dưới sự đào tạo và hướng dẫn tận tình của các Thầy, các Cô Khoa Thủy sản – Trường Đại học Nông lâm, Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế; sự tạo điều kiện thuận lợi của đơn vị nơi công tác; và sự phối hợp, chia sẽ của các bạn cùng lớp K20 Cao học Nuôi trồng thủy sản – Đại học Nông lâm Huế; các đồng chí, đồng nghiệp; và Khoa Nông Lâm Ngư – Đại học Quảng Bình Được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Huế, Khoa Thủy sản và sự nhất trí của thầy giáo hướng dẫn, tôi đã thực hiện hoàn thành Luận văn
Thạc sỹ với đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Hanh - Acanthopagrus latus
(Houttuyn, 1782) ở vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình”
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Quý Cô Khoa Thủy sản – Trường Đại học Nông lâm, Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Võ Văn Phú, PGS TS Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế; cảm ơn các đồng chí, đồng nghiệp, các bạn, các cơ quan hữu quan, chính quyền địa phương nơi tôi nghiên cứu và gia đình thân yêu đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi sẽ luôn trân trọng và khắc ghi những kiến thức đã được học được cũng như tình cảm quý báu mà Quý Thầy, Cô và các bạn đã dành cho tôi; và mong muốn Quý Thầy, Cô và các bạn luôn cùng tôi, chia sẽ về mọi mặt trong cuộc sống, trong công việc và trong các công tác nghiên cứu khoa học thời gian tới
Xin trân trọng cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, tháng 8 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Kim Hoàng
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Quảng Bình là tỉnh Bắc Trung Bộ, có nhiều tiềm năng và lợi thể để phát triển thủy sản, đặc biệt là nuôi thủy sản mặn lợ Trong điều kiện môi trường ô nhiễm, dịch bệnh gia tăng, các đối tượng nuôi thâm canh truyền thống ngày càng có tính rủi ro cao, việc chuyển đổi sang các hình thức nuôi xen canh, nuôi ghép, nuôi sinh thái thân thiện với môi trường đang là một sự lựa chọn của người nuôi thủy sản, và việc nghiên cứu
để tìm các đối tượng nuôi mới, phù hợp, tạo điều kiện cho người nuôi có sự lựa chọn
để sản xuất ổn định và bền vững là thực sự cần thiết
Cá Hanh (còn gọi cá Tráp vây vàng) là loài có giá trị thương phẩm cao, cũng là loài cá hoàn toàn có khả năng nuôi trong ao mặn lợ cho hiệu quả; và vì có giá trị nên con người không ngừng tác động đến nguồn lợi, tạo sức ép khai thác lớn, làm ảnh hưởng đến sự phân bố, suy giảm số lượng quần thể
Để góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Hanh, cũng như chủ động nguồn giống, hướng được sự sinh sản tự nhiên của cá vào sinh sản nhân tạo, chúng tôi
đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Hanh – Acanthopagrus latus
(Houttuyn, 1782) ở vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình”
2 Các nội nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng;
- Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng;
- Nghiên cứu đặc điểm sinh sản;
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững
3 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu ngoài thực địa: thu mẫu và điều tra, phỏng vấn
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Về chỉ tiêu hình thái phân loại, đặc tính sinh trưởng, về dinh dưỡng, về sinh sản của cá
- Phân tích, xử lý thông tin, đánh giá tiềm năng sinh sản, sinh thái và phân bố,
đề xuất các nhóm giải pháp để phát triển bền vững
4 Kết quả chính đạt được
Kết quả đạt được là đặc diểm sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản; tiềm năng sinh sản, từ đó đưa ra định hướng cho sinh sản nhân tạo giống cá Hanh, các biện pháp bảo tồn, phát triển nguồn lợi cá Hanh tại vùng cửa Sông Gianh, tỉnh Quảng Bình
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC CÁ 4
1.1.1 Trong nước 4
1.1.2 Tại tỉnh Quảng Bình 6
1.2 LƯỢC SỬ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC CÁ HANH 7
1.2.1.Trên thế giới 7
1.2.2 Ở Việt Nam 11
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 13
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 14
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng 15
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng 15
2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản 15
Trang 52.2.4 Đánh giá tiềm năng sinh sản của cá Hanh 15
2.2.5 Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững 15
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 16
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 16
2.3.3 Đánh giá tiềm năng sinh sản của cá Hanh 19
2.3.4 Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững 19
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 20
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 20
3.1.1 Vị trí địa lý 20
3.1.2 Thời tiết, khí hậu 20
3.1.3 Chế độ thủy văn 22
3.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA QUẦN XÃ THỦY SINH VẬT 23
3.2.1 Thực vật thủy sinh 23
3.2.2 Động vật thủy sinh 23
3.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VEN BỜ SÔNG GIANH 24
3.3.1 Dân số, lao động 24
3.3.2 Mức sống, thu nhập, trình độ dân trí 24
3.3.3 Giáo dục, y tế 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÁ HANH 26
4.1.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng 26
4.1.2 Cấu trúc tuổi của quần thể 28
4.1.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm 29
4.2 ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG CỦA CÁ HANH 30
4.2.1 Thành phần thức ăn 30
4.2.2 Cường độ bắt mồi 32
4.2.3 Độ mỡ của cá Hanh 35
4.2.4 Hệ số béo 37
Trang 64.3 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA CÁ HANH 38
4.3.1 Đặc điểm phát triển của tế bào trứng 38
4.3.2 Đặc điểm phát triển của tế bào sinh dục đực 41
4.3.3 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 42
4.3.4 Tỉ lệ đực, cái của cá Hanh 48
4.3.5 Sự chín muồi sinh dục theo nhóm tuổi 49
4.3.6 Thời gian sinh sản 50
4.3.7 Sức sinh sản 52
4.4 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG SINH SẢN CỦA CÁ HANH 53
4.4.1 Sinh thái phân bố 53
4.4.2 Mùa vụ, thời gian đẻ và bãi đẻ 56
4.5 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 57
4.5.1 Tình hình khai thác các Hanh tại vùng cửa sông Gianh 57
4.5.2 Hiện trạng và tiềm năng nuôi thả 59
4.5.3 Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững 60
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 KẾT LUẬN 62
5.1.1 Về sinh trưởng 62
5.1.2 Về dinh dưỡng 62
5.1.3 Về sinh sản 62
5.1.4 Về phân bố 62
5.2 KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHẦN PHỤ LỤC 69
Trang 7NCNTTS Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản
NN và PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu 21
Bảng 3.2 Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu 21
Bảng 3.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu 21
Bảng 3.4 Số giờ nắng trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu 22
Bảng 3.5 Diện tích, dân số và mật độ dân số các địa phương vùng nghiên cứu 24
Bảng 4.1 Chiều dài và khối lượng của cá Hanh ở vùng cửa sông Gianh 26
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Hanh 29
Bảng 4.3 So sánh mức tăng trưởng chiều dài trung bình hàng năm của cá Hanh ở vùng cửa sông Gianh với đầm Ô Loan 30
Bảng 4.4 Thành phần thức ăn của cá Hanh ở sông Gianh với cá ở đầm Ô Loan 31
Bảng 4.5 Độ no của cá Hanh theo tháng trong thời gian nghiên cứu 33
Bảng 4.6 Độ no của cá Hanh theo từng nhóm tuổi 34
Bảng 4.7 Mức độ tích lũy mỡ của cá Hanh qua các tháng nghiên cứu 36
Bảng 4.8 Hệ số béo của cá Hanh tính theo công thức Fulton và Clark 37
Bảng 4.9 Tỷ lệ đực, cái của cá Hanh chia theo nhóm tuổi 48
Bảng 4.10 Các giai đoạn CMSD của cá Hanh theo nhóm tuổi 49
Bảng 4.11 Các giai đoạn chín muồi sinh dục của cá Hanh chia theo tháng 51
Bảng 4.12 Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá Hanh 52
Bảng 4.13 Phân bố cá Hanh khai thác theo vùng 55
Bảng 4.14 Phân bố cá Hanh khai thác theo mùa 55
Bảng 4.15 Số hộ khai thác và ngư cụ phân theo địa bàn vùng thu mẫu 57
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
Hình 2.2 Sơ đồ vùng nghiên cứu cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình 14
Hình 4.1 Đồ thị tương quan chiều dài và khối lượng 27
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ cấu trúc quần thể cá Hanh theo nhóm tuổi 28
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ thành phần loại thức ăn 31
Hình 4.4 Biểu đồ mối quan hệ giữa số loại thức ăn với nhóm chiều dài cơ thể 32
