Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến SRI đến sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh hại trên một số giống lúa tại Bình Định”..
Trang 1bè, để lại trong em nhưng nuối tiếc không thể tả Tận trong đáy lòng em muốn gửi lời chia buồn và cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy
Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Nguyễn Vĩnh Trường đã tận tình giúp
đở giúp em hoàn thiện luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo sau đại học, các cán bộ & giáo viên Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Em chân thành cảm ơn Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bình Định đã tạo điều kiện cho em thu thập các thông tin cần thiết để phục vụ cho luận văn này
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè luôn ở bên động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành tốt luận văn, nhưng do kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy mong quý thầy, cô giáo và anh, chị đồng nghiệp đóng góp ý kiến bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn
Thành phố Huế, ngày 23 tháng 08 năm 2015
Tác giả
Phan Văn Tiên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phan Văn Tiên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 6
1.3 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 8
1.3.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 8
1.3.3 Tình hình sản xuất lúa ở Bình Định 10
1.4 Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên thế giới và ở Việt Nam 11
1.4.1 Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên thế giới 11
1.4.2 Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến (SRI) ở Việt Nam 12
1.5 Những nghiên về sâu bệnh hại và biện pháp canh tác SRI trên cây lúa trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.5.1 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại và biện pháp canh tác SRI trên cây lúa trên thế giới 13
1.5.2 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại và biện pháp canh tác SRI trên cây lúa ở Việt Nam 22
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 32
Trang 42.1.1 Mục tiêu tổng quát 32
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 32
2.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.4 Nội dung nghiên cứu 33
2.5 Phương pháp nghiên cứu 33
2.6 Các biện pháp kĩ thuật áp dụng trong thí nghiệm 34
2.6.1 Biện pháp canh tác thông thường áp dụng cho vụ Đông xuân 34
2.6.2 Biện pháp canh tác SRI 36
2.7 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 38
2.7.1 Xác định khả năng sinh trưởng, phát triển của tập đoàn giống lúa 38
2.7.2 Xác định thành phần sâu bệnh hại trên một số giống thí nghiệm 39
2.7.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống lúa 41
2.7.4 Hiệu quả kinh tế 42
2.8 Phương pháp xử lý số liệu 42
2.9 Diễn biến thời tiết khí hậu 42
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến sự sinh trưởng, phát triển trên một số giống lúa ở Bình Định 44
3.1.1 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến thời gian sinh trưởng, phát triển trên một số giống lúa ở Bình Định 44
3.1.2 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của một số giống lúa thí nghiệm 47
3.1.3.Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến chiều cao một số giống lúa qua các giai đoạn 50
3.1.4 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến màu sắc lá trên một số giống lúa thí nghiệm 54
3.1.5 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến khả năng đẻ nhánh trên một số giống lúa thí nghiệm 56
Trang 53.2 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến sâu bệnh hại trên một số giống lúa thí
nghiệm 60
3.2.1 Tình hình phát sinh gây hại của sâu cuốn lá nhỏ 61
3.2.2 Tình hình phát sinh gây hại của bệnh đạo ôn 63
3.2.3 Tình hình phát sinh bệnh khô vằn 66
3.3 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của một số giống lúa ở Bình Định 70
3.3.1 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống lúa ở Bình Định 70
3.3.2 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến năng suất của một số giống lúa ở Bình Định 73
3.4 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác đến một số chi tiêu về hiệu quả kinh tế trên một số giống lúa tại Bình Định 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
1 Kết luận 79
1.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển 79
1.2 Tình hình sâu bệnh hại chính 79
1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 79
1.4 Hiệu quả kinh tế 80
2 Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 86
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
SRI : System of Rice intensification
FAO : Food and Agriculture Organization
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
SNV : Tổ chức phát triển Hà Lan
BVTV : Bảo vệ thực vật
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SRD : Trung tâm phát triển nông thôn bền vững
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
FIDR : Tổ chức Cứu trợ và phát triển quốc tế
IAE : Viện môi trường nông nghiệp
IPM : Quản lý dịch hại tổng hợp
IRRI : International Rice Research Institute - Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế KHKT : Khoa học kỹ thuật
Ctv : Cộng tác viên
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
RCBD : Randomized complete Block Design/Thiết kế theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên
TLB : Tỷ lệ bệnh
CSB : Chỉ số bệnh
P : Trọng lượng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa Việt Nam từ năm 2002 - 2013 9
Bảng 1.2 Diện tích năng suất, sản lượng lúa tỉnh Bình Định từ năm 2007 - 2014 11
Bảng 1.3 Sự khác biệt giữa biện pháp thâm canh cải tiến (SRI) và biện pháp thông thường ở Trung Quốc 20
Bảng 1.4 Một số kết quả thử nghiệm SRI ở các nước 21
Bảng 1.5 Diện tích nhiễm đạo ôn trên toàn quốc 26
Bảng 1.6 Tình hình sâu bệnh hại trên cây lúa qua các năm 28
Bảng 2.1 Một số giống lúa nghiên cứu 32
Bảng 2.2 Các công thức thí nghiệm 33
Bảng 2.3 Tình hình thời tiết, khí hậu vụ Đông Xuân 2014 – 2015 42
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển của cây lúa qua các giai đoạn 45
Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây 47
Bảng 3.3 Chiều cao cây lúa qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển 51
Bảng 3.4 Màu sắc lá lúa qua các giai đoạn hai biện pháp canh tác lúa 55
Bảng 3.5 Khả năng đẻ nhánh của cây lúa của hai biện pháp cánh tác 57
Bảng 3.6 Thành phần sâu bệnh hại trên ruộng lúa thí nghiệm 60
Bảng 3.7 Tình hình phát sinh gây hại của sâu cuốn lá nhỏ trên hai biện pháp canh tác lúa 61
Bảng 3.8 Tình hình phát sinh gây hại của bệnh đạo ôn trên hai biện pháp canh tác lúa 65
Bảng 3.9 Tình hình phát sinh gây hại của bệnh khô vằn trên hai biện pháp canh tác lúa 67
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của hai biện pháp canh tác lúa đến các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống lúa……….……… 7170
Bảng 3.11 Năng suất hai biện pháp canh tác của một số giống lúa tham gia thí nghiệm 74
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế hai biện pháp canh tác của một giống lúa thí nghiệm 77
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm 34
Hình 2.2 Bảng so màu lá lúa 39
Hình 3.1 Chiều cao cây giai đoạn kết thúc đẻ nhánh 52
Hình 3.2 Chiều cao cây giai đoạn bắt đầu trổ 52
Hình 3.3 Chiều cao cây giai đoạn kết thúc trổ 53
Hình 3.4 Chiều cao cây giai đoạn chín hoàn toàn 54
Hình 3.5 Tổng số nhánh của một số giống tham gia thí nghiệm 58
Hình 3.6 Tổng số nhánh hữu hiệu của một số giống tham gia thí nghiệm 59
Hình 3.7 Tỷ lệ nhánh hữu hiệu của một số giống tham gia thí nghiệm 59
Hình 3.8 Diển biến phát sinh sâu cuốn lá nhỏ trên hai biện pháp canh tác lúa 62
Hình 3.9 Tình hình phát sinh, phát triển bệnh khô vằn trên lúa trên hai biện pháp canh tác lúa 68
Hình 3.10 Năng suất lý thuyết hai biện pháp canh tác của một số giống tham gia thí nghiệm 74
Hình 3.11 Năng suất thực thu hai biện pháp canh tác lúa của một số giống tham gia thí nghiệm 75
Hình 3.12 Mức lãi ròng của hai biện pháp canh tác một số giống lúa thí nghiệm 78
Trang 9MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lúa (Oryza sativa) cùng với ngô và lúa mì là 3 loại cây lương thực chính của thế
giới Ngày nay diện tích và sản lượng lúa của thế giới không ngừng tăng lên, (từ 135 triệu ha năm 2002 lên 165 triệu ha năm 2011 về diện tích, sản lượng tăng lên từ 575 triệu tấn lên 725 triệu tấn) (FAO) có vai trò trong sự phát triển kinh tế của toàn cầu
Để đảm bảo an ninh lương thực và giữ mức xuất khẩu gạo như hiện nay thì sản lượng lúa cả nước phải được duy trì, nâng cao Tuy nhiên, mục tiêu tăng sản lượng bằng con đường mở rộng diện tích canh tác, tăng số vụ/năm không còn tiềm năng khai thác, giải pháp quan trọng nhất là nâng cao năng suất và tăng hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Để giải quyết vấn đề này, cần sự đầu tư có chiều sâu vào việc nghiên cứu, đẩy nhanh công tác triển khai và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào thực tế sản xuất lúa Việc đưa ra các qui trình kỹ thuật thâm canh đạt hiệu quả cao cả về kinh tế và môi trường theo hướng sử dụng tối ưu nguyên, nhiên liệu, tài nguyên và tiết kiệm chi phí sản xuất, ứng phó với biến đổi khí hậu mà thế giới và Việt Nam đang phải đối mặt là rất cần thiết để tiến tới xây dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững
Diện tích trồng lúa ở Bình Định là 101.710 ha (năm 2014) là cây trồng chủ đạo của tỉnh, góp phần đem lại nguồn thu nhập cho người nông dân qua đó góp phần phát triển kinh tế của tỉnh Tuy nhiên, việc trồng lúa còn gặp nhiều khó khăn do nhiều lý do: Gieo giống ở mật độ cao vừa tốn giống; bón phân không đúng lúc, đúng liều, đúng loại; cải tạo đất không được chú ý; sử dụng nước kém hiệu quả; phun thuốc bảo vệ thực vật không hợp lý… dẩn đến năng suất không cao, hiệu quả kinh tế thấp; cùng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn, các đối tượng dịch hại bùng phát gây hại nặng nề Việc sử dụng thuốc hóa học có những ưu điểm như phòng trừ sâu bệnh đạo mức độ gây hại cao, đồng thời dập tắt dịch ở mức độ cao nhưng cũng chứa đựng nhiều nhược điểm đó là làm giảm sự đa dạng sinh học, làm mất cân bằng sinh thái, làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sinh vật có ích [24], [22]
Đa dạng các hình thức canh tác là giải pháp giúp giảm áp lực sử dụng thuốc BVTV và phân bón, nâng cao hiệu quả canh tác, giảm chi phí đầu tư và cải thiện môi trường nông nghiệp do các ảnh hưởng bất lợi từ sản xuất nông nghiệp, ứng dụng hệ thống các biện pháp thâm canh tổng hợp đối với cây lúa cấy (System of Rice intensification - gọi tắt là SRI) đang là một hướng đi đúng và hiệu quả trong sản xuất lúa Biện pháp này có kỹ thuật đơn giản, dễ làm, tiết kiệm giống, nước tưới, công và thuốc Bảo vệ thực vật, làm tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng và đạt hiệu quả kinh tế Trên thế giới, đã có nhiều nước áp dụng kỹ thuật này (Madagasca, Trung
