Mục tiêu Phát hiện sự xâm nhập, lưu hành và đặc điểm sinh học phân tử của các chủng virus cúm gia cầm cúm A trên địa bàn huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình và xác định c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Đề tài thực hiện luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi, nằm trong trong khuôn khổ đề tài Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình năm 2017 - 2018 do PGS.TS Nguyễn Xuân Hòa, giảng viên Trường Đại học Nông lâm - Huế làm chủ nhiệm Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, do tôi đã phối hợp với Phân viện Thú y Miền Trung, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Chăn nuôi
và Thú y Quảng Bình thực hiện và có sự giúp đỡ của các đồng nghiệp Các số liệu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào bởi các
cá nhân và tổ chức khác ngoài nhóm nghiên cứu
Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, tháng 05 năm 2018
TÁC GIẢ
Lê Hồng Kỳ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân, nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường
Đại học Nông lâm - Huế đã tạo điều kiện cho tôi được theo học Chương trình đào tạo trình độ Thạc sỹ tại trường
Tập thể Lãnh đạo và cán bộ Chi cục Chăn nuôi và Thú y Quảng Bình, Phân viện Thú y Miền Trung, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình, NCS Phạm Hồng Kỳ thư ký đề tài, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú
y, Trường Đại học Nông lâm - Huế, đặc biệt là thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Xuân Hòa
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Lãnh đạo UBND huyện Quảng Trạch và thị xã
Ba Đồn; tập thể cán bộ Trạm Chăn nuôi và Thú y và một số Anh chị Trưởng ban Thú
y huyện Quảng Trạch; Ban quản lý chợ thị xã Ba Đồn đã cung cấp tài liệu, giúp đở tôi trong quá trình lấy mẫu và điều tra tình hình dịch bệnh trên địa bàn
Tôi xin chân thành cám ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Mặc dù bản thân đã nổ lực, cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên, với kiến thức đã học và thực tế ở cơ sở còn hạn chế sẽ không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Kính mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, góp ý từ các thầy cô giáo, bạn
bè, đồng nghiệp cho các nội dung nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, tháng 05 năm 2018
TÁC GIẢ
Lê Hồng Kỳ
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tác giả: Lê Hồng Kỳ
Khóa học: Thú y 22, năm 2016-2018
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Xuân Hòa
Thời gian thực hiện: Từ tháng 5/2017 đến tháng 02/2018
Để chủ động khống chế dịch bệnh cúm gia cầm có hiệu quả, đồng thời nghiên cứu đặc tính phân tử nguồn gene của các chủng virus cúm gia cầm, phân lập từ các loài mắc bệnh khác nhau ở Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Bình nói riêng, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Giám sát sự lưu hành type virus và khảo sát yếu tố nguy cơ phát sinh dịch cúm gia cầm trên địa bàn huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn tỉnh Quảng Bình”
Đối tượng nghiên cứu bao gồm gà, vịt được nuôi tại một số hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Quảng Trạch và ở chợ buôn bán gia cầm sống tại chợ Ba Đồn thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình
Trên thực trạng chăn nuôi gia cầm tại các trang trại, hộ chăn nuôi tại một số xã trên địa bàn huyện Quảng Trạch và tại chợ buôn bán gia cầm sống thị xã Ba Đồn Bằng phương pháp thống kê sinh học, sử dụng phần mềm SPSS 20 và phân tích dịch tễ học, thông qua chỉ số chênh (OR) để phân tích các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn
Sử dụng phương pháp real time RT-PCR để kiểm tra sự lưu hành virus cúm gia cầm Sau đó, các mẫu dương tính với virus cúm A/H5N6 được giải trình gene H5 bằng phương pháp Sanger dideoxy sequencing, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Gia cầm nuôi cho ăn thức ăn tự chế nguy cơ bị dịch cao gấp 17 lần so với các hộ chăn nuôi cho ăn thức ăn công nghiệp Những hộ nuôi gia cầm mua con giống từ nơi không rõ nguồn gốc nguy cơ bị dịch cao gấp 3,30 lần những hộ nuôi gia cầm mua con giống rõ nguồn gốc Gia cầm không được tiêm vắc xin phòng bệnh cúm có nguy cơ mắc bệnh cúm gia cầm cao gấp 4 lần so với gia cầm được tiêm vắc xin phòng bệnh Những hộ nuôi gia cầm không hoặc ít vệ sinh tiêu độc khử trùng có nguy cơ bị dịch gấp 4,50 lần những hộ nuôi gia cầm định kỳ vệ sinh tiêu độc khử trùng Những hộ nuôi gia cầm chung loài nguy cơ bị dịch gấp 14,94 lần những hộ nuôi gia cầm không nuôi chung Những hộ nuôi gia cầm sử dung nước ao hồ, sông nguy cơ bị dịch cúm gia cầm gấp 4,85 lần so với những hộ sử dụng nước máy, nước giếng
Trang 4Trong 10 tháng thực hiện giám sát các đàn vịt ở huyện Quảng Trạch không phát hiện có mẫu nào dương tính với cúm A Kết quả giám sát huyết thanh cho thấy có kháng thể trong các đàn gia cầm nuôi trước tiêm phòng tại Quảng Trạch
Giám sát sự lưu hành virus cúm gia cầm tại thị xã Ba Đồn, tỷ lệ lưu hành cúm
A xuất hiện nhiều nhất vào tháng 5 và tháng 8/2017 (tỷ lệ 100%) Các tháng 11/2017
và tháng 02/2018 tỷ lệ nhiễm là 50% Tỷ lệ lưu hành thấp nhất vào các tháng 6, 9, 10, 12/2017 và tháng 02/2018 (tỷ lệ 0%) Phát hiện 02 mẫu dương tính với H5N6, không
có mẫu nào dương tính với H5N1 và H7N9
Chúng tôi đã thu nhận được toàn bộ chuỗi gen H5 của chủng A/Dk/Vietnam/ QuangBinh/BD1113/2017(H5N6) có độ dài 1704 nucleotide và đăng ký Ngân hàng gen số: LC376798, việc thực hiện giải trình tự có độ chính xác cao Bước đầu đã xác định thành công trình tự gence HA (H5) của 01 chủng đại diện cho quần thể virus cúm gia cầm type A, subtype H5N6 tại thị xã Ba Đồn Trình tự chủng A/Dk/Vietnam/ QuangBinh/BD1113/2017(H5N6) có tỷ lệ tương đồng cao với các chủng phân lập từ
2013 đến 2018 tại Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Nhật Bản từ 98 đến 100% Chủng phân lập được ở thị xã Ba Đồn có chứa chuỗi aminoacid RERRRKR/GLF tại các
vùng phân cắt trong phân tử HA, cho thấy chủng có độc lực cao
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỬ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẺ, ĐỒ THỊ x
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái niệm về bệnh cúm gia cầm 3
1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm 3
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 3
1.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam 6
1.2.3 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm tại tỉnh Quảng Bình 9
1.2.4 Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Quảng Trạch 11
1.2.5 Tình hình dịch cúm gia cầm huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012 – 2017 12
1.3 Đặc điểm virus học bệnh cúm gia cầm 13
1.3.1 Cấu trúc của virus cúm gia cầm 13
1.3.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A 15
1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus 18
1.3.4 Cơ chế xâm nhập, nhân lên và gây bệnh của virus 21
1.3.5 Độc lực của virus 22
Trang 61.3.6 Sức đề kháng của virus 23
1.3.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus 23
1.4 Truyền nhiễm học 24
1.4.1 Động vật cảm nhiễm 24
1.4.2 Sự truyền lây bệnh 24
1.4.3 Loài vật mang virus 25
1.4.4 Chất chứa virus 25
1.4.5 Cách sinh bệnh 26
1.4.6 Mùa phát bệnh 26
1.5 Triệu chứng và bệnh tích 26
1.5.1 Triệu chứng chung 26
1.5.2 Triệu chứng ở chủng virus độc lực cao 26
1.5.3 Triệu chứng ở chủng virus cúm độc lực thấp 27
1.5.4 Bệnh tích 27
1.6 Các phương pháp chẩn đoán 29
1.6.1 Dựa vào dịch tễ học 29
1.6.2 Dựa vào lâm sàng 29
1.6.3 Chẩn đoán bằng huyết thanh 29
1.6.4 Chẩn đoán bằng xét nghiệm 30
1.6.5 Phân lập và định danh virus 32
1.7 Các biện pháp phòng bệnh 32
1.7.1 Phòng bệnh bằng vệ sinh 32
1.7.2 Phòng bệnh bằng vắc xin 34
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng, phạm vi và nội dung 36
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 36
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 36
2.1.3 Nội dung nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
Trang 72.2.1 Xác định sự lưu hành virus bằng phương pháp Realtime RT-PCR 36
2.2.2 Bố trí thí nghiệm 39
2.2.3 Phương pháp Realtime RT-PCR 40
2.2.4 Phương pháp điều tra dịch tễ học 43
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 43
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan bệnh Cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch 45
3.1.1 Thức ăn 45
3.1.2 Nguồn cung cấp giống 45
3.1.3 Tỷ lệ tiêm phòng 46
3.1.4 Tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi 47
3.1.5 Nuôi chung loài 48
3.1.6 Nguồn nước 49
3.2 Giám sát sự lưu hành vi rút cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn 49 3.2.1 Giám sát sự lưu hành vi rút cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch 50
3.2.2 Giám sát sự lưu hành virus cúm gia cầm tại thị xã Ba Đồn 52
3.3 Kết quả giải trình tự Gen HA chủng A/Dk/Vietnam/QuangBinh/BD1113 /2017 (H5N6) phân lập được tại thị xã Ba Đồn 54
3.3.1 Đánh giá kết quả thực hiện giải trình tự 54
3.3.2 So sánh mức độ tương đồng về thành phần nucleotide của gen H5 giữa chủng LC376798 với các chủng phân lập được tại Việt Nam và trên thế giới 56
3.3.3 Giám định độc lực của đoạn gen H5 đã giải trình 58
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
4.1 Kết luận 59
4.2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 66
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỬ VIẾT TẮT