Hình 4.5 Biểu đồ cường độ bắt mồi theo độ no qua các tháng 34
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện mức độ tích lũy mỡ qua các tháng 37
Hình 4.8 Lát cắt tế bào trứng thời kỳ tổng hợp nhân 38
Hình 4.9 Lát cắt tế bào trứng thời kỳ sinh trưởng sinh chất 39
Hình 4.10 Lát cắt tế bào trứng pha không bào hóa 39
Hình 4.11 Lát cắt tế bào trứng pha tích lũy noãn hoàng 40
Hình 4.12 Lát cắt tế bào trứng thời kỳ trứng chín 40
Hình 4.13 Lát cắt tinh sào thời kỳ sinh sản 41
Hình 4.14 Lát cắt tinh sào thời kỳ sinh trưởng 41
Hình 4.15 Lát cắt tinh sào thời kỳ hình thành 41
Hình 4.16 Lát cắt tinh sào thời kỳ chín 42
Hình 4.17 Lát cắt buồng trứng giai đoạn I 42
Hình 4.18 Lát cắt buồng trứng giai đoạn II 43
Hình 4.19 Lát cắt buồng trứng giai đoạn III 43
Hình 4.20 Lát cắt buồng trứng giai đoạn IV 44
Hình 4.21 Lát cắt buồng trứng giai đoạn V 44
Hình 4.22 Lát cắt buồng trứng giai đoạn VI-III 45
Hình 4.23 Lát cắt tinh sàogiai đoạn I 45
Hình 4.24 Lát cắt tinh sào giai đoạn II 46
Hình 4.25 Lát cắt tinh sào giai đoạn III 46
Hình 4.26 Lát cắt tinh sào giai đoạn IV 47
Trang 10Hình 4.27 Lát cắt tinh sào giai đoạn V 47
Hình 4.28 Lát cắt tinh sào giai đoạn VI 47
Hình 4.29 Biểu đồ tỷ lệ đực cái của cá Hanh theo nhóm tuổi 48
Hình 4.30 Biểu đồ các giai đoạn CMSD theo nhóm tuổi 50
Hình 4.31 Biểu đồ tỷ lệ độ CMSD theo các tháng 52
Hình 4.32 Sơ đồ phân bố của cá Hanh trên các vùng lấy mẫu 54
Hình 4.33 Biểu đồ tỷ lệ phân bố sản lượng theo mùa tại các vùng lấy mẫu 56
Hình 4.34 Tỷ lệ các hộ sử dụng các loại ngư cụ phân theo vùng lấy mẫu 58
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Quảng Bình là tỉnh Bắc Trung Bộ, có bờ biển dài hơn 116 km ở phía Đông, có chung biên giới với Lào 201 km ở phía Tây, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị Diện tích tự nhiên 8.000 km2, dân số 872.925 người (2015) [4]
Quảng Bình có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối, hồ khá dày đặc Mật độ sông suối đạt 0,8÷1,1 km/km2, phân bố không đều và có xu hướng giảm dần từ Tây sang Đông, từ vùng núi ra biển Toàn tỉnh có 5 hệ thống sông chính là: sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ, với tổng chiều dài
343 km, lưu vực rộng 7.977 km2
Sông Gianh là hệ thống sông lớn nhất trong 5 hệ thống sông, với chiều dài khoảng 160 km, lưu vực 4.680 km2, bắt nguồn từ khu vực ven núi Cô-Pi cao 2.017 m thuộc dãy Trường Sơn, chảy qua địa phận các huyện Minh Hóa, Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch; ngoài ra còn có chi lưu sông Con bắt nguồn từ xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, chảy qua Phong Nha – Kẻ Bàng sau đó nhập vào sông Gianh để đổ
ra biển Đông ở Cửa Gianh
Quảng Bình có nguồn lợi thủy sản khá đa dạng Khu hệ cá nước ngọt thuộc vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, với 195 loài, thuộc 60 họ, 15 bộ, trong đó có 5 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 73 loài cá kinh tế và 19 loài có thể nhân nuôi tại địa phương (Hồ Anh Tuấn, 2012) Nguồn lợi thủy sản mặn lợ có các loài giáp xác (tôm
Sú, tôm Rảo, tôm Bạc, tôm Hùm, cua Xanh); 186 loài cá, trong đó cá Mú, cá Vược, cá Tráp, cá Dìa,… có giá trị kinh tế cao Nguồn lợi thủy sản biển có mặt hầu hết các giống loài ở vịnh Bắc Bộ, với gần 1.000 loài Theo số liệu điều tra và đánh giá của Tổng cục Thủy sản thì trữ lượng cá ở vùng biển Quảng Bình là khoảng 51 ngàn tấn, chưa kể đến một số loài như cá Ngừ, cá Chuồn vùng khơi; trữ lượng tôm biển ước tính
là 2 ngàn tấn và mực là 8÷10 ngàn tấn
Với những lợi thế về điều kiện mặt nước và nguồn lợi thủy sản, Quảng Bình đã xác định phát triển thủy sản là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, trong đó tập trung vào khai thác biển và nuôi thủy sản nước lợ Sản lượng thủy sản năm 2015 đạt 62 ngàn tấn, trong đó sản lượng nuôi đạt 12 ngàn tấn (nuôi mặn lợ 5.440 tấn, nuôi ngọt 6.560 tấn) Tiềm năng diện tích phát triển nuôi thủy sản mặn lợ khoảng 4.000 hecta, đến hết năm 2015 chỉ mới khai thác và đưa vào sử dụng 1.360 hecta, như vậy khả năng phát triển nuôi thủy sản mặn lợ của tỉnh Quảng Bình còn rất lớn
Những năm gần đây, nuôi thủy sản ven biển mà chủ yếu là nuôi tôm Sú, tôm Thẻ chân trắng phát triển mạnh nhưng ngày càng gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, thị
Trang 12trường giá cả đầu ra không ổn định, chi phí đầu vào tăng cao; hình thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh mang tính rủi ro và thiếu bền vững Những hình thức nuôi xen canh, luân canh, nuôi sinh thái đang được khuyến cáo và nhân rộng Các đối tượng mới để luân canh, xen canh trong ao nước lợ như cá Đối mục, cá Chim vây vàng, cá Dìa, cá Vược, cá Hồng mỹ đã được nuôi thử nghiệm thành công, tuy nhiên đối tượng nuôi vẫn thiếu đa dạng và ít có sự lựa chọn cho người nuôi
Cá Hanh (hay còn gọi cá Tráp vây vàng) là loài có kích thước trung bình nhưng
có giá trị thương phẩm cao, thịt thơm ngon và được nhiều người ưa thích Đây là loài
cá hoàn toàn có khả năng nuôi trong ao mặn lợ cho hiệu quả Một số tỉnh ven biển đã thành công trong nuôi thương phẩm, nhưng tại Quảng Bình, đến nay chưa có các nghiên cứu cụ thể về sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản của cá, chưa chủ động con giống và chưa được lựa chọn làm đối tượng nuôi Cũng vì loài cá có giá trị cao nên con người không ngừng tác động đến nguồn lợi, tạo sức ép khai thác lớn đối với cá Hanh, làm ảnh hưởng đến sự phân bố, suy giảm số lượng quần thể
Để góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Hanh, một trong những vấn đề quan trọng là phải chủ động nguồn giống, hướng được sự sinh sản tự nhiên sang sinh sản nhân tạo Theo đó, cần phải có những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, phân bố, nhất là sinh sản của loài; đồng thời đề xuất được những giải pháp bảo vệ nguồn lợi, khai thác và sử dụng hợp lý loài cá kinh tế này
Xác định sự cần thiết phải bảo tồn và phát triển nguồn lợi, cũng như định hướng phát triển một đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển nuôi thủy sản bền vững và thân thiện với môi trường, được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Huế, Khoa Thủy sản và sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn, PGS TS
Võ Văn Phú, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Hanh –
Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) ở vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình”
trị kinh tế này ở vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình
Trang 133.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học cho công tác sử dụng hợp lý,
bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Hanh ngoài tự nhiên và cho việc sinh sản nhân tạo, cung cấp nguồn giống trong nuôi thả và phát triển nghề nuôi cá nước lợ nhằm tăng giá trị kinh tế và giảm sức ép khai thác tự nhiên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC CÁ
1.1.1 Trong nước
Theo Bộ Thủy sản (năm 1996), công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt
ở Việt Nam là của H.E Sauvage (1881), công bố trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu
hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”
Trong thời kỳ này, một số công trình nghiên cứu khác về cá ở Việt Nam cũng được công bố nhưng chủ yếu là của các tác giả người nước ngoài, tiêu biểu là: L.Vaillant (1891, 1904) thu thập, mô tả một số loài ở Lai Châu, sông Kỳ Cùng; Đoàn thường trực Khoa học Đông Dương (1907) thu thập, mô tả một số loài ở Hà Nội…
Tác giả, P Chevey từ 1930÷1937 đã có công trình nghiên cứu cá ở các sông suối miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là vào năm 1937, P Chevey và J Lemasson đã công
bố công trình nghiên cứu tổng hợp cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam, công trình này giới thiệu 98 loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam thuộc 17 họ và được xem là công trình tổng hợp đầy đủ nhất lúc bấy giờ [60] Nhiều tác giả nước ngoài khác như J Henry (1865), Pellagin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934), P Worman (1925), Gruvel (1925), P Chabanaud (1926), R Bourret (1927), … cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá ở các sông suối và đầm phá ven biển ở nước ta
Đối với các nghiên cứu về cá biển, sự ra đời của Viện Hải dương học Nha Trang (1923) đã có nhiều đóng góp cho công nghiệp khai thác nguồn lợi thủy sản biển như thống kê nguồn lợ biển, theo dõi hoạt động di cư của đàn cá…
Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945÷1954), việc nghiên cứu bị gián đoạn Khi hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1955÷1975), việc nghiên cứu được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành Trong giai đoạn này, nhiều công trình nghiên cứu về cá được công bố nhưng chủ yếu là cá nước ngọt vùng nội thủy
Từ 1975 đến nay, công tác điều tra nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi cả nước do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản (NCNTTS) I Bắc Ninh, Viện NCNTTS
II thành phố Hồ Chí Minh, Viện NCNTTS III Nha Trang thuộc Bộ Thuỷ sản (cũ) tổ chức thực hiện Ngoài ra còn có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc các trường đại học như: Đại học Nha Trang, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học sư phạm I Hà Nội, Đại học Tổng hợp Huế, Đại học Vinh
Trang 15Các công trình tiêu biểu như: Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần loài cá sông Thu Bồn (85 loài), sông Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông Cái (25 loài) [57]
Hai công trình mang tính tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các thời kỳ trước được công bố là: “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc nước ta [55]; và
“Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” do Mai Đình Yên cùng các cộng sự Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992) gồm 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [58]
Những kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến các công trình của các tác giả: Nguyễn Duy Hoan (1979): Đặc điểm sinh học của cá Quả
(Ophiocephalus striatus); Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú (1980): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá Dìa (Siganus guttatus) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [6]; Võ Văn
Phú (1991): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của một số loài cá kinh tế ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [25]; Võ Văn Phú (1991): Góp phần tìm hiểu đặc tính sinh học
của cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [26]; Võ Văn Phú (1994): Dẫn liệu về đặc tính sinh thái của cá Căng bốn sọc (Pelates quadrilineatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [27]; Võ Văn Phú (1995): Khu
hệ cá và đặc điểm sinh học của 10 loài cá kinh tế ở hệ đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [28]; Võ Văn Phú, Đặng Thị Thu Hiền, Phan Văn Cư (1996): Đặc điểm sinh học của
cá Móm gai dài (Gerres filamentosus Cuvier) ở hệ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [29]; Đặc tính sinh sản của cá Dầy (Cyprinus centralus) của Võ Văn Phú và Hồ Thị Hồng
(2001) [30]; Lê Văn Dân, Nguyễn Tường Anh và Võ Văn Phú (2007): Tác dụng của Progesteron (P) và Desoxycorticosteron acetat (DOCA) lên sự chín và rụng trứng in-
vivo của cá Trôi (Labeo rohita) [5]; Nguyễn Phi Nam, Lê Đức Ngoan, Lê Văn Dân (2007): Kết quả bước đầu nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Dầy (Cyprinus centralus) [20]; Dương Thị Nga (2008): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Nâu - Scatophagus argus Linnaeus, ở đầm phá Thừa Thiên Huế; Võ Văn Phú, Biện Văn Quyền (2009),
“Một số đặc điểm sinh trưởng của cá Ong căng ở đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế”; Phan Thị Hạnh Nguyên (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tình
hình khai thác cá Đối Lá (Mugil kelaartii Günther, 1861) ở đầm phá Thừa Thiên Huế [22]; Võ Thị Bảo Ý (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cá Đối nhọn (Mugil strongylocephalus Richardson, 1846) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [54]; Lê Thị
Hoàn, Võ Văn Phú (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chỉ vàng -
Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa Thiên Huế [10]; Lê Văn Dân
(2010): Đặc tính sinh sản, kích thích chín và rụng trứng bằng Steroid C21 trên cá Trắm
cỏ và cá Trôi ấn độ; Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Phú, Vũ Trung Tạng (2010): Đặc
Trang 16tính sinh trưởng của cá Tráp vây vàng (Acanthopagrus latus) tại đầm Ô Loan, tỉnh Phú
Yên [15]; Võ Văn Thiệp (2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Đục
(Sillago sihama) ở vùng ven biển Quảng Trị; Trần Văn Phước, Nguyễn Đình Trung,
Võ Thành Đạt, Hà Lê Thị Lộc (2012): Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến sinh
trưởng và tỷ lệ sống cá Khoang cổ đỏ (Amphirion fernatus) dưới 60 ngày tuổi; Trần Văn Cường (2012): Tuổi và sinh trưởng của cá Miễn sành gai (Evynnis cardinalis) ở
vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ; Cao Ngọc Hải (2012): Nghiên cứu đặc điểm sinh học
của cá Bống thệ (Oxyurichthys tentacularis) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên
Huế; Lê Thị Hương (2014): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Mòi cờ chấm
(Konosirus punctatus) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế…, đây là những
tư liệu quý về sinh học, sinh thái, sinh lý các loài cá kinh tế nội địa Việt Nam
1.1.2 Tại tỉnh Quảng Bình
Năm 1977, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Bình trong một cuộc điều tra về hiện trạng khu bảo tồn ở Phong Nha – Kẻ Bàng đã xác định được 61 loài cá thuộc 32 họ của 11 bộ, trong đó có 35 loài cá kinh tế, 4 loài phân bố hẹp Sau
đó, một nhóm các tác giả như: Hồ Thanh Hải, Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Kiêm Sơn, Phan Văn Mạnh, Lê Hùng Anh, Nguyễn Khắc Đỗ, Dương Ngọc Cường trong một cuộc khảo sát về môi trường nước và khu hệ thuỷ sinh vật ở các thủy vực động Phong Nha, tỉnh Quảng Bình đã thu được 36 loài thuộc 17 họ của 9 bộ cá Như vậy, cuộc điều tra này đã xác định thêm 7 loài mới ở Phong Nha và một loài mới cho nước ta
Năm 2003, nhóm tác giả gồm Võ Văn Phú, Trương Thu Hà, Hoàng Thị Thuý Liễu thực hiện công trình: “Nghiên cứu cấu trúc về thành phần các loài cá ở sông Nhật Lệ” đã xác định được 169 loài nằm trong 103 giống thuộc 63 họ của 17 bộ [31]
Năm 2007, Hồ Thị Nhi Min, “Nghiên cứu đa dạng sinh học về thành phần loài
cá ở hệ thống sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” đã xác định được 216 loài trong 132 giống thuộc 63 họ của 17 bộ khác nhau Công trình này đã bổ sung được 47 loài mới cho thành phần loài khu hệ cá trong tổng số loài cá ở hệ thống sông Nhật Lệ [18]
Năm 2011, công trình “Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình” của tác giả Nguyễn Giang Nam đã xác định được 101 loài trong 69 giống thuộc 32 họ của 10 bộ khác nhau [19]; và công trình “Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Roòn, tỉnh Quảng Bình” của tác Trần Đại Nghĩa đã xác định được 135 loài trong 91 giống thuộc 54 họ của 17 bộ khác nhau [21]; Nguyễn Thị Diệu Hà
(2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Phèn hai sọc (Upeneus sulphureus) ở vùng ven biển Quảng Bình
Mới đây năm 2012, công trình “Nghiên cứu khu hệ cá ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình” của tác giả Lê Thị Thu Phương đã xác định được 157 loài trong 97 giống thuộc 55 họ của 18 bộ khác nhau [34]; Nguyễn Thị Mỹ Hường (2013): Nghiên cứu đặc
Trang 17điểm sinh học và phân bố của cá Đối lá (Mugil kelaartii Günther, 1861) ở sông Gianh,
tỉnh Quảng Bình; Hồ Anh Tuấn (2012): Nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt có giá trị kinh tế ở Quảng Bình, giải pháp bảo tồn và ương nuôi; Võ Văn Thiệp (2014): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng giai đoạn trưởng thành của ca móm
gai dài (Gerres filamentosus)
1.2 LƯỢC SỬ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC CÁ HANH 1.2.1.Trên thế giới
Cá Hanh (cá Tráp vây vàng) đã được Houttuyn mô tả đầu tiên và đặt tên là
Acanthopagrus latus vào năm 1782, ngoài ra nó cũng có tên khác là Mylio latus Sparus latus Năm 1822, Lacepede đặt tên là Coius datnia, Hamilton đặt tên Chrysophrys datnia và còn nhiều tác giả đặt tên khác nhau Tuy nhiên, cách phân loại Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) đã được ghi trong Appendix I, FAO (1974 và
1998) là được nhiều nhà phân loại chấp nhận nhất
Cá Hanh – Acanthopagrus latus đã được Vương Dĩ Khang (1958) của Trung
Quốc xác định vị trí phân loại giống như hệ thống phân loại của Houttuyn năm 1782 Nguyễn Nhật Thi (1971) cũng xác nhận ở Việt Nam có một loài duy nhất thuộc giống Acanthopagrus, và đặt tên cá Tráp vây vàng
