LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Tác động của thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến cổ phiếu các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là kết quả của quá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
- -
TRẦN THỊ NGỌC QUYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TAỊ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
- -
TRẦN THỊ NGỌC QUYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng (Ngân hàng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hướng dẫn khoa học: PGS TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Tác động của thị trường chứng khoán, lãi suất
và tỷ giá hối đoái đến cổ phiếu các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là kết quả của
quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế và có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Tp Hồ Chí Minh, Tháng 08/2018
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẤT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài: 1
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
1.8 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Thị trường chứng khoán 6
2.1.2 Khái niệm cổ phiếu 9
2.1.3 Giá cổ phiếu 11
2.1.4 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu 11
2.1.4.1 Các nhân tố cơ bản 12
2.1.4.2 Các nhân tố vĩ mô 13
2.2 Lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến giá cổ phiếu các ngân hàng thương mại tại Việt Nam 14
2.2.1 Lãi suất 14
2.2.2 Tỷ giá hối đoái 17
Trang 52.2.3 Thị trường 18
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ngân hàng 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Thực trạng tình hình tại Việt Nam 28
3.1.1 Hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam 28
3.1.2 Thực trạng hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam 30
3.1.3 Tình hình thực tiễn của các cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết 33
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 36
3.3 Mô hình nghiên cứu 40
3.3.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM 40
3.3.2 Mô hình APT đa nhân tố 43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ HỒI QUY 45
4.1 Kết quả CAPM 45
4.2 Kết quả mô hình phân tích hồi quy 47
CHƯƠNG 5: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC 55
ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Đề xuất 56
PHỤ LỤC 68
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẤT
APT: Mô hình nhân tố APT
CAPM: Mô hình định giá tài sản vốn CAPM
GDP: Gross Domestic Product
HNX: Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE: Sàn giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh LIBOR: Lãi suất liên ngân hàng LIBOR
NHNN: Ngân hàng nhà nước
OLS: Ordinary Least Square
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3 1 Bảng mô tả dữ liệu 38
Bảng 3 2 Danh sách các ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán 38
Bảng 3 3 Bảng thống kê mô tả các nhân tố 39
Bảng 4 1 Kết quả phân tích CAPM 45
Bảng 4 2 Kết quả hồi quy cổ phiếu VCB 47
Bảng 4 3 Kết quả hồi quy cổ phiếu CTG 48
Bảng 4 4 Kết quả hồi quy cổ phiếu BIDV 48
Bảng 4 5 Kết quả hồi quy cổ phiếu MBB 49
Bảng 4 6 Kết quả hồi quy cổ phiếu STB 49
Bảng 4 7 Kết quả hồi quy cổ phiếu EIB 50
Bảng 4 8 Kết quả hồi quy cổ phiếu ACB 50
Bảng 4 9 Kết quả hồi quy cổ phiếu SHB 51
Bảng 4 10 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy giá cổ phiếu các ngân hàng 51
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2 1 Thị trường tài chính Việt Nam 8
Hình 2 2 Biến động tỷ giá VND/USD từ 2010 đến 2018 17
Hình 2 3 Chỉ số VNINDEX từ 1/2010 đến tháng 7/2018 18
Hình 2 4 Quy trình hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam 29
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Ngân hàng thương mại là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị trường và
hệ thống tài chính Và do là một bộ phận quan trọng như vậy thì sức khỏe của ngân hàng thương mại phải được nghiên cứu và soi xét rất kỹ - và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán phần nào phản ánh được sức khỏe của ngân hàng thương mại đó Là một người nghiên cứu về thị trường tài chính thì việc xem xét đến giá trị cổ phiếu ngân hàng thương mại khi có sự biến động của lãi suất, tỷ giá hối đoái và thị trường là cực kỳ quan trọng và cần thiết
Ngày nay, khi mà thế giới dần trở nên phẳng hơn, các nền kinh tế thế giới giao thoa, tác động qua lại lẫn nhau, bất kỳ một hành động, sự kiện nào xảy ra cũng có ảnh hưởng một cách nhất định Nhất là trên thị trường chứng khoán là nơi vô cùng nhạy cảm
có thể dự đoán, thể hiện một cách trực quan sức khỏe của cả nền kinh tế Nói cách khác, các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội có thể tác động đến giá cổ phiếu của một công ty nhất định Cụ thể hơn, đó chính là những yếu tố thuộc về thị trường hay các yếu tố vĩ mô như lãi suất và tỷ giả hối đoái Chính vì mức độ quan trọng của hệ thống ngân hàng và sự nhạy cảm của thị trường chứng khoán, việc xem xét kỹ lưỡng các yếu tố tác động này sẽ
vô cùng cấp thiết trong việc không những giúp nền kinh tế tránh được những tổn thất không đáng có và có biện pháp hành động phù hợp
Vì vậy, đề tài “Tác động của thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối
đoái đến giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” được thực hiện nhằm
nghiên cứu- ứng dụng các lý thuyết về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu Từ đó, nghiên cứu giúp cho nhà quản lý, cơ quan chức năng có giải pháp phù hợp để chuẩn bị những kịch bản sẵn có nhằm đối phó với những tác động lên giá của cổ phiếu của các yếu
tố nêu trên
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tài chính Theo báo cáo của Ngân hàng châu Á Thái Bình Dương (ADB) cũng cho rằng, các thị trường mới nổi như Việt Nam sẽ tiếp tục chứng kiến những bước phát triển đáng ghi nhận đến từ
Trang 10thị trường chứng khoán Thời gian gần đây, thị trường chứng khoán hay đúng hơn là giá
cổ phiếu đã có nhiều phiên với những giai đoạn thay đổi bất thường do sự suy giảm về tăng trưởng kinh tế bởi chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu Thực tế đã
có những nghiên cứu để rút ra được nguyên nhân và đề xuất các phương án để thị trường này ổn định hơn, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này đều nghiên cứu về yếu tố chỉ số giá công nghiệp, biến động về giá dầu, thay đổi chỉ số giá chứng khoán bên ngoài,
Do vậy, để hiểu rõ hơn cũng như giải thích được về các nguyên nhân gây ra những thay đổi cho giá cổ phiếu của thị trường, bài viết này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ngân hàng để nhằm đưa
ra các luận cứ khoa học giúp các nhà làm chính sách đề xuất các chính sách, biện pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung
Trên cơ sở đó, đề tài “Tác động của thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến giá
cổ phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm góp phần bổ sung thêm các kết quả thực nghiệm liên quan giữa thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đối với giá cổ phiếu các ngân hàng thương mại
Trong phạm vi đề tài này, sự tác động từ những yếu tố độc lập bao gồm thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái lên giá cổ phiếu ngân hàng thương mại sẽ
là đối tượng nghiên cứu chính nhất
Nghiên cứu này được định hướng và phát triển dựa trên việc tìm hiểu các yếu tố tác động lên giá cổ phiếu Vì vậy, nghiên cứu này có mục tiêu tổng quả như sau:
Mục tiêu tổng quát: Xem xét mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán, tỷ giá hối
đoái, lãi suất lên giá cổ phiếu các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Hướng đến việc tìm ra câu trả lời cho mục tiêu tổng quá, việc đánh giá sẽ chủ yếu tiến hành để đánh giá định lượng 3 yếu tố chính và quan trọng bao gồm yếu tố thị trường chứng khoán, lãi suất ngân hàng và tỷ gía hối đoái, do đó nghiên cứu này sẽ dựa trên 2 mục tiêu chi tiết như sau:
Trang 111 Sự biến động của các yếu tố thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng như thế nào đến giá cổ phiếu các ngân hàng thương mại tại Việt Nam?
2 Liệu có hay không sự tương đồng về những đặc điểm dẫn đến sự ảnh hưởng nêu trên giữa các nhóm ngân hàng thương mại tại Việt Nam là giống nhau?
