LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam” là của riêng tôi.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam” là của riêng tôi
Các số liệu, kết quả phân tích nêu trong kết quả nghiên cứu của luận văn là trung
thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ đề tài nào khác
Tác giả
Lê Hoàng Sơn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam” tôi xin chân thành biết ơn sâu sắc đến TS Ngô Tùng Đức, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành đúng thời gian quy định
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo trong Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Huế đã giúp đỡ tận tình trong quá trình thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, UBND hai huyện Tây Giang và Đông Giang; các Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục thống kê, Hạt Kiểm lâm hai huyện Đông Giang và Tây Giang, UBND các xã Anông, Avương và Bhalêê huyện Tây Giang, UBND các xã Tà lu, Sông Kôn và ATing huyện Đông Giang; lãnh đạo Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, hỗ trợ cho tôi trong quá trình học tập, thu thập tài liệu, điều tra phục vụ cho luận văn
Xin cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè, đồng nghiệp, giúp đỡ tôi có thêm nghị lực để khắc phục những khó khăn, hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi mong được sự đóng góp ý kiến qu ý báu của quý thầy, cô giáo và các bạn để luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Huế, tháng 4 năm 2016
Trang 3TÓM TẮT
Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) là loài thú móng guốc được phát hiện vào những
năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, chỉ tập trung phân bố tại vùng núi các tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến các huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Quảng Nam (huyện Đông Giang và Tây Giang) Khi loài Sao la được phát hiện thì số lượng cá thể của loại đang bị suy giảm mạnh do nạn săn bắt quá mức của người dân địa phương, bên cạnh công tác bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ động vật hoang dã trong thời kỳ này chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức Đứng trước nguy cơ bị diệt chủng của loài này thì các Khu bảo tồn loài Sao la được hình thành và đi vào hoạt động, trong đó có Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam Khu bảo tồn được thành lập, một phần diện tích rừng tự nhiên trước đó được quy hoạch là rừng sản xuất hay rừng phòng hộ thì nay quy hoạch trở thành rừng đặc dụng và được áp dụng các quy định của pháp luật về Quy chế quản lý rừng đặc dụng, với nhiệm vụ của Khu bảo tồn là thực thi pháp luật cùng các hoạt động khoa học để bảo vệ loài Sao la và sinh cảnh của chúng, các hoạt động thực thi pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng được triển khai mạnh như tuần tra tháo dỡ bẫy, ngăn chặn và xử lý các hành vi trái pháp luật gây ảnh hưởng đến tài nguyên rừng như khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã, phá rừng làm nương rẫy, thu hái lâm sản ngoài gỗ… các hoạt động ngăn chặn, xử lý các vi phạm về quản lý bảo vệ rừng của Ban quan lý khu bảo tồn trực tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến sinh
kế của người dân địa phương Ngược lại, với nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân miền núi phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên rừng, do vậy những hoạt động sinh kế của họ
có tác động xấu đến công tác bảo vệ loài Sao la và bảo tồn đa dạng sinh học, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam” nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn tài nguyên rừng gắn kết với cải thiện sinh kế của người dân địa phương
Bảo tồn và sinh kế là mối quan hệ đối lập nhau, để đạt được mục tiêu bảo tồn thì cần phải có những giải pháp sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư vùng đệm nhằm đảm bảo đời sống kinh tế của người dân với những hoạt động sinh kế ít hoặc không phụ thuộc
và tài nguyên từ rừng tự nhiên, giảm những áp lực có hại đến rừng tự nhiên nói chung và Khu bảo tồn nói riêng
Đề tài nhằm đánh giá thực trạng các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam ảnh hưởng đến công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng đồng thời xem xét đánh giá các hoạt động từ công tác bảo tồn của Khu bảo tồn Sao la tác động đến sinh kế của người dân vùng đệm nhằm đề xuất những giải pháp tối ưu để giải quyết hài hoà mối quan hệ hữu cơ giữa công tác bảo tồn và sinh kế
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Tổng quan về sinh kế và sinh kế bền vững 4
1.1.2 Mối quan hệ giữa sinh kế với công tác quản lý, bảo vệ rừng bảo tồn đa dạng sinh học 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Những quy định của Nhà nước liên quan đến công tác bảo tồn 8
1.2.2 Thuận lợi, khó khăn trong tổ chức Chính sách đầu tư cho rừng đặc dụng và phát triển vùng đệm 10
1.2.3 Một số vấn đề về đồng quản lý rừng đặc dụng 11
1.2.4 Rừng đặc dụng ở miền Trung và Quảng Nam 12
1.2.5 Tình hình quản lý rừng và hệ thống các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam 12
Trang 5Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.2.1 Điều tra về điều kiện cơ bản của Khu bảo tồn Sao la 20
2.2.2 Điều tra về đặc điểm sinh kế của cộng đồng người dân vùng đệm Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam dựa trên lý thuyết về đặc điểm nguồn lực sinh kế 20
2.2.3 Phân tích thực trạng tài nguyên và công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 21
2.2.4 Phân tích các tác động, mối liên hệ của hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm và công tác quản lý, bảo tồn của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 21
2.2.5 Giải pháp cải thiện, nâng cao sinh kế cho người dân vùng đệm và nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 21
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Đặc điểm tự nhiên 24
3.1.1 Vị trí địa lý và địa hình 24
3.1.2 Địa hình, địa thế 25
3.1.3 Khí hậu 25
3.1.4 Thủy văn 26
3.1.5 Đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 27
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
3.2.1 Dân số và dân tộc 30
3.2.2 Lao động và cơ cấu lao động 32
Trang 63.2.3 Tình hình thu nhập và đời sống của người dân 32
3.2.4 Các hoạt động kinh tế chủ yếu 34
3.2.5 Hiện trạng cơ sở hạ tầng 36
3.2.6 Các hoạt động ảnh hưởng đến khu bảo tồn loài 37
3.4 Thực trạng tài nguyên và công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 38
3.4.1 Mục tiêu của Khu bảo tồn 39
3.4.2 Sự cần thiết phải thành lập Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 39
3.4.3 Chức năng và nhiệm vụ Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 44
3.4.4 Cơ cấu tổ chức và chức năng của các bộ phận 45
3.4.5 Thực tiễn hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn 46
3.4.6 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng 48
3.5 Thực trạng các tác động của người dân đến Khu bảo tồn 49
3.5.1 Chặt phá rừng làm nương rẫy 49
3.5.2 Săn bắt động vật rừng hoang dã 50
3.5.3 Khai thác gỗ 51
3.5.4 Thu hái lâm sản ngoài gỗ 51
3.6 Kết quả phân tích mức độ tác động của các tôn đến Khu bảo tồn 52
3.7 Lý do người dân khai thác tài nguyên rừng trong khu vực bảo vệ 55
3.8 Một số tác động từ công tác bảo tồn đến sinh kế người dân vùng đệm 56
3.8.1 Về đất đai canh tác 57
3.8.2 Về hoạt động khai thác gỗ 57
3.8.3 Về săn bắt động vật hoang dã 58
3.8.4 Về thu hái lâm sản ngoài gỗ 58
3.8.5 Về đánh bắt cá, ếch 58
3.9 Mối quan hệ giữa công tác bảo tồn và sinh kế người dân 58
Trang 73.9.1 Mối liên hệ giữa nguồn vốn xã hội với các hoạt động khai thác và sử dụng lâm sản
của người dân vùng đệm 60
3.9.2 Mối liên hệ giữa nguồn vốn tự nhiên với các hoạt động sinh kế của người dân 62
3.9.3 Mối liên hệ giữa vốn con người với hoạt động sinh kế của người dân 64
3.9.4 Mối liên hệ giữa vốn vật chất với hoạt động sinh kế của người dân 64
3.9.5 Mối liên hệ giữa vốn tài chính với hoạt động sinh kế của người dân 66
3.9.6 Đánh giá nguồn vốn sinh kế hộ gia đình tại các xã vùng đệm Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam 68
3.10 Đề xuất các giải pháp góp phần giải quyết sinh kế vùng đệm, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Khu bảo tồn 70
3.10.1 Về tăng cường nguồn vốn sinh kế hộ gia đình 70
3.10.2 Về tổ chức, quản lý và chính sách phù hợp 71
3.10.3 Về kỹ thuật 73
3.10.4 Về kinh tế 74
3.10.5 Về nâng cao năng lực hoạt động bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học 74
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
4.1 Kết luận 76
4.1.1 Tình hình công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn Sao la và đặc điểm sinh kế người dân vùng đệm 76
4.1.2 Mối liên hệ giữa công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế người dân địa phương vùng đệm Khu bảo tồn Sao la 78
4.1.3 Đề xuất các giải giáp pháp vừa góp phần giải quyết sinh kế, vừa nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài Sao la Quảng Nam 79
4.2 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BCC : Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng Mê Công mở rộng