Sau này, trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo, 2010 – Cá nước ngọt Việt Nam đã khẳng định có 2 loài cá Hanh – hay là cá Tráp, đó là cá Tráp đen
Acanthopagrus schlegelii và cá Tráp vây vàng Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) Nghiên cứu của chúng tôi là đối tượng cá Tráp vây vàng – Acanthopagrus latus
(Houttuyn, 1782)
Nhiều nghiên cứu về vùng phân bố của cá Hanh đã khẳng định loài cá này có vùng phân bố tương đối rộng, trên tất cả các mặt nước (mặn, lợ, ngọt) (Bauchot M.L, and M.M Smith, 1984) Đặc biệt là ven bờ biển của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, bao gồm cả India, Srilanca, Bangladesh, Philippine, Đài Loan và Việt Nam (Anon, 2002) Theo Nguyễn Nhật Thi (1971) thì ở Việt Nam, cá Tráp vây vàng có mặt khắp nơi trong tất cả các vực nước mặn, lợ, đặc biệt là các tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ
Các loài trong họ cá Tráp đều là cá dữ, thành phần thức ăn của nó tương đối rộng, cá không có sự lựa chọn chặt chẽ khi bắt mồi, do đó sự phân bố của chúng tương đối rộng (Samuel M and C.P Mathews, 1987); vì vậy, thức ăn luôn được đầy đủ cho
sự tăng trưởng của cá Cá Tráp là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại động vật không xương sống như thân mềm, giáp xác,giun nhiều tơ kể cả cá nhỏ, thậm chí trong thành phần thức ăn của chúng còn có mặt của một số loài nhuyễn thể và một số loài động vật đáy khác, (FAO, 1995) Ngoài ra, một số tác giả khác (Fukuhara O., 1985,
Trang 18Fukusho K., 1989) cũng đã xác nhận cá Tráp là loài cá dữ, ăn mồi sống và đôi khi ăn
cả thịt đồng loại và tính ăn của cá Tráp vây vàng cũng thay đổi theo sự phát triển của
cá thể
Đời sống chủ yếu ở các vùng nước lợ, có kích thước trung bình Theo Mathews, C.P - M Samuel (1987) thì tốc độ sinh trưởng của cá có dạng hình cong sigma Cá tăng trưởng chậm ở các giai đoạn đầu, khi trọng lượng đạt từ 35÷40 gram/con tốc độ tăng trưởng của nó nhanh hơn nhưng lại chậm lại khi cá đạt trọng lượng từ 350÷500 gram Trong điều kiện nuôi tốt sau 10÷12 tháng cá có thể đạt từ 350÷800 gram
Tốc độ tăng trưởng của cá phụ thuộc rất lớn vào khu vực nuôi, mật độ nuôi và thời gian nuôi, loại thức ăn, cỡ cá thả ban đầu Cũng như nhiều loài cá khác, quá trình sinh trưởng bị chi phối bởi nhiều yếu tố của môi trường như các yếu tố vô sinh (nhiệt
độ, độ muối, ) và hữu sinh (thức ăn, dịch bệnh,…)
Về sinh sản, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với phạm vi giới tính của quần thể
đa số là đơn tính, một vài cá thể mang lưỡng tính Từ tuyến sinh dục qua các hiện tượng lưỡng tính sơ khai cho tới khi thành thục sinh dục, giới tính của nó cũng đã có biểu hiện thiên về giới tính đực hay cái (Atz, 1964, Zohar Y e al 1978); hiện tượng lưỡng tính này cũng thấy xuất hiện ở các loài trong họ cá Tráp (Sparidae, Teleostei) đã được đề cập lần đầu tiên bởi Syrski (1876) A’ancona (1949) đã có những dự đoán về
sự chuyển đổi giới tính trong loài cá này mặc dù hiện tượng lưỡng tính của tuyến sinh dục vẫn tiếp tục xẫy ra Theo Buxton, C.D and P.A Garratt (1990) hiện tượng tính đực chính hoặc cái có thể được tìm thấy ở ngay cạnh hiện tượng lưỡng tính thô sơ (ngay cả khi không phải giai đoạn đầu của con đực hoặc cái)
Mặt khác, chỉ số sinh sản nếu theo như sự phân chia giới tính của tuyến sinh dục lưỡng tính, tất cả các cá thể nếu biệt hoá giới tính theo hướng cái thì sẽ cho hệ số sinh sản cao hơn hẳn Với cá thể tương tự nhưng nếu biệt hoá theo hướng đực thì khả năng tái sản xuất quần thể thấp Một khía cạnh khác cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu đó là tất cả các cá thể với sự biệt hoá giới tính theo hướng đực của con đực và theo hướng cái của con cái thì tỷ lệ thường bắt gặp là 1:1 (Micale et al, 1987)
Mùa vụ sinh sản của cá diễn ra từ tháng 12 năm trước kéo dài tới tận tháng 4 năm sau (Valeria Micale, Francesco Perdichizzi, 1995) Dựa trên cơ sở cá giống và số lượng khai thác được cá giống của ngư dân ngoài tự nhiên, Morgan (1995) cũng đã xác định được mùa sinh sản diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm và đặc biệt là cao điểm vào tháng 2 và tháng 3
Khi nghiên cứu tuổi phát dục lần đầu đã được các tác giả đề cập như Valeria Micle, Francesco Perdichizzii (1995) nghiên cứu vẩy để xác định tuổi cá Ở cá 1 tuổi các tế bào sinh dục mới ở giai đoạn I và giai đoạn II Cá ở 2 tuổi cũng chưa thấy có hiện tượng sinh sản nhưng trứng chủ yếu ở giai đoạn II và III, rất ít cá thể ở giai đoạn
Trang 19III Qua xác định tuổi và đo kích thước cá thì chủ yếu thấy cá thành thục ở 2 tuổi và 3 tuổi, với kích thước thay đổi từ 280÷360 mm Ở kích thước này đã bắt gặp cả cá đang
ở giai đoạn IV và một số ở giai đoạn V Gordin H & Zorhar Y (1978) xác nhận rằng
có trường hợp cá biệt cá cái ở 18 tháng tuổi có chiều dài toàn thân 180 mm đã phát dục thành thục lần đầu Đây là những con cá cái không phải từ con đực chuyển giới tính sang, còn những con cái từ những con đực chuyển thành thì phát dục thành thục lần đầu với tư cách là con cái thường ở độ tuổi 2+ đến 3+
Tuyến sinh dục của cá là hai dải nằm sát thành cơ thể, dọc hai bên sống lưng và
ở phía trên của ruột, phía dưới túi khí (bóng hơi kín, một túi) Phía hai đầu dải sinh dục nối với mạch máu chính, phía cuối của tuyến sinh dục đổ chung vào một ống và thông
ra ngoài qua lỗ sinh dục Màu sắc tuyến sinh dục thay đổi theo giai đoạn phát triển của buồng trứng Khi cá nhỏ hơn tuổi 2+ thì cấu trúc tuyến sinh dục gồm cả buồng tinh và túi noãn (Buxton C.D and P.A Garratt, 1990)
Giai đoạn đầu (GĐ I) không phân biệt cá đực hoặc cá cái Từ giai đoạn II phân biệt tinh sào và noãn sào dễ hơn Noãn sào dày hơn và có mạch máu tương đối lớn Từ giai đoạn III, mắt thường có thể trông thấy hạt trứng Kích thước và mằu sắc thay đổi theo mức độ thành thục Noãn sào ở giai đoạn III có mầu vàng cam, giai đoạn IV có màu vàng đậm Hai nhánh của buồng trứng phát triển đồng đều ít chênh lệch nhau về kích thước Càng về giai đoạn sau độ lớn và mức độ phân bố mạch máu càng tăng Tinh sào có màu trắng đục, có các mạch máu nhỏ phân bố và lát cắt ngang có dạng hình tam giác (Lin K.L., Yen J.L., 1980)
Sức sinh sản tuyệt đối của các loài trong họ cá Tráp (Sparidae) biến động như
đa số loài cá xương khác, khi tuổi cá tăng, kích thước và khối lượng tăng thì sức sinh sản cũng tăng, đến giai đoạn cá già thì giảm (Mai Đình Yên et al, 1979) Ở cá Hanh cũng vậy, sức sinh sản dao động khá lớn Qua quá trình điều tra năm 1975 tại một số đầm nuôi nước lợ tại cửa sông Văn Úc bắt gặp cá có sức sinh sản nhỏ nhất là 150.000 trứng và lớn nhất là 454.000 trứng, tương ứng với cỡ cá là 495÷800 gram Theo Vũ Trung Tạng (1987) thì sức sinh sản tuyệt đối của loài cá này ở cá 3 năm tuổi là 345.000 Một số loài trong họ Tráp (Sparidae) cũng có sức sinh sản biến động theo
tuổi Cá Tráp (Sparus aurata) ở vùng Địa Trung Hải có thể đẻ 2÷3 triệu trứng/mùa/kg (Gordin & Zohar, 1978; Zohar & Gordin, 1979); cá Tráp đỏ ở Nhật Bản (Pagrus major) 3÷7 tuổi đẻ từ 1÷4 triệu trứng/mùa/kg (Watanabe T., Kiron V., 1996)
Fukuhara O (1985) kết luận rằng cá Tráp vây vàng ở vịnh Persian đẻ trứng trôi nổi, trứng đã thụ tinh có đường kính 0,45 mm, bên trong có giọt dầu với đường kính 0,18 mm Cá bột mới nở có chiều dài 1,1 mm Thời gian ấp trứng từ 18÷22 giờ ở nhiệt
độ 27 0C Kết luận trên đã được Gordin H & Zorhar Y (1978) nhất trí Ấu trùng mới
nở nổi lơ lững trong nước theo chiều thẳng đứng hay khoảng 450 so với mặt phẳng
Trang 20nằm ngang Ấu trùng mới nở di chuyển thụ động nhờ dòng chảy của thuỷ triều đưa dần vào vùng ven bờ, sau một thời gian ngắn, ấu trùng có thể tự di chuyển sâu vào vùng nước lợ Khi mới nở ấu trùng ôm noãn hoàng và dài trung bình 0,25 mm, có một giọt dầu nằm ở phần trên để nổi trong lớp nước tầng mặt Lúc đầu sự hình thành các sắc tố không đồng loạt, mắt, ống tiêu hoá, vây đuôi trong suốt Ba ngày sau khi cá sử dụng hết noãn hoàng, miệng mở ra và hàm cử động, ấu trùng bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Khi cá 12÷14 ngày tuổi sắc tố xuất hiện mầu xám sẫm Đến khi đạt 28÷30 ngày tuổi thì chuyển dần sang mầu sáng bạc (Kohno H., Taki Y., Ogasawara Y., Sirojo Y., Taketomi Y & Inoue M., 1983)
Nghiên cứu về bãi đẻ và môi trường các bãi đẻ của cá Tráp vây vàng đã được nhiều tác giả của nhiều nước trên thế giới thực hiện như Fukuhara O (1985), Fukusho