Trang 10Quốc, Indonesia, Campuchia, Srilanka…) đều cho năng suất lúa cao hơn từ 30% - 150% so với đối chứng, hiện nay trên thế giới có hơn 40 quốc gia áp dụng SRI Ở Việt Nam hệ thống canh tác lúa (System of Rice Intensification - SRI) được chương trình IPM Quốc gia, Cục Bảo vệ thực vật hướng dẫn nông dân các tỉnh phía Bắc ứng dụng
từ năm 2003 Từ 2005, SRI được ứng dụng trên quy mô từ 2 - 5 ha, và quy mô hàng chục - hàng trăm ha từ 2007 Vụ Mùa 2010 đã có 22 tỉnh thực hiện, với tổng diện tích ứng dụng trên 286.053 ha (2 vụ Đông Xuân và Mùa), với 781.282 nông dân tham gia (Hà Nội, Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, TT - Huế).Tỉnh Bình Định được Chính phủ Úc tài trợ dự án thông qua “Chương trình hỗ trợ cộng đồng thích
ứng và giảm thiểu rủi ro biến đổi khí hậu” Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) là cơ
quan thực hiện dự án SNV thực hiện dự án này gắn với chương trình xây dựng cánh đồng mẫu lớn của tỉnh Bình Định để hỗ trợ và xây dựng năng lực của các hộ dân sản
xuất lúa gạo thông qua hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI và được triển khai thực hiện
ở Bình Định từ vụ Đông Xuân năm (2012 - 2013) cho năng suất và hiệu quả cao Tuy nhiên cho đến nay ở Bình Định biện pháp SRI lại chưa được người dân biết đến và áp
dụng nhiều Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) đến sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh hại trên một số giống lúa tại Bình Định”
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) đến sự sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa ở Bình Định
- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) đến mức
độ nhiễm sâu bệnh hại trên một số giống lúa ở Bình Định
- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) đến năng suất của một số giống lúa ở Bình Định
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc áp dụng biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) trên một số giống lúa ở Bình Định
YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Bố trí các thí nghiệm đúng, theo dõi, thu thập số liệu một cách khách quan, khoa học trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài
- Xử lý, tổng hợp, đánh giá, phân tích, nhận xét và thảo luận các kết quả thí nghiệm, rút ra được các kết luận đáp ứng mục tiêu của đề tài đã đặt ra
Trang 11Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Lúa là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc ở Châu Á Lúa gạo là loại lương thực chính của người dân Châu Á, giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa
mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ
Cây lúa trồng hiện nay đã trải qua một lịch sử tiến hóa rất lâu dài và khá phức tạp, với nhiều thay đổi rất lớn về đặc điểm hình thái, nông học, sinh lý và sinh thái để thích nghi với điều kiện khác nhau của môi trường thay đổi theo không gian và thời gian Sự tiến hóa này bị ảnh hưởng rất lớn bởi hai tiến trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo
Nguồn gốc cây lúa đã có từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của nhân dân
các nước Châu Á Cây lúa thuộc họ Poaceae, loài Oryza sativa và Oryza glaberrima Loài Oryza sativa là lúa trồng ở châu Á và Oryza glaberrima là lúa trồng ở châu Phi
Ngoài ra, còn có hơn 20 loài lúa dại sống rải rác trên thế giới như Đông Nam Á, Nam
Á, Úc Châu, New Guinea, Phi Châu, Trung và Nam Mỹ Sự phân loại cho cây lúa trải qua một thời gian hơn 200 năm, với rất nhiều tranh luận giữa các nhà nghiên cứu vì không có hệ thống phân loại duy nhất được đặt ra Do đó, có nhiều loài lúa dại được xếp cùng tên hoặc lẫn lộn nhau, tùy theo các nhà nghiên cứu, ngoại trừ hai loài lúa
trồng (O sativa và O glaberrima) và 7 loài lúa dại (O australiensis, O eichingeri, O
latifolia, O minuta, O schlechteri, O ridleyi và O brachyantha) (Nayar, 1973)
Chẳng hạn, loài O spontanea và O perennis được xem như rất gần với lúa trồng O
sativa nên có tên thay đổi rất thường xuyên Loài Oryza dưới dạng spontanea là loài
hàng niên và được xem như một loài độc lập Oryza fatua, hay O sativa var fatua hoặc
O rufipogon (Sampath, 1962) Loài đa niên O perennis được xem như O rufipogon
Griff và loài hàng niên như O nivara Sharma et Shastry
Các giống lúa khác nhau thích nghi với những vùng sinh thái khác nhau Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009), cây lúa thích nghi rất rộng với nhiều điều kiện sinh thái từ vĩ
độ 35oNam – 53oBắc Điều kiện sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây lúa,
nó quyết định loại hình cây lúa, cơ cấu giống lúa, thời vụ gieo cấy, biện pháp canh tác
và hình thành các vùng trồng lúa khác nhau
Đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dày để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy
Trang 13động nhiều dinh dưỡng để nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5 – 7,5) là thích hợp đối với cây lúa
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu Trong phạm vi giới hạn (20 – 30oC), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh Nhiệt độ trên 40oC hoặc dưới 17oC, lúa tăng trưởng chậm lại
Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên 2 phương diện: Cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ) Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa, thể hiện chủ yếu bằng năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu trên đơn vị diện tích đất (lượng bức xạ) Bức xạ mặt trời gồm: Ánh sáng trực xạ (ánh sáng chiếu trực tiếp), ánh sáng phản xạ (ánh sáng phản chiếu), ánh sáng tán xạ (ánh sáng khuyếch tán) và ánh sáng thấu qua… đều có tác dụng nhất định đối với quang hợp của quần thể ruộng lúa Quang kỳ là khoảng thời gian chiếu sáng trong ngày tính từ lúc bình minh đến lúc hoàng hôn Lúa
là cây ngày ngắn, cho nên quang kỳ ngắn điều khiển sự phát dục của cây lúa Nó chỉ làm đòng và trổ bông khi gặp quang kỳ ngắn thích hợp (các giống lúa quang cảm)
Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm Trong mùa mưa ẩm, lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình là 6 – 7 mm/ngày và 8 – 9 mm/ngày trong mùa khô nếu không có nguồn nước khác bổ sung Nếu tính luôn lượng nước thấm rút và bốc hơi thì trung bình 1 tháng cây lúa cần một lượng mưa khoảng 200 mm và suốt vụ lúa 5 tháng cần khoảng 1000 mm
Gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa,
sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỷ
lệ hạt lép, hạt lửng (gạo không đầy vỏ trấu) làm giảm năng suất lúa ở giai đoạn làm đòng và trổ Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá trình trao đổi không khí trong quần thể ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và hô hấp của ruộng lúa góp phần tăng năng suất
Do việc ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đối với các giống lúa như trên nên để xác định được giống tốt cho một vùng sản xuất nào đó cần phải tiến hành khảo nghiệm, gieo cấy thử nghiệm qua một vài vụ sản xuất để đánh giá khả năng thích ứng của giống đó
Hoạt động chính của người nông dân là sản xuất nông nghiệp.Trong lĩnh vực trồng trọt đối tượng cần nghiên cứu là một biện pháp canh tác hợp lý trên những giống cây trồng khác nhau…Năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng ngoài chịu tác động của các yếu tố tự nhiên thì trình độ canh tác, biện pháp kỹ thuật, khả năng đầu
tư, thâm canh cũng có tác động rất lớn… Việc bón phân, tưới nước và bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn
Trang 14năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh hại, tạo tiền đề cho năng suất cao Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa hiện nay Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về phương pháp cấy chưa nhiều và thiếu các nghiên cứu
hệ thống vấn đề này
Do vậy đòi hỏi phải có biện pháp canh tác hợp lý đối với những giống lúa khác nhau giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh tốt Với mỗi biện pháp canh tác trên các giống khác nhau cần có các nghiên cứu tìm ra phương pháp canh tác hợp lý trên các giống khác khau
Biện pháp thâm canh lúa cải tiến (SRI) là một phương pháp canh tác giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh cho năng suất và hiệu quả cao Một số nước có nền nông nghiệp gắn với công nghệ phát triển như: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka,…Ngoài việc tạo ra những giống có năng suất cao, người ta còn chú trọng đến kỹ thuật thâm canh để các các giống phát huy được thế mạnh: Kỹ thuật làm mạ, kỹ thuật cấy, kỹ thuật bón phân, kỹ thuật điều tiết nước, công tác Bảo vệ thực vật
- Kỹ thuật làm mạ: Tạo cho cây mạ trong điều kiện thuận lợi nhất trước khi cấy
Mạ non là điều kiện quan trọng trong thâm canh giống lúa
- Kỹ thuật cấy: Cấy 1 dãnh, mật độ cấy khác nhau tùy theo điều kiện thâm canh, tập quán canh tác Khoảng cách giữa các hàng sông và hàng tay khác nhau thông thường cấy theo hình chữ nhật để tận dụng ánh sáng cho quá trình quang hợp của cây lúa
- Kỹ thuật bón phân: Nhiều tài liệu cung cấp thông tin cho các loại phân bón làm cho đất tơi xốp, thoáng khí Chú trọng việc bón phân vô cơ (Urê) theo bảng so màu lá lúa
- Kỹ thuật điều tiết nước: Vai trò của nước rất quan trọng trong đời sống cây lúa, các nhà khoa học chú trọng đến khâu điều tiết nước, tùy từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa mà cung cấp lượng nước phù hợp đảm bảo cho cây lúa phát triển tốt Lượng nước thích hợp nhất từ giai đoạn sau cấy đến khi phát triển đòng là ruộng đủ
ẩm cho đất giúp cho lúa đẻ khỏe, cứng cây, rễ ăn sâu xuống dưới có thể hút dinh dưỡng ở tầng sâu hơn
- Công tác BVTV: Các đối tượng dịch hại chủ yếu như sâu đục thân bướm hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu…
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Ngày nay với việc áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất lúa đạt được nhiều thành tựu đáng kể giúp hiệu quả kinh tế và năng suất ngày càng tăng, trong
đó có việc nghiên cứu và thử nghiệm biện pháp canh tác lúa SRI, nhiều giống mới được
Trang 15lai tạo ra có tiềm năng năng suất cao Đến nay hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI đã được nghiên cứu, triển khai thành công ở 40 quốc gia trên thế giới SRI được coi là một phương pháp tiếp cận theo hướng nông nghiệp sinh thái, có nhiều ưu thế so với nhiều phương pháp khác ở địa phương: Lượng giống giảm từ 50 – 90%, phân đạm giảm 20 – 25%, quan trọng hơn là năng suất tăng bình quân từ 13 – 29% SRI tiết kiệm hơn 40% nước tưới, 30% phân hóa học, tăng khả năng chống chịu của cây lúa liên quan đến biến đổi khí hậu như chống đổ ngã, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, do đó đã hạn chế sử dụng thuốc BVTV Việc rút cạn nước ruộng góp phần làm hạn chế khí nhà kính phát thải gây hiệu ứng nhà kính Như vậy SRI đảm bảo được cả 4 lợi ích: Kinh tế, xã hội, môi trường và biến đổi khí hậu [55].