Trong phạm vi luận văn này, đối tượng nghiên cứu sẽ là các ngân hàng thương mại đã niêm yết trên thị trường chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 2007-2017.Việc lựa chon mẫu nghiên cứu sẽ dựa trên nguyên tắc tối đa các quan sát đạt tính khả thi về độ dài của dữ liệu Trong đề tài nghiên cứu này, mẫu nghiên cứu sẽ dựa trên dữ liệu của 11 ngân hàng bao gồm VCB, BID, CTG, VPB, MBB, ACB, HDB, STB, EIB, VIB và SHB
Trong nội dung bài nghiên cứu này, tác động của thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đóai đến chỉ số giá của cổ phiếu ngân hàng sẽ được tiến hành dựa trên các phương pháp bao gồm: phương pháp CAPM, phương pháp APT và kết hợp cùng với phương pháp phân tích hồi quy OLS dựa trên các dữ liệu thu thập được Trong phạm vi bài nghiên cứu này, dữ liệu được sử dụng là dữ liệu các ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian từ tháng 02/2014 đến tháng 12/2017
Thông qua nghiên cứu định lượng bằng 2 mô hình CAPM và APT, nghiên cứu này
kỳ vọng sẽ đưa ra được hướng tác động, độ lớn tác động của các nhân tố thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ gía hối đoái lên giá cổ phiếu các ngân hang thương mại tại Việt Nam Thông qua kết quả nghiên cứu có được sẽ hỗ trợ các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam trong việc hoạch định chiến lược hoạt động, điều chỉnh hoạt động ngân hàng của mình nhằm hướng đến tối đa hoá lợi ích của mình Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng có thể dựa trên nghiên cứu này nhằm đưa ra các chính sách, quy định nhằm ổn định và phát triển thị trường tài chính chứng khoán một cách lâu dài và vững chắc
Trang 12Chương 1 – Giới thiệu đề tài, tác giả sẽ trình bày tổng quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của bài nghiên cứu
Chương 2 – Trình bày khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây, chương này sẽ trình bày và tổng hợp các kết quả của các học giả trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái, lãi suất và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng trên phương diện cơ sở lý thuyết cũng như thực nghiệm
Chương 3 – Đưa ra phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình và dữ liệu cụ thể được áp dụng cho bài nghiên cứu này
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu, chương này trình bày các kết quả mà nghiên cứu
đã tìm được đối với dữ liệu thu thập trong giai đoạn từ 02/2014 đến tháng 12/2017 Sau
đó là phần giải thích kết quả chính của mô hình nghiên cứu
Chương 5 – Kết luận, chương này sẽ tổng kết lại các kết quả nghiên cứu, đề xuất một số kiến nghị, trình bày các điểm còn hạn chế trong bài nghiên cứu, từ đó đề xuất những hướng nghiên cứu trong thời gian sắp tới
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
có mặt trên thị trường Nhìn chung, các cơ quan hoạch định chính sách sẽ được tự do thực thi, ban hành các chính sách, phương hướng, chiến lược mang tầm vĩ mô mà không nhất thiết phải e dè rằng liệu các chính sách mà họ đưa ra sẽ tác động và làm chuyển đổi bản chất của thị trưởng chứng khoán vì những chính sách đó phần nào chỉ tác động tới giá cả của các mã cổ phiếu đang niêm yết mà thôi Bên cạnh đó, các học thuyết kinh tế học còn đề xuất ra một giả thuyết đó là giá cả của cổ phiếu, chứng khoán một mặt không những đưa ra các thông tin hiện có mà còn dự báo tương đối chính xác về hiệu quả, tình hình hoạt động trong thời gian sắp tới của doanh nghiệp Giả định rằng một khi giá cả của
cổ phiếu sẽ phản ánh một cách tương đối chính xác các thành tố kinh tế mang tầm vĩ mô thì điều này tương đương với việc nó có thể sẽ được xem như một công cụ dùng để dự báo thể trạng của nền cả kinh tế quốc gia trong tương lai Chính vì vậy, việc tìm hiểu mối quan hệ cộng sinh, tương tác qua lại giữa những nhân tố vĩ mô và giá cổ phiếu là cực kỳ quan trọng trong việc đề suất và gợi ý trong việc đưa ra các chính sách trong công tác vận hành cả nền kinh tế
Dưới tác động của những nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường mua bán chứng khoán nói chung, lý thuyết từ EMH đã chỉ ra: việc cạnh tranh đến từ các nhà đầu tư trên thị trường – bao gồm những người mua người bán mong muốn hướng đến việc đạt được lớn nhất lợi nhuận của mình – chắc chắn rằng tất cả những thông tin, dữ liệu hiện tại giả định rằng liên hệ tới việc thay đổi của những nhân tố vĩ mô sẽ được thể hiệnthông qua giá của cổ phiếu chứng khoán, vì vậy nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội có được tỷ suất sinh lợi mong muốn bằng cách dự đoán xu hướng những thay đổi trên thị trường cổ phiếu chứng khoán
Trang 14trong tương lai Nhưng đi ngược với những kết luận trên, các bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu trước đã đưa ra kết luận rằng những thành tố kinh tế vĩ mô có thể được dùng trong việc dự báo được chuỗi tỷ suất sinh lợi tích lũy Những nghiên cứu này khẳng định các yếu tố vĩ mô rõ ràng có ảnh hưởng đến thu nhập và biến động chỉ số giá chứng khoán Trong nội hàm phạm vi nghiên cứu này, các yếu tố chính sẽ được đề cập đến bao gồm thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái, các yếu tố này là những biến số thay đổi thường xuyên và có tác động to lớn lên giá cổ phiếu
Việc đưa vào đề tài các yếu tố bao gồm thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái làm các thành phần chính để nghiên cứu vì các lý do chính sau đây:
Thứ nhất, yếu tố thị trường chứng khoán là một yếu tố quan trọng chính trên thị trường chứng khoán Bất kỳ cổ phiếu nào đang niêm yết trên thị trường chứng khoán bao gồm cả cổ phiếu ngành ngân hàng đều chịu tác động rất lớn từ thị trường chứng khoán Yếu tố thị trường ở đây bao hàm tất cả những yếu tố ngoại vi như tâm lý nhà đầu tư hay những thay đổi về hệ thống kinh tế-chính trị- pháp luật đều sẽ ít nhiều tác động lên giá cổ phiếu Chính vì vậy, việc sử dụng yếu tố thị trường chứng khoán là vô cùng trọng yếu và không thể bỏ qua trong nghiên cứu này
Thứ hai, vì đối tượng khách thể trong nghiên cứu này là các ngân hàng thương mại đang niêm yết trên thị trường Đây là hệ thống các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tài chính, tiền tệ và đây là đối tượng chịu sự điều chỉnh trong vận hành, sản phẩm, dịch vụ theo sự thay đổi của lãi suất Quan trọng hơn, việc thay đổi lãi suất sẽ tác động trực tiếp lên lợi nhuận của các ngân hàng và theo đó, giá niêm yếu của các ngân hang này
sẽ dao động theo sự thay đổi lãi suất
Thứ ba, việc đưa vào tỷ giá hối đoái cũng xuất phát từ đặc thù ngành ngân hàng là hoạt động dựa trên thị trường tài chính tiền tệ, trong đó hoạt động đặc thù là cho vay và huy động tiền tệ Việc thay đổi tỷ giá tương tự như lãi suất cũng sẽ có tác động lớn lên lợi nhuận của ngân hàng khi tỷ giá thay đổi Từ đó, giá cổ phiếu cũng sẽ thay đổi theo
Chính vì những lý do kể trên mà đề tài này tiến hành nghiên cứu 3 yếu tố trên bao gồm yếu tố thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái
2.1.1 Thị trường chứng khoán
Trang 15Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm
là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại giấy tờ có giá, các chứng khoán một cách có tổ chức trong một hệ thống luật chặt chẽ Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán Về cơ bản, chứng khoán chính là một phần của công ty khi gọi vốn đầu tư Nhà đầu tư có thể được xem là chủ của doanh nghiệp khi nắm giữ cổ phiếu (cổ phần) của doanh nghiệp đó
Khi một doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra thị trường lần đầu (hay còn gọi là IPO) nhiều tổ chức sẽ tiến hành mua cổ phiếu đó với số lượng lớn ( công ty sẽ thu được nguồn vốn từ hoạt động này) Mặt khác khi công ty đó niêm yết trên sàn chứng khoán, những người sở hữu cổ phần của công ty sẽ được sở hữu một lượng cổ phiếu nhất định tùy theo cổ phần của họ trong công ty