BỘ NN VÀ PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CT Chu kì ngưỡng (Cycle of threshold)
(World Organnisation for Animal Health)
RT - PCR Reverse Transcriptase Polymerase Chain Reaction
FAO
Tổ chức Lương thựcvà Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture Organization of the United Nations) WHO Tổ chức Y tế Thế giới
CDC Center for Disease Control
ELISA Emzyme Linked Immunosozbent Assay
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình Cúm gia cầm ở một số nước trên thế giới từ năm 2003 đến năm
2005 4
Bảng 1.2 Tổng hợp tình hình cúm gia cầm xảy ra ở các nước từ năm 2007- 2017 5
Bảng 1.3 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm từ năm 2014 - 2017 9
Bảng 1.4 Diễn biến tổng đàn gia cầm của huyện Quảng Trạch giai đoạn 2013-2017 11 Bảng 1.5 Diễn biến dịch cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012-2017 12 Bảng 2.1 Phân bố số lượng phiếu điều tra 40
Bảng 2.2 Thành phần của master mix 41
Bảng 2.3 Chu trình luân nhiệt của phản ứng RT-PCR 42
Bảng 2.4 Bảng tương liên 2 x 2 43
Bảng 3.1 Kết quả phân tích nguy cơ thức ăn tự chế 45
Bảng 3.2 Kết quả phân tích nguy cơ nguồn cung cấp giống 46
Bảng 3.3 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ không tiêm vắc xin phòng bệnh cúm 47
Bảng 3.4 Kết quả phân tích về yếu tố nguy cơ không tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi 48
Bảng 3.5 Kết quả phân tích về yếu tố nguy cơ nuôi chung loài 48
Bảng 3.6 Kết quả phân tích về yếu tố nguy cơ nguồn nước 49
Bảng 3.7 Kết quả giám sát lưu hành virus cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch 50
Bảng 3.8 Kết quả giám sát trước tiêm phòng đàn gia cầm tại huyện Quảng Trạch 51
Bảng 3.9: Kết quả xét nhiệm từ tháng 5/2017 đến tháng 02/2018 52
Bảng 3.10 Danh sách các chủng virus cúm tương đồng gen H5 với chủng A/Dk/Vietnam/QuangBinh/BD1113/2017(H5N6) phân lập tại thị xã Ba Đồn 57
Bảng 3.11: Đặc tính amino acid của hemaglutinin (HA) của chủng LC376798 58
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẺ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Cấu trúc của virus cúm A 14
Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm A/H5N1 15
Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A 16
Hình 1.4 Sơ đồ minh họa đột biến điểm của hiện tượng “ kháng nguyên” (antigenic drift) (A) và đột biến tái tổ hợp của hiện tượng “trộn kháng nguyên” (antigenic shift) ở virus cúm A (B) 21
Hình 1.5 Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus trong tế bào vật chủ 21
Hình 1.6 Mối quan hệ lây nhiễm và thích ứng các loài vật chủ của virus cúm A 24
Hình 1.7 Bệnh tích đại thể ở gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1 28
Hình 1.8 Cơ chế hoạt động của Taqman probe 31
Biểu đồ 3.1 Biến động lưu hành virus và lưu hành kháng thể cúm gia cầm tại các đàn giám sát 51
Biểu đồ 3.2 Biến động lưu hành virus CGC tại chợ Ba Đồn theo thời gian 53
Hình 3.1: Giản đồ giải trình tự tự động đoạn Gen H5 của chủng A/Dk/Vietnam/QuangBinh/BD1113/2017 (H5N6) 54
Hình 3.2 Đánh giá điểm sequence nhận biết gen HA chủng A/Dk/Vietnam/QuangBinh/BD1113/2017(H5N6) bằng Blast 56
Trang 11Ở Việt Nam, dịch cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện vào cuối năm
2003, chỉ trong vòng 2 tháng bệnh đã xảy ra trên 57 tỉnh thành và tổng số gia cầm chết
và tiêu hủy 56,88 triệu con, chiếm 16,71% tổng đàn gia cầm trên cả nước Bệnh không chỉ xảy ra trên gia cầm, nguy hiểm hơn là lây lan sang người Từ năm 2003 đến 2013
có 124 ca nhiễm bệnh, trong đó 62 người tử vong, chiếm tỷ lệ 50% Năm 2014, virus cúm A/H5N6 lần đầu tiên được phát hiện tại tỉnh Lạng Sơn, Hà Tĩnh và đang được tiếp tục phát hiện tại nhiều tỉnh trên cả nước như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi Trong khi đó, virus cúm A/H7N9 đã xuất hiện tại Trung Quốc
và một số nước khác như Hồng Kông, Malaysia, Đài Loan, Canada làm 683 người bị nhiễm bệnh
Tỉnh Quảng Bình nói chung, huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn nói riêng luôn bị áp lực dịch cúm gia cầm lây lan từ các tỉnh phía bắc thông qua việc kinh doanh, buôn bán, vận chuyển là rất lớn Trong khi đó, các cơ sở chăn nuôi gia cầm tại địa phương thường nhỏ lẻ, chưa áp dụng không đầy đủ các biện pháp an toàn sinh học Chăn nuôi gia cầm phần lớn theo hình thức thả rông trên đồng hoặc vườn, tự phát dẫn đến làm nguy cơ bùng phát dịch địa phương là rất cao Bên cạnh việc chăn nuôi, hình thức buôn bán gia cầm tại các chợ ở các địa phương hầu như không được kiểm soát Gia cầm sống được xác định là nguồn bệnh lưu trữ, do đó sự lây lan virus cúm gia cầm tại cơ sở chăn nuôi và chợ buôn bán gia cầm sống là rất cao
Để chủ động khống chế dịch bệnh có hiệu quả cần phải hiểu rõ được đặc tính sinh học, khả năng sinh bệnh, dịch tễ của dịch bệnh, đặc biệt là sự lưu hành của virus
và các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch bệnh Từ đó, đưa ra các biện pháp
phòng, chống dịch bệnh, vì vậy chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Giám sát sự lưu hành type virus và khảo sát yếu tố nguy cơ phát sinh dịch cúm gia cầm trên địa bàn huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn tỉnh Quảng Bình”
Trang 122 Mục tiêu
Phát hiện sự xâm nhập, lưu hành và đặc điểm sinh học phân tử của các chủng virus cúm gia cầm (cúm A) trên địa bàn huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình và xác định các yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch bệnh để đưa ra các biện pháp phòng, chống dịch bệnh có hiệu quả
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp thông tin, số liệu cụ thể và những luận chứng khoa học về sự lưu hành của virus cúm gia cầm trên địa bàn huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Kết quả của đề tài này là cơ sở khoa học để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo với phạm vi lớn hơn
- Giám sát, đánh giá tính chất dịch tễ học của mầm bệnh lưu hành để các nhà khoa học, nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về tình hình dịch bệnh cúm gia cầm, nhằm cảnh báo nguy cơ đại dịch có thể xảy ra, diễn biến dịch có thể xảy ra trong tương lai, đưa ra các biện pháp phòng, chống dịch bệnh có hiệu quả
- Tìm hiểu đặc điểm sinh học phân tử của chủng cúm gia cầm lưu hành trên địa bàn từ đó làm có sở cho các nghiên cứu sâu hơn
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm về bệnh cúm gia cầm
Cúm gia cầm hay còn gọi là cúm gà, là bệnh truyền nhiễm cấp tính của loài chim,
do nhóm virus cúm A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Virus được phân chia thành
nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus
Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến N9) Sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng đột biến trong gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA) hoặc trao đổi các gen kháng nguyên với nhau, trong quá trình xâm
nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ Họ Orthomyxoviridae đã được phát
hiện bao gồm 4 nhóm virus, đó là: nhóm virus cúm A (Influenza A), nhóm virus cúm
B (Influenza B), nhóm virus cúm C (Influenza C) và nhóm Thogotovirus Các nhóm virus khác nhau bởi các kháng nguyên bề mặt capsid, ở virus cúm A và B là Hemagglutinin (HA), ở virus cúm C là Hemagglutinin Esterase Fusion (HEF) và ở
Thogotovirus là Glycoprotein (GP) (Murphy, Webster, 1996; Ito et al, 1998)
Dịch cúm gia cầm do virus cúm A subtype H5N1 thể độc lực cao xuất hiện ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc vào năm 1996 và đã lan ra hơn 60 nước trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi, gây nhiều thiệt hại về kinh tế do gia cầm bị chết hoặc tiêu huỷ nhằm kiểm soát dịch, có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Vào năm 2003, tại Việt Nam bệnh cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện, từ
đó đến nay dịch bệnh xảy ra liên tục, đang là vấn đề dịch tễ phức tạp do xuất hiện nhiều phân dòng virus mới và là dịch bệnh cần phải giải quyết tại nước ta Virus cúm A/H5N1 đang lưu hành ở nhiều nước, thường xuyên gây bệnh cho gia cầm và người,
là nguy cơ gây đại dịch trên toàn thế giới
1.2 Lịch sử bệnh cúm gia cầm
1.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Bệnh cúm ở gia cầm cũng như bệnh cúm ở người đã xuất hiện từ cách đây rất lâu, năm 412 trước Công nguyên Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm Năm 1878, bệnh được Perroncito phát hiện ở Italia và mô tả rằng đây là một căn bệnh lan truyền nghiêm trọng và phát triển nhanh chóng gây ra tỷ lệ tử vong cao ở đàn gia cầm Vào năm 1880, Rivolto và Delprato đã có mô tả khác về bệnh dịch hạch về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích và sử dụng thuật ngữ “ hoại tử ở gia cầm” để mô tả về bệnh (Swayne
và Suarez, 2000) Năm 1901, Centanni và Savunzzi xác định nguyên nhân của bệnh dịch tả này là một loại virus Mãi đến năm 1955 virus này mới được xác định và phân loại là virus cúm type A Năm 1981, Hội nghị chuyên đề Quốc tế lần thứ nhất về cúm gia cầm đã được triệu tập tại Beltsville, Maryland, Hoa Kỳ (USA) và thuật ngữ “dịch hạch” đã bị xóa bỏ và thay vào đó là thuật ngữ “Cúm gia cầm thể độc lực cao” (Bakowski,1981; Lupiani và Reddy., 2009)
Trang 14Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới Bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra ở gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1950 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 - 1984 là H5N2