Ở Việt Nam, trong bối cảnh diện tích trồng lúa ngày càng giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, những thách thức do biến đổi khí hậu gây ra tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp nhưng phải đảm bảo an ninh lương thực đòi hỏi phải có biện pháp kỹ thuật hợp lý để tăng năng suất tăng hiệu quả đồng thời ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu Biện pháp canh tác SRI qua thử nghiệm thành công trên nhiều nước trên thế giới Ở nước ta biện pháp SRI đã được Cục bảo vệ thực vật và Đại học Thái nguyên triển khai từ năm 2003 tại các tỉnh phía Bắc Cho đến nay có khoảng 1,8 triệu
hộ với 394.894 ha làm SRI, có 23 tỉnh, SRI đang có triển vọng rất tốt tại Việt Nam (Cục BVTV, 2014) Bộ NN&PTNT đã công nhận SRI là tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc (15/10/2007), và trao giải thưởng bông lúa vàng Việt Nam năm 2012
Hiện nay, SRI đã được rất nhiều tổ chức nghiên cứu và chuyển giao như Cục bảo vệ thực vật, Đại học Thái Nguyên, tổ chức Oxfam, tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Trung tâm phát triển nông thôn bền vững – SRD, tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế (FIDR), Viện môi trường nông nghiệp (IAE), Viện cây lương thực và thực phẩm (FCRI), Sở NN&PTNT Quảng Nam và các chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Kạn, Hà Nội, Yên Bái, Nghệ An , Hà Tĩnh
Các tổ chức này đã triển khai SRI tại nhiều nơi, có nhiều kinh nghiệm tiếp cận phong phú và đa dạng Các nghiên cứu chuyên sâu về lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và sự phù hợp của SRI đối với điều kiện sinh thái, xã hội và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã được thực hiện Những kinh nghiệm này hết sức quý báu nhưng ít
có điều kiện chia sẻ và phổ biến rộng rãi [55]
Biện pháp canh tác SRI ở Bình Định được tổ chức SNV giúp đở thực hiện từ năm 2012 ở nhiều địa phương trong tỉnh thu được nhiều kết quả góp phần tăng năng suất, hiệu quả kinh tế Hiện nay biện pháp SRI được đang được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành mở rộng cả về quy mô và diện tích sản xuất ở nhiều địa phương trong tỉnh
Trang 161.3 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Theo thống kê của FAO (2013), năm 2011 tổng diện tích canh tác lúa trên toàn thế giới là 164,12 triệu ha, năng suất bình quân đạt 4,40 tấn/ha, sản lượng đạt
722,76 triệu tấn
Châu Á có diện tích trồng lúa lớn nhất, chiếm 88,51% tổng diện tích trồng lúa của toàn thế giới (145,27 triệu ha), kế đến là châu Phi 6,81% (11,17 triệu ha), châu Mỹ 4,16% (6,88 triệu ha), châu Âu 0,44% (0,73 triệu ha), châu Đại Dương 0,08 triệu ha chiếm tỷ trọng không đáng kể Về diện tích lúa Ấn Độ là nước đứng đầu với 44,1 triệu
ha, kế đến là Trung Quốc với 30,31 triệu ha, Indonesia 13,20 triệu ha, Bangladesh 12,00 triệu ha, Thái Lan 11,63 triệu ha và Việt Nam 7,65 triệu ha
Về sản lượng, Trung Quốc là nước dẫn đầu với 202,66 triệu tấn, kế đến là Ấn Độ với 155,70 triệu tấn, Indonesia 65,74 triệu tấn, Bangladesh 50,63 triệu tấn và Việt Nam 42,33 triệu tấn Mặc dù sản lượng của Trung Quốc đứng đầu thế giới nhưng về năng suất,
Ai Cập là nước đứng đầu 9,57 tấn/ha, kế đến là Mỹ 7,92 tấn/ha, Trung Quốc 6,69 tấn/ha
và Việt Nam là 5,53 tấn/ha, cao hơn mức bình quân của thế giới (4,40 tấn/ha)
1.3.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống từ xưa với hơn 4.000 năm lịch
sử, là cây trồng thân thiết lâu đời nhất của nhân dân ta, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là hình ảnh không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam Cây lúa, hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gủi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt gạo
ở dạng này hay dạng khác [8]
Trước đây, cây lúa, hạt gạo chỉ có thể đem lại sự no đủ cho con người thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành một thứ hàng hoá có giá trị
Qua các giai đoạn lịch sử cải thiện đời sống của nhân dân cho thấy quan tâm của Nhà nước đối với sản xuất lúa gạo Trước năm 1975, năng suất gạo đạt đưới 2,2 tấn/ha, diện tích trồng lúa dưới 5,0 triệu ha Năng suất bình quân trong cuối thập niên
1970 giảm sút khá nghiêm trọng do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai
và sâu bệnh, với cơ chế quản lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp đặc biệt là những năm 1978 – 1979 Bước sang thập niên 1980, năng suất lúa tăng dần do các công trình thuỷ lợi trong cả nước, đặc biệt ở ĐBSCL Cơ chế quản lý nông nghiệp thoáng hơn với
Trang 17chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp Năm 1982, nước ta đã chuyển
từ nước phải nhập khẩu gạo hàng năm sang nước tự túc gạo Từ năm 1975 đến năm
1990, trong vòng 15 năm diện tích lúa tăng gần 1 triệu ha đạt 6,0 triệu ha với năng suất tăng gần 1 tấn/ha đạt 3,2 tấn/ha Kể từ lúc gạo Việt Nam tái nhập thị trường thế giới năm 1989 thì năm 1990 đã đứng vị trí xuất khẩu gạo thứ 4 sau Thái Lan, Pakistan và
Mỹ, đến năm 1991 lên ở vị trí thứ 3 và tiếp tục lên hạng vào năm 1995 ở vị trí xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới Từ năm 1990 đến 2005, cũng trong vòng 15 năm nhưng diện tích lúa tăng gần 1,3 triệu ha đạt 7,3 triệu ha với năng suất tăng gần 1,7 tấn/ha đạt 4,9 tấn/ha và mức gia tăng năng suất vẫn tiếp tục cải thiện [18]
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa Việt Nam từ năm 2002 - 2013
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tạ/ ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 18năng suất đạt 55,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha Trong sản xuất lúa, diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân đạt 3.140,7 nghìn ha, tăng 16,4 nghìn ha so với vụ Đông Xuân trước; sản lượng đạt 20,2 triệu tấn, giảm 54,4 nghìn tấn do năng suất đạt 64,4 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha Diện tích gieo trồng lúa Hè Thu đạt 2.146,9 nghìn ha, tăng 15,1 nghìn ha so với
vụ trước; sản lượng đạt 11,2 triệu tấn, giảm 81,6 nghìn tấn do năng suất chỉ đạt 52,2
tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha [54]
Từ bảng 1.1 ta thấy rằng hơn 10 năm qua diện tích sản xuất và năng suất lúa của nước ta tăng liên tục với diện tích lúa tăng hơn 2 triệu ha, năng suất đạt 45,9 tạ/ha vào năm 2002 tăng lên 56,3 tạ/ha vào năm 2012, nhờ vậy mà sản lượng lúa của cả nước tăng đạt hơn 43,6 triệu tấn và đứng thứ tư thế giới, là một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới sau Thái Lan
Theo thống kê của FAO năm 2008, Việt Nam có tổng sản lượng lúa hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 (5,2 triệu tấn) sau Thái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lượng xuất khẩu gạo thế giới, 22,4% sản lượng xuất khẩu gạo của Châu Á, mang lại lợi nhuận 1275,9 tỷ USD năm 2006, xuất khẩu gạo năm 2013 đạt 6,61 triệu tấn với trị giá 2,95 tỷ USD Như vậy, so với cùng kỳ 2012, khối lượng gạo xuất khẩu giảm 17,4% về khối lượng và giảm 19,7% về giá trị [18]
1.3.3 Tình hình sản xuất lúa ở Bình Định
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải nam trung bộ có địa hình tương đối phứt tạp thấp từ Đông sang Tây, khí hậu có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa do sự phứt tạp của địa hình nên vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ rất nhiều Bình Định
có số dân 1.501.800 người (năm 2012) chủ yếu làm nghề nông, diện tích sản xuất nông nghiệp là 82.887 ha trong đó diện tích lúa 53.156 ha
Trong sản xuất nông nghiệp thì cây lúa có vị trí rất quan trọng, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Qua bảng 1.2 ta thấy diện tích sản xuất lúa của Bình Định trong những năm gần đây sụt giảm từ 111,9 nghìn ha (năm 2007) còn 106,3 nghìn ha (năm 2014) do nhiều nguyên nhân khác nhau: Chuyển đổi từ 3 vụ lúa/năm sang 2 vụ lúa/năm do vậy diện tích sản xuất vụ mùa sụt giảm, chuyển đổi cơ cấu cây trồng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu…Trái ngược với sự sụt giảm về diện tích thì năng suất sản lượng lúa ngày càng tăng, tăng từ 579,2 nghìn tấn (năm 2007) lên 649,6 nghìn tấn (năm 2014) cao nhất 651,7 nghìn tấn (năm 2012) Nguyên nhân do các giống cây trồng mới và tiến bộ
kỹ thuật được nhân rộng, kinh nghiệm chỉ đạo điều hành sản xuất của ngành nông nghiệp và các địa phương quan tâm hơn trong thâm canh cùng với việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Cùng với những mặt tích cực trên thì việc sản xuất lúa ở Bình Định đang đối mặt với những khó khăn: Ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây ra,
Trang 19nhiều nông dân chưa nắm bắt được những tiến bộ kỹ thuật, nhiều nông dân ít quan tâm đến đồng ruộng; điều kiện thời thiết khí hậu địa hình thuận lợi tạo điều kiện cho các loại sâu bệnh gây hại làm thiệt hại đáng kể đến năng suất
Bảng 1.2 Diện tích năng suất, sản lượng lúa tỉnh Bình Định
từ năm 2007 - 2014
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích ( nghìn ha )
Năng suất ( tạ/ ha )
Sản lượng ( nghìn tấn )
(Nguồn: Số liệu Cục thống kê tỉnh Bình Định)
1.4 Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên thế giới
Kỹ thuật SRI được phát triển ở Madagascar vào đầu những năm 1980 và hiện
đang được phổ biến bởi tổ chức phi chính phủ (NGO) Association Tefy Saina, kỹ thuật này giúp tăng năng suất lúa một cách bền vững Năng suất trung bình theo SRI khoảng
8 tấn/ha, gấp hơn 2 lần năng suất trung bình hiện nay của thế giới (3,6 tấn/ha)
Sau khi bị lãng quên trong 10 năm, những đánh giá một cách có hệ thống về SRI, được thực hiện bởi Fr Henryde Laulanie, S.J (1993), được bắt đầu vào năm 1994 Những đánh giá đầu tiên bên ngoài Madagascar đã được thực hiện tại Đại Học Nông Nghiệp Nanjing (Nanjing Agricultural University) năm 1999 và đã đạt được năng suất 9,2 – 10,5 tấn/ha, chỉ sử dụng khoảng 1/2 lượng nước tưới như bình thường Năm 2000,
Trang 20Cục nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Indonesia đã đạt được năng suất 9,5 tấn/ha, trong những thử nghiệm SRI vào mùa mưa tại trạm Sukamandi Từ đó về sau việc đánh giá sử dụng các biện pháp SRI đã và đang được trải rộng nhanh chóng Hiện nay biện pháp SRI được hơn 30 quốc gia trên thế giới áp dụng và được đánh giá là một phương pháp canh tác tiên tiến và có hiệu quả về kinh tế và môi trường
Trung Quốc đã áp dụng phương pháp thâm canh lúa cải tiến (SRI) có sự khác biệt
so với phương pháp thâm canh cổ truyền như sau:
- Mật độ cấy của phương pháp cải tiến thấp hơn phương pháp truyền thống khoảng 50%, cấy ở khoảng cách rộng cho phép rễ phát triển tốt, tăng khả năng đẻ nhánh, giảm sâu bệnh
