hành của virus cúm trên đàn gia cầm là rất cần thiết, từ đó đưa ra những giải pháp phòng chống phù hợp với diễn biến của dịch cúm gia cầm hiện nay.. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Trên cơ
Trang 1Tập thể Lãnh đạo và cán bộ Chi cục Thú y Quảng Ngãi, Cơ quan Thú y vùng
IV đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo, TS Trần Quang Vui, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm Huế là người thầy hướng dẫn khoa học, trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp công tác của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), Chi cục Thú y Quảng Ngãi đã cung cấp tài liệu, kinh phí lấy mẫu và xét nghiệm mẫu để tôi thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn thiện luận văn
Đặc biệt, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã nổ lực, cố gắng, song do kiến thức và thời gian hạn chế nên không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Vì vậy, kính mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, góp ý từ các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp cho các nội dung nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Thùy Trang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này là chính xác và đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Thùy Trang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về bệnh cúm gia cầm 3
1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và Việt Nam 3
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 3
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 8
1.3 Virus học bệnh cúm gia cầm 12
1.3.1 Cấu trúc chung của virus cúm 12
1.3.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A 14
1.3.3 Kháng nguyên của virus 15
1.3.4 Độc lực của virus 18
1.3.5 Cơ chế xâm nhập, nhân lên và gây bệnh của virus 19
1.3.6 Sức đề kháng của virus 21
1.3.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus 21
1.4 Truyền nhiễm học 21
1.4.1 Động vật cảm nhiễm 21
1.4.2 Sự truyền lây bệnh 22
1.4.3 Loài vật mang virus 23
1.4.4 Chất chứa virus 23
1.4.5 Cách sinh bệnh 23
1.4.6 Mùa phát bệnh 24
1.5 Triệu chứng, bệnh tích 24
Trang 41.5.1 Triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao 24
1.5.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh do những chủng virus cúm độc lực thấp 25
1.5.3 Bệnh tích 25
1.6 Các phương pháp chẩn đoán 26
1.6.1 Dựa vào dịch tễ 26
1.6.2 Dựa vào triệu chứng, bệnh tích 27
1.6.3 Phân lập và định danh virus 27
1.7 Phòng Bệnh 28
1.7.1 Phòng bệnh bằng vệ sinh 28
1.7.2 Phòng bệnh bằng vaccine 29
Chương 2MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 32
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Xác định sự lưu hành virus cúm A bằng phương pháp Realtime RT-PCR 33
2.4.2 Phương pháp điều tra dịch tễ học 42
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 42
Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Quảng Ngãi qua các năm 2010-2014 44
3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2014 45
3.3 Kết quả tiêm phòng vaccine 6 tháng đầu năm 2015 tại các địa phương lấy mẫu giám sát virus cúm gia cầm 48
3.4 Hiện trạng buôn bán gia cầm tại các chợ thực hiện lấy mẫu giám sát 50
3.4.1 Chợ Hàng Rượu 50
3.4.2 Chợ Sông Vệ 50
3.4.3 Chợ Chùa 50
3.5 Kết quả giám sát sự lưu hành virus cúm A tại các chợ 50
3.6 Kết quả xác định một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 55
Trang 53.6.1 Hộ chăn nuôi không tiêm vaccine phòng bệnh cúm A/H5N1 cho đàn gia cầm 55
3.6.2 Nguồn gốc con giống 56
3.6.3 Cơ sở chăn nuôi gần chợ buôn bán gia cầm 57
3.6.4 Nuôi thả rông gia cầm 58
3.6.5 Quy mô chăn nuôi 59
3.6.6 Vệ sinh phòng bệnh và sử dụng hóa chất tiêu độc, khử trùng 59
3.7 Đề xuất biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
KẾT LUẬN 62
ĐỀ NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDC: Center for Disease Control
DNA: Deoxyribonucleic acid
dATP: Deoxyadenosine triphosphate
dGTP: Deoxyguanosine triphosphate
dCTP: Deoxycytidine triphosphate
dTTP : Deoxythymidine triphosphate
ELISA: Emzyme Linked Immunosozbent Assay
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations
HA: Haemagglutination test
HI: Haemagglutination inhibitory test
HPAI: Highly Pathogenic Avian Influenza
LPAI: Low Pathogenic Avian Influenza
OIE: Office international des epizooties
RNA : Ribonucleic acid
RT-PCR: Reverse Transcription-Polymerase Chain Reaction
WHO: World Health Organization
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách primer và prober 35
Bảng 2.2 Thành phần Master mix 40
Bảng 3.1 Diễn biến tổng đàn gia cầm của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2014 44
Bảng 3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 - 2014 46
Bảng 3.3 Kết quả tiêm phòng vaccine cúm gia cầm 6 tháng đầu năm 2015 49
Bảng 3.4 Kết quả xét nghiệm mẫu swab 6 tháng đầu năm 2015trên vịt tại các chợ gia cầm sống 51
Bảng 3.5 Kết quả giám sát virus cúm gia cầm trên vịt tại các chợ theo thời gian 53
Bảng 3.6 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ không tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm 56
Bảng 3.7 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ về nguồn gốc con giống 57
Bảng 3.8 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ gần chợ buôn bán gia cầm 57
Bảng 3.9 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ nuôi thả rông gia cầm 58
Bảng 3.10 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ về qui mô chăn nuôi 59
Bảng 3.11 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ vệ sinh phòng bệnh và sử dụng hóa chất tiêu độc, khử trùng 60
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc của virus cúm A 12
Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm A/H5N1 13
Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A 14
Hình 1.4 Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus trong tế bào vật chủ 20
Hình 1.5 Bệnh tích đại thể ở gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1 26
Hình 2.1 Cơ chế hoạt động của Taqman probe 37
Hình 2.2 Sơ đồ chiết tách RNA 39
Hình 3.1 Biểu đồ diễn biến tổng đàn gia cầm giai đoạn 2010 - 2014 45
Hình 3.2 Tổng hợp tình hình dịch cúm gia cầm ở gà và vịt giai đoạn 2010 - 201447 Hình 3.3 Tỷ lệ lưu hành virus cúm gia cầm trên vịt tại các chợ buôn bán gia cầm sống 53
Hình 3.4 Biến động lưu hành virus cúm gia cầm trên vịt 55
Trang 9MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam không ngừng phát triển, đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho đất nước nói chung và người chăn nuôi nói riêng Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, bên cạnh những thuận lợi thì việc đáp ứng những yêu cầu của toàn cầu hóa là một thách thức cho nền chăn nuôi Việt Nam Chăn nuôi gia cầm ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi hiện nay của Việt Nam Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm đang phải đương đầu với không ít dịch bệnh phức tạp như: Tụ huyết trùng gia cầm, dịch tả vịt, Newcastle, cúm gia cầm… Trong đó, cúm gia cầm là bệnh đã và đang gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế của Việt Nam
Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải miền Trung với tổng diện tích tự nhiên là
giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 130km, có đường QL1A và đường sắt Bắc - Nam đi qua, nằm kề với sân bay Chu Lai Diện tích đất tự nhiên là 5.152,7 km2, dân số gần 1,3 triệu người Quảng Ngãi là địa phương có tổng đàn gia súc, gia cầm khá lớn so với các tỉnh trong vùng, trong đó chăn nuôi gia cầm phát triển khá đa dạng và phong phú về chủng loại, với tổng đàn gia cầm gần 4 triệu con (tính đến tháng 6/2015) Cũng như tình hình chung của nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, từ năm 2004 đến nay, tại tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều đợt dịch cúm gia cầm H5N1, H5N6 xảy ra gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội Các biện pháp phòng, chống dịch đã được áp dụng ngay từ đầu như tiêu hủy toàn bộ số gia cầm trong vùng dịch, cấm buôn bán, vận chuyển gia cầm ở khu vực có dịch, tiêu độc khử trùng, tiêm phòng vaccine, tăng cường áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, tuy vậy hàng năm dịch vẫn xảy ra rải rác ở các địa phương trong tỉnh
Virus cúm gia cầm có khả năng biến chủng nhanh và lây lan sang người nên hiện nay kiểm soát cúm gia cầm đang là mục tiêu hàng đầu trong công tác phòng chống dịch trên gia cầm Tiêm phòng vaccine, theo dõi và tiến hành khảo sát sự lưu hành virus trên đàn gia cầm đang là một giải pháp được lựa chọn để giám sát cúm gia cầm ở Việt Nam Việc đánh giá hiệu quả của vaccine sau khi tiêm phòng, theo dõi diễn biến tình hình dịch, nghiên cứu sự biến đổi của virus và giám sát sự lưu