Phân type H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên quan giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có
vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu về phân type H1N1 đều cho thấy rằng virus cúm type A ở lợn và truyền lây cho gà tây, ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn Một số chủng virus cúm type A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú (Ellis
và Zambon, 2002)
Dịch cúm gia cầm bùng nổ liên tục khắp các châu lục trên thế giới đã thúc đẩy các hiệp hội chăn nuôi gia cầm và các nhà khoa học tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề về bệnh Đến nay, trong các Hội thảo về dịch tễ, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng Điều này cho thấy bệnh cúm gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu Đặc biệt nguy hiểm hơn khi virus cúm gia cầm “vượt hàng rào về loài”, thích nghi gây bệnh ở người với tỷ lệ tử vong rất cao (Cục Thú y, 2014)
Bảng 1.1 Tình hình Cúm gia cầm ở một số nước trên thế giới từ năm 2003 đến năm 2005
Địa điểm Thời gian Loại cúm Đối tượng Thiệt hại
Pakistan Tháng 11/ 2003
đến 3/ 2004 H7N3, H9N2 Gà tây
Số gia cầm chết và tiêu hủy là 1,7 triệu con
Canada Ngày 19/2/2004
và 9/3/2004
H7N3(Chủng virus độc lực thấp)
Gà
Xảy ra hai ổ dịch cúm gia cầm Ca bệnh cuối cùng được ghi nhận vào ngày 20/4/2004
Gà
Nam Phi
nghiệp Kết thúc ngày 25/3/2004 6/8/2004 H5N2 Đà điểu Kết thúc vào đầu tháng
12/2004
dã Triều Tiên Từ ngày 25/2
Trang 15Bảng 1.2 Tổng hợp tình hình cúm gia cầm xảy ra ở các nước từ năm 2007- 2017
2007 H5N1
Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan và một số nước có ngành chăn nuôi phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, một số nước ở Châu Âu
2008 H5N1
Israel, Ả-rập Saudi, Thụy Sỹ, Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ, Liên Bang Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Pakistan, Nigeria, Bangladesh, Togo, Hồng Kông, Ai Cập, Đức, Indonesia, Lào, Thái lan, Việt Nam
2010 H5N1
Bangladesh, Bhutan Bungari, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tây Ban Nha, Việt Nam
2011 H5N1
Bangladesh, Campuchia, Lào, Ấn Độ, Indoneisa, Nhật Bản, Mông Cổ, Myanmar, Hàn Quốc, Hy Lạp, Hồng Kông và Việt Nam
2012
H7N7 Úc
H5N1 Bangladesh, Nepal, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Đài
Loan, Hồng Kông, Việt Nam
H7N3 Ấn Độ, Iran, Israel, Mexico
H5N2 Myanmar, Nam Phi
2015 H5N6 Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Lào
2016 H5N1 Lào, Cam-pu-chia, My-an-ma, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Pháp, Mỹ
2017
H5N1 Băng-la-đét, cam-phu-chia, Ca-mê-run, pháp, ấn Độ, Iran, Lào,
Li-bi, Ma-lai-xi-a, My-an-ma, Ne-pan, Niger,Tô – gô H5N6 Áo, Hy lạp, Hồng Kông, Nhật bản, Hàn Quốc, Lào, My – an –
ma, Phi- Líp- pin
Trang 161.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam
Năm 2017, toàn quốc đã xảy ra 40 ổ dịch cúm A/H5 tại 83 hộ chăn nuôi gia cầm tại 31 huyện thuộc 21 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh là 50.316 con
và số gia cầm tiêu hủy là 73.835 con Ngoài ra một số địa phương có một số ổ dịch và
đã được cơ quan Thú y và các địa phương phát hiện và xử lý kịp thời So với năm
2016, mức độ dịch đều tăng, cụ thể: số ổ dịch tăng 2,86 lần, số huyện có dịch tăng 2,58 lần, số tỉnh có dịch tăng 3 lần, số gia cầm mắc bệnh tăng 5,05 lần (Cục Thú y, 2018)
- Từ tháng 12/2003 đến tháng 30/3/2004: lần đầu tiên phát hiện dịch cúm gia cầm
ở tỉnh Hà Tây (nay Hà Nội), Long An, Tiền Giang Dịch lây lan nhanh, chỉ trong vòng
2 tháng phải tiêu hủy 30,4 triệu con gà, thủy cầm 13.5 triệu con và 14.76 triệu chim cút
và các loài chim khác Đến tháng 11 năm 2004, dịch xuất hiện rải rác với quy mô nhỏ
ở các hộ gia đình trên 17 tỉnh, tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 84.078 con
- Từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005: dịch xuất hiện trên 36 tỉnh, thành phố và tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan; 551.029 chim cút
- Từ tháng 10/2005 đến tháng 01/2006: dịch xảy ra cả ba miền với 24 tỉnh, thành phố làm chết và tiêu hủy 3.972.763 con gia cầm và các loài chim khác
- Năm 2006: ở Việt Nam không xảy ra dịch, nhờ sự chỉ đạo phòng dịch quyết liệt của Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia và hiệu quả của chiến dịch tiêm phòng, cuối năm xuất hiện các ổ dịch trên đàn vịt chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa tiêm phòng vắc xin
- Năm 2007: dịch cúm gia cầm xuất hiện trở lại nhưng không tập trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và chia thành nhiều đợt Từ tháng 12/2006 và năm 2007, cả nước
có 283 xã, phường thuộc 115 huyện quận của 33 tỉnh, thành phố (18 tỉnh miền Bắc,
10 tỉnh miền Nam, 5 tỉnh miền Trung) Tổng số gia cầm bệnh, chết và tiêu hủy là 314.268 con, trong đó gà chiếm 16,68%, vịt chiếm 80,82% và ngan chiếm 2,50% Các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên đàn vịt trước, sau đó lây nhiễm cho đàn gà Theo ghi nhận ban đầu, các ổ dịch chủ yếu xảy ra trên vịt nhỏ, dưới 3 tháng tuổi, chưa được tiêm phòng vắc xin cúm Một số đàn mới tiêm nhưng chưa đủ thời gian sinh kháng thể bảo hộ Các ổ dịch xảy ra trên đàn gia cầm chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ (quy mô dưới 500 con là phổ biến) tại các hộ gia đình
- Năm 2008: Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị
xã của 27 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.508 con (gồm 40.525 gà, 61.027 vịt và 4.506 ngan)
- Năm 2009: Cả nước đã có 129 ổ dịch tại 71 xã, phường, thị trấn của 35 huyện, thị xã thuộc 18 tỉnh, thành phố phát dịch cúm gia cầm là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hà Nội, Vĩnh
Trang 17Long và Cao Bằng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 105.601 con, trong
đó gà 23.733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79.138 con (chiếm 74,94 %) và ngan 2.690 con (chiếm 2,55 %)
- Năm 2010: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 64 xã, phường của 38 huyện, quận thuộc 23 tỉnh, thành phố là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bến Tre, Cà Mau, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Kon Tum, Lạng Sơn, Nam Định, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Tuyên Quang và Thái Nguyên Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy
là 147.399 con, trong đó gà là 43.068 con (chiếm 29,2%), vịt là 102.363 con (chiếm 69,5%) và ngan là 1.968 con (chiếm 1,3%)
- Năm 2011: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 82 xã, 43 huyện, quận thuộc 22
tỉnh, thành phố là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Cà Mau, Đắk Lắk, Hà Nam, Kon Tum, Lạng Sơn, Long An, Nam Định, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Thái Nguyên, Tiền Giang, Hải Phòng, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc Tổng số gia cầm mắc bệnh là 110.311 con gia cầm trong đó có 39.126 con gà, 70.020 con vịt và 1.165 con ngan; tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 151.356 con trong đó 60.787 con gà, 89.204 con vịt và 1.365 con ngan
- Năm 2012: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 296 xã, 121 huyện, quận thuộc 32 tỉnh, thành phố là: Bắc Kạn, Bắc Giang, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Tháp, Hà Nam, Quảng Ngãi, Hải Dương, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tiền Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Hà Nội và Hải Phòng Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 616.109 con, trong đó 117.946 con gà (chiếm 19,14%), 479.859 con vịt (chiếm 77,89 %) và 18.304 con ngan (chiếm 2,97%)
- Năm 2013: Dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 104 xã, 64 huyện, quận thuộc 31 tỉnh, thành phố là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bình Dương, Bình Định, Bình Phước, Cà Mau, Đắk Lắk, Điện Biên, Quảng Ngãi, Hải Dương, Hậu Giang, Hòa Bình, Hưng Yên, Kiên Giang, Kon Tum, Khánh Hòa, Lạng Sơn, Long An, Nam Định, Ninh Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Hải Phòng làm 123.363 con gia cầm mắc bệnh (gà chiếm 17,3%, vịt, ngan chiếm 82,7%); tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 141.687 con (trong đó gà chiếm 23,5%, vịt, ngan là 76,5%) Ngoài ra, phát hiện một
số ổ dịch trên chim trĩ và chim cút (Tiên Giang) và 01 ổ dịch trên chim Yến (Ninh Thuận) Một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ
lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được tiêu hủy ngay và xử lý triệt để
Trang 18- Năm 2014, xuất hiện cúm A/H5N1 và cúm A/H5N6:
+ Cúm A/H5N1: Trong năm 2014, các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện tại
158 xã, phường của 93 huyện, thị xã thuộc 33 tỉnh, thành phố Số gia cầm mắc bệnh là 212.600 con (gà hơn 76.000 con, chiếm 36% tổng số mắc bệnh và vịt hơn 136.000 con, chiếm 64%); trong đó số chết là hơn 101.900 con (gà chiếm 31,6% trong tổng số chết, vịt chiếm 68,4%) Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện các điểm dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được phát hiện và xử lý kịp thời, không để dịch lây lan Từ cuối tháng 3 đến tháng 11/2014, cả nước đã kiểm soát được dịch cúm gia cầm H5N1 Tuy nhiên, cuối tháng 11/2014 đã xuất hiện 03 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 ở 03 hộ chăn nuôi tại 03 xã của 03 huyện thuộc 02 tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long làm 1.027 con gia cầm mắc bệnh và phải tiêu hủy