Những tổ chức đã mua cổ phiếu cùng với những người sở hữu cổ phần đều có thể bán lại cổ phiếu đã mua cho các nhà đầu tư khác Chính lúc này, những người sở hữu cổ phiếu chứng khoán của các doanh nghiệp đang niêm yết thì được xem là nhà đầu tư, và những nhà đầu tư này có thể tiến hàng các hoạt động như mua bán, trao đổi cổ phiếu công ty, doanh nghiệp đó trên thị trường, tuy nhiên vấn đề cốt lỗi chính là những hoạt độn trao đổi mua bán này sẽ không có tác động trong việc tăng lên của vốn doanh nghiệp
mà đơn giản chỉ là việc thay đổi chủ sở hữu từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác
Những giao dịch trao đổi mua bán trên sẽ được tiến hành thông qua sự trung gian của các công ty môi giới (những công ty môi giới chứng khoán sẽ phải có trách nhiệm trong việc thực hiện và khớp lệnh), Trung tâm lưu ký Chứng khoán của nhà nước sẽ có chức năng lưu ký những cổ phiếu đã được mua
Trang 16Hình 2 1 Thị trường tài chính Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Văn Ngọc (2012)
Tại Việt Nam, Thị trường cổ phiếu đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ Tính đến ngày 24/11/2017, chỉ số VN-Index đạt 935,57 điểm, tăng 40,7% so với số điểm vào cuối năm
2016 – đây là mức điểm VN- Index cao nhất trong gần 10 năm trở lại đây Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đạt 3.272 nghìn tỷ đồng, tương đương 72,7% GDP Tổng giá trị giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ bình quân phiên đạt hơn 4.500 tỷ đồng Quy mô thị trường chứng khoán (TTCK) ngày càng được mở rộng Tính đến hết tháng 11/2017 đã có 2.016 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch trên 2 Sở giao dịch, trong đó, đã thu hút được nhiều doanh nghiệp quy mô lớn lên niêm yết trên TTCK trong năm 2017 như: Ngân hàng Thương mại Việt Nam Thịnh vượng, CTCP Hàng không Vietjet
Bên cạnh thị trường cổ phiếu, một mảng khác của thị trường chứng khoán là thị trường trái phiếu có những bước phát triển nhanh, mạnh Nếu năm 2006, dư nợ thị trường trái phiếu mới đạt mức 14% GDP thì đến thời điểm hiện tại đã đạt gần 40%, trong đó chủ yếu là thị trường trái phiếu chính phủ (gần 30% GDP) và thị trường trái phiếu doanh nghiệp (xấp xỉ 6% GDP)
Thị trường tài
chính
Thị trường tín dụng
Thị trường các loại giấy
tờ có giá
Thị trường tiền
tệ
Thị trường chứng khoán
Trang 17Thanh khoản của thị trường trái phiếu chính phủ đã tăng ngoạn mục từ mức hơn
324 tỷ đồng/phiên năm 2009 lên mức gần 9000 tỷ đồng/phiên trong năm 2017, tăng 27 lần và gấp đôi giá trị giao dịch bình quân phiên của thị trường cổ phiếu
2.1.2 Khái niệm cổ phiếu
Theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH-11 ngày 29 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành” Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành Người nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành
Cổ phiếu phổ thông và quyền lợi của cổ đông Theo Bạch Đức Hiển (2008): “Cổ phiếu phổ thông là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối vối công ty và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty” Người nắm giữ cổ phiếu phổ thông là cổ đông phổ thông và là đồng chủ sở hữu của công ty cổ phần, cổ phiếu phổ thông có những đặc điểm chủ yếu sau:
Cổ tức của cổ phiếu phổ thông không cố định, phụ thuộc vào con số lợi nhuận sau thuế hàng năm mà công ty thu được và chính sách chia lợi tức cổ phần của nó Khi hoạt động kinh doanh của công ty phát triển, các cổ đông phổ thông sẽ được chia cổ tức Ngược lại, khi công ty kinh doanh bị trì trệ, các cổ đông phổ thông sẽ không có cổ tức hoặc cổ tức thấp Thậm chí trong trường hợp công ty hoạt động kinh doanh tương đối tốt, lợi nhuận sau thuế cao nhưng cổ đông phổ thông vẫn có khả năng không được nhận cổi tức ở mức cao do công ty ưu tiên dành cổ tức để tích lũy hơn là chia cổ tức cho các cổ đông
Ngay trong trường hợp công ty hoạt động tốt, lợi nhuận sau thuế thu được cao, cổ tức mà cổ đông phổ thông nhận được vẫn có thể không cao do chính sách chia lợi tức cổ phần của công ty dành tỷ lệ cho tích lũy cao
Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả vì đây không phải là khoản nợ đối với công ty
Cổ đông phổ thông trong công ty có các quyền chủ yếu sau:
Trang 18 Quyền tham dự và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông, quyển được thông tin và kiểm tra các sổ sách và hồ sơ của Công ty thông qua Ban kiểm soát do Đại hội cổ đông bầu ra Quyền được tham gia quyết định tất cả các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của công ty như sáp nhập, thanh lý hay phát hành thêm cổ phiếu mới
Quyền đối với tài sản của công ty: Quyền này được thể hiện trước hết là quyền được nhận phần lợi nhuận của công ty chia cho cổ đông dưới hình thức lợi tức cổ phần hay còn được gọi là cổ tức sau khi được Hội đồng quản trị công bố Sau khi công ty thực hiện việc thanh toán tất cả các khoản nợ và thực hiện nghĩa vụ đối với cổ đông ưu đãi thì phần giá trị tài sản còn lại được chia cho các cổ đông phổ thông
Quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần: người góp vốn vào công ty không được quyền trực tiếp rút vốn ra khỏi công ty, nhưng được quyền chuyển nhượng quyền
sở hữu cổ phần dưới hình thức bán lại cổ phiếu hoặc dưới hình thức quà tặng hay để lại cho người thừa kế Điều này tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu công ty, đồng thời cũng hấp dẫn người đầu tư
Quyền được ưu tiên đối với việc mua cổ phiếu mới: Khi công ty phát hành thêm một số lượng cổ phiếu nhất định để tăng vốn, các cổ đông của công ty đó tại thời điểm đang sở hữu cổ phiếu thưòng có quyền ưu tiên trong việc mua trước cổ phiếu mới, trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời gian nhất định Những cổ đông này được mua một lượng cổ phiếu tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang nắm giữ Như vậy, quyền ưu tiên mua này tạo điều kiện cho những cổ đông hiện hữu có thể duy trì và tỷ
lệ sở hữu của họ trong công ty sau khi phát hành thêm cổ phiếu để tăng thêm vốn Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyển mua trước Tuy nhiên, số lượng quyền cần để có thể mua được cổ phiếu mới bao gồm giá mua, thời hạn hiệu lực của quyền mua sẽ được quy định chi tiết, cụ thể trong từng đợt phát hành cổ phiếu mới cổ phiếu bán theo quyền thường có mức giá thấp hơn so với giá thị trường hiện hành Nếu
cổ đông không muốn thực hiện quyền của mình thì họ có thể bán quyền đó trên thị trường Ngoài những quyền chủ yếu nêu trên, cổ đông phổ thông còn có những quyền khác như quyển được yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường Các quyền cụ thể
Trang 19của cổ đông phổ thông được ghi trong điểu lệ của Công ty Cùng vói việc được hưởng các quyển lợi, cổ đông phổ thông cũng phải gánh chịu những rủi ro mà Công ty gặp phải, tương ứng với phần vốn góp và chỉ phải chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi lượng vốn góp vào Công ty
Chung quy lại, cổ phiếu có một số đặc điểm chính sau đây
Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không
Có nhiều định nghĩa về khái niệm “giá cổ phiếu”, trích từ điển đầu tư và tài chính,
“chỉ số giá cổ phiếu là chi phí mua 1 cổ phiếu trên thị trường”, còn theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, “chỉ số giá cổ phiếu là số bình quân về quá của một tập hợp cổ phiếu thành phần giao dịch trên TTCK tại một thời điểm nhất định” Vì thế, chỉ số giá của cổ phiếu còn có giá trị về mặt thống kê giúp phản ánh những thay đổi, diễn tiến của cả thị trường chứng khoán Từ đó, những nhà đầu tư và các cơ quan chức năng quản lý sẽ thông qua đó để có thể nghiên cứu và so sánh lợi nhuận của từng loại cổ phiếu trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư Hiện nay, để tính toán giá cả của cổ phiếu, một
số phương pháp có thể được kể đến như là phương pháp Passcher, phương pháp Laspeyres, phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher, phương pháp số bình quân đơn giản