Trang 10hành của virus cúm trên đàn gia cầm là rất cần thiết, từ đó đưa ra những giải pháp phòng chống phù hợp với diễn biến của dịch cúm gia cầm hiện nay
Tình hình thực tế đặt ra câu hỏi là: làm thế nào để có thể chủ động biết được nơi nào có khả năng xảy ra dịch, mức độ lưu hành virus ở đó như thế nào và đang lưu hành chủng virus gây bệnh nào đồng thời phát hiện thêm các chủng virus mới một cách chính xác nhất Để góp phần giải đáp câu hỏi đó, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Giám sát sự lưu hành virus cúm A trên vịt tại các chợ bán gia cầm sống và xác định các yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch cúm gia cầm tại tỉnh Quảng Ngãi”
Mục tiêu chung của đề tài
Xác định mức độ lưu hành virus cúm A trên vịt bán tại các chợ gia cầm sống của tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm hiệu quả
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cập nhật thêm dữ liệu về tình hình lưu hành của virus cúm gia cầm tại tỉnh Quảng Ngãi
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở dữ liệu về mức độ lưu hành và chủng virus lưu hành giúp các nhà quản lý thú y lựa chọn loại vaccine thích hợp và có biện pháp phòng bệnh hiệu quả góp phần giúp người chăn nuôi hạn chế thiệt hại kinh tế đến mức thấp nhất do bệnh cúm gia cầm gây ra
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về bệnh cúm gia cầm
Cúm gia cầm (avian influenza) hay còn gọi là Cúm gà, là bệnh truyền nhiễm
cấp tính của loài chim, do nhóm virus cúm A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra
Virus được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và
NA có trên bề mặt capsid của hạt virus Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 subtype NA (từ N1 đến N9) Sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh
Trên thế giới, một số subtype cúm A đã gây nên các đại dịch cúm như H2N2, H3N8, H3N2, H1N1 Trong một vài năm trở lại đây, đặc biệt trong năm
2014 trên thế giới đã ghi nhận sự xuất hiện và tái bùng phát của nhiều chủng cúm mới như H5N1, H7N9, H5N6, H9N2, H5N2, H5N3 và H5N8… Theo đánh giá vào tháng 2/2015 của Tổ chức Y tế thế giới, sự xuất hiện liên tục các chủng virus cúm mới và đặc tính biến đổi thường xuyên của các chủng virus cúm là rất đáng quan tâm và chủng virus cúm A/H5 là mối đe dọa rõ ràng nhất cho sức khỏe con người
Tại Việt Nam, virus cúm A/H5N1 bắt đầu ghi nhận vào tháng 12/2003 trên các đàn gia cầm và ở người đã tạo nên các đợt dịch, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân và gây thiệt hại lớn đến nền kinh tế; mặc dù trong năm 2015 chưa ghi nhận trường hợp cúm A/H5N1 nào ở người, tuy nhiên trong tháng 02/2015 đã ghi nhận ổ dịch cúm A/H5N1 ở gia cầm tại tỉnh Sóc Trăng Trong năm
2014, nước ta đã ghi nhận các ổ dịch cúm A/H5N6 trên gia cầm tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Thọ, Bắc Giang, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam Kết quả xét nghiệm các mẫu virus cúm A/H5N6 ở Việt Nam có
sự tương đồng 99% với chủng virus cúm A/H5N6 gây bệnh trên người tại Trung Quốc Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc cúm A/H5N6 ở người, cũng như chưa ghi nhận các ổ dịch cúm A/H7N9, cúm A/H5N8, cúm A/H5N2 trên cả gia cầm và người
1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Bệnh cúm ở gia cầm cũng như bệnh cúm ở người đã xuất hiện từ cách đây rất lâu, năm 412 trước Công nguyên Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm Năm 1878, tại Italia đã xảy ra một bệnh gây tỷ lệ tử vong rất cao ở đàn gia cầm, sau đó được
Trang 12đặt tên là bệnh dịch hạch gia cầm Đến năm 1901, Centanni và Savonuzzi đã đề cập đến ổ dịch này được gây ra bởi virus qua lọc (filterable agent) nhưng phải đến năm
1955 Schaffer mới xác định được virus đó chính là virus cúm type A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và một số loài khác [22]
Trong hơn 100 năm qua, đã có 4 vụ đại dịch ở người xảy ra vào các năm
1889, 1918, 1957 và 1968 [5] Năm 1918, đại dịch cúm xảy ra ở châu Âu do virus cúm type A/H1N1 gây ra, được gọi là dịch cúm Tây Ban Nha, làm khoảng 20 - 40 triệu người chết Năm 1957, virus cúm type A/H2N2 xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc, gây ra bệnh cúm châu Á Năm 1968, virus cúm type A/H3N2 gây bệnh cúm
1971 qua đợt dịch cúm khá lớn trên gà tây ở Mỹ [22]
Những chủng virus đặc biệt này đã gây ra dịch cúm gia cầm ở nhiều vùng, nhiều quốc gia trên thế giới trong thời gian cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Trung Đông, Viễn Đông, Anh, Liên Xô (cũ) [14]
Trước đây người ta gọi bệnh này là bệnh dịch tả gà (fowl plague) nhưng từ Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ (1981) đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm hay bệnh cúm gia
cầm thể độc lực cao (Highly Pathogenic Avian Influenza-HPAI)Bùi
Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới Bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra ở gia cầm
là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1950
là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là H5N2
Cuối thập kỷ 60, phân type H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên quan giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu về phân type H1N1 đều cho thấy rằng virus cúm type A đã ở lợn và truyền lây cho gà tây, ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn Một số chủng virus cúm type A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú [26]
Trang 13Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm
1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một
* Từ năm 2003 đến năm 2005
Từ năm 2003 đã có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Việt Nam [2]
- Hàn Quốc: Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/12/2003 đến 24/3/2004 với gần 400 nghìn gia cầm tiêu hủy và một ổ dịch cúm gia cầm H5N2 kết thúc ngày 10/12/2004
- Nhật Bản: Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/01/2004, đã tiêu hủy hơn
275 nghìn con gà, ổ dịch cuối cùng xảy ra ngày 05/5/2004
- Thái Lan: Ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được xác định vào ngày 23/01/2004 ở tỉnh Chiang Mai Trong đợt dịch thứ nhất có 190 ổ dịch ở 89 huyện thuộc 42 tỉnh; số gia cầm tiêu hủy khoảng 30 triệu con Đợt dịch thứ 2 phát lại từ 03/7/2004 đến 14/02/2005 có 1.552 điểm phát dịch tại 777 xã của 264 huyện thuộc
51 tỉnh Số gia cầm tiêu hủy là hơn 850 nghìn con gà, hơn 687 nghìn con vịt và khoảng 274 nghìn gia cầm khác
- Campuchia: Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 24/01/2004
- Lào: Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 27/01/2004 đến ngày 13/02/2004 ở 3 tỉnh, đã tiêu hủy hơn 155 nghìn con gà
- Indonesia: Dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện vào tháng 01/2004, đến tháng 11/2004 đã có 101 huyện thuộc 16 tỉnh có dịch Ngày 23/3/2005 dịch tiếp tục lây lan ở nam đảo Sulawesi làm cho khoảng 128 ngàn con gà ở 4 tỉnh mắc bệnh, trong đó ổ dịch lớn nhất ở tỉnh Sidrap làm 101.400 con gà mắc bệnh Tính từ khi có dịch đến nay đã có 16,23 triệu gia cầm bị chết, trong đó có 8,17 triệu con ở trung tâm đảo Java (Indonesia không thực hiện chính sách tiêu hủy đàn mắc bệnh)
Trang 14- Trung Quốc: Ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được phát hiện vào ngày 27/01/2004 ở tỉnh Quảng Tây, sau đó lan ra 15 tỉnh khác đặc biệt các tỉnh có biên giới với Việt Nam đều có dịch Từ ngày 28/7/2004, Trung Quốc không phát hiện thêm ổ dịch mới Số gia cầm tiêu hủy là hơn 5,6 triệu con gà; hơn 1,7 triệu con vịt,
16 nghìn chim cút và các loại chim khác
- Malaysia: Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 19/8/2004 đến ngày 22/11/2004 ở tỉnh Kalantan, số gia cầm tiêu hủy hơn 18 nghìn con
- Hồng Kông: Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 26/01/2004 đến ngày 10/02/2005
Ngoài các ổ dịch do virus cúm A/H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm do các chủng virus cúm khác là Pakistan, Hoa
Kỳ, Canada, Nam Phi, Ai Cập, Triều Tiên và Đài Loan
- Đài Loan: Dịch cúm gia cầm H5N2 xảy ra ngày 20/01/2004, kết thúc ngày 05/3/2004
- Pakistan: Dịch cúm do H7N3 và H9N2 xảy ra trên gà tây từ tháng 11/2003 đến tháng 3/2004, số gia cầm chết và tiêu hủy là 1,7 triệu con