K (1989) khẳng định bãi đẻ tự nhiên của cá Tráp vây vàng không nằm ở vùng nước ngọt Sakai K., Nomura M & Takashima F (1985), Samuel M and C.P Mathews (1987) đều cho rằng vị trí bãi đẻ tự nhiên của cá Tráp vây vàng thường tập trung ở các vùng cửa sông, nơi tiếp giáp giữa môi trường nước mặn và nước lợ Chang S.L (1996) cũng khẳng định cá Tráp đẻ ở vùng nước lợ và đồng thời trong môi trường nước ngọt không tìm thấy cá Tráp có tuyến sinh dục phát triển Người ta chỉ tìm thấy cá Tráp có tuyến sinh dục phát triển ở các đầm nước lợ và vùng cửa sông; đồng thời với nó là điều kiện môi trường bãi đẻ phải thích hợp cho sự sinh trưởng của trứng và ấu trùng
cá, trong đó các yếu tố như: dòng chảy thuỷ triều, pH, Oxy, nhiệt độ nước, độ mặn, cơ
sở thức ăn tự nhiên là những yếu tố quan trọng, nhưng hai yếu tố nhiệt độ nước và độ mặn đóng vai trò quyết định (Tandler et al., 1995) Nhiệt độ nước thích hợp cho sự phát triển của trứng và ấu trùng cá Tráp là 26÷29 0C, độ mặn thích hợp là 28÷32 ‰ Ở Trung Quốc cá Tráp thường đẻ theo chu kỳ trăng (Lin K.L., Yen J.L., 1999), cá đẻ trứng vào lúc chiều tối (từ 6÷10 giờ đêm) cả tuần trăng non và tuần trăng tròn (Lin K.L., Yen J.L., 1990) Cá Tráp thường đẻ ở tầng nước mặt (Sakai K., Nomura M & Takashima F., 1995), điều kiện thời tiết khu vực bãi đẻ có ảnh hưởng đến hoạt động đẻ trứng của cá Tráp (Tandler, A & Helps, S., 1995) Số lượng cá đực tham gia hoạt động sinh sản thường nhiều hơn cá cái (Watanabe T., Kiron V., 1996)
Cá Tráp là loài cá có giá trị kinh tế có nhiều ưu điểm nên nó được nhiều người
ưa thích Chính vì vậy yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất đã làm cho nó trở thành một đối tượng nuôi được quan tâm phát triển (Kittaka J., 1987) Ngoài những đặc điểm được mọi người ưa thích, cá Tráp còn có những ưu điểm như lớn nhanh và là loài cá rộng muối, rộng nhiệt (Tandler A & Mason C., 1993), có thể nuôi được trong ao đầm
và trong lồng bè (Watanabe T & Nomura M., 1999) Kỹ thuật cho cá Tráp vây vàng
đẻ nhân tạo đã phát triển mạnh ở Tây Ban Nha vào đầu những năm của thập kỷ 90 (Zohar Y., Abraham, M & Gordin H., 1998) và sự phát triển của nghề nuôi cá Tráp trên thế giới cũng bắt đầu từ thời điểm này Theo Zohar , Y., Abraham,
Trang 21M & Gordin, H (1988), năm 1985 Tây Ban Nha đã sản xuất được trên 30 triệu cá bột
cá Tráp vây vàng và cũng trong năm đó họ đã nuôi được 350 tấn cá thương phẩm, và cho tới ngày nay, cá Tráp vây vàng đã trở thành một thương hiệu rất nổi tiếng trong các mặt hàng thuỷ sản của Tây Ban Nha (Zohar Y., Gordin H., 1999) Năm 1985 họ đã thành công trong việc cho đẻ cá Tráp bố mẹ nuôi từ cá giống Năm 1987 đã sử dụng hormon sinh dục kích thích cho đẻ thành công (Gordin H & Zorhar Y., 1978) Ở Châu
Á, kỹ thuật nuôi cá Tráp cũng không ngừng phát triển, không những đưa nghề nuôi cá Tráp trở thành một nghề có hiệu quả kinh tế ở Thailand, Indonesia mà còn phát triển lan rộng ra các nước khác như Philippine, Malaysia, Singapore, Nhờ có sự tài trợ của các tổ chức trên thế giới như FAO, NACA nghề nuôi và sản xuất giống cá Tráp vây vàng đã phát triển mạnh ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương (Lin K.L., Yen J.L., 1980) Trong suốt những năm 2000, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo của cá Tráp dường như ngừng hẵn để nhường chổ cho công bố kỹ thuật nuôi vổ và thực hành cho
đẻ nhân tạo để sản xuất giống nuôi trên các vùng nước lợ rộng lớn ở vùng châu Á – Thái Bình Dương
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, cá Hanh (cá Tráp vây vàng) chủ yếu là đối tượng khai thác của ngư dân ven biển Trong nuôi nước lợ quảng canh, cá Tráp cũng có trong thành phần sản phẩm thu hoạch, nhưng sản lượng không đáng kể Một số nghiên cứu về cá Tráp vây vàng ở nước ta chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu hình thái phân loại và một số đặc điểm sinh học (Mai Đình Yên, 1969; Nguyễn Nhật Thi, 1971; Đỗ Văn Khương, Trần Văn Đan, 2001 ) Theo các tác giả trên, ở Việt Nam cá Tráp vây vàng phân bố tập trung ở các tỉnh ven biển vịnh Bắc bộ và có bắt gặp trong cả các thuỷ vực nước ngọt,
lợ, mặn
Về nghiên cứu sinh học của loài cá Hanh – Acanthopagrus latus đã có một vài
nghiên cứu ở các vùng nước khác nhau: năm 2005, Lê Văn Dân đã nghiên cứu đặc điểm sinh học vủa cá Tráp vây vàng ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế; Cao Văn Hạnh (2005) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá Tráp vây vàng –
Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) tại vùng nước lợ Hải Phòng; Ở đầm phá và ven
biển tỉnh Thừa Thiên Huế, các tác giả Võ Văn Phú, Lê Thị Đào, Nguyễn Thị Tường Vi (2009-2010) đã nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và dinh dưỡng của cá Tráp vây vàng Năm 2010, Nguyễn Thị Phi Loan công bố về sinh tưởng, dinh dưỡng và sinh sản của
cá Tráp vây vàng ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên; đến năm 2013 Lê Thị Đào nghiên cứu sinh học của cá ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế; năm 2013-2014, Nguyễn Trung Nhật Quang nghiên cứu về sinh sản của cá Tráp vây vàng ở vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
Trang 22Trong chương trình phát triển thuỷ sản của tổng cục Thuỷ sản, cá Tráp vây vàng là một trong nhiều đối tượng được nhà nước khuyến khích đưa vào ngành nuôi trồng thuỷ sản (Tổng cục Thuỷ sản, 2010), tuy nhiên, đến nay vấn đề này vẫn thực hiện chưa đạt yêu cầu đề ra
Để sớm đưa đối tượng này vào nuôi trồng thuỷ sản, chúng ta phải tập trung nghiên cứu nhiều về sinh học sinh thái Trong đó việc nghiên cứu cho cá Tráp sinh sản nhân tạo là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu Dần tiến tới chủ động về con giống cung cấp cho người nuôi thay bằng việc khai thác con giống ngoài tự nhiên và nhập giống từ Trung Quốc về như hiện nay
Cho đến nay, đặc điểm sinh học của cá Hanh ở vùng ven biển và cửa sông Quảng Bình chưa có công trình nào nghiên cứu Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn nhận đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học, chú trọng đến đặc tính sinh sản của loài cá Hanh, một loài rất có giá trị kinh tế ở vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình, nơi chúng tôi thường khai thác và đánh bắt chúng
Trang 23Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống phân loại cá Hanh /cá Tráp vây vàng:
Lớp cá xương: Osteichthyes
Lớp phụ cá vây tia: Actinopterygii
Bộ cá vược: Perciformes
Bộ phụ: Percoidei Họ: cá Tráp Sparidae Giống: cá Tráp Acanthopagrus
Loài: Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782)
Hình 2.1 Đối tượng nghiên cứu - Cá Hanh (cá Tráp vây vàng)
- Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782)
Hình thái và đặc điểm nhận dạng:
Cơ thể cá Hanh có hình bầu dục, thân hơi tròn lưng có gồ cao lên, vẩy lược lớn vừa và nhỏ Khoảng cách giữa mắt và đầu không có vẩy, bộ phận đầu trừ mõm, xương trước mắt và xương dưới mắt ra đều có vẩy (Valeria Micale, Francesco Perdichizzi, 1995) Vây lẻ không có vẩy hoặc vẩy bẹ thấp, đường bên hoàn toàn, đi ra sau theo vành ngoài của bộ phận lưng Mắt trung bình, miệng rộng, ở phía trước hơi thấp và hơi lệch lên trên Môi mỏng, có thể co duỗi được, chúng có từ 4÷6 răng nanh nhọn sắc Một số ít là răng cắt ở phía trước hàm và ở đằng trước của mỗi hàm, tiếp đó là nhiều
Trang 24hàng răng chóp hoặc răng tròn phía sau thì nở rộng thành răng cấm sau này sẽ to dần lên như răng hàm và trải ra thành từ hai đến bốn hàng mà hàng ngoài là răng rất chắc khoẻ (Zohar Y et al, 1996) Vây lưng liên tục, không có khía lõm, bộ phận gai và tia vây cũng rất nở nang, gai vây lưng to khoẻ, chúng có khoảng 10÷13 tia gai cứng, từ 9÷17 tia vây mềm Vây hậu môn có 3 tia gai, một số loài gai thứ hai đặc biệt to khoẻ
(Mylio latus, Mylio berda), tiếp đó là 7÷15 tia vây mềm Vây ngực nhọn dài và không
có tia vây cứng Vây bụng ở dưới ngực, có một tia gai cứng và 5 tia vây mềm (FAO, 1995; Vương Dĩ Khang, 1958; Zohar Y et al, 1996) Chúng có màu sắc cũng rất khác nhau, thường là màu xám trắng hoặc màu vàng hoặc màu ánh vàng… (Watanabe T., Kiron.V., 1996; Vương Dĩ Khang, 1958; Zohar et al, 1996)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1 Thời gian nghiên cứu:
12 tháng, từ tháng 7/2015 đến tháng 7/2016
2.1.2.2 Không gian nghiên cứu:
- Vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình, từ cửa sông Gianh, xã Quảng Phúc, (Quảng Trạch) /Thanh Trạch (Bố Trạch) ngược nhánh sông Son đến xã Quảng Minh (Quảng Trạch) /Mỹ Trạch (Bố Trạch) và nhánh Sông Nguồn Nậy đến xã Cảnh Hóa, Phù Hóa (Quảng Trạch), trên địa bàn 20 xã, phường, thuộc huyện Bố Trạch, huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn Chiều dài từ cửa sông đến điểm lấy mẫu cuối cùng tại