- Bổ sung dinh dưỡng cho đất, tốt nhất là dạng hữu cơ như phân trộn, điều này cải thiện độ màu mở của đất và hoạt động của vi sinh vật
Kết quả biện pháp canh tác SRI có khả năng đẻ nhánh cao hơn, số nhánh hữu hiệu cao hơn so với phương pháp truyền thống
Khi thử nghiệm phương pháp thâm canh lúa cải tiến trên giống Liangyoupeijiu tại viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Anqinh ở Anqing, Anhiu cấy ở mật độ 9 khóm/m2, kết quả năng suất 11,25 tấn/ha cao hơn phương pháp truyền thống 12,3%
1.4.2 Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến (SRI) ở Việt Nam
Ở Việt Nam, SRI đến với nông dân 3 tỉnh Hòa Bình, Hà Nội, Quảng Nam qua các hoạt động lồng ghép IPM (Quản lý dịch hại tổng hợp) do Cục bảo vệ thực vật triển khai Thời gian sau đó SRI nhận được sự ủng hộ và tham gia của nhiều chương trình, dự án Quốc tế, của các tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước Năm
2007 với sự hỗ trợ của tổ chức Oxfam, Chi cục BVTV Hà Tây (cũ) đã phối hợp với Hợp tác xã nông nghiệp Đại Nghĩa triển khai mô hình Cộng đồng ứng dụng SRI Kết quả của
mô hình là cơ sở quan trọng để Bộ NN và PTNT ra Quyết định số 3062/QĐ-BNN-KHCN ngày 15/10/2007 công nhận SRI là tiến bộ kỹ thuật và khuyến khích áp dụng rộng rãi mô hình, trong đó các tỉnh có thể tiếp cận ngân sách hỗ trợ mở rộng mô hình Đến năm 2011
cả nước có 22 tỉnh áp dụng biện pháp canh tác thâm canh lúa cải tiến với số nông dân áp dụng là 1.070.384 người với diện tích là 185.065 ha Theo Cục Bảo vệ thực vật đến năm
2014 có 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ứng dụng canh tác SRI Ngoài ra một
số tổ chức phi chính phủ quốc tế hỗ trợ cho nông dân nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long
áp dụng SRI Tổng diện tích áp dụng SRI trên toàn quốc là 394.894 ha, trong đó áp dụng lúa gieo thẳng 42.403 ha, canh tác SRI từng phần 361.930 ha, SRI toàn phần là 32.964 ha
Trang 21Đến nay diện tích sử dụng SRI toàn phần chưa cao do nhiều nguyên nhân khác nhau trong
đó có điều kiện hạ tầng, kỹ thuật tưới chưa được quan tâm đầu tư xây dựng
Ở Bình Định, năm 2012 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định đã ký kết biên bản ghi nhớ với tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) về thỏa thuận quan hệ hợp tác trong chương trình sản phẩm nông lâm nghiệp, và vệ sinh bền vững Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan thực hiện dự án “Gieo hạt giống cho sự thay đổi – nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng thông qua sản xuất lúa gạo bền vững” giai đoạn 2012 - 2014 Dự án do Chính phủ Úc tài trợ thông qua
“Chương trình hỗ trợ cộng đồng thích ứng và giảm thiểu rủi ro biến đổi khí hậu” Tổ
chức Phát triển Hà Lan SNV là cơ quan thực hiện dự án SNV thực hiện dự án này gắn với chương trình xây dựng cánh đồng mẫu lớn của tỉnh Bình Định để hỗ trợ và xây dựng năng lực của các hộ dân sản xuất lúa gạo thông qua hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI và được triển khai thực hiện ở Bình Định từ vụ Đông Xuân năm 2012 - 2013 tại
xã Tây An - huyện Tây Sơn và xã Phước Sơn huyện Tuy Phước với diện tích 87,5 ha
có 534 hộ nông dân tham gia
1.5 Những nghiên về sâu bệnh hại và biện pháp canh tác SRI trên cây lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại và biện pháp canh tác SRI trên cây lúa trên thế giới
Theo tính toán của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO), hằng năm sâu bệnh làm mất từ 15 - 30% tổng sản lượng nông nghiệp trên thế giới, ở nhiều nước tỷ lệ này cao hơn có trường hợp lên đến 50% Riêng đối với lúa và ngũ cốc hàng năm trên thế giới thiệt hại do sâu bệnh gây ra lên đến 100 triệu tấn, số lương thực này
đủ để nuôi 450 triệu người ăn trong 1 năm, sâu bệnh là một trong những nguyên nhân gây nên thiệt hại trên [4]
1.5.1.1 Về sâu hại
Trên thế giới hiện nay sâu hại trở thành vấn đề nan giải và gây thiệt hại lớn đối với việc trồng lúa Thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn ở châu Á trung bình là 34,4% ( Cramer,1967), trong thí nghiệm ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế là khoảng 40% (Heinrichs, 1994) Sâu hại lúa là những loại côn trùng phổ biến và đa dạng về loài và
số lượng, côn trùng hiện nay có khoảng 10 bộ và hơn 1 triệu loài [31] thực tế thì số
lượng côn trùng gấp 4 - 5 lần Có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về côn trùng và
côn trùng trở thành đề tài thú vị để nghiên cứu Bắt đầu từ Aistore (238 – 322 trước công nguyên), Ông đã mô tả và sắp xếp thế giới động vật thành 2 nhóm: Bọn có máu
và bọn không có máu
Trang 22Trải qua thời gian dài từ năm 328 trước công nguyên cho tới nay có rất nhiều khoa học nghiên cứu về côn trùng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể như thế kỷ XVII thế giới ghi nhận công trình giải phẩu tằm của nhà bác học Manpighi (1628 – 1694) người Ytalia, thế kỷ XVIII ghi nhận tác phẩm “ Hệ thống tự nhiên” của nhà bác học Thụy Điển Linnê (năm 1707 – 1778) trong tác phẩm này các vấn đề về côn trùng học giành vị trí đáng kể đã xây dựng được hệ thống 7 loài côn trùng Đến thế kỷ XIX, côn trùng đã trở thành một môn khoa học đây là khoảng thời gian đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nhiều ngành khoa học, đến thế kỷ XX, ngành côn trùng học thực nghiệm ra đời
Năm (1983) K.E.Mueller, Viện lúa quốc tế IRRI công bố trong tác phẩm “Những thiệt hại trên lúa nhiệt đới” với 25 loài sâu hại quan trọng thường xuyên xuất hiện trên đồng ruộng như: Sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu keo, bọ xít đen, sâu năn, sâu cuốn lá phân bố rộng rãi trên các nước trồng lúa ở châu Á Trong cuốn “Hướng dẫn tổng hợp phòng trừ dịch hại trên lúa ở Châu Á nhiệt đới” (1985) của W.H.Reisig, K.Moody, cho rằng có hơn 100 loài côn trùng gây hại xuất hiện trên ruộng lúa nước, trong đó có những loài quan trọng như: Rầy nâu hại lúa, sâu cuốn lá nhỏ, bọ trĩ, sâu keo, bọ xít đen, rầy xanh, dế dũi, châu chấu, sâu phao Trong đó, sâu cuốn lá nhỏ có 4 loài phân
bố ở các vùng lúa Châu Á phổ biến nhất là loài Cnaphalocrosis medinalis, sâu đục
thân lúa có 6 loài nhưng gây hại nặng nhất là sâu đục thân bướm 2 chấm, thiệt hại do loài này gây ra rất lớn từ 20 – 30% thậm chí lên đến 90% hoặc mất trắng hoàn toàn Với vấn đề sâu hại lúa cuộc cách mạng xanh (thập kỷ 70) có vai trò rất quan trọng đã giúp nhiều người nông dân trên thế giới thoát nghèo và vươn lên làm giàu nhờ sử dụng thuốc trừ sâu trên ruộng lúa, nông dân sử dụng thuốc trừ sâu trên diện rộng đã tiêu diệt nhiều loài sâu hại, các quốc gia sản xuất nông nghiệp trên thế giới có hướng phát triển nông nghiệp tốt hơn Nhưng giờ đây IRRI cho rằng nông dân cần áp dụng những biện pháp canh tác thân thiện với môi trường hơn
Sâu cuốn lá nhỏ có phạm vi phân bố rất rộng Châu Á là Châu lục có diện phân bố sâu cuốn lá nhỏ tập trung nhất, tất cả các nước Châu Á đều xuất hiện loài sâu hại này Điển hình có thể dễ thấy như Trung Quốc, Ấn Độ, Apganixtan, Thái Lan, Bănglađét, Butan, Brunay, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia Ở châu Đại dương sâu cuốn
lá nhỏ gây hại ở quần đảo Xamoa, đảo Carolin, Xolomon, Úc Như vậy sâu cuốn lá nhỏ phân bố chủ yếu là vùng Nam và Đông nam châu Á, thuộc những nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và cũng là nơi có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới, gần đây sâu cuốn lá nhỏ trở thành loài dịch hại chính trên cánh đồng lúa ở Chia-Nan [39] Sâu cuốn
lá nhỏ là một trong những loài sâu hại chính ở nhiều vùng trồng lúa trên thế giới, chúng
đã được nghiên cứu từ nhiều năm trở lại đây, trong đó chủ yếu là loài Cnaphalocrocis
medinalis Guenee, đây là loài có phổ phân bố rộng Bản đồ phân bố của sâu cuốn lá nhỏ
được CIE thể hiện năm 1987, sau đó Khan và cộng sự bổ sung rồi được Barrion hoàn
Trang 23chỉnh [37],[42] Biện pháp canh tác là một biện pháp có ảnh hưởng lớn đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ có mặt trên đồng ruộng Cần chú ý tiêu diệt kí chủ phụ quanh bờ là nơi cư trú của chúng mỗi khi chuyển vụ, là nguồn sâu quan trọng để chuyển sang vụ sau, cỏ bấc là một trong những cây kí chủ chính để sâu cuốn lá nhỏ tồn tại và phát triển Những ruộng lúa gần mương máng nhiều cỏ bấc thì có mật độ sâu cao hơn những nơi khác Phương pháp bón phân hợp lý, cân đối NPK, đặc biệt không nên bón phân đạm quá muộn (tức là không nên bón đạm sau khi lúa bước sang giai đoạn tượng khối sơ khởi), vì nếu bón đạm muộn thì sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng cây lúa, bộ lá xanh non, thu hút trưởng thành đến tập trung và đẻ trứng, yếu tố này rất thuận lợi cho sâu cuốn lá nhỏ phát sinh và gây hại
Bằng các công thức bón lót toàn bộ hay chỉ 1/2 lượng bón lót và 1/2 lượng còn lại bón thúc hoặc bón vãi toàn bộ vào ngày thứ 15 sau cấy hoặc bón toàn bộ bằng cách
vo viên dúi gốc vào ngày thứ 15 sau cấy hoặc là 1/2 lượng đạm bón vào ngày thứ 15 sau cấy và 1/2 lượng còn lại vào ngày thứ 35 Tất cả các công thức trên đều được theo dõi ở 2 mức phân bón là 76 kg N/ha và 150 kg N/ha, kết quả cho thấy tất cả các công thức bón lót đều bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng hơn sau đó mới đến bón thúc [28]
Rầy nâu (Nilapavarta lugens Stal): Từ những năm 70 của thế kỷ trước, rầy nâu
trở thành một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới Nhiều đợt dịch rầy đã xảy ra trên quy mô rộng lớn chưa từng thấy ở nhiều nước như Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên, Nhật Bản… gây tổn thất nặng nề về kinh tế Nhiều tác giả, khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón thừa phân hóa học trên ruộng lúa đến các loại rầy cho thấy: Tỷ lệ sống sót cao hơn, gia tăng quần thể nhiều
hơn (Kạumura et al., 1995; Preap et al., 2001) và khả năng đẻ trứng nhiều hơn (Preap
et al., 2001; Wuang và Wu, 1991), xu hướng bùng phát thành dịch cao hơn (Hosamani
et al., 1986; Li et al., 1996, Uhm et al., 1985) Khi nghiên cứu tác động của các điều
kiện bên ngoài đến rầy nâu cho thấy rằng: Việc bón nhiều phân đạm có ý nghĩa cao hơn là thích nghi sinh thái (Cook và Denno, 1994) Hơn nữa, phần lớn tính thích nghi của rầy có thể thay đổi theo hướng gia tăng ở các thế hệ tiếp theo nếu sử dụng chế độ
phân đạm cao liên tiếp (Lu et al., 2004) Chính vì vậy việc nghiên cứu chế độ bón