- Canada: Đã xảy ra 2 ổ dịch cúm gia cầm H7N3 (chủng virus độc lực thấp) xảy ra trên gà vào các ngày 19/02/2004 và 09/3/2004 Ca bệnh cuối cùng được ghi nhận vào ngày 20/4/2004
- Hoa Kỳ: 01 ổ dịch cúm gia cầm H7N2 (chủng virus độc lực thấp) duy nhất xảy ra trên gà vào ngày 11/02/2004 tại bang Delaware
- Nam Phi: 01 ổ dịch cúm H6 xảy ra trên gà công nghiệp và kết thúc ngày 25/3/2004; 01 ổ dịch khác do H5N2 xảy ra ngày 06/8/2004 trên đà điểu và kết thúc vào đầu tháng 12/2004
- Ai cập: Trong năm 2004, đã phát hiện 01 ổ dịch H1N7 trên vịt hoang dã
- Triều Tiên: Từ ngày 25/02 đến ngày 26/3/2005 dịch cúm gia cầm H7N3 xảy ra ở Bình Nhưỡng, đã tiêu hủy khoảng 219 nghìn gà ở 3 trại trong vòng bán kính 5km
Bên cạnh đó, vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng nghìn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm, tuy nhiên không có báo cáo xác định bệnh cúm xảy ra
* Năm 2007: Có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới báo cáo xuất hiện
dịch cúm trên gia cầm do virus cúm A/H5N1, đặc biệt là tại Indonesia, dịch cúm gia cầm xảy ra kéo dài và tại một số quốc gia Châu Phi - nơi được cho là virus cúm
Trang 15gia cầm có nguy cơ biến đổi cũng đã phát dịch
Các nước khác trong khu vực như: Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan cũng đã tái phát dịch
Các quốc gia khác có ngành chăn nuôi tiên tiến như Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia ở Châu Âu như Nga, Hungari, Rumani, Anh, cũng ghi nhận có các ổ dịch trên gia cầm
* Năm 2008: Dịch cúm gia cầm trên gia cầm phát ra tại 22 quốc gia và vùng
lãnh thổ bao gồm: Israel, Ả-rập Saudi, Thụy Sỹ, Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên bang Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Pakistan, Nigeria, Bangladesh, Togo, Hồng Kông, Ai-cập, Đức, Indonesia, Lào, Thái Lan và Việt Nam
* Năm 2010: Dịch cúm trên gia cầm phát ra tại các quốc gia và vùng lãnh
thổ bao gồm: Bangladesh, Bhutan, Bungari, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông,
Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Rumani, Nga, Tây Ban Nha và Việt Nam
* Năm 2011: dịch cúm trên gia cầm phát ra tại các quốc gia và vùng lãnh thổ
bao gồm: Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Israel, Nhật Bản, Mông Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Hy Lạp, Hồng Kông và Việt Nam
* Năm 2012: Dịch cúm gia cầm xảy ra tại Úc (H7N7), Bangladesh, Nepal,
Bhutan, Campuchia, Trung Quốc (H5N1); Đài Loan (H5N1, H5N2); Hồng Kông (H5N1), Ấn Độ, Iran, Israel, Mexico (H7N3), Myanmar, Nam Phi (H5N2) và Việt Nam (H5N1)
* Năm 2013: Dịch cúm gia cầm xảy ra tại Úc (H7N7, H7N2), Bangladesh,
Bhutan, Nepal, Campuchia, Trung Quốc (H5N1); Đài Loan (H5N2), Hồng Kông (H5N1), Ấn Độ, Italia (H7N7), Triều Tiên, Mexico (H7N3), Nam Phi (H5N2) và Việt Nam (H5N1)
* Năm 2014:
Dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra tại 10 quốc gia; chủng virus H5N6 đã được phát hiện tại Trung Quốc, Lào; virus H5N8 được phát hiện tại 8 nước; virus H5N2 và H5N3 có tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Canada; virus H7N2 có tại Úc; virus H7N3 xuất hiện tại Mexico
Trang 161.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm ở nước ta xuất hiện lần đầu tiên vào cuối tháng 12/2003, sau đó liên tục tái phát và thường là vào lúc chuyển mùa, nhất là trong
vụ đông – xuân [6] Dịch cúm gia cầm H5N1 ở Việt Nam diễn biến như sau:
* Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004: Lần đầu tiên tại nước
ta dịch cúm gia cầm được phát hiện vào cuối tháng 12 năm 2003 ở tỉnh Hà Tây (cũ), Long An và Tiền Giang Dịch lây lan rất nhanh, chỉ trong vòng 2 tháng, đến ngày 27/02/2004 dịch đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6% số xã, phường), 381 huyện, quận, thị xã (60%) thuộc 57 tỉnh, thành phố Các tỉnh xảy ra dịch nặng là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Hà Tây (cũ), Hải Dương Tổng số
gà và thủy cầm mắc bệnh chết, tiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 16,79% tổng đàn, trong đó gà 30,4 triệu con, thủy cầm 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loài chim khác bị chết và buộc phải tiêu hủy
* Đợt dịch thứ hai từ tháng 4 đến tháng 11/2004: Trong giai đoạn này, dịch
phát ra rải rác với quy mô nhỏ ở các hộ gia đình chăn nuôi gia cầm; dịch bệnh xuất hiện ở 46 xã, phường tại 32 huyện, quận, thị xã thuộc 17 tỉnh Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm chết và phải tiêu hủy trong giai đoạn này là 84.078 con, trong đó 55.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút
* Đợt dịch thứ ba từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: Trong khoảng thời
gian này dịch đã xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố (15 tỉnh phía Bắc, 21 tỉnh phía Nam) Số gia cầm chết và tiêu hủy là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút Bệnh xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, những tỉnh bị dịch nặng là Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu
và Đồng Tháp (Báo cáo về dịch cúm gia cầm - Hội nghị dịch Cúm gia cầm)
* Năm 2006: Ở Việt Nam không xảy ra dịch, do sự chỉ đạo phòng dịch quyết
liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng
Trang 17Đến cuối năm lại xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vaccine
* Năm 2007: Đợt dịch thứ 5 bắt đầu và kéo dài trong suốt năm 2007 Dịch
không tập trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và chia thành nhiều đợt Từ tháng 12/2006 và năm 2007, toàn quốc có 283 xã, phường thuộc 115 huyện quận của 33 tỉnh, thành phố (18 tỉnh miền Bắc, 10 tỉnh miền Nam, 5 tỉnh miền Trung) có tái phát các ổ dịch cúm Dịch chủ yếu tập trung vào 2 đợt chính (đợt 1 từ 06/12/2006
- 07/3/2007 và đợt 2 từ 01/5/2007 - 23/8/2007) Tổng số gia cầm bệnh, chết và tiêu hủy là 314.268 con, trong đó gà chiếm 16,68%, vịt chiếm 80,82% và ngan chiếm 2,50% Các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên đàn vịt trước, sau đó lây nhiễm cho đàn gà Theo ghi nhận ban đầu, các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên vịt nhỏ, dưới 3 tháng tuổi, chưa được tiêm phòng vaccine cúm Một số đàn mới tiêm nhưng chưa
đủ thời gian sinh kháng thể bảo hộ Các ổ dịch xảy ra trên đàn gia cầm chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ (quy mô dưới 500 con là phổ biến) tại các hộ gia đình
* Năm 2008: Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận,
thị xã của 27 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là
106.508 con (gồm 40.525 gà, 61.027 vịt và 4.506 ngan) (Phòng dịch tễ,’ Báo cáo
tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2009 và phương hướng năm 2010’, Cục thú y, trang 1 – 4)
* Năm 2009: Cả nước đã có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35
huyện, thị xã thuộc 18 tỉnh, thành phố phát dịch cúm gia cầm là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Thanh Hóa,
Hà Nội, Vĩnh Long và Cao Bằng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 105.601 con, trong đó gà 23.733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79.138 con (chiếm 74,94
%) và ngan 2.690 con (chiếm 2,55 %)
Dịch chỉ xuất hiện rải rác, nhỏ lẻ, phân bố ở nhiều tỉnh trong các khoảng thời gian khác nhau Các ổ dịch xuất hiện thường được địa phương bao vây, xử lý ngay nên các ổ dịch đều xảy ra trong phạm vi hẹp, hầu như không có hiện tượng lây lan diện rộng
* Năm 2010: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 64 xã, phường của 38 huyện,
quận thuộc 23 tỉnh, thành phố là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bến Tre, Cà Mau, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Kon Tum, Lạng Sơn, Nam Định, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Tuyên Quang và Thái Nguyên Tổng số gia cầm mắc
Trang 18bệnh, chết và tiêu hủy là 147.399 con, trong đó gà là 43.068 con (chiếm 29,2%), vịt
là 102.363 con (chiếm 69,5%) và ngan là 1.968 con (chiếm 1,3%)
* Năm 2011: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 82 xã, 43 huyện, quận thuộc 22
tỉnh, thành phố là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Cà Mau, Đắk Lắk, Hà Nam, Kon Tum, Lạng Sơn, Long An, Nam Định, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Thái Nguyên, Tiền Giang, Hải Phòng, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc Tổng số gia cầm mắc bệnh là 110.311 con gia cầm trong đó có 39.126 con gà, 70.020 con vịt và 1.165 con ngan; tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 151.356 con trong đó 60.787 con gà, 89.204 con vịt và 1.365 con ngan