+ Cúm A/H5N6: Từ tháng 4/2014 đến tháng 8/2014, ổ dịch cúm gia cầm H5N6 lần đầu tiên xuất hiện tại tỉnh Lạng Sơn, sau đó xuất hiện tại các tỉnh khác gồm Lào Cai, Quảng Trị và Quảng Ngãi làm 5.188 con gia cầm và chim trĩ bị mắc bệnh Ngoài
ra virus cúm H5N6 cũng được phát hiện trên mẫu gia cầm giám sát tại tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam Ngày 13/12/2014, một ổ dịch H5N6 đã tái phát trên đàn chim cút 12,000 con tại thôn Lâm Lộc Bắc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh của tỉnh Quảng Ngãi, số chim cút chết là 2.965 con
- Năm 2015: Các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện tại 19 xã/phường của 18 huyện/thị xã thuộc 12 tỉnh/thành phố (Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bà Rịa Vũng Tàu, thành phố Cần Thơ, Đắk Lắk, Hà Tĩnh, Kon Tum, Nghệ An, Ninh Thuận, Thanh Hóa) Số gia cầm mắc bệnh là 56.138 con (gà 51.166 con, chiếm 91,14% tổng số mắc bệnh, vịt 4.922 con, chiếm 8,77% và ngan 50 con, chiếm <1%); trong đó số tiêu hủy là hơn 58.128 con (gà chiếm 90,66% trong tổng số chết vịt chiếm 9,25% và ngan chiếm <1%) Các ổ dịch cúm gia cầm H5N6 đã xuất hiện tại 27 xã/phường của 21 huyện/thị xã thuộc 14 tỉnh/thành phố (Đắk Nông, Hà Nam, Lai Châu, Lào Cai, Nam Định, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Sơn La, Kon Tum, Lạng Sơn, Quảng Nam, Thái Bình và Tuyên Quang) Số gia cầm mắc bệnh là 36.242 con (gà 13.159 con, chiếm 36,31% tổng số mắc bệnh, vịt 8.019 con, chiếm 22,13%, ngan 1.001 con, chiếm 2,76% và chim cút 14.063 con chiếm 38,80%); trong đó số tiêu hủy là 39.744 con (gà chiếm 44,20% trong tổng số chết, vịt chiếm 17,93%, ngan chiếm 2,49% và chim cút chiếm 35.38%)
- Năm 2016, xuất hiện cúm A/H5N1 và cúm A/H5N6:
+ Cúm A/H5N1: dịch xảy ra tại 07 xã, phường của 06 huyện, thị xã thuộc 03
tỉnh, thành phố (Nghệ An, thành phố Cần Thơ và Cà Mau) Số gia cầm mắc bệnh là 4.767 con (gà 1.517 con, chiếm 31,8% tổng số mắc bệnh, vịt 2.720 con, chiếm 57,1%
và ngan 530 con, chiếm 11,1%); trong đó số tiêu huỷ là 6.182 con, bao gồm cả gia cầm khỏe mạnh trong cùng đàn mắc bệnh (gà chiếm 35% trong tổng số chết, vịt chiếm 55,3% và ngan chiếm 9,7%)
Trang 19+ Cúm A/H5N6: dịch xảy ra tại 07 xã, phường của 06 huyện, thị xã thuộc 05
tỉnh, thành phố (Tuyên Quang, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ngãi, Kon Tum) Số gia cầm mắc bệnh là 5.189 con (gà 4.655 con, chiếm 89,70% tổng số mắc bệnh và vịt, ngan là 534 con, chiếm 10,30%); số gia cầm tiêu huỷ là 13.550 con, bao gồm cả gia cầm khỏe mạnh trong cùng đàn mắc bệnh (gà chiếm 91,90% trong tổng số chết, vịt chiếm 8,10%)
- Năm 2017: Đã xảy ra 40 ổ dịch cúm A/H5 (34 ổ dịch gây ra do virus cúm A/H5N1 và 06 ổ dịch do virus cúm A/H5N6; trung bình mỗi ổ dịch có 1.258 con gia cầm mắc bệnh) tại 83 hộ chăn nuôi gia cầm tại 31 huyện thuộc 21 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh là 50.316 con ( gà 25.198 con, chiếm 50,08% tổng số gia cầm mắc bệnh; vịt 24.665 con, chiếm 49,02%; ngan 453 con, chiếm 0,90%) và tổng số gia cầm tiêu hủy là 73.835 con ( gà 36.965 con, chiếm 50,06% tổng số gia cầm tiêu hủy; vịt 36.388 con, chiếm 49,28%; ngan 482 con, chiếm 1,30%) (Cục Thú y, 2017)
Bảng 1.3 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm từ năm 2014 - 2017
Năm Số tỉnh Số
huyện Số xã
Số gà mắc bệnh (con)
Số vịt mắc bệnh (con)
Số ngan mắc bệnh (con)
Tổng số mắc bệnh (con)
1.2.3 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm tại tỉnh Quảng Bình
Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Quảng Bình, tình hình dịch cúm gia cầm qua từng năm diễn biến như sau:
- Năm 2004, cúm gia cầm bùng phát tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên 4 huyện (Lệ Thủy, Quảng Ninh, Đồng Hới, Bố Trạch), gồm 13 xã, tiêu hủy 26.963 con gia cầm
- Năm 2005, dịch cúm gia cầm tiếp tục xảy ra trên địa bàn thị trấn Kiến Giang - Lệ Thủy, xã Châu Hóa - Tuyên Hóa làm chết và tiêu hủy 2.792 con gia cầm
- Năm 2007, dịch cúm gia cầm xảy ra tại xã Cam Thủy - Lệ Thủy, nguyên nhân
Trang 20xác định được là do con giống mang mầm bệnh vận chuyển từ Hà Tĩnh vào, thời điểm
đó tiêu hủy 1.900 con gia cầm
- Năm 2008, xã Tân Thủy - Lệ Thủy, xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm, làm tiêu hủy 6.600 con gia cầm
- Năm 2012, dịch cúm gia cầm xảy ra trong diện rộng trên địa bàn tỉnh tại 4 huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch Dịch kéo dài trong thời gian 01 tháng và được bao vây dập tắt, đã tiêu hủy 52.529 con gia cầm, trong đó, huyện Lệ Thủy 19.777 con, Quảng Ninh 13.473 con, Bố Trạch 7.482 con và Quảng Trạch 11.797 con
- Tháng 2/2014, dịch cúm gia cầm xảy ra tại xã Sơn Trạch - Bố Trạch làm chết
và tiêu hủy 2.750 con gà, 20 con ngan và 2.800 quả trứng
- Từ năm 2015 cho đến nay không có báo cáo xảy ra dịch cúm gia cầm, nhưng vẫn phát hiện các mẫu dương tính cá biệt với cúm gia cầm tại chợ gia cầm sống Qua báo cáo kết quả lấy mẫu giám sát chủ động cúm gia cầm qua các năm, cho thấy năm 2015, tỷ lệ dương tính với type A (gen M) cao hơn cùng kỳ năm trước 26,67
% đây là tỷ lệ khá cao so với các chương trình giám sát trước đó, tại các chợ gia cầm sống là 3,00% (từ tháng 12/2012 đến tháng 9/2013), 5,6% (từ tháng 11/2013 đến tháng 4/2014), 1,85% (từ tháng 5 đến tháng 10/2014)
Các mẫu dương tính type A (gen M) chủ yếu được phát hiện tại chợ gia cầm sống (8/11 mẫu), hộ chăn nuôi nhỏ lẻ phát hiện được 02 mẫu, các trang trại không có mẫu dương tính; trên đối tượng chim trời ghi nhận có 01 mẫu dương tính, đây là điều đáng lo ngại vì dịch cúm gia cầm xuất hiện đột ngột và có thể mang tính bùng phát ở nhiều khu vực khác nhau Các điều tra dịch tễ ban đầu trên thế giới luôn cho thấy đàn chim hoang và vịt trời đã xuất hiện ở khu vực trước khi dịch bệnh xảy ra
Phát hiện 01 mẫu cúm gia cầm độc lực cao cúm A/H5N6 thu được tại chợ Đức Ninh, thành phố Đồng Hới có nguồn gốc truy xuất từ hộ chăn nuôi nhỏ lẻ từ huyện Quảng Ninh
- Năm 2016, kết quả giám sát huyết thanh trước tiêm phòng có xấp xỉ 30% phát hiện kháng thể với virus cúm, giám sát chủ động có 15/60 mẫu dương tính với cúm A
- Năm 2017, thực hiện giám sát chủ động bệnh cúm gia cầm, tỷ lệ lưu hành rirus cúm A (gen M) là 21,7%
Trang 211.2.4 Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Quảng Trạch
Quảng Trạch là một huyện lớn nằm phía Bắc tỉnh Quảng Bình, nằm trải dài từ
17042’ đến 17059’ vĩ độ Bắc và từ 106015’ đến 106059’ độ kinh Đông; phía Bắc giáp huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh, phía Nam giáp thị xã Ba Đồn, phía Đông giáp biển đông
và phía Tây giáp huyện Tuyên Hóa; có các trục đường giao thông chính nối 2 đầu đất nước như đường Quốc Lộ 1A, đường Quốc lộ 12A nối nối Lào, đây là điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng liên kết, giao thương và hợp tác phát triển với các địa phương trong tỉnh, vùng Duyên hải miền Trung và trong cả nước có bờ biển dài 35 Km Huyện Quảng Trạch có 18 xã, phường; diện tích 614 Km2, dân số hơn 95.000 người, mật độ dân số 212 người/Km2 Có 4 dạng địa hình chính, gồm vùng núi cao, vùng đồi trung du, vùng đồng bằng và vùng cồn cát ven biển, có địa hình phía Tây là núi cao và thấp dần từ Tây sang Đông với khí hậu đặc trưng của chế độ nhiệt đới gió mùa chia làm 2 màu rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) Nhiều năm về mùa mưa thường có
lũ lụt trên diện rộng và bão lốc; mùa khô nắng gắt có gió Tây Nam khô nóng lượng nước bốc hơi lớn đạt 200mm/tháng, độ ẩm không khí thấp, gây hạn hán nghiêm trọng Đây là những yếu tố làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mặc dù, quy mô chăn nuôi gia cầm quy mô nhỏ, hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn là nhỏ lẻ và phân tán (gia trại và hộ chăn nuôi nhỏ lẻ), nhưng chăn nuôi gia cầm đã chiếm một vị trí quan trọng, góp phần ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế cho người chăn nuôi tại nông thôn, là một trong số huyện có tổng đàn gia cầm lớn phát triển khá đa dạng và phong phú về chủng loại, năm 2017 có hơn 580.000 con Diễn biến tổng đàn gia cầm của huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012 - 2017 được thể hiện ở bảng dưới đây
Bảng 1.4 Diễn biến tổng đàn gia cầm của huyện Quảng Trạch giai đoạn 2013-2017
Trang 22Mặt khác, Chương trình Quốc gia khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm được thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011 và hỗ trợ giám sát của dự án “ thu thập bằng chứng cho việc chuyển đổi chiến lược tiêm phòng cúm gia cầm độc lực cao H5N1 tại Việt Nam” gọi tắt là Dự án GEST, toàn bộ vắc xin và tiền công tiêm phòng bệnh cúm gia cầm (H5N1) được Nhà nước hỗ trợ vì vậy tỷ lệ tiêm phòng đạt cao (bình quân qua các năm tỷ lệ tiêm phòng bệnh cúm gia cầm đạt trên 80% tổng đàn trên cả gà
và vịt) Cuối năm 2011, người chăn nuôi phải tự lo chi phí tiêm phòng nên kết quả tiêm phòng đặt tỷ lệ thấp, đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm trong năm 2012 trên địa bàn huyện Quảng Trạch
1.2.5 Tình hình dịch cúm gia cầm huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012 – 2017
Năm 2012, dịch cúm gia cầm xảy ra trong diện rộng tại 4 xã trên địa bàn huyện, dịch kéo dài trong thời gian 01 tháng và được bao vây dập tắt kịp thời, đã tiêu hủy 11.797 con, kết quả được thể hiện bảng dưới đây
Bảng 1.5 Diễn biến dịch cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012-2017
Gà (con) Vịt (con)
Số mắc bệnh
Số chết
Số mắc bệnh