và phương pháp bình quân nhân đơn giản
2.1.4 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu
Nhìn chung, giá cả trên thị trường sẽ được hình thành dựa trên quy luật cung cầu
Sự mất cân bằng trên thị trường sẽ dẫn đến những biến động giá cả Những nhân tố làm thay đổi lượng cung, lượng cầu của chứng khoán trên thị trường chính là nhân tố làm
Trang 20thay đổi giá cả của cổ phiếu trên thị trường Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu, ta có thể tạm chia thành hai nhóm nhân tố:
(1) nhóm nhân tố cơ bản (là những nhân tố bên trong) ;
(2) nhóm nhân tố thuộc về vĩ mô (là những nhân tố bên ngoài)
Trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư tiến hành định giá một cổ phiếu dựa trên việc xem xét các nhân tố bao gồm nhân tố cơ bản và nhân tố thuộc về vĩ mô nhằm xác định mức giá hợp lý khi giao dịch mua hoặc bán cổ phiếu đó
sở hữu được cổ phiếu đó Đồng thời, các số liệu nêu trên sẽ được cung cấp đầy đủ trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Hệ số định giá (chỉ số P/E: Price to Earning Ratio) là hệ số tài chính dùng để đánh giá mối liên hệ giữa và tỷ số thu nhập trên cổ phần và thị giá ở thời điểm hiện tại của một cổ phiếu (giá cổ phiếu ở chợ chứng khoán), hay nói cách khác, hệ số này cho thấy nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Hệ số P/E thường được tính trong vòng 1 năm gần nhất, tuy nhiên có ý kiến cho rằng chỉ
số P/E nên được tính trong khoảng thời gian tối thiểu là 5 năm, khoảng thời gian hợp lý nhất là từ 7-10 năm bởi vì các thông tin nhận định về một khoảng thời gian ngắn như một vài tháng hay một năm chỉ đưa ra những nhận định mang tính thời điểm, không nêu ra được xu hướng dài hạn của công ty, do vậy có thể ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư, làm họ đưa ra các quyết định không chính xác
Trang 212.1.4.2 Các nhân tố vĩ mô
Các nhân tố vĩ mô thể hiện các yếu tố tác động đến từ bên ngoài hình thành nên cơ
sở giá cuả cổ phiếu Thực tế nếu nói đến các yếu tố bên ngoài thì có rất nhiều các yếu tố được đề cập đến và mỗi yếu tố lại có một mức độ ảnh hưởng khác nhau, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp Nội dung của nghiên cứu này sẽ nhắc đến một vài nhân tố chủ chốt được xem là có ảnh hương mạnh mẽ trong thị trường Đầu tiên có thể liệt kê bộ ba yếu tố được xem là có ảnh hưởng lớn nhất trong cả hoạt động vận hành nền kinh tế quốc gia nói chung và cả thị trường chứng khoán nói riêng đó là tỷ giá, lãi suất và lạm phát Trước hết, chúg ta tiến hành đánh giá những ảnh hưởng của yếu tố lạm phát, 2 yếu tố còn lại là lãi suất và tỷ giá hối đoái sẽ được trình bày chi tiết hơn ở nội dung sau
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục theo thời gian của hàng hóa
và dịch vụ và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Lạm phát phản ánh sự giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ, nghĩa là khi mức giá tăng cao, một đơn vị tiền tệ lúc này sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn trước đây Lạm phát là yếu tố định tính được xác định thông qua chỉ số giá cả (hay còn gọi là CPI) CPI thay đổi sẽ tác động đến thị trường thông qua các cơ chế sau:
Khi có sự tăng lên về chỉ số giá, chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên Do chi phí mua nguyên liệu, chi phí tiền lương, tăng lên làm tăng giá bán của sản phẩm gây khó khăn cho hàng hóa bán ra, lợi nhuận kinh doanh và cổ tức cổ phiếu doanh nghiệp giảm xuống Như vậy, các nhà đầu tư sẽ không lựa chọn cổ phiếu của doanh nghiệp đó dẫn đến sự giảm giá cổ phiếu đang có trên thị trường
Nhằm bảo toàn vốn và lợi nhuận của mình khi đồng tiền giảm , các nhà đầu tư sẽ thực hiện việc thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư trước đó của mình Họ sẽ tiến hành mua vào những cổ phiếu hấp dẫn, được họ cho là tốt và bán ra những cổ phiếu kém hấp dẫn làm thay đổi nhu cầu mua bán các loại cổ phiếu này trên thị trường, do vậy làm thay đổi giá cổ phiếu Mặt khác, các chính sách nhằm giảm lạm phát của chính phủ như tăng lãi suất chiết khấu, hạn chế tín dụng, tăng cường thu nợ, cũng làm giảm lượng cung tiền cho chứng khoán, đặc biệt là với những người đi vay và dùng tiền đi vay cho việc đầu tư vào chứng khoán Khi lãi suất chiết khấu của ngân hàng tăng sẽ hấp dẫn hơn tỷ suất sinh
Trang 22lợi của chứng khoán, từ đó thu hút một lượng lớn vốn từ các nhà đầu tư chứng khoán sang, và lúc này họ sẽ bán một phần chứng khoán của mình để chuyển sang gởi tiền ngân hàng Giá cả của chứng khoán như đã nói đều phụ thuộc vào cung- cầu chứng khoán trên thị trường, do đó khi các biến động trên xảy làm thay đổi cung- cầu chứng khoán và từ đó làm giá cả của chúng có sự biến động lớn Có thể nói rằng, lạm phát tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến các yếu tố cơ bản của cổ phiếu từ đó làm thay đổi giá của cổ phiếu
Bên cạnh các yếu tố như lạm phát, lãi suất và tỷ giá thì giá cổ phiếu còn bị tác động bởi:
Triển vọng phát triển của cả nền kinh tế nói chung và triển vọng phát triển ngan nói riêng: Có ý kiến cho rằng tình trạng chung của nền kinh tế kết hợp cùng triển vọng phát triển của một ngành cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến mức giá cổ phiếu của công ty trong ngành đó
Các giao dịch mang tính bất thường: Việc mua bán cổ phiếu không dựa trên nền tảng là giá trị nội tại của cổ phiếu làm thay đổi đáng kể cung - cầu cổ phiếu trên thị trường cũng ảnh hưởng đến giá của nó
Tính thanh khoản của cổ phiếu: Đây được xem như là cơ sở để nhà đầu tư lựa chọn cổ phiếu, phản ánh mức độ quan tâm của nhà đầu tư đối với cổ phiếu, từ đó tác động đến cầu của cổ phiếu đó Thước đo của tính thanh khoản thường được xem xét dưới khối lượng giao dịch của nó
ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 23đầu tư giảm, công ty dễ huy động các nguồn vốn để thực hiện các hoạt động của mình và giảm các chi phí thực hiện đòn bẩy tài chính của công ty, điều này giúp cải thiện hoạt động và làm thay đổi giá cổ phiếu công ty theo hướng tích cực Ngược lại, khi lãi suất tăng lên làm chi phí lãi vay của các công ty tăng lên đồng thời giảm làm giảm nhu cầu mua sắm của người dùng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lợi nhuận của công ty và cũng dễ hiểu là cổ phiếu các công ty lúc này sẽ không còn hấp dẫn trên thị trường Hai tác giả là Mahmudul và Salah Uddin (2009) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố lãi suất và giá cổ phiếu cho cả các nước phát triển và đang phát triển Kết quả từ nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng ngoại trừ Philippines thì yếu tố lãi suất có tác động âm đến giá cả của cổ phiếu chứng khoán ở 14 nước khác nhau (Mexico, South Africa ,Australia, Bangladesh, Jamaica, Japan, Malaysia, Canada, Chile, Colombia, Germany, Italia, Spain và Venezuela) Một số nghiên cứu khác của Fama (1981), Christopher Gan (2006); Sidek và Tafri (2009); Mohammad và cộng sự (2009) khi nghiên cứu về mối quan hệ lãi suất và giá cổ phiếu cũng có kết quả tương tự
Tác động đến từ lãi suất có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau như:
Rủi ro định giá lại: xuất phát từ chênh lệch thời điểm ban hành lãi suất mới Rủi ro này thường xuất hiện khi có sự khác biệt về kỳ hạn hoặc thời gian điều chỉnh lãi suất của tài sản nợ và có Lãi suất biến động sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của ngân hàng Ví dụ: trường hợp ngân hàng cho vay một khoản vay dài hạn (lãi suất cố định), hoặc mua trái phiếu dài hạn (lãi suất cố định) và nguồn tài trợ là từ các khoản tiền gửi hoặc phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi với kỳ hạn ngắn hơn Khi lãi suất biến động tăng thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của ngân hàng đều giảm xuống