phân hợp lý cho cây lúa cũng là biện pháp nhằm hạn chế sự gây hại của các loại rầy hại lúa, trong đó có rầy lưng trắng [52] Bên cạnh đó, vấn đề độc canh cây lúa trong thời gian dài làm cho chế độ dinh dưỡng trong đất bị mất cân đối, đất nghèo dinh dưỡng do đó đòi hỏi phải cung cấp một lượng lớn phân bón để phục hồi đất Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón nhiều, không cân đối đặc biệt là thừa đạm, làm cho ruộng lúa phát triển rậm rạp, xanh tốt tạo nguồn thức ăn tốt cho rầy phát triển Nhiều tác giả đã giải thích được ảnh hưởng của phân đạm đến rầy hại lúa, họ cho rằng phân
đạm đã tạo ra một cấu trúc tán lá dày (Anon, 1975; Nishida, 1975, Zhu et al., 2004) và
cung cấp cho rầy một tiểu môi trường sống thuận lợi Kết quả nghiên cứu của IRRI
Trang 24cho thấy, sử dụng hàm lượng đạm cao thì mật độ rầy/bụi lúa cũng cao hơn Cheng (1971) đã nghiên cứu rằng, rầy nâu sống trên cây có lượng phân đạm nhiều thì lượng nước bọt thải ra nhiều hơn, sức sống tốt hơn và phát triển quần thể nhanh hơn khi sống trên những cây thiếu đạm, và rầy cái được nuôi trong môi trường thừa đạm cũng mắn
đẻ hơn (Kalode, 1974) [48], [49], [50]
1.5.1.2 Về bệnh hại
Nghiên cứu khi bón thiếu lượng phân kali cũng gắn liền với bệnh đốm nâu
(Helminthosporium oryzae) và sọc nâu (Cercospora oryzae) và nhất là khi thiếu kali
và dư thừa phân đạm thì hai loại bệnh này bộc phát mạnh Một dạng mới phát hiện phổ biến gần đây ở Malaysia, Indonesia và Philippines là bệnh sọc đỏ lá (red stripe) hay còn gọi là vàng lá chín sớm, tuy đến nay vẫn chưa xác định được tác nhân gây bệnh, nhưng theo các chuyên gia dinh dưỡng đây cũng là dạng bệnh xuất phát từ sự mất cân bằng dinh dưỡng trong đất [13]
Bệnh vàng lùn lúa (rice yellow stunt disease) được phát hiện đầu tiên ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) năm 1957 và được công bố chính thức năm 1965 (Fang et al 1994) Cũng trong năm này, một bệnh trên lúa gọi là bệnh vàng tạm thời (rice transito-
ry yellowing disease) đã gây thành dịch ở Đài Loan (Chiu et al., 1965) và virus gây bệnh được gọi là RTSV (Rice transitory yellowing virus) Tại Việt Nam, bệnh “vàng tạm thời” tại Đài Loan đã được dịch là bệnh “vàng lá di động”
Theo Abe (1911), Konishi (1933), nấm đạo ôn sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 25
-280C, ẩm độ không khí trên 93% Nghiên cứu về khả năng kháng đạo ôn của một số giống lúa, có nhiều tác giả đã kết luận: Đặc tính chống bệnh của cây lúa tăng thì tỷ số SiO2/N tăng (Sakomoto và Abe, 1933) Giống lúa chống bệnh có chứa nhiều Polyphe-non hơn ở các giống nhiễm bệnh (Wakimoto và Yoshii, 1988) Trong giống lúa chống bệnh sẽ sản sinh ra hàm lượng hợp chất Fitoalexin có tác dụng ngăn cản sự phát triển của nấm trong cây [16] Bệnh đạo ôn chịu ảnh hưởng lớn bởi tác động của các nhân tố khí hậu thời tiết, do vậy các yếu tố này được ứng dụng nhiều trong dự tính dự báo bệnh Đã có nhiều nghiên cứu về phương pháp dự tính dự báo bệnh đạo ôn dựa vào các thông tin về nấm bệnh, cây ký chủ và điều kiện môi trường Một số phương pháp
đơn giản trong dự báo được (Arunyanart et al, 1982) sử dụng là đặt bẫy bắt bào tử, bẫy
đặt cao 80 cm ở ngoài đồng trong thời gian sinh trưởng của cây lúa, khi số lượng bào
tử bắt được lớn hơn 5 trên một tấm lam kính thì bệnh đạo ôn sẽ xuất hiện ở 7 - 15 ngày
sau Để dự báo số lượng vết bệnh có thể xuất hiện gây hại trên cây lúa, (Kim et al
1975) đã xây dựng lên một phương trình tương quan giữa số vết bệnh trên lá với số
bào tử nấm bắt được trên bẫy và thời gian lá lúa bị ướt El (Rafaei,1977) cũng đưa ra
phương trình tương quan dự báo số vết bệnh trên mạ dựa vào thời gian có sương mù
và số bào tử nấm có trong một lít không khí Koshimzu (1983, 1988) [44], đã đưa ra
Trang 25một mô hình dự báo bệnh đạo ôn có tên là BLASTAM Phần mềm BLASTAM sử dụng các yếu tố khí hậu thời tiết và có thể chỉ ra khi nào thì nó là điều kiện thuận lợi nhất cho bệnh phát triển
Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani Palo): Là một bệnh gây hại lớn trong nông
nghiệp và là bệnh nghiêm trọng thứ 2 sau đạo ôn Bệnh được phát hiện ở Nhật Bản (Miyake, 1910 và Sawada, 1912) và một số nước khác Địa bàn phân bố của bệnh khá rộng ở tất cả các vùng trồng lúa Châu Á và các châu lục khác Khi bệnh phát triển lên đến lá đòng có thể làm giảm năng suất lúa từ 20 – 25% (Hori, 1969) Theo Chein và Uchino (1963) sự phát triển của bệnh có liên quan nhiều đến tốc độ nước trên đồng ruộng và chế độ phân bón Bón nhiều đạm trong giai thúc đòng sẽ làm bệnh dễ phát sinh và phát triển mạnh Việc bón phân cân đối là điều kiện cần thiết để giúp cây sinh trưởng phát triển tốt và chống chịu sâu bệnh, ví dụ khi bón phân kali sẽ làm tăng khả năng chống chịu không chỉ với điều kiện bất lợi của thời tiết mà còn tăng khả năng kháng sâu bệnh Theo Hsieh, Wu và Shian, 1965 cho rằng: Phản ứng của các giống lúa đều nằm trong phản ứng từ nhiễm nặng đến tương đối chống chịu, chưa có giống nào chống chịu cao Hiện nay vẫn chưa tìm được giống lúa nào có thể kháng được bệnh khô vằn [16]
1.5.1.3 Những thiệt hại về năng suất do sâu bệnh hại gây ra trên lúa
Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae): Ở Nhật Bản, từ năm 1953 - 1960 thiệt hại
hàng năm do bệnh đạo ôn gây ra là 2,89% so với tổng sản lúa hàng năm mặc dù đã có nhiều nổ lực trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ bệnh đạo ôn Năm
1988 dịch bệnh đạo ôn đã gây hại nặng ở vùng duyên hải phía bắc Nhật Bản, tổng thiệt hại ở quận Fukushima là 24%, có nơi thiệt hại năng suất lúa lên đến 90%
Ở Philippin, năng suất lúa bị giảm 90% ở một số nơi, ở tỉnh Bicol và tỉnh Leyte thiệt hại từ 50 – 60% vào năm 1962 và 1963
Ở Liên Xô trong các thí nghiệm xác định tác hại của bệnh đạo ôn Potkin, (1983) [5] cũng thấy ở các mức độ bị bệnh với chỉ số cấp bệnh: 0%; 25%; 33%; 42%; 63%; 75%; 100%, đã làm giảm năng suất ở mức độ 0 - 22% đối với dạng đạo ôn lá, từ
0 - 64% đối với đạo ôn đốt thân, từ 0 - 78% đối với đạo ôn cổ bông
Ở Nam Triều Tiên năm 1989 cũng có báo cáo về thiệt hại do bệnh đạo ôn gây
ra ở mức 4,2% năm 1978 và 3,9% năm 1980
Bệnh “vàng lùn” hay bệnh “vàng tạm thời” đã từng gây thành dịch tại nhiều tỉnh phía nam trong những năm 60 và 70 như Đài Loan (1960 – 1962, 1973 – 1980), các tỉnh phía nam sông Dương Tử như Quảng Đông (1964 - 1966, 1979), Phúc Kiến (1966, 1969, 1973), Chiết Giang (1970 – 1973) (Ou, 1985; Hibino, 1996)
Trang 26Rầy nâu (Nilapavarta lugens Stal): Từ những năm 70 của thế kỷ trước, rầy nâu
trở thành một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới Nhiều đợt dịch rầy đã xảy ra trên quy mô rộng lớn chưa từng thấy ở nhiều nước như Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên, Nhật Bản… gây tổn thất nặng nề về kinh tế Theo thống kê của Dyck và Thomas (1979) thiệt hại do rầy nâu và bệnh vàng lùn ở Châu Á trong năm 1966 – 1975 lên tới hơn 300 triệu USD Năm 1974 – 1977, khoảng 1,2 triệu ha lúa ở Indonesia bị nhiễm rầy, gây thiệt hại 3 triệu tấn thóc (Dyck V.A, Thomas B (1979) Năm 1922 – 1993, cả vụ mùa giống SP60 ở Thái Lan bị mất
do tác hại của rầy nâu Những năm gần đây, rầy nâu đã và đang có xu hướng tái bùng phát trên phạm vi rộng tại Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Từ đầu tháng 3/2011, rầy nâu đã gây nhiễm trên 104.000 ha lúa tại 11 tỉnh miền Trung Thái Lan và
đã gây thiệt hại nặng hàng ngàn hécta lúa, số lượng rầy vào đèn dày đặc tương tự như năm 2009 - 2010, do vậy nguy cơ mất mùa
Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath): Là một loài dịch hại nghiêm
trọng trên cây lúa ở châu Á Rầy lưng trắng phân bố chủ yếu ở Nam Á, Đông Nam Á, nam Thái Bình Dương (Suenaga, 1963) Trước những năm 1970, rầy lưng trắng được xem là loài dịch hại thứ yếu Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mật độ rầy lưng trắng đã gia tăng, trở thành loài chiếm ưu thế trong số các loài dịch hại trên lúa, dần
dần thay thế rầy nâu ở hầu hết các vùng trồng lúa
Tại Trung Quốc, cùng với việc đưa lúa lai vào sản xuất năm 1976, lần đầu tiên rầy lưng trắng bùng phát với diện tích 1.600 ha, trong đó có 80 ha mất trắng ở tỉnh Quảng Đông và phía Nam Trung Quốc (Feng và Huang, 1983) Mật độ rầy tăng nhanh chóng từ dưới 5 con/dảnh trước năm 1980 lên 40 con/dảnh vào năm 1987 (Lin, 1989), tần số bùng phát của rầy lưng trắng có tương quan thuận với việc mở rộng diện tích lúa lai trong thập niên 80 - 90 của thế kỷ trước và rầy lưng trắng đã thực sự trở thành dịch hại chiếm ưu thế nhất trên cây lúa (Lin, 1994)
Tại Ấn Độ, mật độ rầy lưng trắng cũng có biến động lớn và tăng dần từ năm
2004 đến 2007 Tại Philippin, so với năm 2000 mật độ rầy lưng trắng năm 2002 tăng gấp 15 và năm 2007 tăng gấp 2 lần Tại Malaysia, năm 1999 có 1.526 ha, đến năm
2001 có 541 ha bị rầy lưng trắng gây hại
Tính đến năm 2007, tuy chưa có những con số cụ thể về sự thiệt hại do rầy lưng trắng gây ra ở Indonesia, Philippin và Việt Nam nhưng các tác giả cho rằng trong 10 năm qua sự thiệt hại do rầy lưng trắng gây ra trên đồng ruộng là lớn hơn nhiều so với rầy nâu Điều này cho thấy rằng rầy lưng trắng đã trở thành loài dịch hại nghiêm trọng, gây thiệt hại kinh tế cho các vùng trồng lúa ở châu Á [50]
Trang 271.5.1.4 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) đối với sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại
Các phương pháp SRI được tổng hợp vào đầu năm 1980 bởi Fr Henri de lanié nước Pháp vào năm 1961 trải qua 34 năm tiếp theo của cuộc đời mình để làm việc với nông dân Malagasy để cải thiện hệ thống nông nghiệp vì lúa gạo là nguồn lương thực chính ở nơi đây, sau đó Ông phải thành lập trường nông nghiệp ở Antsira-
Lau-be vào năm 1981 để giúp thanh niên nông thôn đạt được một nền giáo dục liên quan đến nghề nghiệp của họ Mặc dù SRI được phát hiện vào năm 1983 nhưng phải mất vài năm để đạt sự tự tin rằng phương pháp này luôn mang lại năng suất và lợi nhuận cao Đến năm 1994 trong khi năng suất trung bình của biện pháp canh tác khác chỉ đạt
2 tấn/ha thì biện pháp SRI đạt 8 tấn/ha Sau khi thực hiện ở Malagasy thì một dự án Pháp đã cải thiện hệ thống thủy lợi quy mô nhỏ trên cao nguyên cao trong khoảng thời gian tương tự áp dụng biện pháp SRI đạt năng suất trung bình trên 8 tấn/ha so với 2,5 tấn/ha của phương pháp truyền thống Qua đó nông dân ở đây thấy rõ được lợi ích của việc sử dụng biện pháp SRI
Ở Iran biện pháp canh tác lúa SRI được nghiên cứu áp dụng vào năm 2004 và tiếp tục được sự giúp đỡ của giáo sư Norman Uphoff vào năm 2005 Ngay lập tức được chú ý bởi nhiều lý do Ruộng lúa được cấy ở 2 mật độ: (25cm x 25cm) và (30cm