* Năm 2012: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 296 xã, 121 huyện, quận thuộc
32 tỉnh, thành phố là: Bắc Kạn, Bắc Giang, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Tháp, Hà Nam, Quảng Ngãi, Hải Dương, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tiền Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Hà Nội và Hải Phòng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 616.109 con, trong đó 117.946 con gà (chiếm 19,14%), 479.859 con vịt (chiếm 77,89 %) và 18.304 con ngan (chiếm 2,97%)
* Năm 2013: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 104 xã, 64 huyện, quận thuộc
31 tỉnh, thành phố là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bình Dương, Bình Định, Bình Phước,
Cà Mau, Đắk Lắk, Điện Biên, Quảng Ngãi, Hải Dương, Hậu Giang, Hòa Bình, Hưng Yên, Kiên Giang, Kon Tum, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Long An, Nam Định, Ninh Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hải Phòng làm 123.363 con gia cầm mắc bệnh (gà chiếm 17,3%, vịt, ngan chiếm 82,7%); tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 141.687 con (trong đó gà chiếm 23,5%, vịt, ngan là 76,5%) Ngoài ra, phát hiện một số ổ dịch trên chim trĩ và chim cút (Tiên Giang) và 01 ổ dịch trên chim Yến (Ninh Thuận) Một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được tiêu hủy ngay và xử
lý triệt để
* Năm 2014:
Cúm A/H5N1: Trong năm 2014, các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện
tại 158 xã, phường của 93 huyện, thị xã thuộc 33 tỉnh, thành phố Số gia cầm mắc bệnh là 212.600 con (gà hơn 76.000 con, chiếm 36% tổng số mắc bệnh và vịt hơn 136.000 con, chiếm 64%); trong đó số chết là hơn 101.900 con (gà chiếm 31,6% trong tổng số chết, vịt chiếm 68,4%) Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện
Trang 19các điểm dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được phát hiện và xử lý kịp thời, không để dịch lây lan Từ cuối tháng 3 đến tháng 11/2014, cả nước đã kiểm soát được dịch cúm gia cầm H5N1 Tuy nhiên, cuối tháng 11/2014 đã xuất hiện 03 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 ở 03 hộ chăn nuôi tại 03
xã của 03 huyện thuộc 02 tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long làm 1.027 con gia cầm mắc bệnh và phải tiêu hủy
Cúm A/H5N6: Từ tháng 4/2014 đến tháng 8/2014, ổ dịch cúm gia cầm H5N6 lần đầu tiên xuất hiện tại tỉnh Lạng Sơn, sau đó xuất hiện tại các tỉnh khác gồm Lào Cai, Quảng Trị và Quảng Ngãi làm 5.188 con gia cầm và chim trĩ bị mắc bệnh Ngoài ra virus cúm H5N6 cũng được phát hiện trên mẫu gia cầm giám sát tại tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam
Ngày 13/12/2014, một ổ dịch H5N6 đã tái phát trên đàn chim cút 12.000 con tại thôn Lâm Lộc Bắc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh của tỉnh Quảng Ngãi, số chim cút chết là 2.965 con
Nguyên nhân dịch do: (a) Thời tiết bất lợi và diễn biến bất thường (băng giá
ở các tỉnh phía Bắc, thời tiết lạnh bất thường ở các tỉnh phía Nam) làm giảm sức đề kháng của đàn gia cầm; (b) Virus cúm H5N1 lưu hành rộng khắp tại các chợ buôn bán gia cầm sống của nhiều tỉnh, thành phố và lây lan thông qua các hoạt động mua bán, vận chuyển gia cầm; (c) Nhánh 2.3.2.1C của virus cúm A/H5N1 đã xuất hiện
và phát tán rộng trên phạm vi cả nước (nhất là do các đàn vịt chạy đồng tại các tỉnh phía Nam); (d) Các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm và di chuyển của người dân gia tăng trong dịp Tết, trong các hoạt động lễ hội dân gian dịp đầu năm mới; (e) Nhiều đàn gia cầm đã hết miễn dịch hoặc được nuôi mới sau dịp Tết nên dễ bị cảm nhiễm virus; (g) Việc chăn nuôi thủy cầm khu vực giáp ranh giữa Việt Nam và Campuchia diễn ra phức tạp, tạo thuận lợi cho virus xâm nhập, biến đổi và gây bệnh; (h) Hệ thống mạng lưới thú y cơ sở tại một số tỉnh còn nhiều bất cập như: không có thú y cơ sở, có cán bộ nhưng không có chuyên môn do xã tự tuyển chọn, chế độ thù lao chưa thỏa đáng,
Đối với chủng virus mới H5N6 tại Việt Nam, đây là chủng virus tương đồng 99% so với chủng H5N6 xảy ra tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc trong năm 2014, nhiều khả năng virus xâm nhập vào Việt Nam thông qua vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm bất hợp pháp qua biên giới Hiện tại, các ổ dịch cúm H5N6 đã được các địa phương khống chế thành công Tuy nhiên, đã có hiện tượng virus cúm H5N6 lưu hành trên gia cầm khỏe mạnh tại một số địa phương
Một số đặc điểm dịch tễ của các ổ dịch trong năm 2014: Các ổ dịch cúm gia
cầm xuất hiện rải rác khắp các tỉnh, thành phố, trong đó tập trung nhiều ở các tỉnh
Trang 20Nam bộ và Nam Trung bộ Các ổ dịch xuất hiện trong giai đoạn Tết Nguyên đán và phát sinh nhiều nửa cuối tháng 02/2014, sau đó giảm dần và kết thúc vào cuối tháng 3/2014 Dịch xuất hiện chủ yếu trên vịt (chiếm khoảng 63,40% tổng số hộ có dịch) và gà (chiếm 36,60%), một vài hộ nuôi chim cút cũng bị lây bệnh Các ổ dịch chủ yếu do virus cúm A/H5N1 nhánh 2.3.2.1C gây ra; nhánh virus này hiện nay đã xuất hiện tại hầu khắp các tỉnh, thành phố; một số tỉnh khu vực phía Nam vẫn phát hiện nhánh 1.1 lưu hành và gây bệnh Vaccine H5N1 Re-6 sử dụng để phòng bệnh do virus cúm H5N1 nhánh 2.3.2.1 gây ra; vaccine H5N1 Re-5 và Navet-Vifluvac (Việt Nam) có thể phòng bệnh do virus cúm H5N1 nhánh 1.1
và virus cúm H5N6 gây ra
1.3 Virus học bệnh cúm gia cầm
1.3.1 Cấu trúc chung của virus cúm
Virus cúm gia cầm type A là thành viên của họ Orthomyxoviridae
Virus có vỏ ngoài với bộ gen là RNA một sợi âm Hạt virus (virion) có dạng hình khối tròn, hình trứng hoặc hình khối kéo dài có đường kính 80 – 120 nm Đôi khi virus có hình sợi kéo dài đến vài µm Phân tử lượng của hạt virus khoảng 4,6 – 6,4 Dalton Virus được bao bọc bằng các Protein và có màng Lipit ở ngoài cùng
Bề mặt ngoài phủ bằng hệ thống Protein bao gồm Protein có phản ứng ngưng kết hồng cầu HA (hemagglutinin), Protein enzyme cắt thụ thể NA (neuraminidase)
Hình 1.1 Cấu trúc của virus cúm A
Trang 21Capsid bên ngoài nhân của virus được cấu tạo từ Protein, cấu trúc đối xứng xoắn, độ dài 130 – 150 nm, đường kính 9 – 15 nm tạo thành giới hạn vòm của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau một cách riêng biệt
Cùng với virus cúm A thuộc họ Orthomyxoviridae còn có 3 nhóm khác là: Virus cúm type B chỉ gây bệnh cho người
Virus cúm type C chỉ gây bệnh cho người và lợn
Virus nhóm Thogovirus
Về danh pháp, nhóm virus cúm A được phân chia thành nhiều phân type (subtype), các phân type này được phân biệt bởi sự khác nhau ở các đặc tính kháng nguyên bề mặt (NA và HA), cho đáp ứng miễn dịch khác nhau giữa các chủng virus ở cơ thể bị nhiễm Có 16 phân type HA và 9 phân type NA đã được phát hiện,
sự tổ hợp giữa các phân type này, về lý thuyết, có thể tạo ra hơn 254 biến chủng khác nhau, trừ chủng ban đầu Hiện nay, dữ liệu gene và hệ gene của virus cúm A
có thể được tìm thấy trong Ngân hàng gene, tại Mạng lưới chuyên gia cúm gia cầm của Tố chức Nông lương thế giới (FAO) và Tổ chức Thú y thế giới (OIE); và tại trang web của Trung tâm dữ liệu các gene virus cúm Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
đã quy định thống nhất danh pháp theo thứ tự kí hiệu: Tên serotype - Loài động vật
bị nhiễm - Vùng địa lí phân lập - Số hiệu đăng kí chủng virus - Thời gian phân lập - Loại hình phân type [HA(H) và NA(N)]; ví dụ: A/Chicken/Vietnam/ HG4/2005(H5N1) Đối với các virus được phân lập trên người bệnh, thì không cần ghi loài mắc trong danh pháp, ví dụ: A/Vietnam/1194/2004(H5N1) [21] [37]
Cấu trúc của virus cúm A/H5N1 được minh họa ở hình 1.2
Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm A/H5N1
(Nguồn: www.aht.org.uk)
Trang 221.3.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A
Hệ gen của virus cúm chứa duy nhất acid ribonucleic (RNA) một sợi Sợi RNA có độ dài 10.000 – 15.000 nucleotide tùy loại virus, chúng không được nối với nhau tạo thành một sợi RNA hoàn chỉnh mà được chia thành 7 – 8 phân đoạn, mỗi một phân đoạn chịu trách nhiệm mã hóa cho các Protein khác nhau [37]
Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzymee trong phức hợp polymerase (RNA transcriptase) của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao, bao gồm:
- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein
enzymee PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzymee polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 84000Dalton [37]
- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp
enzymee PB1 - tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzymee polymerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA
- Phân đoạn 3 (gen PA) có kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn
cao, mã hóa tổng hợp protein enzymee PA có khối lượng phân tử theo tính toán
dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp RNA của virus [22]
Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A
Trang 23Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HA và NA) bề mặt capsid của virus, có tính kháng nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A, bao gồm:
- Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm A
(ở A/H1N1 là 1778 bp, ở H9N1 là 1714 bp, ở H5N1 là khoảng 1704 - 1707 bp) Đây là gen chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp protein HA - kháng nguyên bề mặt virus cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2 HA1 nối với HA2 bằng một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt của enzymee protease, và đây là vùng quyết định độc lực của virus [23]
- Phân đoạn 5 mã hóa cho protein NP [24]
- Phân đoạn 6 (gene NA) là một gene kháng nguyên của virus, có chiều dài thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi khoảng từ 1350 - 1410 bp) Đây là gene mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 50.103 Da (trên thực tế là 50 - 60.103 Da) Các nghiên cứu phân tử gene NA của virus cúm cho thấy phần đầu 5’- của gene này (hay phần tận cùng N của polypeptide NA) có tính biến đổi cao và phức tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến quá trình thích ứng và gây bệnh của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau Đặc trưng biến đổi của gene NA trong virus cúm A là hiện tượng đột biến trượt-xóa một đoạn gene là 57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho độ dài vốn có trước đây của NA(N1) là 1410 bp còn 1350 bp [25]
- Phân đoạn 7 mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (matrix protein) M1 và
virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm, M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy chồi của virus [29]
- Phân đoạn 8, với độ dài tương đối ổn định sẽ mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có các chức năng: chuyển RNA từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interferon [36]
1.3.3 Kháng nguyên của virus
Dựa trên yếu tố ngưng kết hồng cầu (Haemagglutinin viết tắt là H) và trung hòa (Neuraminidase viết tắt là N) là những kháng nguyên có vai trò trong miễn dịch bảo hộ và có tính đa dạng cao mà virus cúm type A được phân type Đến nay,
có tất cả 16 loại gen H (H1 – H16) và 9 loại gen N (N1 – N9), mỗi một tổ hợp gen
H và N tạo nên 1 biến chủng gây bệnh [11]
Haemagglutinin (HA) một đặc tính kháng nguyên quan trọng của virus cúm
là khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loại động vật mà thực chất là sự kết
Trang 24hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt virus với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu làm cho hồng cầu ngưng kết lại với nhau tạo mạng ngưng kết qua cầu nối virus Từ đặc tính kháng nguyên này có thể sử dụng các phản ứng ngưng kết hồng cầu HA và ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI trong việc chẩn đoán bệnh HA là một loại kháng nguyên vừa quyết định tính kháng nguyên vừa quyết định tính độc lực của virus cúm type A [10]
Neuraminidase (NA) là một enzymee có bản chất là glycoprotein mang tính
kháng nguyên trên bề mặt virus cúm Có 9 gen N nhưng trong đó chỉ có N1 và N2
có liên quan đến các vụ dịch ở người Neuraminidase có tác dụng hỗ trợ giải phóng virus ra khỏi tế bào vật chủ Neuraminidase cắt liên kết giữa gốc acid sialic tận cùng khỏi phân tử carbonhydrate của tế bào và virus, từ đó ngăn cản quá trình kết hợp của virus và cho phép giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào bị nhiễm [10]
Nguy hiểm nhất về kháng nguyên virus cúm type A là chúng có khả năng tổ hợp biến chủng dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Chúng có hai khả năng đột biến:
- Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi trượt, lệch lạc về kháng nguyên – antigenic drift) Đây là kiểu đột biến xảy ra thường xuyên, đặc biệt là đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N tạo ra những thay đổi nhỏ về trình
tự nucleotide của gen mã hóa cho kháng nguyên H và kháng nguyên N Nếu quá trình dập tắt dịch không triệt để, virus vẫn còn tồn tại thì hiện tượng đột biến này sẽ xảy ra Kết quả là sẽ tạo ra type cúm hoàn toàn mới [32]
- Đột biến do tái tổ hợp di truyền (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất kháng nguyên – antigenic shift) Đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra định
kỳ trong đó có sự sắp xếp lại các nucleotide do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus khác nhau Điều này đã tạo nên những sai khác cơ bản về bộ gen của virus đời con so với đời bố mẹ [32]
Chính khả năng tổ hợp biến chủng này đã gây ra nhiều tai họa không chỉ trên gia cầm mà còn trên con người Năm 1918 ở Tây Ban Nha do biến chủng H1N1 làm chết 20 – 40 triệu người, năm 1957 ở châu Á do chủng H2N2, năm 1968 dịch cúm ở Hồng Kông do H3N2, dịch cúm năm 1977 ở Nga do H1N1 Hầu như tất cả các biến chủng virus cúm type A gây ra đều là sản phẩm tái tổ hợp của subtype có nguồn gốc từ động vật trước hết là chim và gia cầm Do trên người có một số chủng virus gây bệnh cúm thông thường, nó sẽ là một nhân tố trong quá trình trao đổi gen giữa virus cúm thông thường trên người và virus cúm trên gia cầm tạo nên tổ hợp biến chủng mới Và tổ hợp biến chủng này sẽ thích ứng trên người nên chúng rất nguy hiểm cho nhân loại
Trang 25Các loại protein kháng nguyên: protein nhân (NP), protein đệm (matrix protein - M1), protein HA, protein enzymee cắt thụ thể (NA) là những protein kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất
Một trong đặc tính kháng nguyên quan trọng của virus cúm là khả năng gây ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật mà thực chất là sự kết hợp giữa mấu lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus với thụ thể có trên bền mặt hồng cầu làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo mạng ngưng kết qua các cầu nối virus Từ đặc tính kháng nguyên này có thể sử dụng các phản ứng ngưng kết hồng cầu HA và ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI trong chẩn đoán cúm gia cầm
Sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên mà virus cúm có được là do sự
biến đổi và trao đổi kháng nguyên trong nội bộ gene và giữa gene hemagglutinin (HA) và gene neutraminidase (NA) [32]
Sự biến đổi chính nội bộ gene hay đột biến ngẫu nhiên (Drift) mà bản chất là sự thay đổi nucleotide trong đoạn gene là biến dị xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus cúm Chính nhờ sự biến đổi này cho phép virus cúm A tạo nên
15 biến thể gene HA (H1 đến H15) và 9 biến thể gene NA (N1 đến N9)
Cũng nhờ hiện tượng Drift của virus cúm có thể lý giải được không phải các
biến dị ngẫu nhiên tạo nên tính thích ứng với từng loài vật chủ khác nhau và mức
độ độc lực gây bệnh khác nhau ở chính mỗi loại hình tái tổ hợp HA và NA [39]
Bên cạnh hiện tượng Drift, sự biến đổi hệ gene của virus cúm A còn được diễn ra nhờ hiện tượng tái tổ hợp gene - Shift ít xảy ra hơn, hiện tượng này chỉ xảy
ra khi hai hay nhiều virus cúm cùng nhiễm vào tế bào Tuy nhiên chỉ xuất hiện với tần suất rất thấp nhưng khi hiện tượng tái tổ hợp gene xảy ra sẽ gây ra dịch lớn cho người và động vật, với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Hiện tượng Shift ở virus cúm A cho thấy nguy cơ của sự lưu hành đồng thời nhiều loại virus cúm với số lượng lớn trong cùng một không gian và thời gian kéo dài
Một điều không thể không nói đến trong nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm là giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Vì thế đặc điểm này sẽ gây một trở ngại lớn cho các nghiên cứu nhằm tạo ra vaccine cúm cho người và động vật [33], [34]
Về mặt lý thuyết, khi xâm nhập vào cơ thể động vật, virus cúm A sẽ tạo nên
sự hình thành của các kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng HA, chỉ có loại kháng thể này mới có thể trung hòa virus cho bảo hộ miễn
Trang 26dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus: kháng thể kháng NA có tác dụng ngăn cản giải phóng virus, kháng thể kháng M2 có tác dụng ngăn cản chức năng protein M2 không cho quá trình bao gói virus xảy ra [35], [38]