(Greater Mekong Subregion Biodiversity Conservation Corridors) BQL : Ban quản lý
ĐDSH : Đa dạng sinh học
DFID : Bộ phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
IUCN : Liên minh Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên KBT : Khu bảo tồn
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng
UBND : Uỷ ban nhân dân
VQG : Vườn quốc gia
WWF : Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund For Nature)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam 18
Bảng 1.2 Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2020 19
Bảng 3.1 Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn khu bảo tồn loài 28
Bảng 3.2 Số lượng Sao la ở Việt Nam và trong khu vực 29
Bảng 3.3 Dân số và mật độ dân số các xã Vùng đệm 30
Bảng 3.4 Thành phần dân tộc các xã Vùng đệm 31
Bảng 3.5 Thành phần lao động trên địa bàn các xã Vùng đệm 32
Bảng 3.6 Tổng hợp tỷ lệ số hộ đói nghèo ở các xã Vùng đệm KBT Sao la 33
Bảng 3.7 Sản lượng lương thực cây có hạt 34
Bảng 3.8 Đàn gia súc, gia cầm của các xã 35
Bảng 3.9 Thông tin chung của các xã đánh giá 52
Bảng 3.10 Đánh giá tác động của các thôn thuộc các xã vùng đệm 53
ảnh hưởng đến Khu bảo tồn 53
Bảng 3.11 Lý do khai thác tài nguyên rừng 55
Bảng 3.12 Những lợi thế và khó khăn trong các hoạt động sinh kế của người dân 68
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ quy hoạch Khu bảo tồn Sao la và vùng đệm 41
Hình 3.2 Phá rừng làm rẫy 50
Hình 3.3 Tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong Khu bảo tồn 50
Hình 3.4 Nhu cầu sử dụng gỗ của người dân 51
Hình 3.5 Thu hái Thiên niên kiện và song mây trong Khu bảo tồn 51
Hình 3.6 Thực hiện chính sách chi trả địch vụ môi trường rừng tại Khu bảo tồn 61
Hình 3.8 Nhu cầu sử dụng gỗ để làm nhà của người dân 66
Biểu đồ 3.1 Bình quân thu nhập các hộ ở các xã vùng đệm 67
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số UBND ngày 16/02/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la, với mục tiêu chính là bảo tồn loài Sao la và sinh cảnh của chúng cũng như những giá trị đa dạng sinh học tại một trong những khu vực ưu tiên hàng đầu bảo tồn loài Sao la ở Việt Nam
522/QĐ-Khu bảo tồn Sao la có vị trí ở Tây-Bắc tỉnh Quảng Nam, với diện tích vùng lõi là 15.378 ha trãi dài trên 2 huyện Đông Giang và Tây Giang, vùng đệm trên 35.135,44 ha Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam có hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên đai địa hình đất thấp vùng Trung Trường Sơn với hệ động thực vật phong phú và sự hiện diện của các loài quý
hiếm trong Sách Đỏ Thế giới và Việt Nam như Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Sơn dương (Capricornis sumatraensis), Thỏ vằn
(Isolagus timminsis), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Gấu ngựa (Ursus
(Selenarctos) thibetanus), Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Cầy hương (Viverricula indica) …., thực vật như Kiền kiền (Hopea pierrei), Gõ (Sindora siamensis), Giỗi (Talauma gioi), Sơn huyết (Melanorrhea lacciera), Huỷnh (Tarrietia javanica), Trầm
hương (Aquilaria crassna Pierre), Lan kim tuyến (Anoectochilus spp), Ba kích (Morinda officinalis How), Bảy lá một hoa (Paris poluphylla Sm)…vì vậy đây là nơi thường xuyên
bị tác động bởi người dân địa phương và người từ các nơi khác đến để khai thác gỗ và săn, bẫy bắt động vật Hiện nay do lực lượng còn quá mỏng so với diện tích quản lý rộng, địa bàn trãi dài khá phức tạp, để bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng vùng lõi là một thách thức lớn của KBT với các mục tiêu bảo tồn đặt ra
Việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn trên toàn quốc và khu vực là bước đi rất quan trọng trong việc bảo tồn các loài, quần xã sinh vật và hệ sinh thái Khu bảo tồn được định nghĩa là một vùng đất hoặc biển được xác định để bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học và nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa được kết hợp và được quản lý thông qua các phương tiện pháp lý và các phương tiện có hiệu quả khác
Cho đến hiện nay vẫn chưa có một hướng dẫn chung nào cho việc thiết kế một khu bảo tồn trên toàn thế giới Thay vào đó, hầu hết các khu bảo tồn đều được thiết kế tùy thuộc vào sự sẵn có của đất đai, nguồn kinh phí, sự phân bố dân cư ở trong và quanh khu bảo tồn, nhận thức của cộng đồng cũng như các tình huống bảo tồn cần được quan tâm Tuy vậy, đã
có một sự thừa nhận rộng rãi rằng các khu bảo tồn lớn sẽ có khả năng bảo tồn loài, quần xã
Trang 12sinh vật cũng như các hệ sinh thái đích tốt hơn vì nó có thể duy trì các quá trình sinh thái diễn
ra trong khu bảo tồn một cách toàn vẹn hơn các khu bảo tồn nhỏ
Về quan điểm quản lý các khu bảo tồn, quan điểm được cho là phù hợp với việc quản
lý hiệu quả một khu bảo tồn hiện nay là rằng việc áp dụng bất cứ một phương thức quản lý nào cũng phải dựa vào các đối tượng quản lý ở một địa điểm cụ thề Chỉ khi đã xác định được các đối tượng quản lý thì các kết quả quản lý khoa học mới được áp dụng
Hơn nữa một chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả cần chú trọng không chỉ thực hiện công tác bảo tồn trong phạm vi ranh giới của các khu bảo tồn mà cần mở rộng phạm vi của các hoạt động nhằm bảo tồn loài, quần xã hay hệ sinh thái đích bên ngoài phạm
vi của các khu bảo tồn Điều này là bởi vì nếu chúng ta không thể bảo vệ thiên nhiên bên ngoài các khu bảo tồn thì thiên nhiên cũng chẳng tồn tại bao nhiêu trong các khu bảo tồn đó Thêm vào đó, một chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả cần thiết phải tính đến các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và khuyến khích các bên liên quan tham gia vào công tác bảo vệ các loài, quần xã hay hệ sinh thái đích cần được bảo tồn
Tuy nhiên, hiệu quả quản lý của một khu bảo tồn còn phụ thuộc vào các hoạt động sinh kế của người dân địa phương sống quanh khu bảo tồn Do vậy, tìm kiếm các hoạt động sinh kế thay thế nhằm giảm áp lực của người dân vùng đệm đến các nguồn tài nguyên của khu bảo tồn có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc xây dựng các chiến lược dài hạn cũng như các kế hoạch hành động ngắn hạn cho quản lý khu bảo tồn hiệu quả
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một khu bảo tồn sẽ rất khó khăn, thậm chí không thể nào bảo vệ được các giá trị đa dạng sinh học của mình nếu quá trình hoạch định chiến lược cho việc bảo tồn và phát triển của nó không tính đến sự phát triển kinh tế xã hội của người dân địa phương Khu bảo tồn không thể nào tồn tại độc lập trong tiến trình vận động và phát triển chung của cộng đồng dân cư sống xung quanh nó
Mặc dù ngay từ bước đầu của việc thành lập Khu bảo tồn loài Sao la Quảng Nam việc hoạch định các chiến lược bảo tồn, cần thiết đã tiến hành bàn bạc và thỏa thuận với người dân địa phương sống xung quanh Khu bảo tồn về cách thức bảo tồn có sự tham gia và các giải pháp nhằm tìm nguồn sinh kế thay thế và cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội cho cộng đồng dân cư địa phương nhưng đến nay vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực vào Khu bảo tồn Có thể khẳng định rằng tính bền vững của công tác bảo tồn đa dạng sinh học của một Khu bảo tồn được đảm bảo chỉ khi nào người dân địa phương thực sự tham gia vào các hoạt động bảo tồn
và ngược lại các hoạt động bảo tồn thực sự mang lại các lợi ích kinh tế cho cộng đồng xung quanh
Trang 13Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam” nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn tài nguyên rừng gắn kết với
cải thiện sinh kế của người dân địa phương
2 Mục tiêu của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần định hướng cho việc xây dựng và áp
dụng các giải pháp bảo tồn và phát triển rừng có hiệu quả tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la Quảng Nam
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vào năm 1992, Chamber and Conway đã cho rằng: Một sinh kế bao gồm khả năng (capacity), tài sản (assets) - các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ
và tiếp cận và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống
Theo DFID: có thể miêu tả sinh kế như là sự kết hợp các hoạt động được thực hiện dựa trên việc sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính, và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội) Theo Ellis (2000) cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện, vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội, mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000)
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau về sinh kế, tuy nhiên khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình hay một cộng đồng dân cư Hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình hay một cộng đồng dân cư tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các cơ chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng
Nguồn lực sinh kế hay vốn sinh kế, tài sản sinh kế được chia làm năm loại sau:
- Thứ nhất, nguồn lực con người: Là kiến thức, khả năng, trình độ kỹ năng làm việc và sức khỏe để giúp con người trong quá trình thực hiện những hoạt động sinh kế khác nhau và đạt được kết quả sinh kế Với mỗi hộ gia đình, vốn con người là một nhân tố
về lượng và chất của lực lượng lao động trong gia đình, nó khác nhau tùy vào quy mô của
Trang 15hộ, kỹ năng, học vấn, khả năng quản lý gia đình, tình hình sức khỏe Vốn con người là điều kiện cần để có thể sử dụng được bốn loại tài sản còn lại
- Thứ hai, nguồn lực xã hội: Là một loại tài sản sinh kế, nó nằm trong các mối quan hệ xã hội chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực hiện các hoạt động sinh kế của họ Những nguồn lực xã hội này có được qua việc đầu tư, hợp tác cùng nhau để tăng khả năng làm việc; là các thành viên của các nhóm không chính thức trong đó các mối quan hệ tuân theo những quy định và luật lệ đã được thống nhất
Vốn xã hội mang lại những kết quả quan trọng là khả năng tiếp cận thông tin, khả năng có những ảnh hưởng hoặc quyền lực, khả năng đòi hỏi và tuyên bố trách nhiệm hỗ trợ từ người khác
- Thứ ba, nguồn lực tài chính: Là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng để đạt tới các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm:
- Nguồn dự trữ hiện tại: Tiết kiệm, có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hoặc các tài sản khác như vật nuôi, đồ trang sức
- Dòng tiền theo định kỳ từ nguồn thu nhập kiếm được như chế độ lương hưu hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiền thân nhân gửi về
- Thứ tư, nguồn lực tự nhiên: Là khả năng lưu giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên
mà con người trông cậy vào Đó là nguồn dự trữ cho lợi ích trực tiếp và gián tiếp: cây và đất cho lợi ích trực tiếp qua việc đóng góp cho nguồn thu nhập và các điều kiện vật chất của con người; lợi ích gián tiếp mà chúng mang lại bao gồm các chu trình tạo dinh dưỡng
và bảo vệ chống xói mòn, bão gió
- Thứ năm, nguồn lực vật chất: Là một loại tài sản sinh kế, nó bao gồm phần cơ sở
hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất để thực hiện sinh kế Cơ sở hạ tầng ở đây bao gồm những thay đổi trong môi trường vật chất giúp người dân đáp ứng các nhu cầu cơ bản của
họ và nâng cao khả năng sản xuất
Cơ sở hạ tầng bao gồm: các hệ thống giao thông, cấp nước và vệ sinh, năng lượng, liên lạc và khả năng tiếp cận thông tin Các phần khác của vốn vật chất bao gồm vốn sản xuất để đẩy mạnh thu nhập như hàng hóa, đồ dùng của hộ, đồ dùng cá nhân hay nhóm hộ
1.1.1.2 Sinh kế bền vững
Trang 16Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên Tiêu chí sinh kế bền vững bao gồm: ổn định thu nhập, an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, an toàn trong các mối quan hệ xã hội khác thông qua thể chế, chính sách (Theo DFID, 2001)
a) Sự bền vững
Bền vững không có nghĩa là sẽ không có gì thay đổi, mà là có khả năng thích ứng, thích nghi theo thời gian Tính bền vững là một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp sinh kế bền vững (theo DFID)
Các yếu tố được xem là bền vững chỉ khi có thể tiếp tục diễn ra trong tương lai, ứng phó và phục hồi được sau các áp lực mà không làm huỷ hoại các nguồn lực tạo nên
sự tồn tại của yếu tố này Các nguồn lực này có thể thuộc nguồn tự nhiên, xã hội, kinh tế hay thể chế Điều này giải thích tại sao tính bền vững thường được phân tích theo bốn khía cạnh: bền vững về kinh tế, về môi trường, về thể chế và xã hội
b) Sinh kế bền vững
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Reardon và Taylor, 1989) Phương pháp sinh kế bền vững tạo ra cơ hội cải thiện các nỗ lực giảm nghèo bằng cách đưa ra cái nhìn tổng quan tình trạng của người nghèo như chính họ đang đánh giá họ chứ không phải là đưa ra các kết luận chủ quan, nông nổi, rời rạc Tuy nhiên, ngày nay con người càng chú trọng đến sự bền vững và biết khả năng bền vững là khả năng tiếp tục trong tương lai, chống đỡ và phục hồi từ những áp lực và những cú sốc, trong khi vẫn không ngừng gây tổn hại đến những nguồn lực mà con người dựa vào đó để tồn tại
Một sinh kế là bền vững khi nó có khả năng liên tục duy trì hay cũng cố mức sống
ở hiện tại mà không làm huỷ hoại cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên Để có được diều này, sinh kế bền vững phải có khả năng vượt qua và hồi phục sau các áp lực và sốc (ví dụ như các tai họa thiên tai hay suy thoái kinh tế) (theo DFID)
Sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao
Trang 17phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực con người, vật chất, tự nhiên, tài chính và xã hội
Tổ chức phát triển toàn cầu của vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế bền vững như sau:
Khung sinh kế bền vững hay còn gọi là nguyên tắc của sinh kế bền vững của DFID
là một công cụ trực quan hóa, được DFID xây dựng nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế
Khung sinh kế có thể chia thành năm hợp phần chính: Bối cảnh tổn thương, các tài sản sinh kế, những chính sách thể chế và tiến trình, các chiến lược sinh kế và các kết quả sinh kế
c) Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững
Phương pháp tiếp cận SKBV nhằm đạt được:
Hiểu biết thực tế hơn về sinh kế cho người nghèo và các yếu tố hình thành sinh kế
Hỗ trợ phát triển dựa trên các nguồn lực của người nghèo để tạo cơ hội cho họ cải thiện sinh kế thông qua các yếu tố sau:
- Sản xuất tăng lên nhờ phương thức canh tác bền vững;
- Kinh kế ổn định hơn và các hộ gia đình có thể chi tiêu thêm cho giáo dục, y tế
và góp phần làm tăng trưởng kinh tế chung;
- Có khả năng chống chịu được các khó khăn trước mắt như ốm đau, thất nghiệp và mất mùa
1.1.2 Mối quan hệ giữa sinh kế với công tác quản lý, bảo vệ rừng bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.2.1 Các giá trị tài nguyên rừng của Khu bảo tồn với sinh kế người dân địa phương
Trong sinh kế thường ngày của người dân địa phương, các giá trị sử dụng trực tiếp như: Khai thác gỗ để sử dụng làm nhà, chuồng trại, thu hái lâm sản ngoài gỗ, săn bắt động vật, đất cho sản xuất nông – lâm nghiệp, là những giá trị thiết thực nhất của tài nguyên rừng và quan trọng hàng đầu đối với cuộc sống hàng ngày của họ Quan trọng đặc biệt là trong bối cảnh họ chưa phát triển được các sinh kế mới thay vì các sinh kế truyền thống dựa vào tài nguyên rừng sẵn có của Khu bảo tồn
Trang 181.1.2.2 Quản lý tài nguyên ở Khu bảo tồn
a) Về quyền được hưởng thụ và phân bổ lợi ích
Quyền được hưởng thụ và phân bổ lợi ích của các tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn là vấn đề đã được phân tích, xem xét và ứng dụng trong công tác bảo tồn Đây là tiền đề hình thành 2 phương thức quản lý là: Quản lý dựa vào cộng đồng và đồng quản lý tài nguyên
Công tác quản lý tài nguyên ở các Khu bảo tồn gồm cả ba phương diện: Đó là một loạt các sắp xếp tổ chức quản lý, kỹ thuật và các mối quan hệ bản địa dựa trên các yếu tố khoa học và xã hội liên quan tới việc tổ chức, kiểm tra, quyền được hưởng thụ và phân bổ lợi ích từ tài nguyên thiên nhiên của Khu bảo tồn đến cộng dồng dân cư địa phương có nguồn tài nguyên đó
b) Về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và đồng quản lý
Trong một khuôn khổ lãnh thổ thì việc quản lý tài nguyên hay nói cách là công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học của Khu bảo tồn cần phải dựa vào cộng đồng nhằm thúc đẩy tác động tích cực từ cộng đồng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vai trò của cộng đồng trong phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học gồm 6 nguyên tắc Trong đó phát triển sinh kế bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an toàn về kinh tế và lương thực cho cộng đồng, sinh kế là điểm chủ chốt trong mối tương tác giữa con người và tài nguyên, quyết định tính bền vững (Theo PGS Lê Diên Dực, 2008)
1.1.2.3 Phát triển sinh kế bền vững với bảo tồn đa dạng sinh học
Mối quan hệ hữu cơ của sinh kế bền vững là xu thế phát triển nhằm đảm bảo mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, với người dân địa phương sống trong và xung quanh Khu bảo tồn khi kinh tế ổn định phát triển, các vấn đề văn hoá - xã hội, tinh thần được ổn định tức là các quyền lợi về mặt xã hội đã thoả mản, các áp lực như bị phụ thuộc vào thiên nhiên không còn thì công tác quản lý và bảo tồn sẽ được tốt lên
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Những quy định của Nhà nước liên quan đến công tác bảo tồn
Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nên công tác quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng từ lâu là vấn đề nóng của ngành lâm nghiệp Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ và bảo tồn các hệ sinh thái rừng, bảo tồng đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên và các giá trị văn hóa, lịch sử môi trường nhưng rừng đặc dụng ở Việt nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức và mối đe dọa rất lớn Hiện nay, người dân sống trong vùng đệm của các vườn quốc