x 30 cm) Kết quả làm cho năng suất lúa cao do số lượng bông, số hạt trên bông cao hơn cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn tăng khả năng chống chịu với sâu bệnh đặc biệt
là bệnh đạo ôn nhờ những biện pháp: Cấy cây con mật độ thưa làm cho cây sinh trưởng, phát triển tốt làm gia tăng hoạt động của các vi sinh vật trong đất được hỗ trợ của các chất hữu cơ, sục khí làm tăng năng suất lúa (Bahman Amiri Larijani)
Ở Philippin, SRI được tiến hành thử nghiệm lần đầu tiên vào năm 1999 ở danao, kết quả năng suất đạt 4,95 ha tăng đáng kể so với năng suất thông thường từ 1,5 – 2,5 tấn/ha, sau đó tăng lên 7 tấn/ha vào năm 2001 Thấy được lợi ích của SRI từ đó Philippin đã tung ra nhiều chương trình đào tạo SRI trên toàn quốc, từ giữa năm 2010 đến giữa 2012 đã tổ chức trên 120 khóa đào tạo mỗi khóa đào tạo từ 20 đến 25 nông dân Hiện nay có nhiều dự án đào tạo về SRI được tổ chức ở Philippin để truyền đạt kiến thức SRI cho nông dân ở nhiều tỉnh ở đất nước Philippin
Min-Ở Trung Quốc SRI bắt đầu từ năm 1999 – 2000, mãi đến năm 2002 hội nghị quốc tế đầu tiên về SRI mới được tổ chức tại Sanya Sau đó biện pháp SRI được thực hiện ngày càng quy mô Tiêu biểu ở tỉnh Tứ Xuyên vào năm 2010 diện tích SRI đã đạt 301.067 ha cho năng suất trung bình 9,2 tấn/ha tăng 1,63 tấn/ha Theo ông Zhang Wei-jian tại viện khoa học nông nghiệp ở Bắc Kinh cho biết diện tích sử dụng SRI ở Trung Quốc liên tục tăng từ 200.000 ha năm 2007 lên trên 900.000 ha năm 2012 Một bài báo gần đây của Zheng Jia-guo và các đồng nghiệp chứng minh việc sử dụng SRI tiết kiệm
Trang 28lượng nước tưới hơn so với phương pháp truyền thống từ 25,6% ngoài ra còn giảm lượng giống từ 50 – 90%, chỉ số diện tích lá tăng khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn, giảm được lượng phân bón hóa học tận dụng được nguồn phân bón hữu cơ có sẳn, làm tăng được hiệu quả kinh tế
Bảng 1.3 Sự khác biệt giữa biện pháp thâm canh cải tiến (SRI) và biện pháp
thông thường ở Trung Quốc
Loại phân bón Phân có nguồn gốc hữu cơ
hoặc/và phân chuồng Phân hữu cơ và phân hóa chất
Trung Quốc đã áp dụng biện pháp thâm canh cải tiến khác biệt với biện pháp thông thường: Cấy mạ non và được cấy trên những luống không ngập nước Cấy 1 dảnh/khóm, cấy 7,5 - 15 khóm/m2 Mật độ cấy thấp hơn phương pháp truyền thống Các khóm được cấy theo hình chữ nhật giúp không khí có thể luân chuyển và ánh sáng
có thể đến từng khóm Khoảng cách giữa các khóm 25 x 25 cm, 40 x 40 cm Khoảng cách rộng giúp rể phát triển tốt, tăng khả năng đẻ nhánh, giảm độ ẩm dưới vồm lá giúp kiểm soát bệnh
Ở Campuchia năm 2000 - 2001: Trong mùa mưa năm 2000 với sự hỗ trợ của cán bộ CEDAC, khoảng 50 nông dân ở 4 tỉnh của Campuchia đã quyết định thử nghiệm SRI trên ruộng của họ Thật không may, do bị ngập úng nặng, chỉ 28 nông dân đã có thể thu hoạch lúa từ ô thí nghiệm của họ Các kết quả đã chỉ ra rằng nông dân có thể thu hoạch khoảng 5 tấn/ha, cao hơn 150% so với các biện pháp truyền thống Tổng diện tích canh tác theo phương pháp SRI trong mùa mưa là khoảng 1,57 ha, với tổng sản lượng là 7,906 kg (Koma, 2001) Phần lớn các nông dân đã đạt được năng suất tăng cao mà không sử dụng bất kỳ một hoá chất nông nghiệp nào và chủ yếu sử dụng các giống truyền thống
Trong mùa khô năm 2000 – 2001, CEDAC đã làm việc với 13 nông dân ở 2 tỉnh Kandal và Takeo để hướng dẫn thử nghiệm SRI Năng suất trung bình khoảng 6 tấn/ha, cao hơn 65% so với các biện pháp truyền thống
Năm 2002, sau 2 lần thí nghiệm, CEDAC đã giành được sự tin tưởng của nông dân thử nghiệm SRI Dựa vào điều này, họ đã sửa đổi thích hợp các kỹ thuật SRI để
Trang 29đáp ứng với nền canh tác ở nhiều địa phương khác Họ cũng đang phát triển sự tiếp cận của họ với nông dân để xúc tiến đẩy mạnh SRI Một cuốn sách nhỏ bằng tiếng Khmer về SRI, với những hình vẽ minh hoạ đã được xuất bản để phổ biến tới những nông dân và các NGO khác
Bảng 1.4 Một số kết quả thử nghiệm SRI ở các nước
Năng suất thường (tấn/ha)
Năng suất với SRI (tấn/ha)
Đại học nông nghiệp
4,1- 5,4 5,9 – 6,9
6,3 – 6,9 9,5
5
6 Đại học Chiangmai
Sri Lanka: - Bopitiya
Trang 30Trung Quốc :
- Heilongjiong
- Guiyang, Guizhou
- Sichuan Agri Univer
- Wen Zhon, Zhejiang
- Tian Tai, Zhejiang
Ma Jun
Wu Cun Zan Zhu Defeng Liu Zhibin Tang Yonglu
Xu Xiuli Yuan Longping Zhu Defeng Liu Zhibin
12,47 12,87 11,75 10,08 – 10,37 11,5 – 12,0 13,2 12,1 7,61 13,5 18,0 20,4
1.5.2 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại và biện pháp canh tác SRI trên cây lúa ở Việt Nam
1.5.2.1 Về sâu hại
Ở Việt Nam nghiên cứu sâu hại lúa có từ thời thực dân Pháp, ở thời Pháp thuộc
đã có nhiều nghiên cứu về các loài sâu hại cây trồng (có cây lúa) nhưng chỉ được tiến hành ở miền Bắc do Cục Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (1962 - 1963), Bộ Nông nghiệp (1967 - 1968), tổ Côn trùng thuộc Uỷ ban KHKT Nhà nước ( 1960 - 1970)… Theo PGS.TS Phạm Văn Lầm [14] có 133 loài côn trùng và nhện nhỏ gây hại trên lúa
Ở miền Nam thời Pháp không có những cuộc điều tra lớn, chỉ lẻ tẻ do cá đoàn chuyên gia nước ngoài tiến hành (như CIM, CATM…) do không có điều kiện Mãi đến năm (1977 – 1980) khi miền Nam đã được giải phóng thì Viện Bảo vệ thực vật mới tiến hành điều tra thành phần các loài sâu hại ở các tỉnh miền Nam
Với vị trí địa lí và khí hậu của Việt Nam đã tạo nên một Việt Nam giàu tính đa dạng sinh vật Việt Nam nằm ở Đông Nam lục địa châu Á có đường biên giới trên đất liền khoảng 3.700 km dọc theo miền núi và châu thổ sông Mekông, có đường bờ biển dài 3.260 km Phía Bắc Việt Nam từ đèo Hải Vân trở ra Bắc nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa Đông Nam Á Phía Nam từ đèo Hải Vân trở vào Nam nhiệt độ quanh năm nóng với 2 mùa nắng mưa đặc trưng của khí hậu nhiệt đới Trong khi chúng ta phấn đấu vất vả để tăng năng suất cây trồng nói chung, cây lương thực nói riêng, thì tổn thất do sâu bệnh, cỏ dại gây ra còn quá lớn, chiếm 20 - 25% có khi
Trang 31tới 30% tổng sản lượng Trong hơn nửa thế kỷ qua, sản xuất nông nghiệp thế giới đã
có những biến đổi mạnh về kỹ thuật so với canh tác cổ truyền như trồng dày, bón nhiều đạm, gieo trồng trên diện tích lớn… Tất cả những thay đổi đó đã tạo điều kiện cho nhiều loài sâu bệnh phát triển thuận lợi và bùng phát thành dịch Trong số các loài sâu bệnh đó thì sâu cuốn lá nhỏ là một loài sâu gây hại thường xuyên cho ruộng lúa vùng Đông Nam Á nói chung và cho cây lúa Việt Nam nói riêng
Những nghiên cứu của các nhà khoa học đã tạo ra những thành tựu đáng kể trong việc phòng trừ các loài sâu hại lúa và tìm ra nhiều loại thiên địch giúp ích rất nhiều trong phòng trừ sâu bệnh, tất cả chúng làm đa dạng thêm trong danh mục các loài côn trùng ở Việt Nam đồng thời xuất bản nhiều cuốn sách chuyên môn như:
"Phòng trừ côn trùng gây hại bằng yếu tố sinh học" của Phạm Bình Quyền và Bùi Công Hiển (1988), "Côn trùng học ứng dụng" của Bùi Công Hiển (2003), "Sinh thái học côn trùng" của Phạm Bình Quyền (2005), "Danh mục các loài sâu hại lúa và thiên địch của chúng ở Việt Nam" của Phạm Văn Lầm (2000), "Côn trùng và nhện hại cây
ăn trái vùng đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị" của Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), …
Khi nghiên cứu về tác hại của sâu cuốn lá nhỏ gây ra ở những giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa cho kết quả không giống nhau theo nghiên cứu của Nguyễn Trường Thành [26] và các cộng sự, cứ 1% lá bị hại thì tỷ lệ giảm năng suất ở giai đoạn lúa đẻ nhánh là 0,15 - 0,18%; giai đoạn lúa đứng cái làm đòng là 0,7 - 0,8%; giai đoạn đòng già trổ là 1,15 - 1,2% Nếu bông lúa có 1 lá bị hại năng suất giảm 3,7%; hai lá bị hại năng suất giảm 6%; 3 lá bị hại năng suất giảm 15%; 4 lá bị hại năng suất giảm 33% Tùy trường hợp chỉ có lá đòng bị hại năng suất giảm 20 - 30% Mật độ cấy cũng có ảnh hưởng lớn đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh phát triển, không nên cấy mật độ quá dày, nên cấy với khoảng cách khoảng 22,5 x 20 cm cũng có tác dụng hạn chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng Việc bố trí thời vụ gieo cấy cũng có ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, nếu bố trí cấy thời vụ sớm thì cây lúa sinh trưởng nhanh có tác dụng tránh được lứa sâu cuốn lá gây hại vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 giúp cho cây lúa ít bị ảnh hưởng của lứa sâu này [28]
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) là một trong những đối tượng có ảnh hưởng
lớn đến cây lúa Nó không những làm ảnh hưởng đến năng suất mà còn là môi giới truyền bệnh lúa cỏ, lùn xoăn lá… nên tác hại của nó rất nghiêm trọng Từ trước đến nay, tại nước ta đã có rất nhiều đợt dịch rầy nâu bùng phát và gây hại nghiêm trọng cho việc sản xuất lúa của người nông dân Tại miền Bắc, năm 1958 đã ghi nhận rầy nâu phát triển thành dịch, gây hại lúa chiêm trũng, làm tổn thất lớn ở Hà Nam Năm
1962, rầy nâu phát sinh mạnh tại Thanh Hoá, Nam Hà, Hải Phòng, Hà Bắc, Hà Tây, Tuyên Quang Năm 1964, phát sinh mạnh ở Nghệ An, Nam Hà, Hải Phòng, Hải Hưng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Thái, Vĩnh Phúc Từ năm 1971 trở lại đây, rầy nâu đã
Trang 32trở thành mối nguy hiểm cho nghề trồng lúa miền Bắc và nhiều năm nó đã phát sinh thành dịch, gây hại hầu hết ở các tỉnh từ Lạng Sơn, Tuyên Quang đến Nghệ An [17]
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, rầy nâu có dấu hiệu chuyển biến, độc tính trên giống lúa ASD7 (gen kháng Bph2) đang tiếp tục tăng lên và tỷ lệ sống sót cao trên giống CR203, là những báo động về khả năng chuyển sang biotype mới trong thời gian không xa Các quần thể rầy nâu thu thập hiện nay có thể gây hại trên các giống mang gen Bph1, Bph2, Bph4, Bph6, Bph7, Bph8, Bph9 nhưng không gây hại trên các giống mang gen Bph3 [30]
1.5.2.1 Về bệnh hại
Bệnh hại thực vật ngày càng được quan tâm nhiều bởi vì tác hại nghiêm của bệnh gây ra Bệnh không chỉ làm giảm năng suất, sản lượng, giá trị dinh dưỡng sản phẩm nông nghiệp mà còn gây hại đến môi trường và nhiễm độc thực phẩm Theo kết quả điều tra năm 1993 - 1994 của Phạm quý Hiệp và ctv đã phát hiện có tới 28 loài bệnh hại lúa ở một số tỉnh miền Bắc
Do những thiệt hại nghiêm trọng của bệnh đạo ôn đối với cây lúa, việc nghiên cứu tìm ra phương pháp hữu hiệu để hạn chế bệnh đạo ôn đang đòi hỏi cấp bách, nhất