1.3.4 Độc lực của virus
Độc lực của các chủng virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của enzyme protease vật chủ đến sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2 Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của enzyme protease lại phụ thuộc vào số lượng các acid amin kiềm tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzyme giống trypsin
có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử arginin, trong khi đó các enzyme protease khác lại cần nhiều acid amin kiềm, vì thế đánh giá độc lực của virus trên cơ sở gây nhiễm cho gia cầm và sau đó phân tích sự sắp xếp các acid
amin của các virus [5] [19]
Trong thực tế, virus cúm gây bệnh ở loài chim được phân chia theo tính gây bệnh với 2 mức độ độc lực khác nhau: Loại độc lực cao (HPAI - Highly Pathogenic Avian Influenza) và loại độc lực thấp (LPAI - Low Pathogenic Avian Influenza), cả hai loại đều cùng tồn tại trong tự nhiên
- HPAI: là loại virus cúm A có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cầm chúng thường gây chết 100% số gia cầm bị nhiễm trong vòng 48 giờ sau nhiễm Loại này rất nguy hiểm gây lo ngại cho cộng đồng Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào phôi gà và tế bào thận chó trong môi trường nuôi cấy không có trypsin
- LPAI: là loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ Đây là loại virus lây truyền rộng rãi và tạo nên các ổ bệnh trong tự nhiên của virus cúm A, loại này có thể trao đổi gen với các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trên cùng một tế bào, và trở thành loại virus HPAI nguy hiểm
Với những chủng virus có độc lực cao, phân loại độc lực của virus về mặt lâm sàng dựa trên những thông báo ban đầu của Bankowki và cộng sự tại Hội nghị thế giới lần đầu tiên về cúm gia cầm năm 1981, khi cho rằng những virus cúm có kháng nguyên bề mặt H7 thuộc loại có độc lực cao Tuy nhiên người ta lại thấy rằng có những trận dịch gây chết tới 75% gà nhưng khi phân lập lại lại không thấy
Trang 27kháng nguyên H7 mà lại là H5 Vì thế để giải quyết vấn đề có cơ sở khoa học, các nhà nghiên cứu đã thống nhất các chỉ số đánh giá virus cúm có độc lực cao:
- Sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng gà đã gây nhiễm virus được pha loãng 1/10 cho gà mẫn cảm từ 4 - 6 tuần tuổi, phải làm chết 75 - 100% gà thực nghiệm
- Virus gây bệnh cúm gà (có thể là type phụ) phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà trong môi trường nuôi cấy không có trypsin
- Trong thực tế những chủng HPAI có thể gây chết 100% gia cầm nhiễm bệnh Từ năm 1959 đến năm 2001, trên thế giới đã ghi nhận 19 chủng virus cúm của loài lông vũ được phân lập thuộc loại HPAI, trong đó một số chủng lây nhiễm
và gây bệnh trên người [28]
Tuy nhiên, cho đến nay người ta cũng chỉ thừa nhận có hai biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5 và H7 được coi là loại có độc lực cao và gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gene H5 và H7 đều gây bệnh [31]
Những chủng virus có độc lực thấp (LPAI) thường gây nhiễm ở gia cầm nhưng không có triệu chứng lâm sàng, không có bệnh tích đại thể và tỷ lệ chết rất thấp Tuy nhiên sự bội nhiễm vi khuẩn, đặc biệt là Streptococcus, Staphylococcus…
hoặc các bệnh khác cùng với virus cúm có thể làm cho bệnh gây ra do các virus cúm
có độc lực thấp trở nên độc hơn và gây bệnh nghiêm trọng hơn Nguyên nhân là do các vi khuẩn bội nhiễm sản sinh enzymee protesae phá vỡ các liên kết của ngưng kết
tố ngay cả khi không có acid amin kiềm
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và đàn thủy cầm sẽ có đột biến gene hoặc các đột biến tái tổ hợp
để trở thành các chủng HPAI [27], [30], [35]
1.3.5 Cơ chế xâm nhập, nhân lên và gây bệnh của virus
Virus cúm A/H5N1 có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô hấp, hơn nữa đây là loại virus sống kí sinh nội bào bắt buộc nên quá trình xâm nhiễm và nhân lên chủ yếu xảy ra ở đường hô hấp
Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của HA
và thụ thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng
hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm (Hình 1.4)
Trang 28Hình 1.4 Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus trong tế bào vật chủ
- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzymee neuraminidase Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6 giờ) Sự tạo thành các hạt virus mới không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử và rơi vào quá trình chết theo chương trình (apoptosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ [8]
- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA transcription) Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào
- Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi dương
từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-polymerase Các sợi này không được
Adenine hóa (gắn thêm các Adenine - gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp với
nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzymee ở từng phân đoạn gen của virus và được enzymee PB2 gắn thêm 10 - 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus
Trang 29- Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn
lên mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện tượng “nảy
chồi” của virus NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân tế bào để kết
hợp với RNA thành RNP của virus Sau cùng các RNP của virus được hợp nhất với
vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên
kết giữa HA với thụ thể chứa acid sialic Các NA phân cắt các liên kết này và giải phóng các hạt virus trưởng thành tiếp tục xâm nhiễm các tế bào khác [8]
1.3.6 Sức đề kháng của virus
Virus cúm type A tương đối nhạy cảm với các hóa chất và các tác nhân vật
lí Các hạt virus tồn tại thích hợp pH trong khoảng 6,5 – 7,9, ở pH quá kiềm hay quá acid thì khả năng lây nhiễm của virus giảm Lớp vỏ bên ngoài có bản chất là lipid nên dễ bị phá hủy bởi các dung môi hòa tan lipid, các chất tẩy rửa và các chất sát trùng: fomaldehyde, phenol, β- propiolacton, sodium hypochloride, acid loãng
và hydroxylamine
Virus bất hoạt dưới ánh sáng trực tiếp sau 40 giờ, tồn tại được 15 ngày ánh sáng thường Tia tử ngoại bất hoạt được virus mà không phá hủy được kháng nguyên virus Tuy nhiên, virus cúm A dễ bị tiêu diệt hoàn toàn ở 100o
C và
60oC/30 phút Trong phân gia cầm ở nhiệt độ thấp tồn tại ít nhất 3 tháng, trong phủ tạng có thể tồn tại 24 – 39 ngày, nếu bảo quản ở nhiệt độ -70oC thì có thể tồn tại hàng năm
1.3.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus
Có thể nuôi cấy virus cúm gia cầm trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi; trên tế bào
xơ phôi gà CEF (Chicken Embryo Fibroblast) và tế bào thận chó MDCK
(Madin-Darby-Canine-Kidney) với điều kiện môi trường nuôi cấy không chứa trypsin
Virus được bảo quản ở -70oC hoặc đông khô giữ đặc tính gây bệnh rất lâu [14]
1.4 Truyền nhiễm học
1.4.1 Động vật cảm nhiễm
Bệnh cúm được phát hiện ở tất cả các loài chim thuần dưỡng (gia cầm, thủy cầm) hoặc chim hoang dã Gà, gà tây, chim cút, bồ câu, vịt, ngan đều mắc bệnh Hiện đã phân lập được virus từ vịt bầu, ngỗng, chim cút, gà nhật, gà gô, gà lôi Vịt nuôi nhiễm virus cúm nhưng khó phát hiện triệu chứng do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh, kể cả với chủng có độc lực cao [16] Các loài dã cầm cũng có thể bị bệnh nhưng khó có thể phát hiện được do cách sống hoang dã và đặc tính di trú của chúng Đây là nguồn tàng trữ và gieo rắc virus nguy hiểm nhất
Trang 30Gà, ngan, vịt, chim cút mọi lứa tuổi đều mắc cúm nhưng bệnh thường ở 4 - 6 tuần tuổi Gia cầm dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao nhất ở nơi bệnh phát ra lần đầu
và trong tuổi sắp đẻ hoặc thời kỳ đẻ cao nhất Gia cầm có khả năng sản xuất càng cao thì càng mẫn cảm với virus Gia cầm mái dễ bị nhiễm hơn trống, con non và già mẫn cảm với mầm bệnh hơn con trưởng thành [18]
Không chỉ đối với loài chim, virus có thể gây bệnh cho các loài động vật có
vú khác như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, cá voi và cả con người Nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy loài mèo, vốn được coi là không cảm nhiễm với cúm, cũng mắc bệnh và chết [18]
Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển,
Đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là:
- Từ các loài gia cầm nuôi trong cùng trang trại hoặc trang trại liền kề;
- Lây truyền qua trứng;