Trang 19gia, khu bảo tồn trình độ nhận thức và hiểu biết hạn chế về trách nhiệm và nghĩa vụ của công tác bảo tồn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Họ dường như hiểu nhầm rằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc tài sản chung của nhà nước và họ không có quyền pháp lý quản lý tài nguyên và bảo vệ chống lại tác động bên ngoài Nhiều người trực tiếp hoặc gián tiếp có được lợi ích từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng không có bất kỳ đóng góp nào cho công tác bảo tồn Do đó, đây thực sự là việc cần thiết để khuyến khích sự đóng góp và chia sẻ lợi ích của người sử dụng tài nguyên thiên nhiên để quản lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường của họ
Hoạt động của chương trình thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích dựa vào các căn cứ pháp lý sau:
- Luật Đa dạng sinh học năm 2008;
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005;
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004;
- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;
- Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng;
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm;
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật BVPTR 2004;
- Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Quyết định số 126/2012/QĐ-TTg ngày 02/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng;
- Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020;
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý rừng;
- Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 07/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT
về việc ban hành quy định về khai thác gỗ và LSNG
Trang 20- Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam về Phê duyệt dự án thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la
- Quyết định số 2462/QĐ-UBND ngày 09/8/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam về phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2011-2020
- Quyết định số 233/QĐ-UBND ngày 20/01/2014 Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về Phê duyệt kế hoạch quản lý Khu bảo tồn Sao la giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến năm 2020
Trên đây là các văn bản quy định của các cấp và Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
về quản lý bảo vệ, phát triển rừng đặc dụng Có thể nói rằng đây là một hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học Nhưng thục tế cho thấy chỉ tập trung cho các biện pháp ngăn chặn, xử lý vi phạm chưa xây dựng và ban hành cụ thể các chính sách
cụ thể để chia sẻ lợi ích từng rừng cho người dân vùng đệm để phát huy sự đồng quản lý rừng cũng như các cơ chế đầu tư phát triển kinh tế rừng đặc dụng đảm bảo ổn định đời sống, thu nhập cho người dân nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn
đa dạng sinh học đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ tại nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học
1.2.2 Thuận lợi, khó khăn trong tổ chức Chính sách đầu tư cho rừng đặc dụng và phát triển vùng đệm
- Với nguồn ngân sách hạn hẹp mà nhà nước đầu tư cho công tác quản lý rừng đặc dụng hiện nay có thể là một trở ngại, do vậy để bù đắp các chi phí thúc đẩy và duy trì các
mô hình phát triển kinh tế - xã hội cộng đồng theo Quyết định số 24/QĐ-TTG ngày 01/6/2012 về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020 và một số
cơ chế tài chính mới đang được Chính phủ áp dụng như Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hay chính sách cho thuê rừng, những sáng kiến giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng có thể mang lại những cơ hội tài chính nhất định để chi trả cho cộng đồng tham gia bảo vệ rừng trong tương lai, bên cạnh các lợi ích khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên khác mà người dân được thụ hưởng khi luật pháp nhà nước cho phép Đây là một tiến trình mà đòi hỏi nhà nước cần có những cải tiến nhất định về chính sách liên quan đến quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đối với tài nguyên rừng
Trang 211.2.3 Một số vấn đề về đồng quản lý rừng đặc dụng
Các mô hình đồng quản lý có thể dựa trên những lợi ích lấy từ nguồn tài nguyên và/hoặc dựa vào việc cung cấp dịch vụ hệ sinh thái Đặc điểm chủ yếu của đồng quản lý
là quyền lực, quyền hạn, lợi ích và trách nhiệm đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên có thể chia sẻ thông qua quá trình đàm phán để đi tới một thỏa thuận đồng quản lý thống nhất về thể chế quản trị có nhiều bên tham gia
Về khía cạnh pháp lý, định hướng phát triển cơ chế đồng quản lý tài nguyên rừng đã được xác định trong chiến lược ngành lâm nghiệp Việt Nam theo Quyết định
số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 Chiến lược nêu rõ: Tiếp tục thử nghiệm và nhân rộng các mô hình quản lý rừng cộng đồng; Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động và sự nghiệp hàng năm cho các Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ và có chính sách hỗ trợ một số chi phí hoạt động của các tổ bảo vệ rừng thôn, xã; Xây dựng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của trung ương và địa phương
Định hướng trên đã được thể chế hóa thành giải pháp và chính sách thực hiện của
Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 Nhà nước yêu cầu “Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp nhà nước triển khai thực hiện cơ chế đồng quản lý với cộng đồng dân cư địa phương trên cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm quản
lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và cùng hưởng lợi ích từ rừng trên cơ sở đóng góp của các bên”, và triển khai cơ chế đồng quản lý rừng từ năm 2012 đến năm 2014 theo phương thức “thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích tại một số khu rừng đặc dụng” theo hướng chuyển căn bản từ hình thức nhà nước kiểm soát hoàn toàn công tác bảo vệ rừng sang nhiều hình thức cùng quản lý, trong đó cộng đồng địa phương chia sẻ trách nhiệm quản lý và lợi ích thu được với cơ quan nhà nước Để tạo cơ sở xây dựng khung pháp lý và chính sách đồng quản lý, ngày 02/02/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 126/QĐ-TTg về việc thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Xuân Thủy và Vườn quốc gia Bạch Mã và đây cũng là những vấn
đề cần quan tâm nghiên cứu cũng như việc định hướng cho những giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam có sự tham gia một các tự giác của người dân vùng đệm
Trang 221.2.4 Rừng đặc dụng ở miền Trung và Quảng Nam
Miền Trung nước ta được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới (WWF 2000 - Global 200) Tuy nhiên, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ rừng đặc dụng chưa được chú ý xây dựng do nằm trong khu vực chiến tuyến Sau giải phóng, với những giá trị vốn có và trên cơ sở kết quả đề xuất của các cơ quan khoa học, 31 khu rừng từ Thanh Hóa tới Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã được đưa vào hệ thống rừng đặc dụng trong số 73 khu của Việt Nam (Quyết định 194-CT ngày 09/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ) Trong thời kỳ này, những giá trị đa dạng sinh học ở Quảng Nam chưa được điều tra, đánh giá nên không có khu rừng đặc dụng nào ở Quảng Nam được đề xuất
Năm 1997, được sự tài trợ của các tổ chức phi chính phủ, Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên Thế giới (WWF) đã hỗ trợ các nhà khoa học Việt Nam tiến hành điều tra đánh giá đa dạng sinh học khu vực phía Tây Quảng Nam và đề xuất xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh Năm 2000, khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh chính thức được thành lập có diện tích trên 90 ngàn héc ta và là một trong những khu rừng đặc dụng lớn nhất ở Việt Nam Theo Quyết định 192/2003/QĐ-TTG các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên có 11 Vườn quốc gia, 24 khu bảo tồn thiên nhiên và 13 khu bảo vệ cảnh quan Trong đó, Quảng Nam có 01 khu rừng đặc dụng là khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh và được đề xuất nâng cấp thành Vườn quốc gia Ngoài ra, Quảng Nam đang hoàn chỉnh đề án thành lập Khu bảo tồn Ngọc Linh tại huyện Nam Trà My và tiếp tục đề xuất thành lật khu bảo tồn Voi tại huyện Quế Sơn
Sau khi loài Sao la được phát hiện ở Hà Tĩnh thì những điều tra về loài này được mở rộng khắp khu vực miền Trung nước ta Từ những kết quả điều tra cho thấy tuy không phải
là nơi đầu tiên phát hiện ra Sao la nhưng khu vực Tây Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế và Tây Bắc tỉnh Quảng Nam là nơi phân bố tập trung nhất của loài Sao la ở nước ta Các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề xuất thành lập hai khu bảo tồn loài Sao la tại hai khu vực này Theo kết quả rà soát 3 loại rừng (Chỉ thị 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ) Quảng Nam đã đề xuất xây dựng khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao
la nằm trên địa bàn hai huyện Đông Giang và Tây Giang
1.2.5 Tình hình quản lý rừng và hệ thống các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam
1.2.5.1 Tình hình về quản lý rừng ở Việt Nam
a) Công tác quản lý rừng ở Việt Nam quan các thời kỳ:
Ở Việt Nam, việc quản lý, bảo vệ rừng cũng có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của đất nước, có thể chia ra các thời kỳ phát triển của công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Việt Nam như sau:
Trang 23* Thời kỳ trước năm 1945
Đơn vị quản lý rừng trong thời kỳ này được gọi là Hạt Lâm nghiệp có qui mô tương đương với cấp tỉnh Nội dung hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu
là quản lý tài nguyên rừng nhằm để thu thuế là chính Để thực hiện mục tiêu khai thác tài nguyên rừng, người ta đã chia rừng thành ba loại:
+ Rừng không thuộc quản lý của Nhà nước Đây là những khu rừng ở vùng sâu, vùng xa với mật độ dân địa phương rất thấp, khó tiếp cận và kiểm soát Ở những khu rừng này dân địa phương có quyền tự do khai thác gỗ, lâm sản và phát nương làm rẫy để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của họ
+ Rừng khai thác là những khu rừng tự nhiên nằm gần các khu dân cư và có điều kiện giao thông thuận lợi Rừng được phân chia thành các đơn vị quản lý, được kiểm kê tài nguyên, điều tra các thông tin cơ bản phục vụ quản lý Các đơn vị rừng được chia thành các coup (cúp) khai thác và Nhà nước quy định cấp kính tối thiểu được phép khai thác Kiểm lâm đặt các trạm kiểm soát ở cửa rừng, tất cả các gỗ khai thác ra được chấp nhận, đóng búa, nộp thuế và cho phép lưu thông
+ Rừng quan trọng là những khu rừng có vị trí quan trọng về kinh tế được khai thác và bảo vệ trong suốt luân kỳ; hoặc là những khu rừng có chức năng quan trọng khác như rừng đầu nguồn cần bảo vệ nghiêm ngặt
* Thời kỳ năm 1946 - 1990
Sau năm 1945, ngành Lâm nghiệp được quản lý bởi Nha lâm chính thuộc Bộ canh nông với nhiệm vụ được qui định là: (i) Quản lý lâm phận: ngăn ngừa sự tàn phá rừng và sự lạm dụng lâm sản, gìn giữ các khu rừng có quan hệ đến sự điều hoà khí hậu và mực nước của các triền sông, giữ vững các cồn cát để khỏi lấn vào nội địa; (ii) Thi hành lâm pháp; (iii) Thi hành thể lệ về săn bắn Các hoạt động lâm nghiệp trong giai đoạn này luôn gắn liền với nhiệm vụ kháng chiến và tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ:
+ Xây dựng chính sách thể chế lâm nghiệp bao gồm: xoá bỏ các thể lệ lâm nghiệp độc quyền, xây dựng tổ chức và chính sách thể chế lâm nghiệp mới; cải tiến chế
độ thu tiền bán khoán lâm sản; chính sách phát triển trồng cây gây rừng; các thể chế về bảo vệ rừng, sản xuất, lưu thông và xuất nhập khẩu lâm sản
+ Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng
+ Khai thác gỗ và lâm sản phục vụ yêu cầu kháng chiến
+ Vận động nhân dân trồng cây
Trang 24+ Đóng góp các nguồn thu của ngành lâm nghiệp vào ngân sách
+ Đào tạo cán bộ lâm nghiệp
+ Công tác nghiên cứu lâm nghiệp
Giai đoạn năm 1956 - 1975
Được đánh dấu bởi sự thành lập của Tổng cục Lâm nghiệp như là cơ quan đầu não của Ngành Lâm nghiệp Ở cấp tỉnh có các công ty lâm nghiệp để quản lý nhà nước về lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu vẫn là khai thác
và bảo vệ rừng tự nhiên
Giai đoạn n ă m 1976 - 1990
Là những năm có nhiều thay đổi trong hệ thống tổ chức và chính sách quản lý lâm nghiệp được đánh dấu bằng sự thành lập Bộ Lâm nghiệp năm 1976 Năm 1986, rừng được qui hoạch thành ba loại rừng theo chức năng, đó là: rừng sản xuất; rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Rừng được phân chia thành các tiểu khu có diện tích bình quân khoảng 1000 ha để làm đơn vị quản lý Các hoạt động quản lý và sản xuất lâm nghiệp của ba loại rừng nói trên được nghiên cứu phát triển và có nhiều đổi mới trong giai đoạn này Tổ chức của các hệ thống quản lý ba loại rừng có thể được tóm lược như sau:
+ Đối với rừng sản xuất: được quản lý bởi các Liên hiệp lâm, nông, công nghiệp
và các lâm trường quốc doanh
+ Đối với rừng phòng hộ: các vùng đầu nguồn trọng yếu như Sông Đà, Dầu Tiếng, Trị An, Thạch Nham có các Ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc Bộ Lâm nghiệp, các khu rừng phòng hộ khác do các lâm trường quản lý hoặc các Ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc tỉnh, liên hiệp
+ Đối với rừng đặc dụng: thành lập các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên có ban quản lý để bảo vệ nghiêm ngặt theo qui chế riêng
* Thời kỳ từ năm 1991 đến nay
Từ tháng 10/1995, Bộ Lâm nghiệp (cũ) cùng với Bộ Thủy lợi (cũ) sát nhập vào với Bộ Nông nghiệp (cũ) để thành lập Bộ NN&PTNT Bốn định hướng đổi mới về chiến lược phát triển lâm nghiệp đã được vạch ra trên cơ sở của dự án “Nghiên cứu tổng quan phát triển Lâm nghiệp Việt Nam”:
+ Chuyển lâm nghiệp từ ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên rừng là chính, trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng và phát triển vốn rừng
Trang 25+ Chuyển lâm nghiệp từ một ngành kinh tế chỉ có Nhà nước và tập thể sang một nền lâm nghiệp xã hội, thu hút nhiều thành phần kinh tế trong đó có cả hộ gia đình, cá nhân và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng rừng và kinh doanh rừng
+ Chuyển lâm nghiệp từ một nền kinh tế chuyên khai thác gỗ tự nhiên sang một ngành kinh tế kinh doanh nhiều sản phẩm, phát triển nhiều ngành nghề
+ Chuyển lâm nghiệp từ tình trạng quản canh, trình độ khoa học kỹ thuật thấp sang xây dựng một ngành lâm nghiệp, thâm canh, có trình độ khoa học kỹ thuật cao
Để thực hiện định hướng chiến lược có 4 chương trình:
+ Chương trình quản lý rừng (điều chế rừng), bảo vệ rừng và tổ chức lại sản xuất lâm nghiệp
+ Chương trình trồng rừng, sử dụng đất trống đồi núi trọc và phát triển lâm nghiệp theo phương thức nông lâm kết hợp
+ Chương trình khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng
+ Chương trình đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm nghiệp theo cơ chế thị trường Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến quản
lý rừng bền vững; đó là Luật đất đai và các chính sách giao đất lâm nghiệp; Luật Bảo
vệ và Phát triển rừng (1991, 2004) và các thể chế về tăng cường quản lý bảo vệ rừng; Qui chế quản lý 3 loại rừng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng Nghị định của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp Bên cạnh việc hoàn thiện các yếu tố chính sách, thể chế và luật pháp, công tác quản
lý rừng ở nước ta trong những năm qua cũng đã tập trung nghiên cứu và đề xuất nhiều giải pháp khoa học kỹ thuật về công tác quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng rừng và sử dụng đất bền vững khác nhau như:
- Công trình nghiên cứu "Sử dụng đất tổng hợp bền vững" của Nguyễn Xuân Quát (1996), tác giả đã nêu lên những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng đất, các mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam Tại công trình này tác giả cũng bước đầu đề xuất tập đoàn cây trồng nhằm sử dụng bền vững và ổn định đất rừng
- Công trình nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Tây Nguyên và khả năng ứng dụng trong kinh doanh rừng tự nhiên của PTS Trần Văn Con (1999) Tác giả đánh giá lại các nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên để xem xét thực trạng sự hiểu biết, khả năng ứng dụng hiểu biết về cấu trúc rừng tự nhiên để đề xuất các định hướng nghiên cứu tiếp về cấu trúc của rừng Tây Nguyên
Trang 26- Đánh giá hiện trạng quản lý rừng và đất rừng làm cơ sở đề xuất sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở DăkLăk của PTS Bảo Huy (1998) Tác giả đã thu thập, phân tích biến động tài nguyên rừng, biến động cấu trúc rừng và tính chất đất rừng sản xuất qua quá trình khai thác để đề xuất quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, đất rừng phù hợp với quan điểm phát triển bền vững
- Công trình nghiên cứu quy luật phân bố tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu, Nghệ An của tác giả Nguyễn Duy Chuyên (1996)
- Công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng ở xã Châu Cường, thuộc vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An của tác giả Dương Ngọc Hùng (2006)
- Công trình nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Vườn Quốc gia Yangsin, Krông Bông, DăkLăk của tác giả Lương Hữu Thạnh
Thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học được cụ thể hoá bằng nhiều mô hình quản lý bảo vệ bền vững tài nguyên rừng đã được các địa phương, các cơ quan quản lý áp dụng rất hiệu quả và nhân rộng ra thực tiễn, góp phần duy trì và nâng cao vốn rừng
1.2.5.2 Hệ thống các Khu rừng đặc dụng của Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước sớm quan tâm đến vấn đề bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học
Ngày 07/7/1962, Vườn Quốc gia Cúc Phương là Khu bảo tồn đầu tiên được thành lập ở miền Bắc Thời gian đầu gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương, đây là khu bảo tồn thiên nhiên đối với hệ động thực vật trên núi đá vôi nằm tiếp giáp ở vùng sinh thái đồng bằng Bắc Bộ và Tây Bắc
Ở miền Nam, năm 1965, Phạm Hoàng Hộ và Phùng Trung Ngân đã đề nghị và được chính phủ Sài Gòn quyết định thành lập 10 khu bảo vệ vùng thấp: Côn Đảo, Châu Đốc, Bảo Lộc, Rừng cấm săn bắn Đức Xuyên (Buôn Ma Thuột), đảo Hoang Loan và Mũi Dinh Vùng núi cao có 3 khu: Chư Yang Sin (2405m), Đỉnh Lang Bian (2183m) và Bạch Mã - Hải Vân (1450m) Theo số liệu của IUCN (1974), miền Nam Việt Nam có 7 khu bảo tồn với diện tích 753.050ha (Cao Văn Sung, Hệ thống các khu bảo vệ thiên nhiên ở Việt Nam, 1994)