Số chết
Trang 23Qua bảng 1.5, cho thấy diễn biến dịch cúm gia cầm trên địa bàn huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012-2017 như sau:
Năm 2012, dịch cúm gia cầm xảy ra ở 17 hộ của 07 thôn tại 03 xã thuộc địa bàn huyện làm cho tổng số 11.711 con gia cầm mắc bệnh chết và phải tiêu hủy; trong đó trong đó số vịt bị chết 1.086 con, vịt mắc bệnh buộc phải tiêu hủy 10.711 con Từ năm
2013 đến 2017 trên địa bàn huyện không xảy ra dịch cúm gia cầm
Từ năm 2012 đến 2017 dịch cúm gia cầm trên địa bàn huyện Quảng Trạch xảy
ra chủ yếu trên đàn vịt, tỷ lệ đàn vịt mắc bệnh 10.711 con chiếm 91%
Kết quả phân tích cho thấy dịch cúm gia cầm tại huyện Quảng Trạch giai đoạn 2012-2017 chủ yếu xảy ra trên vịt, rải rác ở nhiều xã khác nhau, trên phương thức chăn nuôi nông hộ với quy mô dịch nhỏ, lẻ
Do dịch xảy ra ở quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình khiến cho công tác phòng, chống dịch càng trở nên khó khăn hơn vì khó phát hiện do việc nhiễm bệnh thường âm thầm
và người dân ít quan tâm, báo cáo dịch bệnh chậm Nhận xét này cũng phù hợp với báo cáo của Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm tại cuộc họp giao ban trực tuyến về công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm ngày 23/2/2015
Nhận xét về đặc điểm dịch cúm gia cầm: Nguồn dịch năm 2012, nguyên nhân xảy ra dịch là do đàn gia cầm khi mới mua về không được tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm, trong khi các hộ có dịch đều mua gà giống không rỏ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận kiểm dịch của cơ quan Thú y Khi phát hiện gia cầm phát bệnh các hộ dân không báo ngay cho cơ quan Thú y mà tự điều trị dẫn đến bệnh lây lan ra nhiều xã
1.3 Đặc điểm virus học bệnh cúm gia cầm
1.3.1 Cấu trúc của virus cúm gia cầm
Virus có vỏ ngoài với bộ gen là RNA một sợi âm Hạt virus (virion) có dạng hình khối tròn, hình trứng hoặc hình khối kéo dài có đường kính 80-120 nm Đôi khi virus có hình sợi kéo dài đến vài µm Phân tử lượng của hạt virus khoảng 4,6-6,4 Dalton Virus được bao bọc bằng các Protein và có màng Lipit ở ngoài cùng Bề mặt ngoài phủ bằng hệ thống Protein bao gồm Protein có phản ứng ngưng kết hồng cầu
HA (hemagglutinin), Protein enzyme cắt thụ thể NA (neuraminidase)
Trang 24Hình 1.1 Cấu trúc của virus cúm A
Capsid bên ngoài nhân của virus được cấu tạo từ Protein, cấu trúc đối xứng xoắn, độ dài 130-150 nm, đường kính 9-15 nm tạo thành giới hạn vòm của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau một cách riêng biệt
Cùng với virus cúm A thuộc họ Orthomyxoviridae còn có 3 nhóm khác là:
Virus cúm type B chỉ gây bệnh cho người
Virus cúm type C chỉ gây bệnh cho người và lợn
Virus nhóm Thogovirus
Nhóm virus cúm A có 16 phân type HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến N9), và sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các phân type HA và NA, về mặt lý thuyết, sẽ tạo ra nhiều phân type (subtype) khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng đột biến gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA), hoặc trao đổi các gen kháng nguyên với nhau, trong quá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ Bên trong áo ngoài có lớp protein nền (protein M1, matrix 1 protein (Phạm Hồng Sơn, 2013) Các protein matrix M1 tạo thành một lớp protein dưới màng virus và rất cần thiết cho sự ổn định và toàn vẹn của virus (Audray và cs, 2001)
Theo giáo trình Phạm Hồng Sơn (2013), trên màng áo ngoài virus có một số ít lỗ khổng (pore) hay kênh ion (ion channel) cấu tạo từ protein M2 xuyên qua cấu trúc màng của áo ngoài Theo Rafal M Pielak (2011) M2 của virus cúm là một protein xuyên màng mà tạo thành một kênh proton nhỏ xíu trong vỏ của virus Chức năng của nó là để cân bằng độ pH trên màng virus trong quá trình nhập bào (Rafal M và cs, 2011)
Trang 25Cấu trúc của virus cúm A/H5N1 được minh họa ở hình dưới đây
Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm A/H5N1
(Nguồn: www.aht.org.uk) 1.3.2 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A
RNA của virus giàu arginine, bao gồm 498 acid amin được gọi là nucleoprotein Có khoảng 1000 phân tử nucleoprotein trong một virion (John W.M.C
và Brian W.J., 1983)
Cấu tạo bộ gen của các orthomyxovirus là RNA một sợi gồm 8 phân đoạn BA
phân đoạn lớp nhất (phân đoạn 1 đến 3) mã hóa 3 loại protein polymerase (PB1, PB2, PA), 3 phân đoạn lớn trung bình (phân đoạn 4 đến 6) mã hóa HA, NA và NP, còn 2 phân đoạn nhỏ ( phân đoạn 7 và 8) mã hóa protein M1 và một số các protein phi cấu trúc (M2, NB, NS1, NS2) Tám phân đoạn RNA được ngăn cách bởi gel điện giải polyacrylamide (McGeoch D và cs, 1976)
Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzym trong phức hợp polymerase (RNA transciptase) của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao; các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HA và NA) bề mặt capsid của virrus, có tính kháng nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A; các phân đoạn gen M, NP và NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng khác nhau của virus, có độ dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A (Trần Quang Vui, 2012)
Theo Swayne và cộng sự (2000), virus cúm gia cầm type A có 8 phân đoạn
mã hóa mười protein khác nhau Bao gồm các protein bề mặt haemagglutinin (HA), neuraminidase (NA), protein matrix 2 (M2) và protein bên trong gồm polymerase protein (PB1, PB2 và PA), các nucleoprotein, protein matrix 1 (M1), prtein phi cấu trúc non-structural protein 1 và 2 (NS1, NS2) (Suarez và Schultz-Cherry , 2000)
Trang 26Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzymee trong phức hợp polymerase (RNA transcriptase) của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao, bao gồm:
- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein
enzymee PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzymee polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 84000Dalton (Runstadler J.A và cs, 2007)
- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp
enzymee PB1 - tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzymee polymerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA
- Phân đoạn 3 (gen PA) có kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn cao,
mã hóa tổng hợp protein enzymee PA có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng
83000Dalton PA là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên
mã RNA trong quá trình tổng hợp RNA của virus (Beard và cs, 1984)
Hình 1.3 Cấu trúc hệ gen của virus cúm A
Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HA và NA) bề mặt capsid của virus, có tính kháng nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A, bao gồm:
- Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm A
(ở A/H1N1 là 1778 bp, ở H9N1 là 1714 bp, ở H5N1 là khoảng 1704 - 1707 bp) Đây là gen chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp protein HA-kháng nguyên bề mặt virus cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2 HA1 nối với HA2 bằng một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt của enzymee protease, và đây là vùng quyết định độc lực của virus (Biswas và Nayak, 1996)
Trang 27- Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1.556 bp, mã hóa tổng hợp
nucleoprotein (NP) - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ NP là một protein được glycosyl hóa, có đặc tính kháng nguyên biểu hiện theo nhóm virus, tồn tại trong các hạt virus ở dạng kết hợp với mỗi phân đoạn RNA, có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 56.103Da (trên thực tế là 50 - 60.103 Da) (Lou và Palese 1992)
- Phân đoạn 6 (gene NA) là một gene kháng nguyên của virus, có chiều dài
thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi khoảng từ 1350 - 1410 bp) Đây là gene mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên
bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 50.103Da (trên thực tế là 50 – 60,103 Da) Các nghiên cứu phân tử gene NA của virus cúm cho thấy phần đầu 5’- của gene này (hay phần tận cùng N của polypeptide NA) có tính biến đổi cao và phức tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến quá trình thích ứng và gây bệnh của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau Đặc trưng biến đổi của gene NA trong virus cúm A là hiện tượng đột biến trượt-xóa một đoạn gene là 57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho độ dài vốn có trước đây của NA(N1) là 1,410 bp còn 1,350 bp (Collins và cs, 2003)
- Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước khoảng 1027 bp, mã hóa cho protein
đệm (matrix protein - M) của virus (gồm hai tiểu phần là M1 và M2 được tạo ra bởi những khung đọc mở khác nhau của cùng một phân đoạn RNA), cùng với HA và
NA có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của virus cúm A, có mối quan
hệ tương tác bề mặt với hemagglutinin Protein M1 là một protein nền, là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham
gia vào quá trình “nảy chồi” của virus Protein M2 là chuỗi polypeptide bé, có khối
lượng phân tử theo tính toán là 11.103 Da (trên thực tế là 15.103 Da), là protein chuyển màng-kênh ion (ion channel) cần thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo” virus trình diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ (Scholtissek và cs, 2002)
- Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein không cấu trúc (non structural