Trang 311.4.3 Loài vật mang virus
Virus cúm đã được phân lập ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt trời, thiên nga, hải âu, vẹt, mòng biển, diều hâu, chim họ sẻ Tuy nhiên, tần suất và số lượng virus phân lập được ở loài thủy cầm đều cao hơn các loài khác Điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Trong các loài thủy cầm thì vịt trời có tỷ lệ nhiễm virus cao hơn cả Những virus này không gây bệnh cho vật chủ, mà được nhân lên trong đường ruột và bài thải ra ngoài, trở thành nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm [4]
Cuối tháng 10/2004, OIE, FAO và WHO đã lưu ý các nước đã trải qua dịch cúm gia cầm H5N1 rằng vịt nuôi có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan chủng virus cúm gia cầm H5N1 thể độc lực cao cho các gia cầm khỏe và rất có thể lây truyền virus trực tiếp cho con người vì vịt nuôi và gà nhiễm bệnh cùng bài thải lượng virus như nhau, nhưng vịt nuôi thường không thể hiện các triệu chứng lâm sàng FAO và OIE đã phối hợp đánh giá vai trò của vịt nuôi nhằm đưa ra chiến lược lâu dài với mục đích khống chế các ổ dịch cúm gia cầm ở châu Á [12]
Virus cúm A/H5N1 lưu hành ở một số nước khu vực châu Á có độc lực với
gà, chuột đã tăng lên và mở rộng phổ gây bệnh của nó trên cả loài mèo Một số động vật có vú như cầy vằn, chồn hay chó cũng nhiễm bệnh và bài thải virus [12]
1.4.4 Chất chứa virus
Trong cơ thể gia cầm mắc bệnh, sau khi xâm nhập qua đường hô hấp hoặc tiêu hoá, virus nhân lên rất nhanh và xuất hiện trong các chất tiết đường hô hấp như nước mắt, nước mũi hoặc nước bọt, từ đó lây lan cho các con còn lại trong đàn Vì vậy chỉ cần một con mắc bệnh, các con khác sẽ bị lây bệnh rất nhanh Thời gian nung bệnh tùy thuộc vào độc lực của chủng gây bệnh Đối với chủng độc lực cao như H5 hoặc H7, thời gian nung bệnh thường rất ngắn, trung bình khoảng 3 - 14 ngày
và cơ quan; ảnh hưởng gián tiếp từ sự sản sinh các tế bào trung gian như cytokine;
Trang 32nghẽn mạch cục bộ do huyết khối Đối với virus có độc lực thấp thì việc nhân lên thường giới hạn ở đường hô hấp và tiêu hóa Gia cầm có biểu hiện bệnh và chết đa
số thường do tổn hại cơ quan hô hấp đặc biệt khi kèm theo nhiễm trùng thứ phát
1.4.6 Mùa phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụ đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 02 năm sau, khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết biến đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động buôn bán vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn
ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh và lây lan
1.5 Triệu chứng, bệnh tích
Thời kỳ ủ bệnh thường ngắn, từ vài giờ tới 3 ngày, tùy thuộc số lượng, độc lực của virus, đường nhiễm bệnh, loài cảm nhiễm virus gây bệnh Một số nghiên cứu cho thấy thời gian ủ bệnh trong nhiều trường hợp có thể dài hơn đến 7 ngày và lâu nhất có thể đến 14 ngày [15]
Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào các yếu tố: chủng virus, số lượng virus, loài cảm nhiễm, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường (nhiệt
độ, ánh sáng, thành phần không khí,…), chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm bệnh, sự bội nhiễm của một số vi sinh vật khác
Nhìn chung, triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm vô cùng phức tạp,
đa dạng trong các thể bệnh kể cả ngay trong cùng một loài gia cầm Biểu hiện bệnh
có thể từ không hoặc có rất ít dấu hiệu lâm sàng nhưng chết đột ngột đến biểu hiện lâm sàng điển hình và các thể bệnh nhẹ hoặc ẩn tính
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh cúm gia cầm chủng độc lực cao
Khi nhiễm các chủng virus độc lực cao (HPAI) gia cầm thường chết đột ngột, tỷ lệ chết khá cao có khi lên đến 100% trong vài ngày Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như ho khẹc, hắt hơi, thở khò khè, vảy mỏ, chảy nhiều nước mắt, nước mũi Tiếp theo là mi mắt bị viêm, mặt phù nề, sưng mọng Mào tích dày lên do thủy thũng, tím tái, có nhiều điểm xuất huyết Thịt
gà bị bệnh thường thâm xám, dưới da vùng chân có xuất huyết [4]
Bên cạnh các triệu chứng về hô hấp, gia cầm bị bệnh cúm còn có biểu hiện thần kinh: đi lại không bình thường, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụ đống với nhau Ngoài ra khi gia cầm mắc cúm thường tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng hoặc xanh, năng suất trứng giảm mạnh [4]
Trang 331.5.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh do những chủng virus cúm độc lực thấp
Gia cầm bị nhiễm các chủng virus có độc lực yếu hơn cũng có những triệu chứng tương tự như ở bệnh do những chủng có độc lực cao gây ra, nhưng mức
độ biểu hiện nhẹ hơn và tỷ lệ chết thấp hơn Tuy nhiên, khi có sự cộng thêm với
vi khuẩn hoặc virus khác có khả năng gây bệnh hoặc điều kiện môi trường bất lợi thì tỷ lệ tử vong có thể đạt 60 – 70% và các triệu chứng lâm sàng cũng dần nặng hơn [5]
1.5.3 Bệnh tích
Bệnh tích bệnh cúm rất đa dạng Nhìn chung sẽ có các bệnh tích đặc trưng: Mào, yếm sưng to, tím sẫm, phù mí mắt
Phù keo nhầy và xuất huyết cơ đùi (phần giáp đầu gối)
Da chân xung huyết, đỏ sẫm
Dạ dày cơ xuất huyết, đôi khi xuất huyết dạ dày tuyến như ở Newcastle Niêm mạc khí quản, niêm mạc đường tiêu hóa viêm cata và viêm tơ huyết
Khí quản phù, chứa nhiều dịch nhầy Dịch nhầy có thể đông đặc như phomat Các cơ quan nội tạng như màng bao tim, màng gan, màng ruột viêm tơ huyết Ruột viêm cata và xuất huyết Hạch ruột sưng
Lách, gan, thận, phổi sưng to, hoại tử màu vàng, màu xám
Mỡ vành tim xuất huyết Với gà trống xuất huyết bên trong dịch hoàn
Gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng, vỡ trứng non
Tuyến tụy xuất huyết và hoại tử Tuyến tụy chuyển sang màu vàng có vết sẫm
Phù keo nhầy dưới da đầu Xuất huyết da chân vùng không lông
Trang 34Khí quản xuất huyết Phổi viêm, xuất huyết, phù
Mỡ phủ tạng xuất huyết Dạ dày tuyến xuất huyết
Hình 1.5 Bệnh tích đại thể ở gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1
(Nguồn: Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương)
1.6 Các phương pháp chẩn đoán
Việc chẩn đoán cúm gia cầm do nhiễm virus cúm type A chủ yếu phải phân lập và định danh virus kết hợp với chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể, dịch tễ học và một số phản ứng huyết thanh [5]
1.6.1 Dựa vào dịch tễ
Bệnh cúm gia cầm có tính lây truyền nhanh và mạnh
Loài mắc bệnh thường là gia cầm và chim Chim hoang dã là nguồn truyền lây bệnh
Một số động vật có vú cũng có thể mắc bệnh: người, lợn, ngựa
Trang 351.6.2 Dựa vào triệu chứng, bệnh tích
1.6.2.1 Dựa vào triệu chứng
Gia cầm bị bệnh thường bị xù lông, ủ rũ, bỏ ăn, giảm đẻ
Đầu, mặt sưng, phù quanh mắt Mào yếm sưng, xuất huyết
Mắt bị viêm kết mạc và có thể bị xuất huyết
Chân giữa vùng bàn và khuỷu bị xuất huyết
Có các triệu chứng ở đường hô hấp
Nếu virus có độc lực cao thì gà có thể chết nhanh, gà thường chết trong
vòng 24 giờ – 48 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên [5]
1.6.2.2 Bệnh tích
Xuất huyết lan tràn ở các cơ quan nội tạng
Dưới da vùng đầu, cổ, ngực bị phù thũng
Miệng chứa nhiều dịch
Khí quản xuất huyết chứa nhiều dịch nhầy
Đường tiêu hóa xuất huyết
Gà đẻ buồng trứng xuất huyết hoặc bị viêm, có nhiều trứng non vỡ [5]
1.6.3 Phân lập và định danh virus
Đây là phương pháp chẩn đoán cơ bản có ý nghĩa quyết định
Để phân lập virus thường sử dụng mẫu bệnh phẩm là phổi, khí quản, não, lách Bệnh phẩm sau khi xử lí được tiêm vào phôi gà 9 – 11 ngày tuổi, ấp 37oC trong 7 ngày thì thu hoạch trứng Virus cũng có thể phân lập trên môi trường tế bào [11]
Sau khi phân lập được virus từ môi trường tế bào hoặc trên phôi trứng thì có thể giám định virus bằng HI test để giám định subtype H và N
Gần đây, phương pháp real – time PCR (RT – PCR ) trực tiếp sử dụng nguồn gen của virus cúm A và cúm A/H5N1 từ mẫu bệnh phẩm cũng được đưa vào ứng dụng cho phép chẩn đoán chính xác, tin cậy cao và phân biệt sự hiện diện của các chủng virus cúm A gây bệnh chỉ với một lượng nhỏ mẫu bệnh phẩm [11] [20]
Ngoài ra còn có các phương pháp chẩn đoán khác như: kỹ thuật ELISA, kỹ thuật khuếch tán trên thạch, phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI)
Trang 361.7.1.2 Phòng bệnh đối với những địa phương chưa có dịch xảy ra hoặc nguy cơ có dịch
Trong thời gian xảy ra dịch ở các địa phương khác thì các trại chăn nuôi gia cầm giống áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nhằm ngăn cản mầm bệnh đưa vào Dụng cụ chăn nuôi, xe chuyên chở, dụng cụ bảo hộ lao động và con người ra vào trại phải được vệ sinh, khử trùng Thức ăn, nước uống, chất độn chuồng phải đảm bảo không chứa mầm bệnh [5]