xã Cảnh Hóa khoảng 20 km theo đường chim bay
- Vùng ven biển phía ngoài cửa nơi có mức nước 6 m trở vào khi triều thấp nhất (theo định nghĩa về ĐNN của Rhamsa)
Hình 2.2 Sơ đồ vùng nghiên cứu cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình
Trang 252.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng
- Nghiên cứu về sinh trưởng, tương quan giữa chiều dài và khối lượng;
- Thành phần tuổi của cá Hanh ở vùng cửa sông Gianh;
- Tăng trưởng về chiều dài và khối lượng hàng năm; và
- Các phương trình về chiều dài và khối lượng
2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng
- Thành phần thức ăn tự nhiên của cá Hanh;
- Đặc tính ưa thích thức ăn của cá Hanh;
- Cường độ bắt mồi của cá Hanh trong tự nhiên; và
- Hệ số độ béo, độ mỡ của cá trong tự nhiên
2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản
2.2.3.1 Các thời kỳ phát triển của tế bào sinh dục;
- Tế bào sinh dục đực: sinh sản, sinh trưởng, hình thành và thời kỳ chín;
- Tế bào sinh dục cái: tổng hợp nhân, sinh trưởng sinh chất, sinh trưởng dinh dưỡng và thời kỳ trứng chín
2.2.3.2 Các giải đoạn chín muồi tuyến sinh dục
- Tuyến sinh dục đực: giai đoạn I, II, III, IV, V và VI;
- Tuyến sinh dục cái: giai đoạn I, II, III, IV, V và VI
2.2.4 Đánh giá tiềm năng sinh sản của cá Hanh
- Nghiên cứu, điều tra mùa vụ, thời gian đẻ;
- Nghiên cứu, điều tra bãi đẻ tự nhiên của cá
2.2.5 Đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững
2.2.5.1 Khai thác hợp lý: Ngư cụ, mùa vụ, sản lượng khai thác, cở khai thác…; 2.2.5.2 Hiện trạng và tiềm năng nuôi thả: Liên quan đến sinh trưởng, dinh dưỡng, tích lũy chất dinh dưỡng, sức sinh sản tương đối, sức sinh sản tuyệt đối và khả năng cung cấp giống nhân tạo
2.2.5.3 Đề xuất các nhóm giải pháp sử dụng hợp lý và phát triển bền vững nguồn lợi cá Hanh
Trang 262.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đi thực địa thu mẫu và phỏng vấn mỗi tháng 2 đợt
2.3.1.1 Phương pháp thu thập mẫu
- Thu mẫu cá bằng cách trực tiếp đánh bắt với ngư dân, mua mẫu của các ngư dân đánh cá tại địa điểm nghiên cứu và nắm thêm thông tin tại các chợ cá trên địa bàn nghiên cứu
- Mẫu thu ngẫu nhiên nhằm đại diện cho quần thể cá đánh bắt trong thời gian nghiên cứu Những thông tin liên quan đến mẫu thu như thời gian, địa điểm, phương tiện đánh bắt…, được ghi lại trong sổ nhật ký nghiên cứu
- Mẫu cá được xử lý ngay khi còn tươi theo các phương pháp thông thường
- Kế hoạch thu mẫu: 400 mẫu /05 điểm /12 tháng
2.3.1.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra về tên cá (tên phổ thông, tên địa phương), kích thước và khối lượng, điều kiện sống, tập tính sinh học, sự phân bố,
- Điều tra về biến động năng suất, sản lượng khai thác của loài; điều tra các ngư
cụ khai thác và đời sống của các ngư dân chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp
- Điều tra về năng suất, sản lượng, mùa vụ, khả năng đánh bắt và giá trị sản phẩm
- Kế hoạch điều tra: 12 tháng x 2 lần/tháng x 5 điểm/vùng = 120 lượt
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.3.2.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại
- Quan sát, mô tả các hình thái bên ngoài của cá
- Xác định các chỉ số theo hướng dẫn nghiên cứu cá của P.I Pravdin (1973)
+ Các chỉ số đo: L: chiều dài từ toàn thân; Lt: chiều dài thân đến chạc vây đuôi;
SL: chiều dài kinh tế đến hết phần phủ vẩy của thùy đuôi cá; BD: chiều cao lớn nhất thân cá; HL: chiều dài đầu, từ mút mõm đến cuối xương nắp mang; AO: chiều dài mõm từ mút mõm đến cạnh trước của mắt; O: đường kính của mắt
+ Các chỉ số đếm: đếm số lượng các tia vây cứng và các tia vây mềm: D
(Dosalis): vây lưng; A (Analis): vây hậu môn; C (Caudalis): vây đuôi; P (Pectolalis): vây ngực; V (Ventralis): vây bụng
Trang 27- Xác định khối lượng cá bằng cách cân có độ chính xác đến gram
- Xác định kích thước cá bằng cách đo có độ chính xác đến milimet
2.3.2.2 Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng
- Xác định tương quan giữa chiều dài và khối lượng
- Dựa vào số đo chiều dài và khối lượng thực tế của cá để tính tương quan theo phương trình của R.J.H Beverton – S.J Holt (1956):
W = a.Lb
Trong đó: W: Khối lượng toàn thân cá (g)
L: Chiều dài toàn thân cá (cm)
- Tốc độ tăng trưởng: sử dụng phương pháp của Rosa Lee (1920) để xác định
mức tăng trưởng chiều dài của cá theo công thức:
Lt = (L – a) Vt/V + a Trong đó: Lt: Chiều dài của cá ở tuổi t (cm)
Vt: Kích thước vẩy đo từ tâm đến vòng tuổi t V: Bán kính vẩy (kích thước từ tâm đến mép vẩy) L: Chiều dài cá hiện tại (cm)
a: Kích thước cá bắt đầu có vẩy Tốc độ sinh trưởng hằng năm được tính theo công thức:
Tt = Lt – L(t-1)
Trong đó: Tt là tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá ở lứa tuổi (t)
Lt là chiều dài của cá ở lứa tuổi (t)
L(t-1) là chiều dài của cá ở lứa tuổi (t-1)
Trang 282.3.2.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng
- Mẫu cá thu được phân thành 3 nhóm có kích thước khác nhau Ở mỗi nhóm, tiến hành mổ lấy nội quan các cá thể, xác định thành phần thức ăn, hoặc mẫu được ngâm vào formol 4% để đưa vào phòng thí nghiệm phân tích
- Đếm số lượng thức ăn để xác định tần số xuất hiện cũng như các mức độ tiêu hóa thức ăn của cá
- Xác định cường độ bắt mồi của cá: Dựa vào độ no của dạ dày và ruột cá theo thang 5 bậc (từ bậc 0 đến bậc 4) của Lebedep
- Xác định độ béo: Sử dụng cả hai phương pháp của Fulton (1902) và Clark (1928) để xác định hệ số béo của cá
Công thức Fulton (1902): Q = W x 100/L3
Công thức Clark (1928): Q = W0 x 100/L3Trong đó: W, W0: khối lượng toàn thân, khối lượng bỏ nội quan (g)
L: là chiều dài toàn thân (mm)
2.3.2.4 Nghiên cứu về sinh sản của cá
- Xác định tỷ lệ giới tính: Phân tích số lượng cá trong từng nhóm tuổi, tỷ lệ đực
cái trong từng nhóm tuổi
- Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục: Xác định sơ bộ các giai
đoạn chín muồi tuyến sinh dục của cá theo thang 6 bậc của K A Kiselevich (1923) Trên cơ sở đó, đánh giá được thời gian đẻ trứng của cá
- Xác định sức sinh sản:Cân khối lượng buồng trứng giai đoạn IV, lấy mẫu ở
các vùng khác nhau trên chiều dài tuyến sinh dục để tiến hành đếm trứng Xác định sức sinh sản tuyệt đối của cá bằng cách đếm chính xác số lượng trứng có trong buồng trứng Cần đếm lặp lại ba lần số trứng ở 3 vùng trên 1 đơn vị khối lượng bằng buồng đếm động vật để có kết quả chính xác Dựa vào sức sinh sản tuyệt đối, tính được sức sinh sản tương đối, đó là số lượng trứng của cá trên một đơn vị khối lượng (gram) cơ thể
Sức sinh sản tương đối: s = S/W (số trứng/gram) Trong đó: s: Là sức sinh sản tương đối (trứng/gram)
S: Sức sinh sản tuyệt đối (tế bào trứng) W: Trọng lượng thân cá
Trang 292.3.3 Đánh giá tiềm năng sinh sản của cá Hanh
2.3.3.1 Nghiên cứu, điều tra mùa vụ, thời gian đẻ
- Nghiên cứu các yếu tố thủy lý, thủy hóa, thủy sinh tác động đến sinh sản của
cá Hanh;
- Nghiên cứu quần đàn, hệ số thành thục, cở cá, phân bố để xác định mùa vụ
và thời gian đẻ của cá trong tự nhiên tại vùng hạ lưu sông Gianh
2.3.3.2 Nghiên cứu, điều tra bãi đẻ tự nhiên của cá
- Nghiên cứu, điều tra chỉ thị sinh học, địa hình đáy phù hợp với điều kiện thích ứng sinh sản của cá Hanh;
- Điều tra nguồn cá bột, cá hương để xác định bãi đẻ tự nhiên của cá
2.3.3.3 Nghiên cứu về sinh thái phân bố
- Dựa vào năng suất khai thác của ngư dân trên các loại ngư cụ, kết hợp với phỏng vấn, quan trắc để ghi chép số liệu Căn cứ kết quả thu mẫu cá với các yếu tố môi trường sẽ mô phỏng vùng phân bố của loài cá Hanh theo thời gian và không gian trên các sơ đồ vùng nghiên cứu
- Nhận xét về đặc điểm phân bố của loài trên các vùng sông
2.3.4 Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững
- Tình hình khai thác, bảo vệ nguồn lợi cá ở khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng và tiềm năng nuôi thả;
- Đề xuất các nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê và phần mềm Microsoft Exel, SPSS
Trang 30Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Bình nằm ở tọa độ từ 16055'12'' đến 18005'12'' vĩ độ Bắc và từ
105036'55'' đến 106059'37'' kinh độ Đông Phía Bắc giáp Hà Tĩnh; phía Nam giáp Quảng Trị; phía Đông là biển với đường bờ biển dài 116 km, có thềm lục địa diện tích 20.000 km2; phía Tây giáp nước CHDCND Lào với 201 km đường biên giới Diện tích