protein), có độ dài ổn định nhất trong hệ gen của virus cúm A, kích thước khoảng 890
bp, mã hóa tổng hợp hai protein là NS1 và NS2 (còn gọi là NEP, nuclear export protein), có vai trò bảo vệ hệ gen của virus nếu thiếu chúng virus sinh ra sẽ bị thiểu năng Độc tính của virus có sự liên quan với gen không cấu trúc (non-structural gen) này được tìm thấy ở biến chủng A/H5N1/97, trong tự nhiên, việc đột biến xóa đi một phần gen có liên quan đến giảm độc lực NS1 có khối lượng phân tử theo tính toán là 27.103 Da (trên thực tế là 25.103 Da), chịu trách nhiệm vận chuyển RNA thông tin của virus từ nhân ra bào tương tế bào nhiễm, và tác động lên các RNA vận chuyển cũng như các quá trình cắt và dịch mã của tế bào chủ NEP hay NS2, là gen hình thành từ hai đoạn gen (30 bp và 336 bp) mã hóa loại protein có khối lượng phân tử theo tính toán khoảng 14.103 Da (trên thực tế là 12x103 Da), đóng vai trò vận chuyển các RNP
Trang 28của virus ra khỏi nhân tế bào nhiễm để lắp ráp với capsid tạo nên hạt virus mới (Sekellick và cs, 2000)
1.3.3 Đặc tính kháng nguyên của virus
Virus mang hai loại gai kháng nguyên chính là yếu tố ngưng kết hồng cầu (haemagglutinin viết tắt là HA) và enzym trung hòa (neuraminidase viết tắt là NA) Có tất cả 16 biến thể HA (ký hiệu từ H1 đến H16) và 9 biến thể NA (ký hiệu từ N1 đến N9) Heamagglutinin được coi là yếu tố vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus cúm A (Trần Xuân Hạnh, 2004)
Protein HA (hemagglutinin) bám dính vào thụ thể chứa acid neuraminic trên bề mặt hồng cầu mà gây ngưng kết hồng cầu Phân tử HA có dạng hình trụ, dài khoảng
130 (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân (monomer) được tạo thành từ HA1 (36 kDa) và HA2 (27 kDa), liên kết với nhau bởi các cầu nối disulfide (-S-S-) Các đơn phân sau khi tổng hợp sẽ được glycosyl hóa (hay glycosylation là quá trình gắn kết các phân tử protein với nhau dưới tác động của enzym) như sau: HA1 sẽ gắn vào mặt ngoài vỏ capsid là dưới đơn vị HA2, phần đầu tự do hình chỏm cầu được tạo bởi dưới đơn vị HA1 chứa đựng vị trí gắn với thụ thể thích hợp trên bề mặt màng tế bào đích (Bosch và cs, 1981; Bosch và cs, 1979)
Trên bề mặt capsid của một virus có khoảng 400 phân tử HA với 2 chức năng chính là để nhận diện và gắn virus với tế bào đích của vật chủ tương thích Protein HA còn là kháng nguyên bề mặt quan trọng của virus cúm A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA, và tham gia vào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus, là đích của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, cơ sở điều chế các vắc xin phòng cúm hiện nay
Protein NA là một kháng nguyên bề mặt của virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tác dụng phong tỏa protein NA (Dohertyvà cs, 2006) Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HA của virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cơ thể với virus cúm A, và là cơ sở điều chế các vắc xin phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm, nhằm ngăn chặn dịch cúm ở gia cầm và hạn chế lây truyền sang người (Suarezvà Schultz-Cherry, 2000; Wu và cs, 2008) Có 9 phân type (từ N1 đến N9) được phát hiện chủ yếu ở virus cúm gia cầm, hai phân type N1 và N2 được tìm thấy ở virus cúm người liên quan đến các đại dịch cúm trong lịch sử Có khoảng 100 phân tử NA xen giữa các phân tử HA trên bề mặt capsid virus Phân tử NA có dạng nút lồi hình nấm, đầu tự do (chứa vùng hoạt động) gồm 4 đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng, và phần kị nước gắn vào vỏ capsid (Castruccyvà Kawanka, 1993; Wagnervà cs, 2002) Kháng nguyên NA ở 36oC cắt đứt phân tử acid neuraminic nên làm cho virus tách khỏi hồng cầu (Phạm Hồng Sơn, 2013)
Trang 29Các loại protein kháng nguyên: protein nhân (NP), protein đệm (matrix protein - M1), protein HA, protein enzym cắt thụ thể (NA) là những protein kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất
Sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên mà virus cúm có được là do sự biến đổi và trao đổi kháng nguyên trong nội bộ gene và giữa gene haemagglutinin (HA) và
gene neuraminidase (NA).Sự biến đổi trong nội bộ gen hay đột biến ngẫu nhiên
(antigenic drift) là biến dị xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của viurs cúm Quá trình đột biến ngẫu nhiên xảy ra ở gen mã hóa cho hemagglutinin và neuraminidase dẫn đến sự thay đổi một số acid amin trong protein hemagglutinin neuraminidase Nhờ sự biến đổi này cho phép virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA
và 9 biến thể gen NA Các biến chủng mới, khác với chủng cũ là nó có những thành phần kháng nguyên mới, thay thế cho những thành phần kháng nguyên cũ, do đó những kháng thể miễn dịch cũ không còn tác dụng với kháng nguyên mới Trong đó kháng nguyên H có vai trò gây nhiễm của virus, còn kháng nguyên N giúp cho virus lan tràn trong cơ thể nó có giáng hoá các cảm thụ quan (receptor ) và thúc đẩy phóng thích các hạt virus ra khỏi tế bào Ngoài ra cấu trúc (H) và (N) thường dễ thay đổi để trở thành typ và thứ typ mới
Hiện tượng Antigen Drift này thường xảy ra ở các phân đoạn gen kháng nguyên
NA và HA, tạo ra các bộ mã tổng hợp các amino acid mới, hoặc làm thay đổi cấu trúc dẫn đến thay đổi đặc tính của protein đó, hoặc có khả năng glycosyl hóa rất cao trong cấu trúc chuỗi polypeptide kháng nguyên, tạo ra một biến thể virus mới thay đổi độc lực gây bệnh hay đặc tính kháng nguyên mới
Nguyên nhân hiện tượng trên là do virus cúm A kýsinh nội bào bắt buộc, không
có cơ chế “đọc và sửa bản sao - proof reading” trong quá trình phiên mã và sao chép ở nhân tế bào đích Sự thiếu hụt enzyme sửa chữa RNA dẫn đến các enzyme sao chép phụ thuộc RNA sẽ có thể “gài” thêm (đột biến giãn nở), làm mất đi hoặc thay thế (đột biến trượt-xóa) (Lê Thanh Hòa, 2006) một hay nhiều nucleotide mà không được sửa chữa trong phân tử RNA chuỗi đơn mới của virus (Conenello và cs, 2007; Lê Thanh Hòa, 2006) Tuỳ thuộc vị trí xảy ra các đột biến trong bộ ba mã hóa, mà có thể trực tiếp làm thay đổi các amino acid trong trình tự của protein được mã hóa biểu hiện, dẫn đến thay đổi thuộc tính của protein, hoặc được tích lũy trong phân đoạn gen xảy ra đột biến (đột biến điểm) Theo nghiên cứu của Webster (1998) và Rabadan (2006), tần suất xảy ra đột biến điểm rất cao, cứ mỗi 10.000 nucleotide (tương ứng với độ dài của RNA hệ gen của virus cúm A) thì có 1 nucleotide sai khác (Runstadler và cs, 2007; Wagner và cs, 2002)
Theo Very và cộng sự (1992), nhờ hiện tượng Drift của virus có thể lý giải được rằng không phải các kháng nguyên H1, H5 đều giống nhau hoặc N1, N2 đều giống nhau Sự khác nhau trong chính các H hay N đó do biến dị ngẫu nhiên tạo nên
Trang 30tính thích ứng với từng loại vật chủ khác nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau
ở chính mỗi loại hình tái tổ hợp HA và NA (Trifonovvà cs, 2009) Như vậy, gần như mỗi hạt virus mới được sinh ra đều chứa đựng một đột biến điểm trong hệ gen của nó,
và các đột biến này sẽ được tích lũy qua nhiều thế hệ virus sẽ làm xuất hiện một phân type virus mới có những đặc tính kháng nguyên mới có thể bị sai lệch
Hiện tượng Antigen Shift còn được gọi là trộn kháng nguyên hay hiện tượng tái tổ hợp gen Antigen Shift ít xảy ra hơn và chỉ có ở virus cúm và một số ít virus RNA gây bệnh trên gia cầm khác, cho phép virus có khả năng biến chủng rất cao (Hoa và cs, 2001)
Hệ gen gồm 8 phân đoạn gen riêng biệt của virus cúm A được 2 chủng virus cúm
A khác nhau khi đồng nhiễm trong một tế bào trao đổi cho nhau, để có thể xảy ra sự hoà trộn (reassort) hoặc trao đổi (swap) các phân đoạn gen của hai chủng virus đó trong quá trình kết hợp lại RNA hệ gen, tạo ra các trạng thái khác nhau của RNA hệ gen của các hạt virus mới từ hai RNA hệ gen của những virus ban đầu Kết quả là đã tạo ra thế hệ virus mới có các phân đoạn gen kết hợp, và đôi khi giúp cho chúng có khả năng lây nhiễm ở loài vật chủ mới hoặc gia tăng độc lực gây bệnh (Hilleman, 2002)
Hiện tượng Atigen Shift tuy chỉ xuất hiện với tần suất rất thấp nhưng khi hiện tượng tái tổ hợp gen xảy ra sẽ gây ra dịch lớn cho người và động vật, đồng thời cho thấy nguy cơ của sự lưu hành cùng một lúc nhiều loại virus lớn trong cùng một không gian
và thời gian kéo dài Điều đáng quan tâm ở đây là giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Chính vì vậy sẽ gây nên trở ngại lớn cho các nghiên cứu tạo ra vắc xin cho người và động vật (Kawaoka
Y, 1991; Very M và cs, 1992)
Bên cạnh hiện tượng Antigen Drift và Antigen Shift còn có hiện tượng
Glycosyl hóa (glycosylation) là sự gắn kết của một chuỗi carbonhydrate (oligosaccharide) vào với amino acid Asparagine (N) ở một số vị trí nhất định trong
chuỗi polypeptide HA hay NA, hay một số polypeptide khác của virus cúm Thông thường chuỗi oligosaccharide được gắn tại vị trí N-X-S/T (N = Asparagine; X = amino acid bất kì, trừ Proline; S/T = Serine hoặc Threonine) Đây là những vị trí được cho là gắn kết với các kháng thể được cơ thể sinh ra do kích thích của kháng nguyên, nhằm bảo
vệ cơ thể nhiễm Hiện tượng lệch kháng nguyên sinh ra đột biến điểm hình thành bộ mã của Asparagine, tạo tiền đề cho hiện tượng glycosyl hóa xảy ra khi tổng hợp chuỗi polypeptide HA hay NA, làm thay đổi biểu hiện đặc tính kháng nguyên của HA và NA, giúp cho virus thoát khỏi tác động miễn dịch bảo hộ của cơ thể chủ và điều hoà sự nhân lên của virus (Baigentvà McCauley, 2001; Phan Văn Chi và cs, 2008)