Sau ngày thống nhất đất nước, hệ thống các KBT được dần dần mở rộng, bổ sung, hoàn thiện về quy mô, diện tích và hệ thống quản lý bảo vệ Hệ thống các Khu bảo tồn của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm :
Trang 27- Các Khu rừng đặc dụng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang quản
lý 128 Khu (đã được Chính phủ công nhận)
- Các khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản đề xuất 15 Khu
- Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường đề xuất 68 Khu Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như các tổ chức quốc tế thực hiện Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài động, thực vật, các hệ sinh thái đặc trưng Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu cho thấy:
Trong một khoảng thời gian từ 1992 - 2012, các nhà khoa học Việt Nam đã cùng với một số tổ chức quốc tế đã phát hiện thêm 7 loài thú, 2 loài chim mới cho khoa học
- Sao la (Pseudoryx nghetinhensis)
- Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis)
- Bò sừng xoắn (Pseudonovibos spiralis)
- Mang trường sơn (Canimuntiacus truongsonensis)
- Mang Pù hoạt (Muntiacus puhoatensis)
- Cầy Tây nguyên (Viverra taynguyenensis)
- Voọc xám (Pygathrix cinereus)
- Thỏ vằn (Isolagus timminsis)
- Khưới Ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis)
- Khưới đầu đen (Actinodora sodangonum)
Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2012, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đó được phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v
Trang 28Bảng 1.1 Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam
2 Khu bảo tồn/Khu dự trữ thiên nhiên 68 1.099.736,11
4 Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm 20 10.652,25
Tổng cộng (Khu rừng đặc dụng) 164 2.265.753,88
(Nguồn: Mạng Internet, Số liệu thống kê cuả Bộ NN&PTNT, 2008)
Trong 128 KBT rừng hiện nay có 30 Vườn quốc gia (VQG), 68 Khu dữ trữ thiên nhiên và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 46 Khu bảo vệ cảnh quan và 20 Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, với tổng diện tích 2.265.753,88 ha, chiếm gần 7,24% diện tích
tự nhiên trên đất liền của cả nước Một số khu rừng nghiên cứu tại các Viện, Trung tâm, các trường học cũng đã được thống kê vào trong hệ thống rừng đặc dụng, theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi năm 2004
Hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng sinh thái toàn quốc Tuy nhiên hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện nay có đặc điểm là phần lớn các khu rừng đặc dụng đều có diện tích nhỏ, phân bố phân tán Trong số 128 KBT có 14 khu có diện tích nhỏ hơn 1000ha, chiếm 10,9% Các khu có diện tích nhỏ hơn 10.000ha là 52 khu, chiếm 40,6% các khu bảo tồn, bao gồm VQG 4 khu, 9 khu dữ trữ thiên nhiên, 9 khu bảo vệ loài, 30 khu bảo vệ cảnh quan Chỉ có 12 khu có diện tích từ 50.000 ha trở lên Nhiều khu bảo tồn còn bao chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư, ranh giới một số khu
Trang 29bảo tồn trên thực địa chưa rõ ràng, còn có tranh chấp, tính liên kết các khu yếu, chưa hình thành được các hành lang liên kết các KBT nhỏ, có nhiều đặc điểm giống nhau v.v
Mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống các khu rừng đặc dụng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 1.2 Hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2020
5 Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm 9 10.838,16
(Nguồn: Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ)
Trang 30
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm và ảnh hưởng của nó đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 6 xã vùng đệm Khu bảo tồn Sao la
Quảng Nam được quy hoạch với tổng diện tích 37.758 ha bao gồm 6 xã: A Nông, Bhalêê
và A Vương huyện Tây Giang, A Ting, Sông Kôn và Tà lu huyện Đông Giang
- Về thời gian: Mốc thời gian nghiên cứu liên quan theo từng nội dung đề tài
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra về điều kiện cơ bản của Khu bảo tồn Sao la
- Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý, địa hình
+ Khí hậu và thủy văn
- Điều kiện kinh tế xã hội
+ Dân số, dân tộc
+ Giáo dục và trình độ dân trí
+ Cơ sở hạ tầng
+ Các tổ chức xã hội và vai trò của nó đối với sinh kế của cộng đồng
+ Đời sống kinh tế của người dân
2.2.2 Điều tra về đặc điểm sinh kế của cộng đồng người dân vùng đệm Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam dựa trên lý thuyết về đặc điểm nguồn lực sinh kế
Trang 312.2.3 Phân tích thực trạng tài nguyên và công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam
- Mục tiêu của Khu bảo tồn
- Chức năng và nhiệm vụ
- Cơ cấu tổ chức và chức năng của các bộ phận
- Sự cần thiết phải thành lập Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam
- Thực tiễn hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
- Những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng
2.2.4 Phân tích các tác động, mối liên hệ của hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm và công tác quản lý, bảo tồn của Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam
- Hoạt động khai thác trái phép tài nguyên gỗ
- Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ và vấn đề bảo tồn
- Hoạt động săn bắn động vật hoang dã
- Hoạt động khai hoang lấy đất phục vụ sản xuất: trồng rừng, canh tác nương rẫy
- Nêu những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong công tác quản lý bảo
vệ rừng trong mối quan hệ với sinh kế cộng đồng
2.2.5 Giải pháp cải thiện, nâng cao sinh kế cho người dân vùng đệm và nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
- Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam
- Các xã vùng đệm mà phần lớn đời sống của người dân phụ thuộc vào rừng
Trang 322.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu từ Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam (các kết quả khảo sát, nghiên cứu, báo cáo từ các chương trình, dự án khác nhau thực hiện tại khu vực nghiên cứu; các báo cáo công tác quản lý bảo vệ rừng từ UBND các xã, Hạt kiểm lâm 2 huyện Đông Giang, Tây Giang); phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê huyện Tây Giang và Đông Giang; Tài liệu từ sách báo, internet, tham khảo các nghiên cứu, báo cáo có liên quan của các nhà khoa học
về tác động của vùng đệm đến khu bảo tồn v.v )
2.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
* Thu thập thông tin sơ cấp thông qua:
- Thảo luận nhóm thông qua phỏng vấn để thu thập những vấn đề ban đầu và xác định những yếu tố có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và là cơ sở cho việc phát triển bộ câu hỏi điều tra hộ gia đình Phỏng vấn nhóm được tiến hành với 19 nhóm khác nhau như nhóm hộ không nghèo, nhóm hộ cận nghèo, nhóm hộ nghèo, nhóm lãnh đạo thôn (trưởng thôn, bí thư đoàn thanh niên, già làng) và nhóm cán bộ huyện, xã (Cán bộ xã, Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã, Cán bộ Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam)
- Điều tra hộ được thực hiện thông qua sử dụng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi gồm 3 phần chính (i) thông tin về hộ gia đình, (ii) các hoạt động sinh kế của hộ gia đình, (iii) các hoạt động liên quan đến Khu bảo tồn Số hộ điều tra: 129 hộ (bao gồm cả hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ không nghèo)
- Phỏng vấn sâu đã được tiến hành với các trưởng thôn và 19 hộ gia đình để phân tích sâu những tác động của việc thực hiện các quyền đối với rừng đến sinh kế Dữ liệu thu thập được sử dụng như những nghiên cứu trường hợp để tăng sức thuyết phục của những kết quả nghiên cứu
Từ thông tin được thu thập từ các Trưởng thôn, già làng, các nhân viên Khu bảo tồn, lực lượng Kiểm lâm địa bàn trong khu vực nghiên cứu để đánh giá nhanh tác động của xã đến Khu bảo tồn Phương pháp này giúp có được một cái nhìn tổng quan về các tác động tổng thể của từng xã Trong mỗi xã, thực hiện phỏng vấn lãnh đạo xã, cán bộ lâm nghiệp và các Trưởng thôn để đạt được một sự hiểu biết sâu sắc về khai thác tài nguyên Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm theo từng thôn được tổ chức với sự tham gia của tất cả các trưởng thôn để thảo luận và xác định việc sử dụng nguồn tài nguyên thực tế của từng thôn bản Các tiêu chí về điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau và mức độ tác động của từng thôn bản đến khu bảo tồn được các trưởng thôn thảo luận và quyết định mức độ tác động của thôn đến khu bảo tồn
Trang 33- Các thông tin thu thập được từ cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm được phân tích
và đánh giá bằng cách cho điểm 0-5 điểm cho mỗi tiêu chí Điểm 0 được đưa ra nếu không có tác động và điểm 5 cho các tác động cao nhất Tổng điểm của mỗi thôn sẽ được
so sánh đối chiếu với bảng xếp hạng mức độ tác động của từng thôn trong xã và đánh giá tác động qua nhân viên của Khu bảo tồn, Kiểm lâm địa bàn trên mỗi xã Từ đó phân tích
và tổng hợp kết quả để xác định tiêu chí đánh giá các tác động về tại nguyên rừng từ các
thôn tại các xã vùng đệm (xem Phụ lục 1.)