tự nhiên toàn tỉnh 8.000 km2, chiếm khoảng 2,45 % diện tích cả nước
3.1.2 Thời tiết, khí hậu
Quảng Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mùa Hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam
Khu vực nghiên cứu của chúng tôi là phần hạ lưu sông Gianh được trải dài trên hai huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa và thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, mang đặc điểm khí hậu chung cho toàn tỉnh Quảng Bình [49]: Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa Đông tương đối lạnh ở miền Bắc Gió Tây Nam khô nóng xuất hiện khoảng 100 ngày trong năm, chủ yếu tập trung trong tháng 7 kết hợp với thiếu mưa gây hạn hán Bão thường độ bộ vào mùa mưa, tập trung vào tháng 9 (37 %) Bão thường đi kèm với mưa lớn Do lãnh thổ hẹp, sông ngắn và dốc nên mùa mưa bão thường có hiện tượng nước dâng tạo ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp hàng năm [49]
3.1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những điều kiện sinh thái chi phối khá lớn đến đời sống sinh vật Sự phân bố nhiệt độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là yếu tố không gian (địa hình, vị trí địa lý) và thời gian (mùa, tháng)
Nhiệt độ không khí khu vực chịu sự chi phối của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam – Bắc với miền khí hậu đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa Theo tháng khí hậu được chia thành hai mùa: mùa lạnh và mùa nóng [38]
- Mùa lạnh: bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình ngày
ổn định dưới 19,4 0C Thời kỳ này chịu sự chi phối của gió mùa Đông Bắc
Trang 31- Mùa nóng: bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình ngày ổn định ban ngày cao hơn 21,0 0C Thời kỳ này chịu sự ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ cực đại có khi lên đến 40,7 0C (tháng 7)
Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu ( 0 C)
Bảng 3.2 Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu (%)
Bảng 3.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu (mm)
Tháng 7/15 8/15 9/15 10/15 11/15 12/15 1/16 2/16 3/16 4/16 5/16 6/16 TC
Ba Đồn 116,4 41,3 426,5 157,6 562,9 71,0 42,1 8,6 26,6 65,1 151,7 133,8 1803,6
(Nguồn: Trạm khí tượng Ba Đồn, 2016)
3.1.2.4 Số giờ nắng, lượng bốc hơi
Mùa khô từ tháng 4 kéo dài đến tháng 8, trùng với mùa khô hanh nắng gắt với gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn (960÷1.200 mm/năm) Trong mùa lạnh
Trang 32lượng bốc hơi nhỏ hơn so với mùa nóng vì vậy trong các tháng từ 4÷7 lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên thường xảy ra khô hạn, ảnh hưởng tới sự phát triển và sinh trưởng của cây trồng
Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 5, 6, tháng có giờ nắng thấp nhất là tháng
1, 2, 12 Trong năm, số giờ nắng tăng nhanh nhất vào tháng 4, tháng 5 và giảm tương đối nhanh từ tháng 10 đến tháng 11, vì đây là những thời đoạn giao mùa
Bảng 3.4 Số giờ nắng trung bình các tháng trong thời gian nghiên cứu (giờ)
Tháng 7/15 8/15 9/15 10/15 11/15 12/15 1/16 2/16 3/16 4/16 5/16 6/16 TC
Ba Đồn 104,0 235,1 205,1 175,1 167,3 78,7 51,5 87,5 90,6 163,3 244,9 275,2 1878,3
(Nguồn: Trạm khí tượng Ba Đồn, 2016)
3.1.2.5 Gió và hướng gió
Chế độ gió khu vực mang tính chất chế độ nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa sâu sắc của địa hình và chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta Có hai mùa gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hè
Gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa Đông chủ yếu theo hướng từ Bắc – Đông Bắc;
và gió mùa Hè chủ yếu là gió Tây Nam khô nóng nhưng chỉ xuất hiện từng đợt, bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 7 Gió Tây Nam khô nóng gây hậu quả xấu, tần suất tốc độ gió mạnh nhất trong năm đạt trên 15 m/s, chiếm 59,6 %; trên 20 m/s, chiếm 39,6 %; trên 25 m/s, chiếm 0,8 % [49]
3.1.3 Chế độ thủy văn
3.1.3.1 Đặc điểm thuỷ văn
Quảng Bình có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối, hồ khá dày đặc Mật độ sông suối đạt 0,8÷1,1 km/km2, tuy nhiên phân bố không đều và có xu hướng giảm dần từ Tây sang Đông, từ vùng núi ra biển Toàn tỉnh, có 5 hệ thống sông chính đổ ra biển là: sông Roòn, Gianh, Lý Hoà, Dinh và Nhật Lệ
Nhìn chung, sông ngòi của Quảng Bình có đặc điểm chung là chiều dài ngắn và dốc nên khả năng điều tiết nước kém, thường gây lũ kịch phát trong mùa mưa Tốc độ dòng chảy lớn nhất là trong mùa mưa lũ, tổng lượng dòng chảy vào mùa lũ chiếm từ 60÷80 % lượng dòng chảy cả năm
3.1.3.2 Chế độ thuỷ triều
Ở vùng Quảng Bình nói chung và vùng cửa Gianh nói riêng có chế độ bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng Thời gian triều dâng thường dưới 10 giờ, thời gian triều rút từ 15÷16 giờ
Trang 33Nhờ thủy triều mà phần hạ lưu sông Gianh nhận được lượng nước từ biển Đông, cùng với lượng nước ngọt nhận được từ sông suối chảy từ thượng nguồn về, điều này làm cho khối nước trong lòng sông Gianh luôn được xáo trộn Các hệ thống dòng chảy điều hòa khối nước, chu chuyển đều nguồn dinh dưỡng trong sông, tạo điều kiện cho các sinh vật phát triển, phân bố khá đều trong thủy vực của sông Gianh [39]
3.1.3.3 Hải lưu
Vào mùa Hè, dòng hải lưu nóng từ phía Nam men theo bờ phía Tây vịnh Bắc
Bộ và vòng lại phía Tây đảo Hải Nam Mùa Đông, dòng hải lưu lạnh chảy theo hướng ngược lại Do sự hội tụ, phân kỳ của các dòng hải lưu khi chảy vào vịnh và vòng qua các đảo thuộc vịnh, cùng với các dòng nước từ sông đổ ra biển đã hình thành các dòng nước hội tụ Sự phân kỳ và vùng nước trồi tạo nên sự xáo trộn, phát triển nguồn thức
ăn cho cá, tôm [39]
Chế độ dòng chảy thay đổi theo mùa, mùa Đông do ảnh hưởng của gió Đông Bắc dòng chảy tầng mặt có hướng Đông Tây, tốc độ 0,75÷1,5 m/s, mùa Hè do ảnh hưởng gió Tây Nam nên dòng chảy tầng mặt có hướng Tây Đông, tốc độ 0,5÷1,0 m/s
Có 8 loài thuộc 2 lớp thực vật có hoa thủy sinh: lớp Ngọc lan (Magnoliopsida)
có 3 loài, lớp Hoa Loa kèn (Lililopsida) có 05 loài Thực vật có hoa thủy sinh phân bố
và chiếm ưu thế ở 2 bên bờ sông, chủ yếu phân bố từ bờ đến độ sâu 1,5 m Ở độ sâu từ 0,5 m đến 1,0 m chúng tạo thành các quần xã thực vật thủy sinh dày đặc, sinh khối trung bình 2,5÷4,5 kg/m2 Một số loài thực vật có hoa thủy sinh chiếm ưu thế ở độ sâu
1,0 m là Rong mái chèo (Valisneria spiralis), Rong đốt (Najas indica),…
Thành phần loài thực vật thủy sinh ở sông Gianh có nguồn gốc nước ngọt và có sinh khối tương đối cao Vào mùa mưa lũ (các tháng 8÷11 hàng năm), thực vật có hoa thủy sinh có sinh khối rất thấp (0,2 kg/m2) do chúng bị lụi tàn sinh lý và một phần bị chết do hoạt động khai thác của con người
Tảo lớn, thực vật có hoa và thực vật bùn đáy cùng với các loài tảo phù du khác
đã tạo thành một hệ thực vật rất quan trọng Chúng sản xuất ra chất hữu cơ, là cơ sở thức ăn ban đầu cho các động vật thủy sinh
3.2.2 Động vật thủy sinh
- Động vật nổi chủ yếu là Giáp xác (Copepoda, Cladocera)
Trang 34- Động vật đáy đã xác định được 16 loài gồm có Giun nhiều tơ (Polychaeta), Giáp xác chân đều (Isopoda), Giáp xác mười chân (Decapoda), Cũng như động vật nổi, thành phần loài động vật đáy chỉ bao gồm 2 nhóm cơ bản, đó là các loài có nguồn gốc nước ngọt và các loài đã thích nghi cao với môi trường nước lợ
Tóm lại, với thành phần thực vật thủy sinh khá đa dạng và phong phú, đảm bảo cung cấp nguồn thức ăn ban đầu cho động vật thủy sinh phát triển Chúng là cơ sở thức
ăn quan trọng trong thủy vực, góp phần cho nguồn lợi cá trong hệ thống sông được ổn định và phát triển
3.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VEN BỜ SÔNG GIANH
3.3.1 Dân số, lao động
Theo thống kê năm 2015, dân số của 3 huyện (trong vùng nghiên cứu) ven bờ sông Gianh là 384.878 người Trong đó số lao động thủy sản chiếm khoảng 10 % Nhìn chung, dân số của các huyện ven bờ sông Gianh phân bố không đều Tập trung chủ yếu tại các địa phương gần cửa sông, có điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng, khai thác và dịch vụ thủy sản [4], [38]
Bảng 3.5 Diện tích, dân số và mật độ dân số các địa phương vùng nghiên cứu (2015)
TT Địa phương Diện tích (km2) Dân số (người) Mật độ dân số
vụ nghề cá [4], [38]
Trang 353.3.3 Giáo dục, y tế
Chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe ở các địa phương ven bờ sông Gianh ngày càng được nâng lên Tất cả các xã đều có trường học, trạm y tế để phục vụ nhân dân Đã thực hiện tốt các biện pháp để duy trì sĩ số các cấp học, nên số lượng học sinh