là trong điều kiện thâm canh cao như hiện nay Ở nước ta bệnh đạo ôn còn được gọi là bệnh "tiêm lụi", bệnh "cháy lá lúa" đã được biết tới từ lâu Năm 1921 đã thấy bệnh xuất hiện trên lúa ở các tỉnh phía Nam (Fivin cent) sau đó phát hiện bệnh ở các tỉnh phía Bắc (Roger, 1951), nhưng khi đó bệnh ít phổ biến, gây hại nhẹ không được chú ý nghiên cứu Sau ngày miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bắt đầu một thời kỳ phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, năm 1956 một trong những khu vực trồng lúa cạn ở nông trường Đồng Giao bệnh đạo ôn bột phát làm chết lụi 200 ha lúa Sau đó gây bệnh nghiêm trọng ở Hải Dương, Hà Đông, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng
và nhiều khu vực khác Có thể nói từ năm (1956 - 1961) là thời kỳ phát sinh dịch bệnh đạo ôn ở miền Bắc Từ năm 1972 cho đến nay bệnh đạo ôn đã gây thành dịch phá hại
ở nhiều vùng trọng điểm thâm canh lúa thuộc đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Duyên Hải miền Trung và cả ở vùng Tây Nguyên, một số vùng trung du miền núi phía Bắc trên các giống lúa như NN8, IR1561-1-2, CR203, Q5, Nếp cái hoa vàng Trong điều kiện thời tiết vụ chiêm xuân ở miền bắc với sự thay đổi và tích luỹ trong quần thể nòi nấm gây bệnh, với cơ cấu là sử dụng giống lúa NN8 là chủ yếu cho xuân chính vụ, xuân muộn chủ yếu là giống CR203, IR1561-1-2, T1, TH2 đồng thời áp dụng biện pháp tăng cường lượng phân đạm vô cơ bón không hợp lý đã làm cho bệnh đạo ôn phát triển mạnh
Bệnh bạc lá lúa làm giảm năng suất đáng kể, cứ 1% chỉ số bệnh làm giảm năng suất 0,94 tạ/ha (Tạ Minh Sơn 1987) [23] Khả năng ảnh hưởng của bệnh bạc lá lúa gây
ra trên một số giống giảm theo mức độ nhiễm bệnh:
Trang 33Mức độ nhiễm bệnh từ 20-24%, năng suất giảm từ 10-15%
Mức độ nhiễm bệnh từ 60-80%, năng suất giảm 30%
Mức độ nhiễm bệnh từ 80-90%, năng suất giảm từ 60%
Mức độ nhiễm bệnh 100%, năng suất giảm từ 80%
Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá: Bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá là bệnh hại quan
trọng và khó phòng trừ Bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá do tổ hợp của 3 loại virus vàng lùn (RGSV), virus lùn xoắn lá (RRSV) và virus Tungro (RTSV) gây nên Đã có một số nghiên cứu về các loại virus này trên cây lúa, tuy nhiên đến nay vẫn rất ít nghiên cứu
về sự tồn tại của các loại virus này trong rầy nâu [12]
Trong những năm gần đây, bệnh gây tác hại trên diện rộng ở các tỉnh phía Nam, tác nhân gây bệnh là do virus thông qua môi giới rầy nâu Kết quả một năm thực hiện công tác phòng chống dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trên lúa ở các tỉnh phía Nam cho thấy: Tổng diện tích bị nhiễm rầy nâu trong toàn vùng năm 2006 và vụ Đông Xuân 2006 - 2007 là 731.092 ha, chiếm 12,61% diện tích bị hại, trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 67.238 ha Năm 2008, dịch rầy nâu và các bệnh virus hại lúa tuy
có giảm so với các năm trước nhưng vẫn đang ở mức đáng báo động [24]
Theo các nhà khoa học, ở nước ta sâu hại là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất và phẩm chất của cây trồng, tổng sản lượng thóc bị mất vì sâu chiếm 26,7% [13] Khi nghiên cứu xác định thành phần sâu hại lúa ở Việt Nam, Phạm Văn Lầm cho biết ở nước ta có khoảng trên 133 loài sâu hại lúa đã được phát hiện [19] Trong số đó, rầy hại lúa là đối tượng gây hại phổ biến và nguy hiểm nhất
Cùng với những bước phát triển trong lĩnh vực bảo vệ thực vật trong cả nước, tỉnh Bình Định trong thời gian qua Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh tiến hành điều tra dự tính dự báo tình hình sâu bệnh hại trên các loại cây trồng Trên địa bàn tỉnh Bình Định cây lúa là đối tượng cây trồng chính nên công tác dự tính dự báo tình hình sâu bệnh hại là rất quan trọng, song song với công tác đó Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh luôn áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp phổ biến đến nông dân nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng lúa trên địa bàn tỉnh
1.5.2.3 Những thiệt hại về năng suất do sâu bệnh gây ra trên cây lúa
Theo các nhà khoa học, ở nước ta sâu hại là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất và phẩm chất của cây trồng, tổng sản lượng thóc bị mất vì sâu chiếm 26,7% [41]
Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae): Hằng năm, bệnh đạo ôn phát sinh trên đồng
ruộng sớm hay muộn, phạm vi rộng hay hẹp có liên quan chặt chẽ với điều kiện thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm và cường độ ánh sáng Báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật và
Trang 34Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình hình bệnh đạo ôn hại lúa được thống
kê trên toàn quốc trong những năm 2004 - 2013 cho thấy diện tích trồng lúa bị bệnh đạo ôn là rất lớn
Bảng 1.5 Diện tích nhiễm đạo ôn trên toàn quốc
Diện tích nhiễm (nghìn ha)
(Nguồn: Cục bảo vệ thực vật, Hội nghị toàn quốc bảo vệ thực vật năm 2004,
2005, 2006, 2007, 2008 Trung tâm thông tin PTNNNT- Viện chính sách và chiến lược PTNNNT (2010), Báo cáo ngành hàng lương thực, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2012 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm năm 2013 ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn)
Qua bảng 1.5 ta thấy diện tích nhiễm bệnh toàn quốc năm 2012, 2013 tăng lên đáng kể Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2012 ngành nông nghiệp
và phát triển nông thôn cho biết tổng diện tích nhiễm bệnh năm 2012 là 366,4 nghìn
ha Trong đó đạo ôn lá: Diện tích nhiễm bệnh 294,1 nghìn ha, tăng 21% với năm 2011, diện tích nhiễm nặng 11,4 nghìn ha, tăng 118% với năm 2011, diện tích mất trắng 8
ha Bệnh tăng mạnh tại các tỉnh phía Bắc, có 54,7 nghìn ha bị nhiễm bệnh, tăng 131%
so với năm 2011, trong đó có 4.238 ha bị nhiễm bệnh nặng, tăng 228% so với năm
2011 Đạo ôn cổ bông: Diện tích nhiễm 72,2 nghìn ha, tăng 40% so với năm 2011, trong đó diện tích nhiễm nặng 1,7 nghìn ha, tăng 156% so với năm 2011 Bệnh gây hại chủ yếu trên lúa tại các địa phương bị nhiễm đạo ôn lá nặng Còn đối với năm 2013 diện bị nhiễm hơn 350,4 nghìn ha, trong đó: Diện tích nhiễm đạo ôn lá 267,9 nghìn ha, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước; diện tích nhiễm nặng 11,4 nghìn ha, mất trắng
47 nghìn ha Bệnh đạo ôn cổ bông diện tích nhiễm 82,5 nghìn ha, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, diện tích nhiễm nặng 1,36 nghìn ha, tỷ lệ bệnh phổ biến từ 1 - 5%
số dảnh, tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền núi phía Bắc
Trang 35Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) là một trong những đối tượng có ảnh hưởng
lớn đến cây lúa Nó không những làm ảnh hưởng đến năng suất mà còn là môi giới truyền bệnh lúa cỏ, lùn xoăn lá… nên tác hại của nó rất nghiêm trọng Từ trước đến nay, tại nước ta đã có rất nhiều đợt dịch rầy nâu bùng phát và gây hại nghiêm trọng cho việc sản xuất lúa của người nông dân Tại miền Bắc, năm 1958 đã ghi nhận rầy nâu phát triển thành dịch, gây hại lúa chiêm trũng, làm tổn thất lớn ở Hà Nam Năm
1962, rầy nâu phát sinh mạnh tại Thanh Hoá, Nam Hà, Hải Phòng, Hà Bắc, Hà Tây, Tuyên Quang Năm 1964, phát sinh mạnh ở Nghệ An, Nam Hà, Hải Phòng, Hải Hưng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Thái, Vĩnh Phúc Từ năm 1971 trở lại đây, rầy nâu đã trở thành mối nguy hiểm cho nghề trồng lúa miền Bắc và nhiều năm nó đã phát sinh thành dịch, gây hại hầu hết ở các tỉnh từ Lạng Sơn, Tuyên Quang đến Nghệ An [49]
Từ 1999 - 2003, ở nước ta trung bình trong những năm này diện tích bị nhiễm, nhiễm nặng và bị mất trắng do rầy nâu và rầy lưng trắng tương ứng là 409.000 ha, 34.000 ha
và 179 ha (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) Rầy nâu và rầy lưng trắng là một trong ba nhóm dịch gây hại lớn nhất trên lúa, trung bình diện tích bị nhiễm, nhiễm nặng và bị mất trắng tương ứng là 409.000 ha, 34.000 ha và 179 ha [42] Vụ Xuân năm 2006, tại đồng bằng sông Cửu Long, rầy nâu bùng phát thành dịch bệnh trên diện rộng, làm thiệt hại ước tính đến 600 tỷ đồng, ảnh hưởng rất lớn cho sản xuất nông nghiệp Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chủng rầy nâu ở Việt Nam đang thay đang có sự thay đổi độc tính [44], [45], [46], [47], [48] Trong những năm 2008 – 2010, diện tích nhiễm rầy tăng gấp 2 so trung bình 10 năm trở lại đây và tăng 4,7 đến 5,2 lần so với năm có diện tích thấp nhất; đặc biệt các tỉnh phía Bắc diện tích nhiễm rầy tăng gấp 1,9 và 2,3 lần so trung bình 10 năm trở lại đây và tăng 7,2 đến 9,3 lần so với năm có diện tích thấp nhất
Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee): Năm 1968, nhiều tỉnh
trên miền bắc bị sâu cuốn lá nhỏ phá hại rất nặng: Ở Bắc Thái có 6.832 ha lúa bị hại nặng; ở Nghệ An có 80% lúa bị hại; Quảng Ninh bị hại với tỷ lệ lá hại 30 - 40% Vụ Mùa năm 1981, hàng vạn ha lúa ở miền bắc đã bị sâu cuốn lá nhỏ hại nghiêm trọng (Cục BVTV, 1982) Một số năm gần đây, tác hại của sâu cuốn lá nhỏ gia tăng Năm
1991, Vĩnh Phúc bị sâu cuốn lá nhỏ hại 11.000 ha, nặng > 4.000 ha Năm 2003, diện tích bị hại tăng lên gần 15.000 ha, nặng trên 5.000 ha (Thống kê tháng 8 năm 2003) Năm 1990 - 1991 dịch sâu cuốn lá nhỏ gây hại nặng trên cả nước, năm 2001 sâu cuốn
lá nhỏ gây hại 855.000 ha lúa ở các tỉnh phía Bắc, diện tích nhiễm và nhiễm nặng do sâu cuốn lá nhỏ liên tục tăng và tăng ở mức cao, từ năm 1999 đến năm 2003 là cao nhất trong cả nước lên tới 938.643 ha, trong đó diện tích bị hại nặng là 182.950 ha, diện tích mất trắng là 272 ha, năm 2002 diện tích lúa nhiễm sâu cuốn lá nhỏ ở các tỉnh miền Bắc là 748.904 ha trong đó diện tích nhiễm nặng là 270.362 ha [51] Riêng vụ Mùa 2003 sâu cuốn lá nhỏ có mật độ rất cao, diện phân bố rộng, diện tích do sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở 26 tỉnh phía Bắc lên tới 412.146 ha, nặng 226.754 ha, năm 2005 diện tích
Trang 36do sâu cuốn lá nhỏ gây hại có xu hướng giảm hơn năm trước Vụ Xuân 2006 sâu cuốn lá nhỏ gây hại ở mức bình thường nhưng có diện tích nhiễm và mật độ sâu cao hơn vụ xuân năm trước
Những thiệt hại do sâu bệnh gây ra trên cây lúa ở tỉnh Bình Định trong những năm gần đây hạn chế đáng kể do sự quan tâm của các cấp chính quyền, phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan Chi cục Bảo vệ thực vật chỉ đạo các Trạm Bảo vệ thực vật huyện phát hiện đúng và kịp thời các lứa sâu bệnh kết quả hạn chế thấp nhất những thiệt hại do sâu bệnh gây ra Tuy nhiên diện tích nhiễm sâu bệnh hại trong những năm qua tương đối lớn nguyên nhân: Do tập quán sản xuất của nhiều người dân trong tỉnh còn lạc hậu chưa tiếp xúc nhiều với những tiến bộ kỹ thuật, phương thức canh tác còn chưa hợp lý, điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát sinh gây hại của nhiều đối tượng dịch hại nhất là rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, bệnh đen lép hạt, sâu cuốn lá nhỏ…