Căn cứ vào điểm của từng tiêu chí, tổng số điểm được dùng để so sánh, đánh giá tác động các thôn đối với khu bảo tồn
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được sử dụng để mô tả bức tranh
tổng quát về tình hình cơ bản địa bàn nghiên cứu, thực trạng sinh kế của cộng đồng người dân địa phương, tình hình quản lý bảo tồn tài nguyên rừng trên địa bàn
- Phương pháp phân tích so sánh: Từ việc phân tổ thống kê các nhóm hộ theo định hướng của mục tiêu và nội dung nghiên cứu, chúng ta sẽ so sánh các nhóm hộ/các dạng sinh kế với nhau để xem mức độ tác động của nó đến công tác quản lý bảo tồn tài nguyên rừng như thế nào
- Phương pháp phân tích định tính: Dựa vào nguồn số liệu thông qua họp thôn và thảo luận nhóm để phân tích định tính các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa sinh kế của cộng đồng người dân với công tác quản lý bảo tồn tài nguyên rừng
- Các số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp được tổng hợp, chọn lọc và phân tích dựa
trên các nội dung cần thiết của đề tài nghiên cứu
- Các thông tin và số liệu thu thập từ việc họp dân, thảo luận nhóm, phỏng vấn những người nòng cốt dược chọn lọc, kiểm tra chéo, xử lý và phân tích nhằm phục vụ cho việc phân tích và giải thích các sự kiện, kết quả nghiên cứu Việc xử lý và thể hiện các dữ liệu này nặng về hướng định tính
- Các số liệu thu thập từ việc phỏng vấn những người nòng cốt/ liên quan, hộ gia đình sẽ được phân loại và xử lý theo hình thức thống kê mô tả dưới sự hỗ trợ của phần mềm Excel
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
3.1.1.1 Vị trí địa lý
- Khu bảo tồn loài và Sinh cảnh Sao la nằm trên địa bàn 04 xã Bhalêê, AVương, Tà
Lu, Sông Kôn của 2 huyện Đông Giang và Tây Giang tỉnh Quảng nam Với diện tích tự nhiên là 15.378,96 ha, hầu hết là rừng tự nhiên
- Toạ độ địa lý: 17056’57’’ đến 18005’25’’ Vĩ độ Bắc
105051’07’’ đến 106004’ 36’’ Kinh độ Đông
3.1.1.2 Ranh giới
Ranh giới được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó ranh giới tại các xã Bhalêê, A Vương giáp với Khu bảo tồn Sao la Huế, ranh giới tại các xã Tà Lu, Sông Kôn giáp với Vườn quốc gia Bạch Mã
- Phía Nam đường ranh giới chạy dài trên bốn xã Bhalêê, AVương huyện Tây Giang;
xã Tà Lu, Sông Kôn huyện Đông Giang Giáp với BQL rừng phòng hộ A Vương và Sông Kôn
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào
- Phía Đông giáp xã Ating huyện Đông Giang
Trang 353.1.2 Địa hình, địa thế
Nằm ở khu vực hầu hết là núi cao trung bình, nổi trội bởi dãy núi chạy theo hướng
từ Tây sang Đông và Bắc xuống Nam, với đỉnh cao nhất là 1.440 mét trên ranh giới giữa hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên – Huế, còn lại các đỉnh khác cao dưới 1.000 mét Do
sự phức tạp trong quá trình kiến tạo địa hình nên khu vực có địa hình rất dốc, gồ ghề Độ chia cắt sâu rất lớn, đặc biệt là ở phía Bắc và Đông Bắc, mức độ chia cắt ở phía Tây yếu hơn, các lòng suối hẹp dốc, nhiều thác ghềnh
3.1.3 Khí hậu
Khu bảo tồn Sao la Quảng nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa thuộc tiểu vùng chuyển tiếp giữa Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam, nóng ẩm mưa nhiều theo mùa Tuy trong năm bắt đầu phân dị hai mùa khô và mưa như Trường Sơn Nam nhưng chưa thực sự điển hình: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 dương lịch và mùa khô từ tháng
3 đến tháng 8 dương lịch Nhưng do chịu ảnh hưởng của khí hậu Bắc Hải Vân và không khí lạnh từ dãy núi Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) và núi Bà Nà nên thời tiết ở khu vực thường rét lạnh kéo dài Cụ thể các đặc trưng về khí hậu khu vực như sau:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23,50C, cao nhất là 380C, thấp nhất là 80
C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7; tháng có nhiệt độ thấp nhất vào tháng
12 Biên độ nhiệt/năm khoảng từ 5 – 7%
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm ở khu vực này thuộc trong những loại lớn nhất so với khu vực khác trong tỉnh Quảng Nam (chỉ sau khu vực Trà My) Tổng lượng mưa bình quân/năm phổ biến từ 2000 – 2500 mm, có khi lên đến 4000 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, hàng năm có từ 4 – 5 tháng có lượng mưa < 100 mm, lượng mưa ít nhất xảy ra vào tháng 6 và nhiều nhất tập trung vào tháng 10, 11 dương lịch
- Chế độ ẩm: Độ ẩm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên nên độ ẩm trung bình hằng năm trong khu vực khoảng 86%, trong các tháng mùa mưa thì cũng chỉ đạt khoảng 93% (tháng 9 đến tháng 3 năm sau), trong các tháng mùa khô có độ ẩm khoảng 83% (từ tháng 4 đến tháng 8)
- Chế độ gió: Gió thịnh hành theo hai hướng chính là gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam Gió mùa Đông Bắc: trong mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, gió mùa Đông Bắc xuất hiện, thời tiết lạnh và kèm theo mưa lớn Gió Tây Nam: trong mùa khô từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7 dương lịch (từ giai đoạn tiết Hạ chí đến Đại thử) thường xuất hiện những đợt gió mùa Tây Nam (gió Lào), thời tiết khô hanh và nóng
Trang 36- Ngoài ra, trong năm thường xuất hiện bão từ tháng 9 đến tháng 12, tốc độ gió có khi đạt > 30m/s Lũ lụt xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch, thường kèm theo các đợt gió mùa Đông Bắc
3.1.4 Thủy văn
3.1.4.1 Nguồn nước mặt
Với địa hình khu vực hầu hết là núi cao trung bình, độ dốc lớn và bị chia cắt thành nhiều vùng, đã hình thành nên hệ thống thủy văn sông suối lớn nhỏ, với mật độ sông suối biến động từ 0,5 ÷ 1 km/km2 như sông Kôn, sông A Vương, sông A Bốc, suối Kanin, suối Za Vua, suối Bruah, suối R’Lai, suối B’Nông,…
Đặc điểm các hệ thủy đều có lòng hẹp, trắc diện trẻ, độ dốc lớn, vì vậy tác dụng xâm thực còn rất lớn Mùa mưa thường xuyên xuất hiện những trận lũ lớn rất đột ngột và hung dữ, thường xuyên gây nên hiện tượng lở bờ sông suối, sụt đất hai bên Taluy được giao thông, phá hỏng các công trình thủy lợi cũng như cầu cống Mùa khô, các dòng suối trong khu vực bị cạn dần; việc tưới tiêu cho các vùng đất thấp gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên lớp thảm rừng còn tốt và có diện tích lớn, độ dày tầng phong hóa khá dầy, nên khả năng trữ nước ngầm khá cao Trong mùa khô các dòng sông suối chính vẫn duy trì dòng chảy của chúng và các dòng sông phía hạ lưu có nước chảy quanh năm
Hệ thủy Sông Kôn: Bắt nguồn từ huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên - Huế đi qua các xã A Ting, xã Sông Kôn, xã Jơ Ngây, xã Kà Dăng, xã Đại Lãnh rồi đổ ra sông Vu Gia (huyện Đại Lộc)
Hệ thủy Sông A Vương: Bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, đi qua địa phận các xã: Bhalêê, xã A Vương, Thị trấn P’rao, xã Zà Hung, xã Arooi, xã Mà Cooih rồi đổ vào sông Boung