bỏ học ngày càng giảm Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được duy trì Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường, lớp học, trạm y tế được tăng cường Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển sâu rộng, thu hút và huy động được nguồn lực xã hội chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo [4]
Tuy vậy, mạng lưới trường, lớp ở một số nơi còn bất hợp lý, chậm sắp xếp, điều chỉnh, gây trở ngại trong việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, kiên cố hoá trường lớp học Cơ sở vật chất của y tế còn thiếu, số bác sỹ còn ít so với mặt bằng chung toàn tỉnh Chất lượng giáo dục toàn diện của các cấp học và chăm sóc sức khỏe cho người dân chưa đáp ứng yêu cầu, chưa đồng đều giữa các địa phương [4]
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÁ HANH
4.1.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cá và các động vật khác nói chung,
sự gia tăng về chiều dài và khối lượng cơ thể thường có mối quan hệ với nhau Kết quả phân tích 407 cá thể cá Hanh tại vùng cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình cho thấy: cá Hanh ở đây được khai thác có kích thước chiều dài dao động từ 106÷328 mm, ứng với khối lượng từ 32÷963 gram, phân bố trong 04 nhóm tuổi từ 0+÷ 3+ Thông tin điều tra cho thấy, có cá thể bắt gặp lớn hơn 1.000 gram, tuy nhiên, trong quá trình thu mẫu thực hiện đề tài, chúng tôi không bắt gặp cá thể nào lớn như vậy Tương quan giữa chiều dài và khối lượng thể hiện bảng 4.1
Bảng 4.1 Chiều dài và khối lượng của cá Hanh ở vùng cửa sông Gianh
Tuổi Giới
tính
Chiều dài L (mm) Khối lượng W (gram) Số cá thể N
Trang 37Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy biến động chiều dài và khối lượng cá phụ thuộc vào nhóm tuổi Trong khi cá Hanh còn non ở nhóm 0+ có chiều dài trung bình thấp nhất chỉ đạt 140 mm và khối lượng tương ứng trung bình nhỏ nhất là 75,4 gram thì ở nhóm cá trưởng thành 3 năm tuổi (3+) cá đực có chiều dài trung bình lớn nhất là 272,3 mm, ứng với khối lượng trung bình cao nhất 551,7 gram; cá cái là 269,9 mm ứng với khối lượng cao nhất đạt 561,0 gram Cá ở các nhóm 1 năm tuổi (1+) và 2 năm tuổi (2+) có chiều dài trung bình từ 159,3÷232,9 mm với khối lượng tương ứng đạt từ 99,7÷319,3 gram
Kết quả phân tích chứng tỏ, cũng như các loài cá khác, qua từng năm tuổi cá Hanh tăng lên về chiều dài và lớn lên về khối lượng cơ thể Nhóm cá tuổi (0+) có chiều dài trung bình nhỏ nhất (140,0 mm), nhóm cá 3 năm tuổi (3+) có kích thước trung bình lớn nhất (272,3 mm đối với cá đực và 269,9 mm đối với cá cái) Tuy nhiên trong từng nhóm tuổi, mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá thay đổi theo giới tính Cá đực thường có kích thước lớn hơn cá cái nhưng khối lượng lại nhỏ hơn
Mối tương quan giữa kích thước và khối lượng cá Hanh được xác định qua hàm
số mũ của R.J.H.Beverton -S.J.Holt (1956) và được biểu diễn qua đồ thị là một nhánh parabol ở hình 4.1 bằng phương trình: W = 3.182 x 10-5 x L2.9181
Hình 4.1 Đồ thị tương quan chiều dài và khối lượng
Từ hình 4.1 cho thấy sự tăng trưởng về kích thước và khối lượng của cá Hanh không đồng đều Ở giai đoạn đầu cá tăng nhanh về chiều dài còn giai đoạn sau cá tăng nhanh về khối lượng Trong giai đoạn đầu, sự tăng nhanh kích thước cơ thể là đặc điểm thích nghi trong cạnh tranh cùng loài, nhằm hạn chế sức chèn ép của động vật
dữ, đảm bảo sự sinh tồn của loài Còn giai đoạn sau cá phải tích lũy chất dinh dưỡng cho quá trình chín muồi sinh dục nên tăng nhanh về khối lượng [15]
Trang 384.1.2 Cấu trúc tuổi của quần thể
Kết quả phân tích vẩy của 407 cá thể cá thu được ở vùng cửa sông Gianh đã xác định được 4 nhóm tuổi Trong đó, nhóm tuổi cá cao nhất là 3+ Căn cứ vào số lượng cá thể trong từng nhóm tuổi để xác định cấu trúc tuổi của quần thể cá Hanh Theo đó, nhóm cá một năm tuổi (1+) có số lượng cá thể đông nhất, chiếm tỉ lệ 34,64 % Trong nhóm tuổi này, chiều dài cá dao động từ 134÷234 mm với khối lượng tương ứng đạt tới 57÷337 gram Đa số cá Hanh khai thác tuổi ở 0+ và 1+, ứng với khối lượng 32÷337 gram, chiếm tỷ lệ 65,84 % Đây là nhóm cá có kích thước nhỏ, cho chất lượng và giá trị thương phẩm không cao, đa số chưa thành thục sinh dục hoặc chỉ tham gia sinh sản lần đầu, là nguồn bổ sung quan trọng cho đàn cá bố mẹ trong thời gian tới, nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất quần thể của đàn cá trong tự nhiên Nhóm cá hai năm tuổi (2+) có số lượng chiếm tỉ lệ 18,67 %, chiều dài cá dao động từ 161÷305 mm ứng với khối lượng 140÷530 gram Còn nhóm trên 3 năm tuổi (3+) có tỷ lệ khai thác thấp nhất 15,48 %, chiều dài dao động từ 205÷328 mm, ứng với khối lượng 215÷936 gram
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ (%) cấu trúc quần thể cá Hanh theo nhóm tuổi
Những kết quả thu được về thành phần tuổi cá cho thấy, cấu trúc tuổi của chủng quần cá Hanh ở vùng cửa sông Gianh khá đơn giản, gồm 4 nhóm tuổi (0+, 1+, 2+, 3+) tuổi cá không cao là do khi cá thành thục đạt 3÷4 tuổi di cư ra biển Tuy nhiên, phần lớn là do tình trạng khai thác quá mức, điều này sẽ làm giảm nguồn giống bổ sung cho quần thể cá tự nhiên
Trang 394.1.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm
Căn cứ vào số liệu cụ thể về chiều dài và kích thước vẩy tương ứng chúng tôi xác định được hệ số a của phương trình Rosa Lee (1920) là 10,5 mm Đó là kích thước của cá khi bắt đầu hình thành vẩy Phương trình tính ngược sinh trưởng của cá theo Rosa Lee (1920) có dạng:
10 , 5 10 , 5
V
V L
t
(*) Dựa vào phương trình (*), sẽ xác định được mức tăng trưởng chiều dài cá hàng năm Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung bình hàng năm được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm của cá Hanh
TB 154,8 201,5 221,3 154,8 40,9 25,5 20,6 10,3 280
Số liệu ở bảng 4.2 cho thấy, trong tự nhiên, kích thước trung bình của cá Hanh
ở thời điểm một năm tuổi đạt 154,8 mm Qua năm thứ hai cá tăng thêm 40,9 mm, tương đương tăng 25,5 % Năm thứ 3 cá chỉ tăng thêm được 20,6 mm, tương đương tăng 10,3 % so với năm thứ 2
So sánh với kết quả nghiên cứu của Vũ Trung Tạng, Võ Văn Phú và Nguyễn Thị Phi Loan (2010) về cá Hanh ở đầm Ô Loan (Phú Yên) nhận thấy, tốc độ tăng
Trang 40trưởng chiều dài trung bình hàng năm của cá Hanh ở vùng cửa sông Gianh chậm hơn (bảng 4.3)
Bảng 4.3 So sánh mức tăng trưởng chiều dài trung bình hàng năm của cá Hanh ở
vùng cửa sông Gianh với đầm Ô Loan
Khu vực nghiên cứu
Mức tăng chiều dài trung bình hàng năm (mm/%)
Cửa sông Gianh (Q.Bình) 154,8 40,9 25,5 20,6 10,3 Đầm Ô Loan (Phú Yên) [15] 184 72,4 39,4 69,4 37,7 Như vậy, vào năm đầu của đời sống cá tăng nhanh về kích thước; thời gian về sau tốc độ sinh trưởng theo chiều dài của cá càng chậm dần Sự tăng trưởng nhanh về chiều dài trong giai đoạn đầu của đời sống giúp cá tránh được sự săn mồi của vật dữ trong tự nhiên, cạnh tranh được với các cá thể cùng loài và sớm đạt được trạng thái thành thục sinh dục tham gia vào quá trình sinh sản của quần thể Và điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tăng trưởng của các loài cá nói chung là tăng trưởng chiều dài liên tục trong suốt đời sống nhưng tốc độ tăng chậm dần theo thời gian
4.2 ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG CỦA CÁ HANH
4.2.1 Thành phần thức ăn
Thành phần thức ăn của mỗi loài cá thường không giống nhau Ngay trong mỗi loài, ở các giai đoạn khác nhau của quá trình sinh trưởng, thức ăn của chúng cũng khác nhau Sự sai khác này phụ thuộc vào mức độ phát triển của cơ quan tiêu hoá, tập tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng trong các cá thể của loài
Để phân tích thành phần thức ăn tự nhiên của cá Hanh, chúng tôi tiến hành lấy mẫu phân tích thức ăn có trong ống tiêu hóa của 407 mẫu cá thu được Kết quả cho thấy thành phần thức ăn đa dạng, gồm 37 loại (bảng 4.4), đại diện cho 7 ngành động thực vật khác nhau, bao gồm các ngành tảo 24 loại chiếm 64,9 %, động vật 12 loại, chiếm 29,7 % và thực vật thủy sinh, mùn bã hữu cơ
Các loại thức ăn xuất hiện với tần suất cao gồm tôm, cá và tảo Ở nhóm cá nhỏ
có kích thước dưới 180 mm, có 21 loại thức ăn được tìm thấy, trong đó phần lớn là các loại tảo và động vật có kích thước bé Ở nhóm cá vừa có kích thước 181÷250 mm xác định được 26 loại thức ăn, ngoài nhóm tảo còn phát hiện nhiều động vật không xương sống, nhất là tôm, ốc và một số loài cá nhỏ Nhóm cá có kích thước lớn từ 251 mm trở lên, thức ăn chủ yếu là các loại tôm, cua và cá với 29 loại thức ăn