Rủi ro đường cong lợi tức (yeild curve risk): Rủi ro đường cong lợi tức là rủi ro do thay đổi mối quan hệ lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau Rủi ro đường cong lợi tức xuất hiện khi có sự thay đổi về hình dạng hoặc độ dốc của đường cong lợi tức Sự thay đổi này
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị của tài sản ròng của ngân hàng Ví dụ trường hợp ngân hàng mua trái phiếu (lãi suất thả nổi) có kỳ hạn 5 năm từ nguồn bán trái phiếu (lãi suất thả nổi) có kỳ hạn 10 năm Nếu đường cong lợi tức tăng nhanh và trở nên dốc hơn thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của ngân hàng đều giảm xuống
Trang 24 Rủi ro ở các sản phẩm quyền chọn: Rủi ro này xuất hiện đối với các tài sản nợ, tài sản có gắn với quyền chọn
Rủi ro cơ bản: Rủi ro cơ bản là rủi ro do thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất thị trường khác nhau Rủi ro cơ bản thường xuất hiện khi sự biến động lãi suất giữa các loại tài sản khác nhau là khác nhau Ví dụ trường hợp ngân hàng cho vay một khách hàng dựa trên lãi suất tham chiếu là lãi suất LIBOR (cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố định) và nguồn tài trợ là từ tiền gửi với lãi suất tham chiếu là lãi suất cơ bản của NHNN (cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố định) Khi lãi suất cơ bản của NHNN tăng nhanh hơn lãi suất LIBOR thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của ngân hàng đều giảm xuống
Tác động ngược chiều giữa lãi suất và giá cổ phiếu đã xuất hiện trong nhiều mô hình Trong quá trình định giá cổ phiếu, công việc đầu tiên là phải xác định mức lãi suất chiết khấu phù hợp, sao cho phản ánh được giá trị thời gian của tiền và rủi ro của cổ phiếu Thông thường, nhà đầu tư thường sử dụng tỷ suất lợi nhuận yêu cầu để làm lãi suất chiết khấu, và mô hình CAPM được sử dụng để tính tỉ suất lợi nhuận yêu cầu Nếu chính phủ thay đổi lãi suất điều hành thì lãi suất phi rủi ro cũng sẽ thay đổi Một khi lãi suất thị trường tăng, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức tỉ suất sinh lợi ở TTCK cao hơn, để bù đắp rủi ro Giả sử các yếu tố khác không đổi, thì giá cổ phiếu sẽ giảm xuống một khi tỉ suất lợi nhuận yêu cầu tăng lên và ngược lại Hơn nữa, tỉ suất lợi nhuận yêu cầu lại phụ thuộc vào lãi suất phi rủi ro Bên cạnh đó, lãi suất còn ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, sự tăng lên của lãi suất sẽ làm tăng chi phí vốn Do đó, doanh nghiệp phải tăng cường hoạt động sản xuất để tạo ra một tỉ suất lợi nhuận lớn hơn trong môi trường lãi suất cao Nếu lợi nhuận công ty tạo ra thấp, dòng tiền tạo ra giảm cùng với lãi suất chiết khấu tăng lên sẽ làm giảm giá trị của cổ phiếu Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp có
tỷ trọng các khoản nợ vay ngân hàng lớn hơn VCSH, thì lãi suất tăng sẽ làm cho doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính, và phải đối mặt với việc phá sản Lúc này, nhà đầu tư lại yêu cầu mức bù rủi ro cao hơn, và giá cổ phiếu tiếp tục giảm xuống Elyasiani (1998) cho rằng: “Sự biến động lãi suất chuyển tải những thông tin quan trọng về toàn bộ biến động của thị trường tài chính và nó cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng ở mức độ vi mô”
Trang 252.2.2 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái theo Krugman và các cộng sự (2012) là “giá cả của một đồng tiền tính theo một đồng tiền khác” Đó chính là tỷ lệ mà tại đó một đồng tiền được sử dụng để đổi lấy đồng tiền khác, cụ thể là số lượng ngoại tệ được dùng để mua một đồng tiền nội tệ hoặc là chi phí tính bằng đồng tiền nội tệ để mua một đơn vị ngoại tệ Luận án sử dụng cách yết giá đồng ngoại tệ tính theo số đơn vị nội tệ, tức là tỷ giá tăng sẽ khiến nội tệ mất giá còn ngoại tệ lên giá (và ngược lại) Riêng đối với trường hợp tính toán truyền dẫn biến đô ̣ng tỷ giá đến các mức giá nhập khẩu ở cấp độ vi mô, cách yết giá đồng nô ̣i tê ̣ tính theo số đơn vi ̣ ngoại tê ̣ được sử du ̣ng
Hình 2 2 Biến động tỷ giá VND/USD từ 2010 đến 2018
Nguồn: Ngân hàng nhà nước
Thuật ngữ “chính sách tỷ giá hối đoái” (exchange rate policy), cho đến nay, không còn xa lạ trong các nghiên cứu liên quan đến tài chính quốc tế, tuy nhiên chưa có một
000 5,000 10,000
Trang 26khái niệm chính thức nào về chính sách tỷ giá được đưa ra Mặc dù vậy, các nghiên cứu đều khá đồng thuận khi cho rằng việc điều hành tỷ giá là một bộ phận trong chính sách tiền tệ nói riêng, các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung cho nên khái niệm, mục tiêu, nội dung của chính sách tỷ giá phải nhất quán với các chính sách kinh tế
Do vậy, chính sách tỷ giá hối đoái có thể hiểu là những hoạt động can thiệp có chủ đích của Ngân hàng Trung ương thông qua một chế độ tỷ giá nhất định và hệ thống các công cụ can thiệp để tác động tới cung cầu trên thị trường ngoại hối nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
Trang 27Bên cạnh lãi suất và tỷ giá hối đoái, giá của cổ phiếu còn chịu ảnh hưởng không nhỏ đến từ thị trường nói chung thông qua chỉ số VNindex Chỉ số VNindex là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu Chỉ số này được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định Thông thường danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu có những đặc điểm chung như cùng niêm yết tại một Sở giao dịch, cùng ngành hoặc cùng mức vốn hóa thị trường Theo Kiều và Điệp (2013), chỉ số giá chứng khoán VNindex không chỉ thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế học
vì sự liên hệ chặt chẽ với nền kinh tế, xã hội của quốc gia mà còn có thể giúp cả những nhà đầu tư và quản lý thị trường thông qua mối liên hệ đến chỉ số giá chứng khoán để mô
tả thị trường, so sánh lợi nhuận hoặc ước tính khả năng sinh lời theo yêu cầu của mình để
có các quyết định đầu tư đúng đắn Bên cạnh đó, có thể thấy rằng, mặc dù một doanh nghiệp được niêm yết nhưng không cùng ngành với doanh nghiệp niêm yết khác nhưng vẫn có tác động đến nhau Một nhà đầu tư cần phải xem xét xu hướng tăng trưởng của cả một thị trường Một thị trường đang có dấu hiệu chững lại, giảm giá thì cũng dấn đến yếu
tố tâm lý trong việc đầu tư Và tương tự, một khi thị trường bước vào giai đoạn leo dốc, các cổ phiếu nhìn chung cũng được hưởng lợi không nhỏ từ tâm lý đầu tư Điều này có thể thấy qua giai đoạn tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005-2007 khi mà nhà đầu tư hầu hết đều được hưởng lợi khi thị trường tăng trưởng
nóng
suất và tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ngân hàng
Phần lớn những nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ đưa ra một kết quả về sự ảnh hưởng, mối tương quan riêng lẻ của các yếu tố thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các ngân hàng thương mại
Trước hết, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và tỷ giá hối đoái, vào năm
1983, Adler và Dumas đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào việc làm tăng
mô hình thị trường đơn giản với một yếu tố thứ hai cho rủi ro tỉ giá Các tác giả này cũng
đã kiểm tra danh mục đầu tư quốc tế và cũng là ngang giá sức mua trong ý nghĩa của tài
Trang 28chính quốc tế Và kết quả rút ra rằng rủi ro tỉ giá hối đoái của một công ty có thể đo bằng
hệ số trong hồi qui của lợi nhuận cổ phiếu về thay đổi tỉ giá hối đoái
Sau đó vài năm, nghiên cứu của Aharony, Saunders và Swary (1985) cũng như Grammatikos cùng các cộng sự (1986) kết luận rằng tác động của rủi ro tỷ giá hối đoái trên cổ phiếu ngân hàng có ý nghĩa thống kê do các ngân hàng đã tự bảo hiểm không hoàn hảo trạng thái tài sản chung của họ bằng ngoại tệ của cá nhân và tiếp xúc với chính mình để quản lí rủi ro tỉ giá
Cũng ngay trong năm 1985, các rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của ngân hàng được nghiên cứu bởi Aharony, J., Saunders, A., & Swary, I (1985) và cộng sự đã phát hiện ra những thay đổi đáng kể về rủi ro trong thị trường vốn sau khi thông qua đạo luật Sarbanes-Oxley của các công ty tài chính Mỹ Các biện pháp dịch chuyển rủi ro ngắn hạn