Trang 31Hình 1.4 Sơ đồ minh họa đột biến điểm của hiện tượng “ kháng nguyên” (antigenic
drift) (A) và đột biến tái tổ hợp của hiện tượng “trộn kháng nguyên” (antigenic shift)
ở virus cúm A (B)
1.3.4 Cơ chế xâm nhập, nhân lên và gây bệnh của virus
Virus cúm A/H5N1 có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô
hấp, hơn nữa đây là loại virus sống kí sinh nội bào bắt buộc nên quá trình xâm
nhiễm và nhân lên chủ yếu xảy ra ở đường hô hấp
Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của HA và
thụ thể thích ứng của nó trên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng hệ gen
của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm
Hình 1.5 Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus trong tế bào vật chủ
Trang 32- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzymee neuraminidase Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6 giờ) Sự tạo thành các hạt virus mới không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử và rơi vào quá trình chết theo chương trình (apoptosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ (Nguyễn Văn Cảm và cộng sự, 2011)
- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA transcription) Phức hợp protein-RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào
- Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-polymerase Các sợi này không được Adenine hóa (gắn
thêm các Adenine - gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp với nucleoprotein (NP)
tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzymee ở từng phân đoạn gen của virus và được enzymee PB2 gắn thêm 10 - 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus
- Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên
mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện tượng “nảy chồi” của
virus NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân tế bào để kết hợp với RNA
thành RNP của virus Sau cùng các RNP của virus được hợp nhất với vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa HA với thụ
thể chứa acid sialic Các NA phân cắt các liên kết này và giải phóng các hạt virus trưởng thành tiếp tục xâm nhiễm các tế bào khác (Nguyễn Văn Cảm và cộng sự, 2011)
1.3.5 Độc lực của virus
Để đánh giá độc lực của virus cúm gia cầm người ta sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3-6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng đã gây nhiễm virus với tỉ lệ pha loãng 1/10, sau đó đánh giá mức độ nhiễm của gà để cho điểm (chỉ
số IVPI: Intravenous Pathogenicity Index) Điểm tối đa là 3 với virus có độ độc lực cao nhất, theo quy định của Ủy ban châu Âu bất cứ virus nào có chỉ số IVPI từ 1.2 trở lên thuộc nhóm HPAI - độc lực cao (Nguyễn Tiến Dũng, 2004; OIE, 1992)
Trang 33Tính gây bệnh hay độc lực của virus cúm A được chia làm hai loại: Loại độc lực cao (HPAI - Highly pathogenic avian influenza), và loại độc lực thấp (LPAI - Low pathogenic avian influenza), cả hai loại đều cùng tồn tại trong tự nhiên
- HPAI là loại virus cúm A thường gây chết 100% số gia cầm bị nhiễm trong vòng 48 giờ bị nhiễm với khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng HPAI phát triển tốt trên tế bào phôi gà và trong tế bào thận chó trong môi trường nuôi cấy không
có trypsin (Webster, 1998; Alexander, 2007) Loại này rất nguy hiểm, gây nhiều lo ngại cho cộng đồng
- LPAI là loại virus cúm A khi phát triển trong cơ thể bị nhiễm chỉ gây bệnh cúm nhẹ, không gây triệu chứng lâm sang điển hình và không gây chết vật chủ Đây là những virus lây truyền rộng rãi và tạo nên các ổ bệnh trong tự nhiên của virus cúm A, loại này
có thể trao đổi gen với các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trên cùng một tế bào,
và trở thành virus độc lực cao nguy hiểm (Webster, 1998; Alexander, 2007)
Cho đến nay, hầu như các vụ dịch lớn đều do virus HPAI gây ra thường là virus
có kháng nguyên H5, H7, H9 Riêng H5 và H7 thông thường bắt nguồn từ virus độc lực thấp, sau quá trình lây truyền trên gà và chim cút độc lực tăng lên rất nhanh và gây
ra các vụ dịch lớn (Alexander, 1996)
1.3.6 Sức đề kháng của virus
Virus cúm A tương đối nhạy cảm với các tác nhân bất hoạt vật lý học hay hóa học Các hạt virus tồn tại thích hợp trong khoảng pH từ 6,5 đến 7,9 Ở PH quá acid hay quá kiềm, khả năng lây nhiễm của virus bị giảm mạnh Lớp vỏ ngoài của virus bản chất là lớp lipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm, dễ bị phá hủy bởi các dung môi hòa tan lipid, chất tẩy rửa và các chất sát trùng Dưới ánh sáng trực tiếp virus bất hoạt sau 40 giờ, ở ánh sáng bình thường tồn tại được 15 ngày Tia tử ngoại làm bất hoạt virus nhưng không phá hủy kháng nguyên virus Trong phụ tạng gia cầm (400C) virus tồn tại được 25-30 ngày, trong phân gia cầm tồn tại ít nhất 3 tháng, nếu bảo quản
ở nhiệt độ -70oC virus có thể tồn tại hàng năm
Tuy nhiên, Virus cúm A dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ 100oC và 60oC trong 30 phút Trong cơ thể người (37oC) tồn tại được 7-8 ngày, trong nước tồn tại được 3-4 ngày ở nhiệt độ 30oC Trong thức ăn, nước uống virus có thể tồn tại hàng tuần, đây là một trong những nguồn mang mầm bệnh nguy hiểm tiềm tàng có thể làm phát sinh và phát tán mầm bệnh
1.3.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus
Có thể nuôi cấy virus cúm gia cầm trên phôi gà 9 - 11 ngày tuổi; trên tế bào xơ
phôi gà CEF (Chicken Embryo Fibroblast) và tế bào thận chó MDCK
(Madin-Darby-Canine-Kidney) với điều kiện môi trường nuôi cấy không chứa trypsin
Virus được bảo quản ở-70oC hoặc đông khô giữ đặc tính gây bệnh rất lâu (Phạm Hồng Sơn, 2013)
Trang 341.4 Truyền nhiễm học
1.4.1 Động vật cảm nhiễm
Tất cả loài gia cầm, thủy cầm, chim hoang dã (đặc biệt là thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus cúm A Bệnh thường phát hiện khi lây nhiễm cho gia cầm (gà, gà tây, vịt, chim cút) Ngoài ra virus cúm A có thể lây bệnh cho các loài động vật có vú như lợn, thú hoang dã, ngựa, người Nhờ đặc tính thay đổi tính kháng nguyên trong tự nhiên, tạo nên tính thích ứng lan truyên “nội loài” như gà-gà, vịt-vịt hay “ngoại loài” như gà - lợn, lợn - gà - người Đặc điểm thích ứng vật chủ này tạo điều kiện cho virus cúm A tái tổ hợp các phân đoạn gene, đặc biệt các phân đoạn gene kháng nguyên (gene “độc” HA và NA) giữa các chủng, tạo ra chủng virus mới có khả năng thích ứng xâm nhiễm vào vật chủ mới khi chúng vượt qua được rào cản loài, chúng dễ dàng thích ứng lây nhiễm giữa giacầm với người, và người với người Đại dịch cúm Châu Á năm 1968, cúm A/H3N2 là kết quả của sự tổ hợp tự nhiên của virus cúm A/H2N2 của người và virus chứa gene N3 trong tự nhiên thông qua đồng nhiễm trên lợn
Hình 1.6 Mối quan hệ lây nhiễm và thích ứng các loài vật chủ của virus cúm A 1.4.2 Sự truyền lây bệnh
Khi gia cầm nhiễm cúm, virus nhân lên trong đường tiêu hóa và đường hô hấp,
sự truyền lây được thực hiện theo 2 phương thức:
- Lây trực tiếp: do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm
- Lây gián tiếp: qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim,
Trang 35thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển,
Ngoài ra, đối với gia cầm nuôi, nguồn dịch đầu tiên thường thấy là: từ các loài gia cầm nuôi trong cùng trang trại hoặc trang trại liền kề; lây truyền qua trứng, từ gia cầm nhập khẩu, từ chim di trú, đặc biệt là các loài chim nước di trú, từ người và các động vật có vú khác (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm, 2005)
Sự truyền lây theo chiều ngang của virus cúm gia cầm thường xảy ra nhưng hiện nay thiếu bằng chứng về truyền lây theo chiều dọc Tuy nhiên, trên gà mái bị nhiễm virus cúm gia cầm, người ta có thể phân lập được virus trên vỏ trứng và các thành phần bên trong trứng Đường gây bệnh thành công trong thí nghiệm bao gồm: khí dung, trong mũi, trong xoang, trong khí quản, miệng, kết mạc, trong cơ, trong xoang bụng, túi khí, mạch máu, lỗ huyệt
1.4.3 Loài vật mang virus
Virus cúm đã được phân lập ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt trời, thiên nga, hải âu, vẹt, mòng biển, diều hâu, chim họ sẻ Tuy nhiên, tần suất và số lượng virus phân lập được ở loài thủy cầm đều cao hơn các loài khác Điều tra thủy cầm di trú ở Bắc
Mỹ cho thấy trên 60% chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Trong các loài thủy cầm thì vịt trời có tỷ lệ nhiễm virus cao hơn cả Những virus này không gây bệnh cho vật chủ, mà được nhân lên trong đường ruột và bài thải ra ngoài, trở thành nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm Cuối tháng 10/2004, OIE, FAO và WHO đã lưu ý các nước đã trải qua dịch cúm gia cầm H5N1 cho rằng vịt nuôi có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan chủng virus cúm gia cầm H5N1 thể độc lực cao cho các gia cầm khỏe và rất có thể lây truyền virus trực tiếp cho con người vì vịt nuôi và gà nhiễm bệnh cùng bài thải lượng virus như nhau, nhưng vịt nuôi thường không thể hiện các triệu chứng lâm sàng FAO và OIE đã phối hợp đánh giá vai trò của vịt nuôi nhằm đưa ra chiến lược lâu dài với mục đích khống chế các ổ dịch cúm gia cầm ở châu Á (Lê Thanh Hòa, 2006) Virus cúm A/H5N1 lưu hành ở một số nước khu vực châu Á có độc lực với gà, chuột đã tăng lên và mở rộng phổ gây bệnh của nó trên cả loài mèo Một số động vật có
vú như cầy vằn, chồn hay chó cũng nhiễm bệnh và bài thải virus (Lê Thanh Hòa, 2006)
1.4.4 Chất chứa virus