Trang 373.1.5 Đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Sao la Quảng Nam
3.1.5.1 Thảm thực vật rừng
Khu vực Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la được ghi nhận là nơi có tính đa dạng cao do chỉ trong một diện tích không lớn lắm nhưng đã chứa đựng nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau Thêm vào đó, khu vực Khu bảo tồn lại nằm trong vùng ranh giới địa lý sinh vật giữa Bắc và Nam Việt Nam, và giữa dãy Trường Sơn và vùng đồng bằng ven biển Các kiểu rừng chủ yếu tìm thấy trong Khu bảo tồn là rừng thường xanh đất thấp phân bố
ở độ cao dưới 900 mét và rừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao trên 900 mét Tuy nhiên, do hậu quả tác động của con người, cho nên rừng còn lại hiện nay tại ở đây đều mang dấu ấn của sự tác động đó
a) Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới ở độ cao từ 900 mét trở lên
Kiểu rừng này có diện tích khá nhiều và có đầy đủ các trạng thái rừng nhưng phổ biến nhất là trạng thái rừng IIIA1, IIIA2, rất ít IIIA3 và một số diện tích nhỏ rừng IIA, IIB
và đất trống IB, IC Kiểu rừng này do ảnh hưởng của việc rải chất độc diệt cỏ và bom đạn trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng như đã bị người dân tác động, nên rừng nguyên sinh ở một số địa điểm đã bị ảnh hưởng đáng kể, tuy nhiên mức độ có hạn chế hơn rừng ở phía thấp vì có độ dốc lớn và xa dân cư
Tại các khu rừng còn chứa các loài cây lá rộng có giá trị như các loài thuộc họ Dầu
(Dipterocarpaceae), Trầm hương (Aquilaria crassna) Ở trên núi cao, các loài cây gỗ Sồi duối (Quercus setulosa) và Dẻ lỗ (Lithocarpus fenestratus) là rất phổ biến Các khu rừng
ở đây giàu về các loài thuộc họ Cau dừa như Song bột (Calamus poilanei) và Cau rừng (Areca sp.) cũng như các loài Dương xỉ và các loài trong họ Phong lan (Orchidacea) như: Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus), Hoàng lan thủy tiên (Dendrobium amabile), Phương dung (Dendrobium devonianum), Thạch hộc (Dendrobium nobile Lindl), Hồng nhung nam (Renanthera annamensis ),
b) Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở độ cao dưới 900 mét
Kiểu rừng này phân bố tập trung ở địa hình dưới 900 mét, với các trạng thái chính như: rừng thứ sinh sau khai thác kiệt (IIIA1), rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, lửa rừng và khai thác trắng (IIA, IIB) và một số ít diện tích các trảng cỏ cây bụi mọc sau nương rẫy với các trạng thái (IA, IB, IC)
Đặc điểm của kiểu rừng này là tầng cây gỗ cao từ 18 ÷ 22 mét và tạo nên tán chính
của rừng; Thảm thực chủ yếu là các loài cây trong họ Trám (Burseraceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae),
Trang 38họ Dẻ (Fagaceae),…Tầng thảm tươi có thành phần loài gồm đủ các đại diện của các ngành Rêu (Bryophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), cho đến ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Đây là kết quả của việc vùng rừng bị tác động bởi chất độc hóa học hủy
diệt, khai thác quá mức những cây gỗ lớn có giá trị kinh tế, đốt rừng làm rẫy trong thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh còn ít phần lớn là rừng thứ sinh sau khai thác, rừng thứ sinh phục hồi
3.1.5.2 Khu hệ thực vật
Khu hệ thực vật trong khu vực chưa được điều tra, nhưng chắc chắn các kiểu rừng thường xanh chứa đựng thành phần loài thực vật rất phong phú đa dạng Những thống kê bước đầu đã ghi nhận 9 loài trong Sách Đỏ Thế giới (IUCN 2010) và 50 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 9 loài xếp vào nhóm IA và IIA Nghị định 32 Những
loài cây gỗ quý hiếm điển hình như: Trầm hương (Aquilaria crassna), Sến mật (Madhuca
pasquiari), Trắc (Dalbergia cochinchinensis), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Kiền kiền
(Hopea pierrei),
3.1.5.3 Khu hệ động vật
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về khu hệ động vật khu bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la tỉnh Quảng Nam ghi nhận được 154 loài động vật có xương sống trên cạn thuộc 48 họ, 17 bộ bao gồm: Thú 31 loài, 12 họ, 6 bộ; Chim 61 loài 22 họ, 8 bộ, Bò sát 34 loài, 9 họ, 2 bộ, Ếch nhái 28 loài, 5 họ, 1 bộ Trong đó có 33 loài được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, 10 loài ghi vào Sách Đỏ Thế giới 2006 và 34 loài ghi vào Nghị định 32 là những loài cần phải bảo vệ nghiêm ngặt Đặc biệt, trong số các loài ghi
nhận có 4 loài đặc hữu Đông Dương: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Trĩ sao
Trang 39Tổng 154 48 17 33 10 34
3.1.5.4 Hiện trạng loài Sao la
Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) hay còn gọi là Dê sừng dài và được người Cờ Tu
gọi là Song sor Đây là loài mới phát hiện ở Việt Nam Trên thế giới chỉ tìm thấy ở Lào Hiện tại, Vùng phân bố bị chia cắt từng khu vực nhỏ, Sao la đang đứng trước nguy cơ bị săn bắn và giảm số lượng Ở Việt Nam, năm 2005 ước đoán quần thể Sao la ở Việt Nam khoảng 180 - 200 cá thể (Trung tâm TNMTLN, 2005) Đến nay, ước tính quần thể Sao la khoảng 120-160 cá thể (Nguyễn Xuân Đặng, 2007) các vùng phân bố chính là Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Vườn quốc gia Pù Mát, Vườn quốc gia Vũ Quang , Tây Nam Quảng Bình - Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị), Thừa Thiên Huế - Tây Bắc Quảng Nam Gần đây nhất vào tháng 9/2013 bẫy ảnh (camera trap) đã chụp được hình ảnh một cá thể Saola tại vùng lõi Khu bảo tồn
Bảng 3.2 Số lượng Sao la ở Việt Nam và trong khu vực
4 Tây Nam Quảng Bình – Khu BTTN Bắc Hướng Hoá 20 30
(Nguồn: Nguyễn Xuân Đặng, 2007)
Khu vực Tây Bắc Quảng Nam, Sao la phân bố ở các xã Sông Kôn, Tà Lu (huyện Đông Giang), A Vương, Bha Lêê và A Nông (huyện Tây Giang)
Trang 403.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số và dân tộc
3.2.1.1 Dân số
Theo phương án quy hoạch thì phần diện tích vùng lõi không có dân sinh sống Tổng dân số trong vùng đệm có 10.947 khẩu, thuộc 6 xã, 43 thôn và 2.541 hộ Trung bình mỗi hộ có từ 4 ÷ 5 khẩu, và phần lớn có 3 thế hệ trong một hộ gia đình, rất ít các đôi vợ chồng trẻ mới cưới tách ra ở riêng Tỉ lệ tăng dân số trung bình trong vùng khá cao 1,89
% Mật độ dân số trung bình trong vùng thấp 22,56 người/km2
Phần lớn các thôn phân bố thành cụm, dọc ven hai bên đường Hồ Chí Minh và đường tỉnh lộ ĐT 604 Duy nhất chỉ có thôn A Ur của xã A Vương có 21 hộ đã chuyển vào khu kinh tế mới theo chủ chương của huyện Tây Giang, giáp với ranh giới quy hoạch khu bảo tồn loài Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các thôn, đông nhất là các thôn
A Ung xã Bhalêê có 92 hộ, 450 khẩu; thôn A Réc xã AVương 79 hộ, 429 khẩu Thấp nhất
là các thôn ở gần với ranh giới được quy hoạch như: Thôn Aur có 107 khẩu, 21 hộ, thôn ATép 2 có 207 khẩu, 41 hộ
Bảng 3.3 Dân số và mật độ dân số các xã Vùng đệm