là tích cực và phù hợp với các tính chất bắt buộc của các quy định nhà nước Còn sự dịch chuyển rủi ro phi hệ thống và trong dài hạn nhìn chung có sự tương quan nghịch, liên quan đến việc giảm nhẹ trong đầu tư Tác giả cũng cho thấy sự thay đổi các biện pháp đo lường rủi ro trong ngắn hạn và dài hạn tương quan nghịch với tính bắt buộc của các quy định nhà nước Cuối cùng, tác giả kết luận rằng tác động rủi ro tỷ giá hối đoái lên lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng rất có ý nghĩa thống kê bởi vì các ngân hàng không đảm bảo được trạng thái tổng tài sản bằng ngoại tệ của mình và dễ dàng đối mặt với rủi ro tỷ giá hối đoái
Vào năm 1988, Eun và Resnick bằng nghiên cứu của mình cũng đã chứng minh ảnh hưởng đáng kể của rủi ro tỷ giá có hệ thống trong hoạt động của danh mục đầu tư quốc tế
Cho đến hơn một thập niên sau, Atindéhou và Gueyie (2001) kiểm tra sáu ngân hàng lớn nhất Canada và thấy rằng sự mất giá ngoại tệ so với đồng đô la Canada cho thấy những tác động tích cực về lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng, phù hợp với hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng Canada trong giai đoạn mẫu trước đây Độ nhạy rủi
ro tỷ giá của các ngân hàng Canada được phân tích trong giai đoạn 1988-1995 thông qua đánh giá mô hình định giá tài sản 3 yếu tố (thị trường, lãi suất, tỷ giá hối đoái) Kết quả cho thấy giá cổ phiếu của các ngân hàng rất nhạy cảm với rủi ro tỷ giá, và chủ yếu là giữa
Trang 29đồng đô la Mỹ so với tỷ giá đồng đô la Canada Tuy nhiên, độ nhạy này không ổn định theo thời gian
Về sự nhạy cảm giữa lãi suất và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng, vào năm
1981, Ho và Saunders đã cung cấp những bằng chứng về độ nhạy cảm của lãi suất, kiểm tra các yếu tố quyết định lợi nhuận ròng từ lãi suất của các ngân hàng và đề xuất một mô hình của các ngân hàng như các đại lý sợ rủi ro tạo điều kiện cho các khoản tiền gởi và cho vay Một cách tổng quát, mô hình của họ có nghĩa là các ngân hàng có thể quản lí biên lãi ròng lợi thế của họ khi đối mặt với những thay đổi lãi suất, nếu họ có sức mạnh thị trường, đặc biệt là nếu ngành ngân hàng thiếu cạnh tranh
Sau đó 3 năm, Flanney và James (1984) đã xem xét mối quan hệ giữa lãi suất và TSSL cổ phiếu ngân hàng Tác giả đã sử dụng một mẫu các ngân hàng thương mại được phép giao dịch cổ phiếu cũng như là các hình thức tiết kiệm và cho vay Theo đó, kết quả tìm được cho rằng TSSL cổ phiếu ngân hàng có mối tương quan với những thay đổi trong lãi suất Các biến động của lợi nhuận cổ phiếu và sự thay đổi lãi suất là đồng biến liên quan đến sự khác biệt kì hạn giữa tài sản và nợ phải trả trên danh nghĩa công ty
Sau Flanney và James (1984), đã có thêm những nghiên cứu xem xét mức độ rủi
ro của các ngân hàng , sử dụng các mô hình tương tự GARCH Nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực này là của Elyasiani và Mansur (1998) về rủi ro lãi suất của các ngân hàng tại
Mỹ Các tác giả đã thấy rằng lãi suất và biến động lãi suất đều ảnh hưởng đến giá trị trung bình và sự biến động có điều kiện của lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng thông qua việc
sử dụng có điều kiện mô hình GARCH-M trong khuôn khổ loại bỏ các giả định hạn chế tuyến tính, độc lập và phương sai có điều kiện không đổi trong mô hình lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng
Gần nhất, vào năm 2008, Vaz, Ariff và Brooks đã thực hiện nghiên cứu xem xét các tác động của thay đổi lãi suất chính thức về lợi nhuận cổ phiếu của chính ngân hàng tại Australia trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2005 và đã cho chúng ta một kết quả thú vị Đó chính là TSSL cổ phiếu ngân hàng ở Australia không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự tăng lãi suất chính thức Điều này rõ ràng đã ngược lại với các bằng chứng trước đây ở các ngân hàng thương mại Mỹ khi cho rằng lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng nói
Trang 30chung là chịu ảnh hưởng tiêu cực (tích cực) bởi sự tăng (giảm) lãi suất chính thức Sheng Tai -2000) Có thể giải thích lý do là vì các ngân hàng Australia hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh ngân hàng và tập trung khi so sánh với Mỹ
(Chu-Trên đây là những nghiên cứu riêng rẽ về tác động của từng yếu tố thị trường, lãi suất và tỉ giá đến TSSL cổ phiếu ngân hàng Bên cạnh đó cũng có một vài nghiên cứu về
sự tương tác chung của chúng Và đã có một vài tên tuổi đóng góp một phần quan trọng trong những nghiên cứu này
Căn cứ vào nhiều nghiên cứu trước đó, Choi cùng các cộng sự của mình (1992) đã trình bày và ước tính một mô hình đa biến để đo lường tác động rủi ro thị trường, độ nhạy lãi suất và rủi ro tỷ giá lên lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng thương mại Một mô hình phản ứng tối ưu hóa của một ngân hàng quốc tế được sử dụng để lấy hệ số độ nhạy của các yếu
tố khác Mô hình hồi quy được dựa trên một trong hai giá trị thực tế hoặc ngẫu nhiên trong những yếu tố cơ bản với biến giả thời gian sau tháng 10 năm 1979 và với biến giả ngân hàng trung tâm tiền tệ Kết quả tiêu chuẩn thu được biến thị trường và biến lãi suất, trong khi đó kết quả mới thu được biến tỷ giá hối đoái Kết quả của biến sau được tìm thấy là phụ thuộc vào khoảng thời gian quan sát và tình trạng của các ngân hàng trung tâm tiền tệ
Sau đó hai năm, Wetmore và Brick (1994) cũng nhận thấy rằng các rủi ro lãi suất
và rủi ro tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tới lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng Hơn nữa, các tác giả cũng cung cấp bằng chứng cho thấy rủi ro tỷ giá hối đoái được giải thích do tiếp cận với các khoản vay nước ngoài không được bảo hộ Do thay đổi gần đây về cấu trúc trong bảng cân đối của các ngân hàng, thay đổi trong các yêu cầu vốn dựa trên rủi ro, và áp dụng những thay đổi gần đây của kế toán hạch toán theo giá thị trường, rủi ro lãi suất vẫn còn là một vấn đề quan trọng đối với các ngân hàng thương mại cũng như các quy định liên quan Thị trường, lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái được ước tính cho một mẫu của các ngân hàng thương mại sử dụng bình phương nhỏ nhất từ năm 1986 đến năm 1991 Giống như với các nghiên cứu trước đó, các hệ số ước tính tiếp tục được ổn định Tác giả thấy rằng rủi ro lãi suất giảm và rủi ro tỷ giá tăng Hơn nữa, sự khác nhau của các kết quả tùy thuộc vào hoạt động của ngân hàng (trung tâm tiền tệ, khu vực địa lý) Tác giả tìm thấy
Trang 31bằng chứng phù hợp với các nghiên cứu trước đây đưa ra rằng rủi ro tỷ giá được giải thích do tiếp cận với các khoản vay nước ngoài không được bảo hộ
Hàng loạt các nghiên cứu đã được thực hiện trong giai đoạn ngay sau năm 1994 để kiểm tra sự tác động qua lại của thị trường, lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái là Daugaard và Valentine (1993), Madura và Zarruk (1995), Adjaoud và Rahman (1996), Prasad và Rajan (1995), Choi và cộng sự (1998), Chamberlain cùng cộng sự (1997), Tai (2000) và Rahman (2010) Các bài viết này xem xét ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế và thị trường tài chính đến giá và lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng Australia bằng việc sử dụng phân tích chuỗi thời gian để có được chỉ số về hiệu quả của các ngân hàng trong việc quản lý lãi suất và tỷ giá hối đoái Kết quả đưa ra một số ý kiến về mức độ mà các ngân hàng chủ động quản lý rủi ro của nó trước các biến về tài chính, kinh tế và đặt ra câu hỏi rằng làm thế nào để các điều khoản pháp lý gần đây sẽ ảnh hưởng đến hành vi của ngân hàng tại các khu vực này