Trong cơ thể gia cầm mắc bệnh, sau khi xâm nhập qua đường hô hấp hoặc tiêu hoá, virus nhân lên rất nhanh và xuất hiện trong các chất tiết đường hô hấp như nước mắt, nước mũi hoặc nước bọt, từ đó lây lan cho các con còn lại trong đàn Vì vậy chỉ cần một con mắc bệnh, các con khác sẽ bị lây bệnh rất nhanh Thời gian nung bệnh tùy thuộc vào độc lực của chủng gây bệnh Đối với chủng độc lực cao như H5 hoặc H7, thời gian nung bệnh thường rất ngắn, trung bình khoảng 3-14 ngày
Trang 361.4.5 Cách sinh bệnh
Đầu tiên virus xâm nhập qua đường hô hấp hay tiêu hóa và nhân lên trên tế bào niêm mạc, sau đó virus theo hệ thống mạch máu hay bạch huyết để gây nhiễm và nhân lên ở các cơ quan nội tạng, não và da Những biểu hiện triệu chứng lâm sàng và chết xảy ra do hư hoại của các cơ quan Sự tổn hại do virus cúm gây ra là kết quả của một trong 3 tiến trình: việc nhân lên trực tiếp của virus trong tế bào, mô và cơ quan; ảnh hưởng gián tiếp từ sự sản sinh các tế bào trung gian như cytokine; nghẽn mạch cục bộ
do huyết khối Đối với virus có độc lực thấp thì việc nhân lên thường giới hạn ở đường
hô hấp và tiêu hóa Gia cầm có biểu hiện bệnh và chết đa số thường do tổn hại cơ quan
hô hấp đặc biệt khi kèm theo nhiễm trùng thứ phát
1.4.6 Mùa phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung vào vụ đông xuân
từ tháng 10 năm trước đến tháng 2-3 năm sau, khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết biến đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động buôn bán, vận chuyển, giết mổ diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh và lây lan
1.5 Triệu chứng và bệnh tích
1.5.1 Triệu chứng chung
Thời kỳ ủ bệnh thường ngắn, từ vài giờ tới 3 ngày, tùy thuộc số lượng, độc lực của virus, đường nhiễm bệnh, loài cảm nhiễm virus gây bệnh Một số nghiên cứu cho thấy thời gian ủ bệnh trong nhiều trường hợp có thể dài hơn đến 7 ngày và lâu nhất có thể đến 14 ngày (Nguyễn Mạnh Kiên, 2014)
Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào các yếu tố: chủng virus,
số lượng virus, loài cảm nhiễm, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, thành phần không khí,…), chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm bệnh, sự bội nhiễm của một số vi sinh vật khác
Nhìn chung, triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm vô cùng phức tạp, đa dạng trong các thể bệnh kể cả ngay trong cùng một loài gia cầm Biểu hiện bệnh có thể
từ không hoặc có rất ít dấu hiệu lâm sàng nhưng chết đột ngột đến biểu hiện lâm sàng điển hình và các thể bệnh nhẹ hoặc ẩn tính
1.5.2 Triệu chứng ở chủng virus độc lực cao
Khi nhiễm các chủng virus độc lực cao (HPAI) gia cầm thường chết đột ngột, tỷ
lệ chết khá cao có khi lên đến 100% trong vài ngày Các triệu chứng về hô hấp thường xuất hiện đầu tiên và khá điển hình như ho khẹc, hắt hơi, thở khò khè, vảy mỏ, chảy
Trang 37nhiều nước mắt, nước mũi Tiếp theo là mi mắt bị viêm, mặt phù nề, sưng mọng Mào tích dày lên do thủy thũng, tím tái, có nhiều điểm xuất huyết Thịt gà bị bệnh thường thâm xám, dưới da vùng chân có xuất huyết (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005)
Bên cạnh các triệu chứng về hô hấp, gia cầm bị bệnh cúm còn có biểu hiện thần kinh: đi lại không bình thường, run rẩy, mệt mỏi, nằm li bì tụ đống với nhau Ngoài ra khi gia cầm mắc cúm thường tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng hoặc xanh, năng suất trứng giảm mạnh (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005)
1.5.3 Triệu chứng ở chủng virus cúm độc lực thấp
Gia cầm bị nhiễm các chủng virus có độc lực yếu hơn cũng có những triệu chứng tương tự như ở bệnh do những chủng có độc lực cao gây ra, nhưng mức độ biểu hiện nhẹ hơn và tỷ lệ chết thấp hơn Tuy nhiên, khi có sự cộng thêm với vi khuẩn hoặc virus khác có khả năng gây bệnh hoặc điều kiện môi trường bất lợi thì tỷ lệ tử vong có thể đạt 60-70% và các triệu chứng lâm sàng cũng dần nặng hơn (Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh, 2008)
1.5.4 Bệnh tích
Bệnh tích bệnh cúm rất đa dạng Nhìn chung sẽ có các bệnh tích đặc trưng: Mào, yếm sưng to, tím sẫm, phù mí mắt
Phù keo nhầy và xuất huyết cơ đùi (phần giáp đầu gối)
Da chân xung huyết, đỏ sẫm
Dạ dày cơ xuất huyết, đôi khi xuất huyết dạ dày tuyến như ở Newcastle Niêm mạc khí quản, niêm mạc đường tiêu hóa viêm cata và viêm tơ huyết Khí quản phù, chứa nhiều dịch nhầy Dịch nhầy có thể đông đặc như phomat Các cơ quan nội tạng như màng bao tim, màng gan, màng ruột viêm tơ huyết Ruột viêm cata và xuất huyết Hạch ruột sưng
Lách, gan, thận, phổi sưng to, hoại tử màu vàng, màu xám
Mỡ vành tim xuất huyết Với gà trống xuất huyết bên trong dịch hoàn
Gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng, vỡ trứng non
Tuyến tụy xuất huyết và hoại tử Tuyến tụy chuyển sang màu vàng có vết sẫm
Trang 38Một số hình ảnh tổn thương đại thể cúm gia cầm
Phù keo nhầy dưới da đầu Xuất huyết da chân vùng không lông
Khí quản xuất huyết Phổi viêm, xuất huyết, phù
Mỡ phủ tạng xuất huyết Dạ dày tuyến xuất huyết
Hình 1.7 Bệnh tích đại thể ở gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1
Nguồn: Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
Trang 391.6 Các phương pháp chẩn đoán
1.6.1 Dựa vào dịch tễ học
Bệnh cúm gia cầm có tính chất lây lan nhanh và mạnh, loài mắc bệnh thường là gia cầm và các loài chim hoang dã Gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc, nhưng thường từ 4-66 tuần tuổi, đặc biệt là gia cầm trong thời kỳ đẻ Bệnh thường xảy ra vào lúc thời tiết giao mùa khi điều kiện khí hậu bất lợi (thường từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau) Bệnh xảy ra nhanh chóng, có thể từ vài giờ đến vài ngày, tỷ lệ chết rất cao,
có khi 100%
1.6.2 Dựa vào lâm sàng
1.6.2.1 Dựa vào triệu chứng
Gia cầm bị bệnh thường bị xù lông, ủ rủ, bỏ ăn, giảm đẻ
Đầu, mặt sưng, phù quanh mắt Mào yếm sưng, xuất huyết
Mắt bị viêm kết mạc và có thể bị xuất huyết
Chân giữa vùng bàn và khuỷu bị xuất huyết
Có các triệu chứng ở đường hô hấp
Nếu virus có độc lực cao thì gà có thể chết nhanh, gà thường chết trong vòng 24 giờ đến 48 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên (Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh, 2008)
1.6.2.2 Dựa vào bệnh tích
Xuất huyết lan tràn ở các cơ quan nội tạng
Dưới da vùng đầu, cổ, ngực bị phù thũng
Miệng chứa nhiều dịch
Khí quản xuất huyết chứa nhiều dịch nhầy
Đường tiêu hóa xuất huyết
Gà đẻ buồng trứng xuất huyết hoặc bị viêm, có nhiều trứng non vỡ (Trần Hữu Cổn và Bùi Quang Anh, 2008)
1.6.3 Chẩn đoán bằng huyết thanh
Sử dụng các phản ứng huyết thanh học như phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI) hay phản ứng miễn dịch gắn men ELISA phát hiện kháng thể kháng virus trong máu của gia cầm Phương pháp này cho kết quả chính xác cao, phát hiện nhanh
và sớm bệnh cúm gia cầm
Trang 401.6.4 Chẩn đoán bằng xét nghiệm
1.6.4.1 Khái quát Realtime PCR:
Real time PCR là kỹ thuật nhân bản DNA đích trong ống nghiệm thành hàng tỷ bản sao dựa vào các chu kỳ nhiệt và kết quả khuếch đại trong ống phản ứng được hiển thị cùng lúc với phản ứng khuyếch đại xảy ra để có thể đọc được sau mỗi chu kỳ nhiệt
Sự phát hiện sản phẩm PCR sẽ dựa vào cường độ huỳnh quang của bình phản ứng Hàm lượng chất phát huỳnh quang sẽ tăng dần theo chu kỳ nhiệt và tỷ lệ thuận với sản phẩm được nhân bản
Cường độ phát huỳnh phụ thuộc vào hàm lượng chất phát huỳnh quang Ban đầu, tín hiệu huỳnh quang còn ở tín hiệu nền nên không thể phát hiện được sự gia tăng tín hiệu cho dù có quá trình khuếch đại và sản phẩm đã tăng theo hàm mũ Đến một thời điểm xác định, sản phẩm khuếch đại đã tạo ra đủ tín hiệu huỳnh quang có thể phát hiện được Chu kỳ này được gọi là chu kỳ ngưỡng Ct (Cycle of threshold) Đây cũng là giá trị để đánh giá kết quả phản ứng (Phạm Hùng Vân, 2008) (Nguyễn Văn Cảm, 2005)
1.6.4.2 Nguyên lý phản ứng Real time PCR (RT-PCR)
- Phản ứng Real time PCR là một kỹ thuật PCR sử dụng các đặc điểm của quá trình sao chép DNA Trong phản ứng PCR truyền thống, sản phẩm khuếch đại được phát hiện qua phân tích điểm kết thúc bằng cách điện di DNA trên gen agarose khi phản ứng kết thúc Ngược lại, RT–PCR cho phép phát hiện và định lượng sự tích lũy DNA khuếch đại ngay khi phản ứng đang xảy ra Khả năng này được phát hiện nhờ bổ sung vào phản ứng những phân tử phát huỳnh quang Những hóa chất phát huỳnh quang bao gồm thuốc nhuộm liên kết DNA và những trình tự gắn huỳnh quang liên kết đặc hiệu với primer gọi
là probe Khi DNA tương hợp với primer thì quá trình sao chép sẽ xảy ra và sự gia tăng lượng tín hiệu huỳnh quang tỷ lệ với sự gia tăng lượng DNA Khi sử dụng máy Realtime, máy có bộ phận (Camera) có thể chụp được tín hiệu huỳnh quang khi quá trình khuếch đại xảy ra Ban đầu, tín hiệu huỳnh quang còn ở tín hiệu nền ta không thể phát hiện sự gia tăng tín hiệu cho dù có quá trình khuếch đại và sản phẩm đã tăng theo hàm mũ Đến một thời điểm xác định, sản phẩm khuếch đại đã tạo ra đủ tín hiệu huỳnh quang có thể phát hiện được Chu kỳ này được gọi là chu kỳ ngưỡng Ct (Cycle of threshold) Đây cũng là giá trị để đánh giá kết quả phản ứng
Virus cúm gia cầm type A có vật chất di truyền là RNA nên trong phản ứng real time PCR có thêm quá trình sao chép ngược từ RNA → cDNA gọi là Reverse transcription nên phương pháp này được gọi là Real time RT-PCR
- Nguyên lý hoạt động của probe
Có nhiều loại hóa chất phát huỳnh quang dựa trên primer và probe, hóa chất được sử dụng trong phản ứng Real time RT-PCR là Taqman Probe