Trên các trục đường giao thông chính thành lập các chốt kiểm dịch tạm thời nhằm ngăn chặn việc dịch chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm từ các địa phương có dịch vào Các phương tiện giao thông ra vào phải được tiêu độc
Tăng cường kiểm tra, giám sát phát hiện bệnh và tiêu hủy tất cả gia cầm, sản phẩm gia cầm có nguồn gốc từ các địa phương đang có dịch Đồng thời tiến hành tổ chức dập dịch nhanh chóng khi còn ở diện hẹp [5]
1.7.1.3 Khống chế dịch dịch cúm gia cầm
Phòng, chống dịch cúm gia cầm là chương trình tổng hợp của công tác giám sát, chẩn đoán bệnh; kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ gia cầm kết hợp với các biện pháp an toàn sinh học tăng cường; tiêu hủy, tiêu độc, khử trùng các ổ dịch; đồng thời tuyên truyền, giáo dục người dân về dịch bệnh Tiêu hủy toàn đàn gia cầm bị bệnh và đàn gia cầm có tiếp xúc với đàn bị bệnh là biện pháp bắt buộc để tránh bệnh lây lan
Do sự phân bố và lưu hành của cúm gia cầm rất rộng về địa dư và đa dạng loài động vật cảm nhiễm nên việc xác định chính xác sự lưu hành và phân bố của virus cúm là điều cực kỳ khó khăn Điều đó cũng có nghĩa là để kiểm soát được dịch cúm gia cầm đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ hệ thống chính sách quản lý của nhà nước và hệ thống biện pháp kỹ thuật Tuy nhiên vì điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước có đặc thù riêng nên khó có thể hoạch định được một chính sách chung
về khống chế cúm gia cầm cho tất cả các quốc gia [7]
Trang 37Bên cạnh đó, mặc dù có những đặc điểm riêng về dịch tễ học so với các bệnh truyền nhiễm, nhưng nhìn chung sự bùng phát cúm gia cầm vẫn tuân theo những quy luật chung của quá trình sinh dịch, thực chất là sự tác động qua lại giữa 3 khâu: nguồn bệnh, động vật cảm thụ, yếu tố truyền lây của bệnh truyền nhiễm nói chung
Vì thế, nguyên tắc của khống chế bệnh cúm gia cầm chính là sự tác động vào các khâu trên của quá trình sinh dịch Điều đó chính là việc phá vỡ vòng truyền lây của tác nhân gây bệnh và hiệu quả nhất là sự tác động vào điểm yếu nhất của quá trình truyền lây [17]
Theo khuyến cáo của OIE đó là các hoạt động:
- Loại trừ tác nhân gây bệnh: Tiêu hủy gia cầm nhiễm bệnh, sát trùng tiêu độc
- Giảm tiếp xúc giữa tác nhân và vật chủ: sử dụng vaccine phòng bệnh, tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng
- Thay đổi môi trường sống: Thực hiện an toàn sinh học, ngăn chặn tác nhân gây bệnh xâm nhập môi trường
Cụ thể hoạt động kiểm soát cúm gia cầm bao gồm một số điểm cơ bản:
- Xây dựng chính sách về kiểm soát bệnh mà thực chất là ban hành khung pháp lý để đảm bảo hoạt động phòng chống dịch có hiệu quả Đó là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của virus cúm thông qua đường thương mại với các nước khác và thực hiện việc giết hủy hàng loạt gia cầm nhiễm bệnh
- Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt nhằm khống chế sự lây nhiễm virus cúm gia cầm xâm nhập ban đầu
- Thực hiện chiến lược tiêm phòng vaccine hợp lý cho đàn gia cầm [9]
1.7.2 Phòng bệnh bằng vaccine
1.7.2.1 Các loại vaccine cúm đang được sử dụng
Các chủng virus cường độc A/H5N1 sau năm 1996, qua thời gian tiến hóa có
xu hướng biến đổi nội gene nhằm tăng tính gây bệnh và thay đổi thành phần nội gene kháng nguyên làm mất tương quan miễn dịch giữa chúng và các chủng vaccine được tạo ra Do vậy, vấn đề này phải được hết sức chú ý trong chiến lược chế tạo vaccine [17]
Đối với bệnh truyền nhiễm, vaccine được coi là biện pháp có tính chiến lược, nhằm ngăn chặn lây lan, tạo bảo hộ miễn dịch Đối với dịch cúm A/H5N1
ở gia cầm và dự phòng dịch cúm trên người, nghiên cứu phát triển vaccine không những ngăn ngừa làm giảm được bệnh ở gia cầm, mà còn khống chế nguồn truyền lây của loại virus nguy hiểm này sang người Kháng thể đặc hiệu
Trang 38có thể được cơ thể sinh ra do kích thích của kháng nguyên trong vaccine, và đó
là các kháng thể kháng HA, NA, MA và nhiều loại hình khác của virus đương nhiễm, góp phần vô hiệu hóa virus cúm đúng đối tượng khi chúng xâm nhập vào Các vaccine phòng bệnh hiện nay dựa trên cơ sở hai loại chính: vaccine truyền thống và vaccine thế hệ mới [17]
Vaccine truyền thống: Bao gồm vaccine vô hoạt đồng chủng và dị chủng
Vaccine vô hoạt đồng chủng (homologous vaccine), đó là các loại vaccine
được sản xuất chứa cùng những chủng virus cúm gà giống như chủng gây bệnh trên thực địa
Vaccine vô hoạt dị chủng (heterologous vaccine) là vaccine sử dụng các
chủng virus có kháng nguyên HA giống chủng virus trên thực địa, nhưng có kháng nguyên NA dị chủng
Vaccine thế hệ mới hay vaccine công nghệ gen: là loại vaccine được sản
xuất dựa trên sử dụng kỹ thuật gen loại bỏ các vùng “gen độc” đang được nghiên
cứu và đưa vào sử dụng phổ biến, bao gồm:
Vaccine tái tổ hợp có vector đậu gia cầm dẫn truyền: sử dụng virus đậu gia cầm làm vector tái tổ hợp song gen H5 và N1 phòng chống virus type H5N1 và H7N1
Vaccine dưới nhóm chứa protein kháng nguyên NA, HA tái tổ hợp và tách chiết làm vaccine
Vaccine tái tổ hợp có vector dẫn truyền: sử dụng adenovirus hoặc Newcastle virus hoặc virus đậu chim làm vector dẫn truyền, lắp ghép gen kháng nguyên H5 vào hệ gen của adenovirus, tạo nên virus tái tổ hợp làm vaccine phòng chống virus cúm A/H5N1
Vaccine DNA: sản phẩm DNA plasmid tái tổ hợp chứa gen HA, NA, NP, M2 đơn lẻ hoặc đa gen
Vaccine nhược độc virus cúm nhân tạo: được sản xuất bằng kỹ thuật di truyền ngược, đó là việc lắp ghép virus cúm nhân tạo chứa đầy đủ hệ gen,
trong đó các gen kháng nguyên H5 có vùng "độc" đã được biến đổi bằng kỹ
thuật gen
Có 3 loại vaccine đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận về độ an toàn
và khuyến cáo đưa vào chương trình sản xuất vaccine trên thế giới hiện nay, đó là NIBRG-14 (NIBSC), VN/04xPR8-rg (SJCRH) và VNH5N1-PR8/CDC-rg (CDC) [18]
Trang 391.7.2.2 Tình hình sử dụng vaccine trên thế giới và khuyến cáo OIE
Các nhà khoa học của tổ chức OIE, WHO đã khuyến cáo các nước có cúm gia cầm như sau:
- Sử dụng vaccine vào mục đích khống chế dịch bệnh cúm gia cầm chỉ là một giải pháp hỗ trợ để dập dịch, khoanh vùng dịch và khống chế dịch và vaccine chỉ hạn chế bài xuất virus cường độc ra ngoài môi trường chứ không loại bỏ được tận gốc bệnh cúm
- Chỉ tiêm phòng vaccine khi thật khẩn cấp
- Để có quyết định tiêm phòng phải dựa vào năng lực và điều kiện sau:
Phải có hệ thống chẩn đoán đủ năng lực xác định được cúm gia cầm có độc lực cao (HPAI) hay có độc lực thấp (LPAI)
Phải có ngân hàng vaccine đủ các chủng loại kháng nguyên H và N nhằm hạn chế tối đa hậu quả biến chủng virus cúm sau khi tiêm phòng
Phải có hệ thống kiểm soát thú y chặt chẽ từ trung ương đến địa phương nhằm kiểm soát những đàn đã sử dụng vaccine với những đàn chưa sử dụng vaccine
Với những điều kiện trên thì nước ta còn gặp nhiều khó khăn, do vậy việc tiêm phòng, quản lí tiêm phòng chưa được triệt để Tuy nhiên với những nỗ lực của ngành từ những năm 2004, 2005 đã có nhiều đề tài, dự án thử nghiệm và khảo nghiệm vaccine cúm đã được triển khai và thu được kết quả khả quan [18]
Trang 40Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Điều tra tình hình dịch cúm gia cầm tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 –
2014 và xác định tỷ lệ lưu hành của virus cúm gia cầm tại một số chợ buôn bán gia cầm sống trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2015
- Xác định một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm hiệu quả
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vịt được buôn bán tại một số chợ gia cầm sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
* Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2014 đến tháng 6/2015
- Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện tại tỉnh Quảng Ngãi Mẫu nghiên cứu được lấy từ chợ Hàng Rượu của huyện Sơn Tịnh, chợ Sông Vệ của huyện Tư Nghĩa và chợ Chùa của huyện Nghĩa Hành
Xét nghiệm mẫu swab bằng phương pháp rRT-PCR tại Cơ quan Thú y vùng
IV – thành phố Đà Nẵng
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình chăn nuôi và dịch cúm gia cầm H5N1 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010-2014
- Điều tra tình hình tiêm phòng vaccine cúm gia cầm 6 tháng đầu năm
2015 tại các địa phương có lấy mẫu giám sát virus cúm gia cầm
- Xác định tỷ lệ lưu hành virus cúm gia cầm trên vịt tại các chợ buôn bán gia cầm sống