Vào năm 2000, để khám phá độ nhạy của lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng Australia, thông qua mô hình GARCH-M , Tai (2000) đã nhận thấy rằng rủi ro thị trường, lãi suất ngắn hạn , trung hạn và biến động của nó là yếu tố quan trọng xác định lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng nhưng lãi suất dài hạn và tỷ giá hối đoái là không đáng kể Bằng việc phát triển và ước tính một mô hình đa nhân tố trong cả hai trường hợp có điều kiện và không có điều kiện, bài viết này xem xét vai trò của thị trường, lãi suất và rủi ro tỷ giá trong định giá cổ phiếu Ngân hàng Thương mại Hoa Kỳ Ba phương pháp kinh tế lượng khác nhau được sử dụng để ước lượng và thử nghiệm Ước tính dựa trên mô hình hồi quy phi tuyến dường như không có ý nghĩa (NLSUR) thông qua phương pháp GMM chỉ ra rằng rủi ro lãi suất là yếu tố có ý nghĩa duy nhất trong mô hình ba yếu tố vô điều kiện Tuy nhiên, dựa trên phương pháp tiếp cận “Pricing Kernel’ của Dumas và Solnik [(1995)
J Finance 50, 445-479], bằng chứng rõ ràng về rủi ro tỷ giá hối đoái được tìm thấy trong
cả hai ngân hàng lớn và cổ phiếu ngân hàng trong khu vực các mô hình ba yếu tố điều kiện với giá trị rủi ro theo thời gian khác nhau Cuối cùng, ước tính dựa trên GARCH đa biến (MGARCH-M), khi có cả hai cả hai yếu tố quan trọng nhất nhì lên lợi nhuận danh mục đầu tư ngân hàng và các yếu tố rủi ro được ước lượng đồng thời cho thấy bằng
Trang 32chứng mạnh mẽ của lãi suất theo thời gian, phí bảo hiểm rủi ro tỷ giá và phí bảo hiểm rủi
ro thị trường theo thời gian lên cả ba danh mục đầu tư ngân hàng, cụ thể là những ngân hàng trung ương, ngân hàng lớn và các ngân hàng khu vực là không đáng kể
Cùng một đối tượng nghiên cứu về Australia, Ryan và Worthington (2002, 2004)
đã xem xét rủi ro tỷ giá hối đoái trong mô hình áp dụng với dữ liệu của nước này Tuy nhiên, những nghiên cứu này xem xét rủi ro ở cấp độ danh mục đầu tư, không có ngân hàng cá nhân Tác giả sử dụng mô hình (GARCH-M) để xem xét độ nhạy chuỗi thời gian của lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng Australia đến thị trường, lãi suất và rủi ro tỷ giá hối đoái Lợi nhuận danh mục đầu tư ngân hàng Australia hàng ngày, một chỉ số tích lũy mở rộng thị trường, lãi suất trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, và tỷ giá hối đoái thương mại có điều chỉnh được sử dụng để mô hình hóa những rủi ro trong giai đoạn từ năm
1996 đến năm 2001 Kết quả cho thấy rủi ro thị trường là một yếu tố quyết định quan trọng lên lợi nhuận cổ phiếu ngân hàng, cùng với lãi suất trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn và biến động của nó
Bên cạnh đó, Hooy, Tan và Nassir (2004) cũng đã xem xét độ nhạy rủi ro cổ phiếu ngân hàng Malaysia đến sự thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính châu Á gần đây Nói chung, tác giả thấy rằng không có khác biệt
rõ ràng giữa các ngân hàng thương mại Malaysia trong rủi ro của họ trước và trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Có sự ra đời của kiểm soát vốn có chọn lọc, một chế độ tỷ giá hối đoái cố định và một chương trình hợp nhất ngân hàng bắt buộc, tuy nhiên, đã làm tăng rủi ro của các ngân hàng lớn và nhỏ trong nước và những yếu tố rủi ro này ảnh hưởng đến cả cổ phiếu ngân hàng lớn và nhỏ ở Malaysia
Nghiên cứu gần nhất đề cập đến sự tương tác giữa thị trường, lãi suất và rủi ro tỉ giá bằng phương pháp sử dụng mô hình GARCH-M là của tác giả Shamsuddin (2009) Tác giả này cũng ước tính tác hại rủi ro hệ thống của các ngân hàng Australia niêm yết đối với thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái Quả nhiên, kết quả cho thấy gần như tất cả các ngân hàng ứng phó với các mức độ rủi ro khác nhau trên thị trường khác nhau Việc bãi bỏ hầu hết các kiểm soát của chính phủ qua hệ thống tài chính của Australia vào những năm 1980, sự ra đời của một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt vào năm 1983 và toàn
Trang 33cầu hóa của hệ thống tài chính trong những năm 1990 đã tạo ra cơ hội mới cho các ngân hàng Australia nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với những rủi ro mới Lợi nhuận cổ phiếu của các ngân hàng lớn là rất nhạy cảm với thay đổi lãi suất, trong khi hầu hết các ngân hàng nhỏ gần như bị tác động với cả sự thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái
Tại Việt Nam, Đề tài “Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Phú Hiếu (2011) đã sử dụng
bộ số liệu trong giai đoạn từ tháng 7/2004 đến tháng 12/2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong dài hạn chỉ số chứng khoán bị tác động ngược chiều của yếu tố lạm phát và lãi suất bình quân của thị trường liên ngân hàng, trong ngắn hạn chỉ số chứng khoán bị tác động cùng chiều bởi chính nó với độ trễ 1 tháng và 4 tháng, đồng thời bị tác động ngược chiều bởi yếu tố lãi suất với độ trễ 4 tháng
Tựu chung lại, nhiều nhóm tác giả đã chọn cho công trình nghiên cứu của mình về các tác nhân ảnh hưởng đến giá chứng khoán hay tỷ suất sinh lợi trên TTCK, mục tiêu nghiên cứu rất xác thực và có ý nghĩa Trong số những mục tiêu ấy, phần lớn tập trung vào việc tìm ra mối quan hệ của các biến kinh tế vĩ mô với giá chứng khoán Có tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái,… với giá chứng khoán Cũng có tác giả nghiên cứu biến lãi suất, chỉ số công nghiệp, giá dầu, lượng cung tiền,… đến giá chứng khoán Mỗi nghiên cứu sử dụng những phương pháp khác nhau nhưng nhìn chung tập trung vào các mô hình sau: mô hình CAPM, mô hình APT, mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS), mô hình ARIMA, mô hình ARCH/GARCH, mô hình vecto tự hồi quy (VAR), mô hình vecto hiệu chỉnh sai số (VECM)…
Các nghiên cứu kể trên cơ bản đã chỉ ra được rằng, lãi suất, tỷ giá và giá cổ phiếu có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Với những phân tích ở phần trên, chúng ta đã phần nào hình dung được tác động qua lại này cả về phần định tính và cách định lượng Phần sau này chúng ta sẽ đi sâu phân tích kỹ hơn về mặt định lượng mối quan hệ giữa lãi suất, tỷ giá và giá cổ phiếu thông qua 2 mô hình đã đề cập ở trên Nhưng với số liệu là thị trường chứng khoán Việt Nam, và phân tích mối quan hệ này trong môi trường của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 34Tổng quát các nghiên cứu đi trước:
Gueyie (2001)
Mô hình định giá tài sản
-Thị trường -Tỷ gía -Lãi suất
Tỷ giá có tác động lên giá cổ phiếu tuy nhiên tác động này không ổn định theo thời gian
Ho và Saunders
(1981)
Mô hình ngân hàng - Lãi suất Lãi suất tác động
đến lợi nhuận của ngân hàng
- Lãi suất Lãi suất có tương
quan với TSSL của
Chu-Sheng-Tai
(2000)
Mô hình hồi quy - Lãi suất Yếu tố lãi suất có
tác động lên TSSL của cổ phiếu ngân hang
Trang 35-Thị trường giá cổ phiếu
Lãi suất và tỷ gía có tác động lên giá cổ phiếu
Hooy, Tan và Nassir
(2004)
Mô hình hồi quy -Lãi suất
-Tỷ giá -Thị trường
Không có tác động của lãi suất và tỷ giá lên giá cổ phiếu Nguyễn Phú Hiếu
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.1 Hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Theo Luật các tổ chức tín dụng 07/1997/QH10 và Luật số 20/2004/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
có liên quan” Có thể nói rằng ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được ngân hàng huy động lại, để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh
tế, cá nhân Luật số 06/1997/QH10 về Ngân hàng Nhà nước và Luật số 10/2003/QH11 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu rõ : “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch
vụ thanh toán” Từ đó có thể nói về bản chất của Ngân hàng thương mại như sau :
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế Nó
có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, tự chủ về kinh tế và có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước
Ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Những lĩnh vực này góp phần cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế - xã hội
Hoạt động của ngân hàng thương mại mang tính chất kinh doanh
Trang 37Hình 3.1 Quy trình hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Văn Ngọc (2012)