Bảng 1.6 Tình hình sâu bệnh hại trên cây lúa qua các năm
Loại sâu bệnh hại
Diện tích nhiễm (ha)
Rầy nâu, rầy lưng trắng 1.879,5 2.843,9 794,7 171,7
(Nguồn: Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bình Định, 2015)
Qua bảng 1.6 ta thấy diện tích nhiễm sâu bệnh trong những năm qua là rất lớn đặc biệt là rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn và bệnh khô vằn Rầy nâu, rầy lưng trắng diện tích nhiễm cao nhất là năm 2012 với 2.843,9 ha trong đó có diện tích có mật
độ cao từ 5.000 – 10.000 con/m2 ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa Thời tiết nắng nóng cùng tập quán sản xuất của nông dân: Sạ dày 100 kg/ha thì bệnh khô vằn vẫn là bệnh xuất hiện với diện tích và tỷ lệ cao, cao nhất là năm 2013 với diện tích 527,3 ha trong đó có nhiều diện tích có tỷ lệ hại từ 20 – 40% Bệnh đạo ôn là bệnh có khả năng ảnh hưởng tới năng suất cao nhất trong các loại bệnh Trong những năm qua diện tích nhiễm đạo ôn trong tỉnh tương đối cao, cao nhất là năm 2012 với diện tích là
Trang 37936 ha trong đó: Diện tích nhiễm đạo ôn lá 651,5 ha, diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông
là 284,5 ha
1.5.2.4 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa
SRI mới được giới thiệu vào Việt Nam từ năm 2003 và được thí nghiệm ở một
số tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc Phương pháp canh tác SRI đã phát huy hiệu quả, qua nghiên cứu ứng dụng các chuyên gia khẳng định biện pháp canh tác lúa này phù hợp với đồng ruộng Việt Nam, kết quả thử nghiệm cho thấy năng suất lúa tăng đáng kể (>20%) so với phương pháp canh tác lúa cổ truyền tưới ngập nước, trong khi đó chi phí đầu vào cho sản xuất giảm như giống, phân bón và tưới nước Một số tỉnh ở vùng đồng bằng và trung du miền núi phía Bắc đã áp dụng phương pháp này Hiện nay đã có 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương áp dụng biện pháp này
Vụ Xuân năm 2005, được sự hổ trợ của Cục BVTV, hợp phần hỗ trợ phòng trừ dịch hại tổng hợp, Chi cục BVTV Nam Định đã triển khai các nghiên cứu đồng ruộng
“Tìm hiểu ảnh hưởng hệ thống thâm canh lúa SRI đến dịch hại và năng suất lúa” Thí nghiệm được triển khai trên 3 huyện, mỗi huyện 2 Hợp tác xã Bố trí thí nghiệm trên giống nhị ưu 838 gồm 2 thí nghiệm: Một thí nghiệm nghiên cứu mật độ cấy và một thí nghiệm nghiên cứu mật độ cấy và lượng đạm Kết quả:
+ Các chỉ tiêu về sinh trưởng: Trên cùng một chế độ canh tác khi cấy với mật
độ càng thưa cây lúa có khả năng đẻ nhánh càng lớn, thời gian đẻ nhánh kéo dài, số dảnh/khóm lớn tỷ lệ bông hữu hiệu thấp và ngược lại Trên cùng mật độ cấy khi bón phân theo quy trình cải tiến, do bón phân cân đối hợp lý, bón lót sâu, kết hợp với phương pháp so màu lá lúa đã thúc đẩy quá trình đẻ nhánh nhanh, tập trung tỉ lệ dảnh hữu hiệu cao, lá đứng, cứng, trổ gọn hơn bón phân theo hộ nông dân
+ Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại: Trên cùng một chế độ canh tác, mật độ cấy ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh gây hại của các đối tượng dịch hại Trên các công thức cấy thưa, mức độ gây hại của sâu bệnh nhẹ hơn trên các công thức cấy dày, nhất là rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn Trên cùng mật độ cấy, phương pháp bón phân có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh gây hại của các đối tượng dịch hại Khi bón phân theo quy trình cải tiến cây lúa khởi ngay từ đầu, cây cứng, lá đứng, ruộng thông thoáng nên các đối tượng dịch hại chính ít xuất hiện và gây hại hơn so với tập quán bón phân của địa phương
+ Năng suất lúa: Trên cùng một chế độ canh tác, các mật độ cấy quá thưa như
11 - 16 khóm/m2 năng suất thấp hơn khi cấy ở mật độ 20 - 34 khóm/m2 Ở chân đất giàu dinh dưỡng mật độ cấy 25 khóm/m2 cho năng suất cao hơn mật độ cấy của nông dân từ 33 - 34 khóm/m2 Trên cùng mật độ cấy, khi bón phân theo quy trình cải tiến cho năng suất cao hơn so với phương pháp bón phân của nông dân
Trang 38+ Hiệu quả kinh tế: Trên cùng một chế độ canh tác, các mật độ cấy quá thưa như
11 - 16 khóm/m2 có hiệu quả kinh tế thấp hơn khi cấy ở mật độ 20 - 34 khóm/m2 Ở chân đất giàu dinh dưỡng mật độ cấy 25 khóm/m2 có hiệu quả kinh tế cao hơn mật độ cấy của nông dân từ 33 - 34 khóm/m2 Trên cùng mật độ cấy, khi bón phân theo quy trình cải tiến cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với phương pháp bón phân của nông dân [52]
Yên Dũng - Bắc Giang là địa phương đầu tiên trong cả nước áp dụng kỹ thuật SRI, từ việc trồng thử nghiệm với diện tích hạn chế (0,6 ha) Tháng 6/2006, dự án thâm canh lúa theo phương pháp SRI đã chính thức được Sở Khoa Học và Công Nghệ tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện với quy mô 440 ha tại các xã Đức Giang, Nham Sơn, Tiến Dũng, Xuân Phú, Quỳnh Sơn trong các vụ Xuân và vụ Mùa năm 2006 và
2007 Qua đánh giá của phòng nông nghiệp huyện cho thấy, năng suất lúa trung bình của vùng dự án đạt 69,4 tạ/ha, tăng 13,9 tạ/ha so với cấy theo phương pháp thông thường Đặc biệt, lãi thuần rất cao, đạt trên 14,6 triệu đồng/ha, gấp 1,7 lần kỹ thuật cấy thông thường
Tại Nghệ An, được sự giúp đỡ của Chương trình IPM Quốc gia - Cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Bảo vệ thực vật Nghệ An đã đưa SRI vào nghiên cứu thử nghiệm từ năm 2008 tại 2 xã Xuân Hòa và Hùng Tiến (huyện Nam Đàn) với quy mô nghiên cứu 500m2/điểm Đến năm 2009, biện pháp SRI tiếp tục nghiên cứu trên diện hẹp tại 5 xã trong tỉnh Từ năm 2012 đến nay, được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cấp ủy chính quyền các huyện, đặc biệt là sự ghi nhận về hiệu quả ứng dụng SRI của cấp ủy chính quyền các xã và bà con nông dân nên diện tích áp dụng SRI đã được thực hiện với quy mô ngày càng lớn tại nhiều huyện như Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương… Kết quả các mô hình: Lượng đạm sử dụng giảm 0 - 20%; giống sử dụng giảm 70 - 80%; thuốc Bảo vệ thực vật giảm 50 - 100%; chi phí tưới nước giảm 25 - 50%; công cấy giảm 25%; lãi so với canh tác theo tập quán cũ: 2.000.000 - 3.250.000 đồng/ha
Năm 2000, khuyến nông huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành thử nghiệm mô hình này ở 1 xã miền núi, 1 xã vùng bán sơn địa, và 2 xã đồng bằng, gồm: Thọ Phú, Minh Sơn, Họp Thắng và Thọ Bình Kết quả thử nghiệm đều cho năng suất cao hơn đối chứng từ 20 – 30%, trong khi lượng phân và giống tốn ít hơn Trên cơ sở đó, từ
vụ Đông Xuân 2003 - 2004, Trạm tiếp tục triển khai 10 điểm tại xã Triệu Thành và Bình Sơn, vụ Hè Thu 2004 mở thêm 20 điểm thử nghiệm và duy trì đến nay Vụ Đông Xuân 2005, toàn huyện có 1.680 hộ tham gia dự án với 248 ha, đáng chú ý trạm Khuyến nông đã xây dựng mô hình trình diễn quy mô tập trung 1 ha tại xã Dân Lý, kết quả đạt năng suất 80 - 85 tạ/ha Tại hội nghị tổng kết mô hình “ Kỹ thuật thâm canh lúa mới” tại xã Dân Lý, các đại biểu và bà con nông dân đã khẳng định lợi ích mà dự
án đem lại như tiết kiệm 40% giống lúa thuần, 50% giống lúa lai Trung Quốc, tiết kiệm lao động 40% từ việc cấy thưa
Trang 39Vụ Mùa năm 2007, chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh, trạm BVTV của tất
cả 14 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã phối hợp với 86 Hợp tác xã nông nghiệp triển khai và mở rộng diện tích áp dụng kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên diện tích 3.100 ha, tăng gần 2000 ha so với 2 vụ trước, với 41.000 hộ nông dân tham gia Kết quả cho thấy toàn bộ diện tích nông dân áp dụng theo phương pháp SRI đều cho năng suất cao hơn phương pháp truyền thống 20% và đạt nhiều lợi ích; nông dân giảm được lượng giống, nước tưới, công chăm sóc và rất ít sâu bệnh hại nên hầu như không phải dùng thuốc BVTV Vụ Xuân năm 2007, Hà Tây (cũ) bắt đầu mở rộng diện tích; Trạm BVTV của các huyện đã phối hợp với các xã; Hợp tác xã thường xuyên mở lớp tập huấn và xây dựng mô hình trình diễn giúp bà con nắm bắt được phương pháp thâm canh mới, từng bước ứng dụng vào diện tích gieo cấy đại trà Huyện Mỹ Đức là huyện ứng dụng SRI đứng đầu trong toàn tỉnh, năm 2007 đã áp dụng được 800 ha, các huyện khác xây dựng mô hình từ 100 ha đến 200 ha ( Báo điện
tử Hà tây)
Ở Bình Định, Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI (System Rice Intensification – SRI) và được triển khai thực hiện ở Bình Định từ vụ Đông Xuân năm 2012 - 2013 được sự tài trợ từ chính phủ Úc thông qua “Chương trình hỗ trợ cộng đồng thích ứng
và giảm thiểu rủi ro biến đổi khí hậu” và được triển khai thực hiện ở Bình Định từ vụ Đông Xuân năm 2012 - 2013 tại xã Tây An - huyện Tây Sơn và xã Phước Sơn huyện Tuy Phước, bước đầu đã đem lại hiệu quả nhất định Tổng diện tích xây dựng cánh đồng mẫu lớn bằng giống lúa thuần VNA2 được triển khai trong vụ Đông Xuân: 87,5
ha, trong đó xã Tây An - huyện Tây Sơn có diện tích 50 ha, tổng số hộ tham gia mô hình là 315 hộ, năng suất bình quân đạt 76 tạ/ha, cao hơn ngoài mô hình 8 tạ/ha và xã Phước Sơn - Tuy Phước với diện tích 37,5 ha, tổng số hộ tham gia mô hình 219 hộ, năng suất bình quân đạt 82,0 tạ/ha, cao hơn ngoài mô hình 7 tạ/ha
Từ những kết quả đạt trong vụ Đông Xuân, dự án được tiếp tục triển khai mở rộng trong vụ Thu năm 2013 ở 04 xã của 02 huyện Tuy Phước và Tây Sơn Tổng diện tích triển khai 181 ha, trong đó Tây Sơn 89 ha (Xã Tây Vinh 42 ha, Xã Bình Tường 47 ha) Tuy Phước 92 ha (Xã Phước Sơn 50 ha, Xã Phước Hưng 42 ha) Sử dụng 2 giống lúa là Sut89 và DV108 Kết quả:
- Xã Phước Hưng: Năng suất gặt thống kê 1 kg/m2 ( tương đương 11 tấn/ha); sau khi phơi khô, quạt sạch năng suất thực thu ruộng mô hình đạt 85,3 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng 16,3 tạ/ha Lợi nhuận từ 1 ha lúa trong ruộng mô hình ở xã Phước Hưng cao hơn ruộng nông dân 10.529.000 đồng
- Xã Phước Sơn: Năng suất thực thu ruộng mô hình đạt 68 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng 3,4 tạ/ha Lợi nhuận từ 1 ha lúa trong ruộng mô hình ở xã Phước Sơn cao hơn ruộng nông dân 5.126.000 đồng
Trang 40Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Một số giống lúa hiện đang được sản xuất chính tại Bình Định
- Biện pháp canh tác lúa cải tiến SRI
Bảng 2.1 Một số giống lúa nghiên cứu
TBR1 Tổng công ty giống Thái Bình
OM6976 Công ty giống cây trồng miền nam
KD28 Giống nhập nội xuất xứ từ Trung Quốc
BC15 Tổng công ty giống Thái Bình