Hiện nay hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam thực hiện 2 chức năng chính:
Chức năng trung gian tài chính: đây là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của ngân hàng thương mại Thông qua các nghiệp vụ như tín dụng, thanh toán, kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán cũng như các nghiệp vụ khác, ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, biến chúng thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội Ngân hàng thương mại thực hiện vai trò trung gian giữa các khách hàng với nhau, làm trung gian giữa người có nhu cầu vay tiền với người sẵn sàng cho vay, giữa người mua và người bán ngoại tệ Ngân hàng Trung ương không giao dịch trực tiếp với các cá nhân, tổ chức trong xã hội mà thực hiện gián tiếp thông qua các ngân hàng thương mại
Chức năng sản xuất: Ngân hàng thương mại sử dụng các yếu tố vốn, đất đai và lao động để tạo ra sản phẩm và dịch vụ Ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động
• Các tổ chức
cá nhân trong xã hội
Tiền gửi/ tiết kiệm
• Ngân hàng thương mại
Cho vay/ dịch vụ ngân hàng
• Các tổ chức
cá nhân trong xã hội
Phục vụ nhu cầu kinh doanh/ đầu từ
Trang 38cho vay trên nguồn vốn có được bằng việc huy động từ xã hội, tái đầu tư vào nền kinh tế, sử dụng đội ngũ lao động có kĩ năng, trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên Qua đó vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam được thể hiện qua:
Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế:
Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay
Ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế Với số vốn này ngân hàng sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Và với
số lời thu được từ chênh lệch lãi suất có được nó sẽ duy trì họat động của mình
Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
Ngân hàng thực hiện việc nộp tiền vào tài khoản hoặc chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan Khách hàng được đảm bảo việc giữ an toàn cho khoản tiền cuả mình cũng như được hỗ trợ thực hiện việc thu chi tiền một cách nhanh chóng
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, tăng tốc độ luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy việc lưu thông hàng hóa
Tạo ra tiền ngân hàng: Các ngân hàng tạo thành hệ thống và chịu sự quản lý bởi ngân hàng đứng đầu đươc gọi là Ngân hàng Trung ương Đây là cơ quan quản lý
về tiên tệ, tín dụng, là ngân hàng của các ngân hàng Các ngân hàng thương mại còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ hoạt động trong hệ thống để tạo ra tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, dưới mối liên hệ chặt chẽ với Ngân hàng trung ương
3.1.2 Thực trạng hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, đã có ngày càng nhiều các doanh nghiệp có chấp nhận bỏ
ra một mức vốn tương đối lớn để thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng Có thể
kể đến một số “đại gia” tiêu biểu như : Dầu khí, Điện lực, Cao su… Việc gia nhập này ít nhiều cũng mang tính tích cực khi xét đến tình hình kinh tế nước ta đang có nhu cầu tập trung vốn cao độ cho nhiều dự án trọng điểm Việc thành lập, tham gia vào hệ thống ngân
Trang 39hàng của các doanh nghiệp nói trêncũng góp phần làm tăng tính cạnh tranh, biến chuyển nền kinh tế trở nên năng động hơn Các dịch vụ từ các ngân hàng cung cấp cũng từ đó sẽ phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, giúp cho người sử dụng ngày càng thuận tiện và
có nhiều lựa chọn Một ví dụ thực tế cụ thể đó chính là sự thành lập mới, tham gia của các ngân hàng mới vào thị trường tài chính và tiền tệ đã phần nào khiến cho các quốc doanh thay đổi để trở nên ngày một năng động hơn, cạnh tranh lành mạnh hơn, mang lại không ít sự thuận tiện và tính hiệu quả cao đối với khách hàng Dễ dàng thấy được đó chính là không còn hiện tượng xếp hàng chờ đợi hay phát sinh các hiện tượng tiêu cực trong quá trình vay vốn
Bên cạnh đó, với số lượng ngân hàng ngày càng nhiều, hoạt động thanh toán và giao dịch phi tiền mặt đang được đẩy nhanh hơn, đóng góp thúc đẩy sự minh bạch trong lĩnh vực tiền tệ, thông qua đó góp phần tăng hiệu quả vào công việc phòng chống tham nhũng hiện nay ở nước ta Hiện nay, một số ngận hàng thương mại lớn có thể được kể đến bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB), Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), …
Có lẽ chưa bao giờ chúng ta có thể nhìn thấy xuất hiện nhiều chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng như hiện nay Hầu hết các ngân hàng lớn đều có mạng lưới rộng khắp (đặc biệt là các ngân hàng thương mại quốc doanh), nhất là ở các đô thị lớn Còn các ngân hàng nhỏ hơn cũng ra sức mở rộng mạng lưới, mở rộng thị phần Hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã xây dựng được hệ thống phân phối rộng lớn Hiểu biết và khả năng thâm nhập thị trường vẫn sẽ là thế mạnh vượt trội của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài
Tính đến cuối tháng 12/2009, tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế của toàn hệ thống các TCTD đạt 1.904.194 tỷ đồng, tăng 28,52% so với năm 2008; cuối năm 2010 vốn đạt 2.448.451 tỷ đồng, tăng 28,58% so với cuối năm 2009, trong đó tăng mạnh nhất là khối các NHTMCP Khối NHTMNN và khối NHTMCP hiện vẫn đang chiếm thị phần chi
Trang 40phối trên các mảng hoạt động chính và huy động được nhiều vốn nhất Tuy nhiên thị phần của khối NHTMNN đang có xu hướng thu hẹp vì sự cạnh tranh mạnh mẽ từ khối các NHTMCP và khối NHLD, NHNNg Thực tế số lượng các NHTMNN và NHTMNN
đã được cổ phần hóa chỉ có 5 NH, trong khi các NH khác chiếm số lượng lớn nên tính bình quân thì ưu thế vẫn thuộc 5 NH đó đến cuối tháng 12/2009, tổng dư nợ đối với nền kinh tế đạt 1.755.225 tỷ đồng, tăng so với năm 2008 37,87% Trong đó khối NHTMNN đạt 949.652 tỷ đồng, tăng 28,27%, khối NHTMCP đạt 560.565 tỷ đồng, tăng 66,06% Tính đến cuối năm 2010, tổng dư nợ toàn hệ thống đạt 2.321.973 tỷ đồng, tăng 32,29%
so với cuối năm 2009 Trong đó khối NHTMNN đạt 1.090.998 tỷ đồng, tăng 14,88% so với 2009; khối NHTMCP đạt 895.919 tỷ đồng, tăng 59,82% Rõ ràng tuy với số lượng
NH ít nhưng dư nợ của hệ thống NHTMNN vẫn chiếm ưu thế và tỷ trọng lớn nhất (46,99%) Điều đó cũng cho thấy khả năng cạnh tranh và thị phần của hệ thống ngân hàng này là rất lớn Các NHTM nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ thị phần chủ yếu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, cung cấp 47% dư nợ tín dụng toàn hệ thống tính tới cuối năm
2010 Đến cuối năm 2010, đã có trên 24,5 triệu thẻ với 53 tổ chức phát hành thẻ và hơn
198 thương hiệu thẻ Các dịch vụ tiện ích đi kèm ngày càng được đa dạng hóa như thẻ mua xăng dầu, thẻ mua hàng qua mạng, thanh toán tiền điện, nước … Việc phát triển mạnh mẽ thanh toán điện tử trong thời gian qua tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt cho người dân Tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm
từ 20,3% năm 2004 10 xuống còn 14,6% năm 2008; 14,5% năm 2009 và 14,2% vào năm
2010 Tài khoản cá nhân có mức tăng trưởng cao hàng năm: 150% xét về số tài khoản và 120% xét về số dư Số lượng các tài khoản cá nhân đã tăng từ 135.000 năm 2000 lên khoảng 5 triệu vào năm 2005, trên 8 triệu vào năm 2007 và 14 triệu vào cuối năm 2009
và gần 17 triệu vào cuối năm 2010 Trên lĩnh vực ngoại hối với cơ chế chính sách ngày càng thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế Với những điều chỉnh, thay đổi linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế như thay đổi trong hoạt động xác nhận vay trả nợ, chuyển tiền cá nhân, kinh doanh mua bán ngoại tệ, nghiệp vụ Option mua bán ngoại tệ, vàng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho khách hàng Nổi bật trong thời gian vừa qua
là một số NHTM đã mạnh dạn thực hiện dịch vụ quyền chọn ngoại tệ - Option Đây là